1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tài liệu Sổ tay Kỹ Thuật Thuỷ Lợi -Phần 2-Tập 1 -Mục B-Chương 2 pdf

48 479 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đập Hỗn Hợp Đất Đá, Đập Đá Đổ, Đập Đá Xây
Tác giả GS. TSKH. Trịnh Trọng Hàn
Trường học Trường Đại Học Thủy Lợi
Chuyên ngành Kỹ Thuật Thủy Lợi
Thể loại sổ tay
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đập đá đổ có những ưu điểm lớn là: 1 Sử dụng được khối lượng lớn để xây dựng đập bằng vật liệu tại chỗ, kể cả vật liệu đào ở hố móng công trình, vì vậy giảm đến mức tối đa khối lượng vật

Trang 1

Đập đá đổ có những ưu điểm lớn là:

1) Sử dụng được khối lượng lớn để xây dựng đập bằng vật liệu tại chỗ, kể cả vật liệu đào ở hố móng công trình, vì vậy giảm đến mức tối đa khối lượng vật liệu phải chuyên chở từ xa đến công trình;

2) Cho phép xây dựng đập ở điều kiện địa chất phức tạp kể cả trên nền đất cát sỏi; 3) Làm việc tin cậy trong môi trường tải trọng động như ở vùng có động đất;

4) Đập có cấu tạo từ vật liệu thiên nhiên là đất đá nên có độ bền vững cao (tuổi thọ rất lớn);

5) Công việc xây dựng đập có thể tiến hành quanh năm trong điều kiện thời tiết khác nhau kể cả vùng khí hậu băng tuyết bắc cực;

6) Có khả năng cơ giới hoá toàn bộ các khâu thi công từ khai thác, vận chuyển và đắp đập, do đó có thể rút ngắn thời gian thi công, hạn chế đến mức tối thiểu số lao động thủ công và giảm giá thành xây dựng đập;

7) Trong điều kiện nhất định có thể xây dựng đập không cần làm đê quây và xử lí nền, bằng cách đổ đá vào trong nước có dòng chảy (trong quá trình đổ đá, các loại hạt mịn như cát nhỏ, đất bùn v.v sẽ bị dòng chảy cuốn trôi, nhờ vậy chất lượng nền được nâng cao hơn);

8) Trong một số trường hợp có thể tháo lưu lượng thi công qua phần đập đá đổ đang xây dựng

Trang 2

Sử dụng đập đá đổ sẽ hết sức có lợi khi khối lượng đập và chiều cao đập rất lớn Theo số liệu thống kê, trong tổng số những đập có độ cao Hđ > 75m được xây dựng trên thế giới từ những năm 60 của thế kỷ 20 cho đến hiện nay, thì đập đá đổ chiếm trên 76%,

đứng hàng đầu về số lượng, tốc độ phát triển và độ cao đập (xem bảng 2-1) Vị trí số 1 về

số lượng và chiều cao của đập đá đổ là nhờ những ưu điểm nêu ở trên, trong đó có hai ưu

điểm rất cơ bản là tính đơn giản và sự làm việc tin cậy của nó

Bảng 2-1 Thông số của một số đập đá đổ có chiều cao trên 100m

xây dựng

Chiều cao,

m

Chiều dài,

m

Khối lượng, triệu m3

Dung tích

hồ, km3

Yêu cầu cơ bản đối với đập đá đổ là:

1) Hệ số mái dốc của đập phải đảm bảo cho công trình làm việc ổn định trong thời gian xây dựng và khai thác vận hành ứng với mọi tổ hợp tải trọng và tác động lên đập; 2) Những biến dạng của đập và các bộ phận cấu tạo của nó trong thời gian thi công cũng như trong giai đoạn khai thác không phá hỏng sự làm việc bình thường của

đập và công trình nói chung;

3) Kết cấu chống thấm và hệ thống thoát nước phải được thiết kế và xây dựng sao cho lưu lượng thấm qua đập không vượt quá giới hạn quy định, đồng thời đảm bảo điều kiện ổn định về thấm đối với đập và nền đập;

4) Các công trình tháo lũ trong đầu mối phải có đủ khả năng tháo để không xảy ra hiện tượng nước tràn qua đỉnh đập đá đổ trong mọi trường hợp khai thác đập

Trong thực tế đ∙ có một số đập đá đổ được thử nghiệm cho nước tràn qua nhưng chỉ là đập thấp hoặc cao trung bình với các kết cấu đặc biệt như đập Borumba (Hđ = 45,7 m), đập Xirinumu (Hđ = 23 m), đập Laphing Dgien Mars (Hđ = 17 m)

Trang 3

2.1.2 Phân loại đập đá đổ

Tương tự như sự phân loại công trình thủy nói chung và đập nói riêng, đập đá đổ

có thể được phân loại theo nhiều hình thức khác nhau như theo vật liệu xây dựng, theo kết cấu đập, theo phương pháp thi công, hoặc theo quy mô tức chiều cao đập Tuy nhiên cần lưu ý rằng mỗi sự phân loại đều có tính tương đối và quy ước

1 Phân loại đập theo vật liệu xây dựng

Trong trường hợp này đập được chia thành hai loại chính là:

a) Đập đá đổ hay đập đá, trong đó khối lượng chủ yếu của đập là đá đổ, còn kết cấu chống thấm được làm bằng vật liệu không phải là đất như bê tông, bê tông cốt thép,

bê tông atphan, tấm kim loại hay chất dẻo (hình 2-1);

Hình 2-1 Loại đập đá đổ có vật chống thấm không phải là đất

a) Có tường nghiêng bằng vật liệu không phải là đất;

b) Có tường tâm bằng vật liệu không phải là đất;

1- tường nghiêng; 2- lớp đệm dưới tường nghiêng (đá xây hoặc đá lát khan);

2 Phân loại đập theo cấu tạo vật chống thấm (VCT), gồm có

- Đập đá đổ với VCT kiểu tường nghiêng;

- Đập đá đổ với VCT kiểu lõi giữa, trong đó lõi có dạng thẳng đứng, nghiêng hoặc hỗn hợp đứng và nghiêng

3 Phân loại đập theo vật liệu của kết cấu chống thấm, gồm:

- Đập đá đổ với VCT bằng đất;

- Đập đá đổ với VCT không bằng đất (như bê tông, bê tông cốt thép, bê tông atphan, kim loại, chất dẻo)

4 Phân loại đập theo chiều cao

Đối với đập đá đổ nên chia thành 4 loại là đập thấp (Hđ Ê 20 m), đập trung bình (Hđ = 20 á 70 m), đập cao (Hđ = 70 á 150 m) và đập siêu cao (Hđ > 150 m)

Trang 4

Hình 2-2 Các loại đập đá đổ có vật chống thấm bằng đất

a) Có tường nghiêng bằng đất; b) Có lõi giữa nghiêng bằng đất;

c) Có nêm thượng lưu bằng đất; d) Có lõi giữa thẳng đứng bằng đất;

3- đá đổ; 4- tầng lọc ngược; 5- lõi giữa nghiêng;

6- lõi giữa thẳng đứng; 7- nêm tựa bằng đất

5) Phân loại đập theo phương pháp thi công, gồm hai loại chính:

Để xây dựng kết cấu chống thấm trong đập đá đổ, thường sử dụng loại đất sét ở

mỏ có lẫn các hạt lớn cỡ nhóm hạt tối đa tới 150 mm, trong đó hạt đất cỡ nhỏ d < 1 mm không được ít hơn 40 á 50% theo khối lượng Loại đất này được rải theo lớp mỏng và

đầm chặt Đất sử dụng vào kết cấu chống thấm phải có đủ tính chất không thấm (hệ số thấm nhỏ Kt < 10-6á 10-7 cm/s), dễ khai thác ở mỏ, dễ đắp và đầm ở đập Ngoài ra, nên

Trang 5

lựa chọn đất có đặc trưng biến dạng không khác nhiều với đá đổ được sử dụng vào các nêm tựa chịu lực của đập Trong trường hợp không có loại đất thoả m ∙n các yêu cầu nêu ở trên, thì có thể điều chỉnh tính chống thấm và tính biến dạng của đất bằng cách loại bỏ các hạt lớn hoặc bổ sung các nhóm hạt cần thiết Cách xử l ý như vậy nhiều khi sẽ kinh tế hơn việc tìm kiếm mỏ đất có đủ tính chất theo yêu cầu, nhưng ở xa công trình hoặc có điều kiện khai thác phức tạp và khó khăn

Đối với mái dốc đập, đặc biệt là mái thượng lưu, cần phủ một lớp đá cỡ lớn có cường độ chịu lực cao, bao gồm khả năng chống bào mòn của dòng chảy cũng như khả năng chống xâm thực trong môi trường nước Lớp đá phủ bên trên làm nhiệm vụ bảo vệ mái dốc cho nên được thiết kế và thi công như các kết cấu gia cố mái dốc

2.2.2 Tính chất vật liệu đá

Việc sử dụng hợp lí vật liệu để xây dựng đập không những cho phép khai thác tối

đa tài nguyên sẵn có ở khu vực công trình mà còn đảm bảo cho công trình (đập) có chất lượng tốt nhất, ổn định bền vững và kinh tế

Biết được tính chất vật liệu và điều kiện làm việc của công trình là cơ sở chính để

sử dụng và bố trí vật liệu đúng vị trí của nó

Trong bảng 2-2 giới thiệu đặc trưng tổng quát để phân loại đất cát và đất đá hạt lớn (đá đổ) còn thành phần hạt tổng quát để phân loại đất được giới thiệu trên đồ thị

đường cong thành phần hạt hình 2-3

100 90 80 70 60 50 40 30 20 10 0 0,001 0,005 0,01 0,02 0,05 0,1 0,2 0,5 1 2 5 7 10mm

(lgd)

%

Hạt sét

Hạt bụi Đất cát Sỏi - cuội

Hình 2-3 Đường cong thành phần hạt của đất đá

Đặc trưng chủ yếu của vật liệu đá trong đập đá đổ là cường độ kháng nén Tuỳ theo cấu tạo và độ cao của đập, cường độ chịu tải của vật liệu là khác nhau Trong bảng 2-3 giới thiệu giá trị cần thiết về cường độ kháng nén của đá trong đập đá đổ có vật chống thấm dạng tường nghiêng cứng và tường nghiêng bằng đất (hoặc tường trọng lực bằng đá xây hay bê tông) phụ thuộc vào chiều cao đập

Trang 6

Cần lưu ý rằng khi chọn đá cho đập đá đổ còn phải kể đến phương pháp thi công Nếu thi công đổ đá từ trên cao hoặc đá xây thì yêu cầu về cường độ của đá được lấy cao hơn so với đá rải và đầm

Bảng 2-2 Phân loại đất cát và đất đá

Hàm l-ợng hạt Loại đất

Ghi chú: Mẫu thí nghiệm là khối đá lập phương mỗi cạnh 20 cm

Trên hình 2-4 giới thiệu đường cong thành phần hạt của một số đập đá đổ trên thế giới, trong đó có những đập được thi công bằng phương pháp đổ đá từ trên cao (đập số

6, 12, 13, 15 và 17 hình 2-4)

ở Việt Nam đập đá đổ Hoà Bình thuộc loại quy mô lớn của thế giới cả về độ cao

đập (H = 128 m) và khối lượng vật liệu sử dụng (21 triệu m3, xem bảng 2-1)

Đập Hoà Bình được xây dựng bằng hai phương pháp đổ lấn dần từ trong bờ ra ở phần lòng sông dưới mực nước (từ cao độ 18,0 trở xuống) và đắp rải khô có đầm ở phần

từ cao độ 18,0 trở lên (xem hình 2-5)

Trang 9

2.3 lựa Chọn loại đập

Loại đập được lựa chọn căn cứ vào điều kiện địa chất công trình, địa chất thủy văn, điều kiện khí hậu, khả năng cung cấp vật liệu có sẵn tại khu vực xây dựng, thiết bị thi công và nhiệm vụ của công trình

Khi lập phương án so sánh cần chú ý đến các yếu tố sau:

1) Nếu nền là đá thì có thể xây dựng đập đá đổ với loại bất kì không có hạn chế; 2) Đối với nền là đất thì tuỳ thuộc vào chất lượng nền có thể có các phương án

đập khác nhau, trong đó nếu nền là các loại đất cuội sỏi, đất cát, đất băng tích, đất sét hoặc á sét chặt thì nên ưu tiên sử dụng đập hỗn hợp đất đá, bởi vì hiện tượng lún của nền có thể gây vết nứt trong kết cấu chống thấm (dạng VCT kiểu lõi hay tường nghiêng hoặc VCT kiểu cứng);

3) Đối với nền có khả năng biến dạng lớn khi chịu tải thì nên ưu tiên sử dụng đập

đá đổ có lõi giữa, tránh dùng đập có tường nghiêng nhất là loại tường nghiêng chống thấm bằng vật liệu không phải là đất, bởi vì loại kết cấu này rất nhạy cảm với biến dạng lún không đều;

4) Khi chọn loại đập thì trước hết phải xét khả năng cung cấp vật liệu có sẵn tại chỗ (đất, đá, cát, sỏi ) ở các mỏ vật liệu nằm gần vị trí xây dựng, trong đó có kể đến việc sử dụng khối đất đá đào ở các hố móng của các công trình để đắp đập;

5) Trong điều kiện khí hậu hoặc thời tiết không thuận lợi như mưa nhiều, khí hậu giá lạnh v.v , thì loại kết cấu chống thấm bằng đất sét nên hạn chế ở mức tối thiểu;

6) Các loại kết cấu chống thấm không phải là đất chỉ sử dụng khi không có loại

đất thích hợp ở khu vực công trình theo yêu cầu đối với VCT;

7) Loại kết cấu chống thấm dạng lõi giữa hoặc tường nghiêng được chọn căn cứ vào các yếu tố sau:

a) Khi xây dựng đập có tường nghiêng thì lăng trụ tựa (thân đập bằng đá đổ) được thi công trước không phụ thuộc vào tường nghiêng, do đó trong điều kiện thời tiết mưa nhiều có thể tiến hành đắp phần lăng trụ đá đổ, khi thời tiết thuận lợi (không mưa) đắp tường nghiêng;

b) Lăng trụ đá của đập có tường nghiêng có thể sử dụng để tháo lũ thi công trong thời gian đang xây dựng (một phần lưu lượng thấm qua lăng trụ đá, một phần khác tràn trên bề mặt lăng trụ đá);

c) Đập đá có tường nghiêng cho phép đưa vào vận hành theo giai đoạn với hồ chứa tích nước một phần và với khối lượng thi công đập đá đổ ở mức tối thiểu; d) Nếu phun vữa ở đáy tường nghiêng để chống thấm nền thì tác dụng giảm áp lực thấm lên đập nhiều hơn so với chân lõi, do đó có thể giảm chiều sâu lỗ khoan phun;

đ) Đập đá có tường nghiêng cho phép tôn cao để nâng chiều cao đập khi cần thiết; việc tôn cao đập được thực hiện khá dễ dàng và thuận lợi, tương tự như trong giai đoạn xây dựng đập;

Trang 10

e) Đất sử dụng cho tường nghiêng phải có cường độ chịu lực cao, nếu không thì chọn loại đập đá đổ có lõi giữa;

g) Tường nghiêng dễ quan sát, sửa chữa, song trực tiếp chịu tác dụng của sóng gió

và áp lực đẩy ngược khi sóng rút và khi mực nước hồ rút (do thấm ngược), nên cần có kết cấu gia cố bảo vệ chống sóng và kết cấu chống tác hại của áp lực thấm ngược (xem phần gia cố và thấm);

h) Tường nghiêng nhạy cảm hơn so với lõi giữa khi đập bị lún không đều: phần đá đổ phía sau tường nghiêng bị biến dạng lún hoặc chuyển vị ngang không đều dễ làm cho tường nghiêng bị đứt g∙y hoặc tách bóc và trượt theo mái dốc; i) Trong các điều kiện như nhau (hệ số an toàn ổn định như nhau) thì đập có lõi giữa ít khối lượng hơn so với đập có tường nghiêng (khối lượng lõi nhỏ hơn tường nghiêng);

k) Biện pháp nối tiếp đập có lõi giữa với bờ và công trình bê tông dễ thực hiện hơn; l) Đập có lõi giữa nghiêng có áp lực kẽ rỗng nhỏ hơn so với lõi đứng, do đó có thể làm mái dốc phía hạ lưu của lõi dốc hơn; tuy nhiên việc thi công nối tiếp lõi nghiêng với bờ và công trình bê tông sẽ phức tạp hơn

m) Trong điều kiện có động đất thì lõi giữa làm việc ổn định tốt hơn tường nghiêng Ngoài những yếu tố nêu ở trên, phương án đập được lựa chọn phải có các chỉ tiêu kinh tế - kĩ thuật tổng quát là tối ưu (có kể đến ảnh hưởng tác động môi trường, tác

động x∙ hội, điều kiện khai thác vận hành công trình )

2.4 Mặt cắt ngang của đập đá đổ

2.4.1 Đỉnh đập

Bề rộng đỉnh đập đá đổ được xác định căn cứ nhu cầu sử dụng, trong đó có việc

sử dụng làm đường giao thông, đường vận hành đập và các công trình thủy trong

đầu mối thủy lợi Khi có đường giao thông thì bề rộng đỉnh đập lấy theo cấp đường (xem chương 1, phần đỉnh đập đất)

Nếu không có nhu cầu giao thông thì chiều rộng đỉnh đập đá đổ lấy không nhỏ hơn 6m đối với đập cao Có đường ôtô thì bề rộng đỉnh thường trong khoảng 10 á 12 m,

có thể tới 20 m như ở đập Hoà Bình

Khi xây dựng đập cao và siêu cao trong vùng động đất thì chiều rộng đỉnh đập và

độ vượt cao của đỉnh so với mực nước tính toán được lấy lớn hơn bình thường

Ngoài ra, chiều rộng đỉnh đập còn liên quan đến độ làm việc an toàn của đập, do

đó đối với các đập quan trọng có thể lấy lớn hơn so với bình thường

Cao trình đỉnh đập đá đổ được xác định tương tự như đối với các công trình dâng nước khác, căn cứ vào điều kiện sóng gió ở hồ chứa và tầm quan trọng của công trình (thể hiện ở cấp công trình, xem chương 1 mục 1.3.1)

Kết cấu mặt đập (đỉnh đập) xem hình 1-12 chương 1 Mép thượng lưu của đỉnh

đập có thể xây dựng tường chắn sóng hoặc không có tường chắn sóng, tuỳ theo điều kiện cụ thể

Trang 11

2.4.2 Mái dốc của đập đá đổ

Hệ số mái dốc thượng lưu và hạ lưu của đập đá đổ được xác định theo tính toán

ổn định của mái, phụ thuộc vào tính chất cơ lí của vật liệu đập và nền

Đặc trưng về cường độ chịu lực (độ bền) của vật liệu hạt lớn (đá đổ) là góc ma sát trong Nó phụ thuộc vào độ chặt của khối đá, cấu tạo thành phần hạt, độ bền của từng hạt riêng, hình dạng hạt và độ nhám (góc cạnh) của hạt và trạng thái ứng suất của đất đá nằm trong phạm vi bề mặt trượt

Khi tính toán ổn định của mái dốc ở đập cao và siêu cao thì góc ma sát trong phải lấy giá trị thay đổi theo chiều cao đập, phụ thuộc vào ứng suất tác dụng

Đối với đập cấp III và IV có chiều cao không lớn, cho phép lấy giá trị của các đặc trưng bền của vật liệu là không đổi không phụ thuộc vào ứng suất tác dụng

Khi xây dựng đập theo phương pháp đổ những lớp có chiều dày lớn (thi công theo tầng) thì độ dốc trong phạm vi mỗi lớp cần lấy tương ứng với góc mái dốc tự nhiên của

định của vật liệu tường nghiêng và lớp gia tải

Để chọn hệ số mái dốc của đập đá đổ có thể sử dụng phương pháp tương quan - dựa theo một số đập đ∙ xây dựng có các tham số tương tự như đập được thiết kế Khi chọn đập tương tự làm mẫu nên lấy những đập hiện đại được thiết kế tính toán khá chi tiết và kĩ lưỡng theo các phương pháp nghiên cứu hiện đại có đầy đủ luận cứ khoa học Những đập như vậy có thể nêu lên là đập Gepatch, Mattmark, Infernillo, Shimen, Orovil, Braunli, Miboro, Trarvacskaia, Nurêskaia

Khi thiết kế đập đá đổ trên nền tương đối chắc có thể tham khảo giá trị của hệ số mái dốc trong bảng 2-4

Trị số ghi ở bảng 2-4 là các đại lượng trung bình theo chiều cao Trong thực

tế thường sử dụng các hệ số mái dốc khác nhau, thay đổi tăng dần từ đỉnh đập xuống

Trang 12

Bảng 2-4 Giá trị tham khảo của mái dốc đập đá đổ

Hệ số mái dốc Loại đập

Tương tự như đối với đập đất, cơ hạ lưu có thể nằm ngang song song đường đồng mức hoặc xiên để làm đường lưu thông cho các phương tiện cơ giới di chuyển từ cơ ở bậc dưới lên cơ bậc trên hoặc ngược lại

2.5 Kết cấu chống thấm trong đập đá đổ

2.5.1 Tổng quát

Đá đổ là vật liệu thấm nước với hệ số thấm khá lớn tuỳ theo độ chặt và thành phần hạt, do vậy trong đập đá đổ nhất thiết phải có kết cấu chống thấm

Kết cấu chống thấm, gọi tắt là vật chống thấm (VCT) được làm bằng vật liệu có

hệ số thấm nhỏ hơn rất nhiều so với đá đổ (vật liệu đất) hoặc hầu như không thấm nước (vật liệu không phải là đất)

Yêu cầu đối với VCT ngoài tính ít thấm nước còn phải bền vững, mềm dẻo và kinh tế

Về cấu tạo và vị trí VCT trong thân đập có hai loại: tường nghiêng nằm ở mái thượng lưu đập và lõi giữa (bố trí trong thân đập) Lõi giữa còn được phân biệt về kết cấu là lõi và màng ngăn hay màng chống thấm Ngoài ra lõi có thể bố trí thẳng đứng hay nghiêng

Vật liệu của VCT được sử dụng phổ biến là đất ít thấm gọi là đất dính (sét, á sét,

bê tông sét)

Trong trường hợp không có đất ở vùng xây dựng đập thoả m∙n yêu cầu làm VCT (về khối lượng hoặc chất lượng) thì sử dụng VCT không bằng đất như bê tông, bê tông cốt thép, bê tông atphan, chất dẻo tổng hợp ít khi sử dụng VCT bằng kim loại, gỗ hoặc

đá xây vữa (chỉ dùng cho các đập thấp và khi có luận chứng kinh tế đầy đủ)

2.5.2 Vật chống thấm bằng đất

Vật chống thấm bằng đất gồm hai loại chính là tường nghiêng và lõi giữa được cấu tạo bằng các loại đất dính ít thấm nước như á sét, sét hoặc bê tông sét (hỗn hợp sét với các hạt thô như cát, sỏi, đá dăm được trộn theo tỉ lệ quy định và đầm chặt)

Cấu tạo cụ thể của VCT bằng đất có thể rất khác nhau tuỳ thuộc vào phương pháp thi công, loại nền và tính chất của vật liệu tạo nên VCT

Trang 13

a) Vật chống thấm bằng đất loại tường nghiêng

Chiều dày của tường nghiêng được xác định có chú ý tới điều kiện khí hậu của khu vực xây dựng đập và các yếu tố kinh tế - kĩ thuật, trong đó theo yêu cầu về građian thấm (J) để đảm bảo không xảy ra biến dạng thấm của vật liệu tường nghiêng là J phải nằm trong phạm vi 2 á 6

Chiều dày tối thiểu ở phần đỉnh của tường nghiêng được lấy theo điều kiện thi công, phụ thuộc vào phương pháp và thiết bị thi công

Tỉ số H/b thường được gọi là građian cột nước thấm trung bình (Jtr), trong đó

H - là cột nước tác dụng, b - là chiều dày trung bình của VCT theo mặt cắt vuông góc với VCT Trong thực tế các đập đá đổ đ∙ xây dựng tỉ số H/b có thể tới 2 á 10

Tường nghiêng rất nhạy cảm với biến dạng của lăng trụ đá, đặc biệt là biến dạng lún không đều, do đó cần chú ý đến độ chặt của lăng trụ đá bằng cách đầm kĩ phần lăng trụ đá tiếp giáp với tường nghiêng

Phía mặt ngoài (mái thượng lưu) của tường nghiêng được phủ lớp bảo vệ gia cố để chống sóng Vật liệu của lớp gia cố có thể lấy cùng loại với vật liệu của lăng trụ đá (hình 2-6)

Khu vực giữa tường nghiêng và lăng trụ đá hoặc lớp bảo vệ gia cố là tầng đệm chuyển tiếp và lọc ngược

Lớp bảo vệ tường nghiêng còn có tác dụng như lớp gia tải, do đó có thể tăng độ dốc của tường nghiêng để giảm bớt khối lượng đất dính của tường nghiêng (xem hình 2-6)

Hình 2-6 Đập đá đổ Miboro

1- đá đổ loại đá granit; 2- tầng lọc ngược bằng cát - sỏi;

3- tường nghiêng bằng á sét; 4- đê quây tượng lưu;

5- màn khoan phun xi măng chống thấm ở nền

b) Vật chống thấm kiểu lõi giữa

Lõi giữa là loại kết cấu chống thấm được sử dụng rất phổ biến trong đập đá đổ

Lõi giữa còn được chia thành hai loại là: Lõi thẳng đứng và lõi nghiêng

Đập có lõi giữa thẳng đứng thông thường có khối lượng nhỏ nhất so với đập tường nghiêng và đập có lõi nghiêng Vì vật liệu có cường độ yếu nhất trong thân đập là của kết cấu chống thấm thì ở trường hợp lõi giữa nó được đặt cách mặt trượt với cự li xa tối

đa Đây cũng là lí do để loại đập đá đổ có VCT lõi giữa được sử dụng rộng r∙i nhất

Trang 14

Lõi giữa của đập có thể chia thành lõi mỏng và lõi dày

Lõi mỏng là trường hợp lõi có tỉ số b/H Ê 1, còn lõi dày hay gọi là lõi trọng lực - lõi có tỉ số b/H > 1

Ví dụ đập có lõi mỏng như đập Infernilo (hình 2-7)

Ví dụ đập lõi trọng lực là đập Triniti (hình 2-8)

Lõi đập thông thường có mái dốc không thay đổi, do đó trị số b/H nhỏ nhất của lõi sẽ là ở đáy đập, tuy nhiên đôi khi người ta làm phần đáy lõi mở rộng hơn bình thường với mục đích tăng sự tiếp xúc của đáy lõi với nền (hình 2-7)

Hình 2-7 Đập đá đổ lõi thẳng đứng Infernilo (Mêhicô)

1- lớp gia cố bằng đá lớn; 2- lớp đệm bằng cuội sỏi có cỡ hạt tới 50 mm;

3- khối đá đắp chặt bằng đá nhỏ; 4, 5- lớp lọc thứ nhất và thứ hai có cỡ hạt

8- hầm để khoan phun xi măng; 9- lõi đập; 10- màn phun xi măng chống

thấm theo bình diện và theo chiều sâu ở nền đập

Vật liệu lõi càng ít bị biến dạng thì chiều dày của lõi càng giảm nhỏ Trong thực

tế nhiều khi người ta không thiên về việc chọn lõi có chiều dày nhỏ nhất nếu đơn giá của vật liệu lõi không cao hơn nhiều so với vật liệu của lăng trụ tựa

Về tổng quát, chiều dày của lõi được xác định căn cứ vào tổng giá thành của đập, năng lực làm việc của công trình và của lõi, điều kiện hình thành vết nứt ở lõi và độ ổn

Lõi nghiêng là loại kết cấu chống thấm thuộc dạng trung gian giữa tường nghiêng

và lõi đứng, được lựa chọn phụ thuộc vào các điều kiện cụ thể như yêu cầu nối tiếp lõi với kết cấu chống thấm ở nền, vấn đề thi công, các điều kiện kinh tế kĩ thuật, v.v

Trang 15

Độ nghiêng của lõi nghiêng được quyết định bởi tính biến dạng của đất lõi: đất càng dễ biến dạng thì góc nghiêng của trục lõi so với mặt phẳng nằm ngang càng phải lớn Điều kiện này được xuất phát từ sự cần thiết để chống lại khả năng cắt xuyên của lực thấm qua lõi

Hình 2-8 Đập có lõi trọng lực Triniti (Mỹ)

1- lõi bằng hỗn hợp đất sét và sỏi; 2- vùng chuyển tiếp bằng đất cát sỏi;

3- lăng trụ bên bằng sỏi đá cuội và đá tảng lăn; 4- đá đổ;

5- lớp gia cố mái dốc; 6- đá anđêhit biến chất;

7- màn phun ximăng chống thấm ở nền; 8- răng bê tông

Trên hình 2-9 giới thiệu mặt cắt ngang của đập đá đổ có lõi giữa nghiêng

Hình 2-9 Đập đá đổ lõi nghiêng Tich ves

1- đá lớn gia cố mái đập; 2- đá nhỏ; 3- đá dăm; 4- đá lát;

5- khối đá đổ; 6- hỗn hợp đá núi; 7- lõi và sân trước bằng đất á sét;

c) Tầng lọc ngược và lớp chuyển tiếp

Đối với đập đá đổ có kết cấu chống thấm bằng đất (tường nghiêng và lõi giữa đất) thì bắt buộc phải có tầng lọc ngược để bảo vệ vật liệu đất của VCT không bị xói ngầm

do thấm

Trang 16

Khi VCT là tường nghiêng đất thì phía thượng lưu của tường nghiêng có lớp gia

cố để bảo vệ mái dốc, vì vậy tầng lọc ngược được làm ở cả hai phía trước và sau tường nghiêng Tầng lọc ngược ở phía trước tường nghiêng hoặc lõi giữa có tác dụng chống xói ngầm cho vật liệu của VCT khi mực nước hồ rút xuống tạo nên quá trình thấm ngược về hồ chứa Ngoài ra, ở tường nghiêng có lớp gia cố mỏng thì tầng lọc ngược còn

có chức năng chống xói ngầm tiếp xúc dọc do tác dụng của áp lực đẩy nổi - áp lực ngược của dòng thấm khi sóng hồ rút xuống sau mỗi đợt sóng vỗ và trườn lên mái dốc Theo tài liệu của nhiều nghiên cứu về ổn định thấm, hiện tượng xói ngầm sẽ không xảy ra đối với các lớp lọc hoặc giữa lớp lọc và kết cấu chống thấm bằng đất nếu như:

II 10 I 10

D10

Điều kiện không có hiện tượng các hạt của lớp đất này chui vào kẽ rỗng của lớp

đất kia (các lớp tiếp giáp nhau) được thể hiện bằng bất đẳng thức sau:

Êa

và hệ số không đồng nhất của đất h

Đối với đập đá đổ có VCT bằng đất loại tường nghiêng hoặc lõi giữa cần kiểm tra hiện tượng xói ngầm để chọn cấu tạo thành phần hạt của lớp lọc thứ hai và kiểm tra xói ngầm tiếp xúc của lớp lọc thứ hai với lăng trụ đá (trường hợp tầng lọc 2 lớp, còn lăng trụ đá đóng vai trò của vật thoát nước)

Trang 17

Khi cần thiết có thể phải chọn lớp lọc thứ ba hoặc áp dụng biện pháp phân vùng

đá đổ, trong đó khối đá đổ sát với tầng lọc được sử dụng loại đá nhỏ và tăng dần kích thước đá đổ về phía mái dốc hạ lưu

Trong trường hợp chiều dày của tầng lọc đủ lớn, đảm bảo dòng thấm đi ra từ lõi hoặc tường nghiêng không vượt ra khỏi phạm vi vùng tầng lọc thì có thể không cần chọn thành phần hạt của lớp thứ hai (lớp chuyển tiếp) Đối với trường hợp này tầng lọc

đồng thời làm chức năng của lớp chuyển tiếp

Thông thường chiều dày tầng lọc trong đập đá đổ được lấy theo điều kiện thi công

và không nhỏ hơn 3 m

Lớp chuyển tiếp giữa khối cát sỏi sang lăng trụ đá đổ được cấu tạo bằng đá nhỏ và gồm 2 lớp:

a) Lớp cát sỏi hạt thô đắp tiếp giáp với khối cát sỏi;

b) Lớp đá nhỏ được chọn trộn với cát sỏi để đắp tiếp với khối đá đổ

2.5.3 Vật chống thấm không phải là đất

Vật liệu tường nghiêng có thể gồm các loại sau:

Tường nghiêng bê tông và bê tông cốt thép thường có các loại: cứng, nửa cứng và

dẻo Hàm lượng cốt thép trong bê tông có thể tới 0,5 á 1% Nếu đá đổ được đầm chặt thì hàm lượng cốt thép trong bê tông có thể giảm tới 0,1%

Bê tông dùng cho tường nghiêng phải có mác cường độ chịu nén không dưới M200 và mác chống thấm không nhỏ hơn B8

Chiều dày của tường nghiêng bê tông cốt thép ở phần trên đỉnh thường là 20 á 30 cm, còn ở dưới đáy được tăng lên đến 1% chiều cao đập

Trang 18

Tường nghiêng bê tông cốt thép loại cứng là tường có kết cấu nguyên khối đổ tại chỗ, do đó kích thước tấm có thể lớn với độ dày lớn Bê tông được đổ trực tiếp lên trên

bề mặt lớp đá lát hoặc đá xây khan (xây không có vữa) và chỉ bố trí khớp nhiệt (khe co d∙n) theo phương thẳng đứng, không có khớp lún theo phương ngang Cốt thép đặt theo cả hai hướng xuyên qua các khe thi công Hàm lượng cốt thép trong phạm vi 30 á 70 kg trong 1 m3 bê tông

Chiều dày tường nghiêng được tăng từ 25 á 35 cm ở trên đỉnh đến 1/60 chiều cao

đập ở dưới chân tường Tường nghiêng được néo vào khối đá xây (tầng đệm dưới đáy tường) với khoảng cách néo 1,2 á 1,5 m

Tường nghiêng cứng được thi công sau khi đ∙ hoàn thành thi công thân đập Loại tường nghiêng cứng ít phổ biến, chỉ sử dụng cho các đập đá đổ có chiều cao nhỏ

và xây dựng trên nền đá khi biến dạng lún không đáng kể

Tường nghiêng nửa cứng là loại kết cấu được chia thành các tấm có khớp nối chống lún và chống co d∙n (gọi là khe nhiệt - lún) được đặt ngang - dọc theo bề mặt mái dốc Khoảng cách giữa các khớp thay đổi trong phạm vi phổ biến là 4 á 5 m (xem hình 2-11) Khoảng cách giữa các khớp nhiệt thẳng đứng thường là 12 á 18 m, còn khoảng cách giữa các khớp lún lấy bằng 12 á 20m ở phần trên và bằng 3 á 6 m ở phần sát nền

Hình 2-11 Đập đá đổ có VCT loại tường nghiêng bê tông cốt thép nửa cứng

a) Mặt cắt ngang đập; b) Kết cấu khớp nối thẳng đứng; c) Kết cấu khớp nối nằm ngang;

ximăng chống thấm ở nền; 6- đổ cao su trong khớp góc; 7- nút; 8- gỗ;

9- mattit; 10- nhựa đường; 11- lá đồng; 12- bề mặt phủ nhựa đường

Tường nghiêng bê tông cốt thép nửa cứng được đặt trên lớp bê tông có quét phủ nhựa đường ở bề mặt, hoặc dán vải tẩm nhựa đường, cho phép tường và mặt đập có thể biến dạng tự do, đảm bảo sự chống thấm tốt, vì vậy loại kết cấu này còn gọi là tường nghiêng trượt

Tấm bê tông của tường nghiêng được phân khối có thể là vuông hoặc chữ nhật với chiều dài 10 á 20 m Khe nối giữa các tấm có kết cấu chắn nước để chống thấm

Bề rộng khe nối thường 2,5 á 5 cm Khu vực tường nghiêng nối tiếp với bờ và nền có khe biên để chống nứt khi tường nghiêng biến dạng

Trang 19

Biện pháp chống trượt theo mặt bitum đối với tường nghiêng nửa cứng là sử dụng các néo liên kết tấm bê tông cốt thép với tầng đệm bằng đá xây khan, hoặc làm tăng chiều dày ở chân tường nghiêng để tường tựa chắc và ổn định vào gối đỡ bằng bê tông Loại kết cấu tường nghiêng bê tông cốt thép dạng nửa cứng được sử dụng khá phổ biến trong đập đá đổ

Tường nghiêng dẻo có cấu tạo bằng các tấm bê tông cốt thép đổ thành nhiều lớp với các khe nối so le nhau Chiều dày tường có thể tới 10m Khe giữa các tấm không lấp kín, trừ lớp trên cùng Bề mặt giữa các lớp bê tông cốt thép được phủ một lớp bitum

Để giữ cho các tấm (lớp) và tường nghiêng nói chung không bị trượt theo mái dốc, các lớp bê tông cốt thép được néo vào tầng đệm ở phía dưới tường nghiêng

Bảng 2-5 Bảng so sánh kết cấu tường nghiêng bằng bê tông atphan

xây dựng

Chiều cao

và chiều dài theo đỉnh

đập

Chiều dày t-ờng nghiêng

Đặc tr-ng lớp phủ

h = 34,3 m

l = 608

30,5 cm,

4 lớp

Bê tông atphan

đầm chặt Bitum 8,5%

Bột vôi 10,8%

Cát 48,9%

Đá dăm 40,8% Tấm bê tông cốt thép

1950 á 1954

h = 78,5 cm

l = 378 m

13 cm Lớp thứ 1 -

1 cm Lớp thứ 2 -

12 cm

Bê tông atphan Bitum 9%

Bột đá vôi 12% Cát 43%

Tường nghiêng bằng bê tông atphan nên sử dụng cho các đập thấp và trung bình

Trang 20

Để so sánh, trong bảng 2-5 cung cấp số liệu về một số loại tường nghiêng bằng bê tông atphan đ∙ được sử dụng trong thực tế

Tường nghiêng bằng kim loại: Có những ưu điểm chính là tuyệt đối không thấm,

có độ dẻo lớn, dễ thích nghi với sự biến dạng của thân đập và thi công rất nhanh Nhược

điểm cơ bản của tường nghiêng bằng kim loại là giá thành cao, do đó chỉ sử dụng ở những đập thấp

Tường nghiêng bằng gỗ: Loại tường nghiêng bằng gỗ có thể được sử dụng đối với

các đập thấp và trung bình ở vùng có sẵn gỗ và có điều kiện khí hậu thuận lợi cho sự bảo dưỡng gỗ cũng như điều kiện thuận lợi trong việc kiểm tra giám sát sự làm việc của tường nghiêng và sửa chữa tường khi cần thiết Ngoài ra, tường nghiêng bằng gỗ còn

được sử dụng trong trường hợp có hiện tượng lún lớn không đều ở thân đập Kinh nghiệm thực tế cho thấy tường nghiêng bằng gỗ có thể giữ được sự nguyên vẹn của kết cấu và làm việc bình thường tới 50 năm Trong quá trình khai thác tường nghiêng hiện tượng thấm qua tường sẽ được giảm nhanh chóng ở Liên Xô (cũ) vào năm 1948 đ∙ dùng tường nghiêng bằng gỗ ở đập đá đổ Sưrôcôpxkaia cao 40 m trên sông Kosne Loại kết cấu chất dẻo được sử dụng để làm vật chống thấm kiểu tường nghiêng thường được chế tạo chủ yếu theo hình thức các tấm mềm và mỏng hoặc dạng màng dẻo polyetylen, polyvinil clorid cũng như các hỗn hợp polyme có chất phụ gia khác nhau nhằm đảm bảo độ bền ổn định và hạn chế quá trình l∙o hoá

Loại tường nghiêng bằng đá xây vữa chỉ được sử dụng ở đập thấp Nhược điểm của kết cấu này là đòi hỏi nhiều nhân lực thủ công, tốc độ xây dựng chậm, khả năng chống thấm và chất lượng của công trình (tường) phụ thuộc vào trình độ tay nghề của thợ xây nên độ tin cậy không cao, dễ bị nứt và khó sửa chữa

b) Vật chống thấm không phải bằng đất dạng tường tâm - lõi giữa

Cũng như đối với loại VCT tường nghiêng không phải bằng đất, loại VCT dạng tường tâm - lõi giữa bằng vật liệu không phải là đất gồm các hình thức cấu tạo như bằng

bê tông, bê tông cốt thép, bê tông atphan, kim loại và chất dẻo

Nói chung VCT dạng tường nghiêng hoặc tường tâm không phải bằng đất có phạm vi áp dụng tương đối hạn chế

Tường tâm bằng bê tông và bê tông cốt thép hiện nay rất ít được sử dụng, vì kinh

nghiệm vận hành của các đập đ∙ xây dựng với loại kết cấu VCT kiểu này như ở đập Xưdơranskaia (Liên Xô cũ), Asocan (Mỹ), Vaynec (Mỹ), v.v cho thấy rất khó khắc phục hiện tượng xuất hiện vết nứt trong VCT dưới tác dụng của áp lực nước và khối đá

đổ bị đẩy nổi ở phía thượng lưu

Với cùng chiều cao và hệ số mái dốc hạ lưu thì khối đá đổ tựa sau VCT loại tường tâm nhỏ hơn so với trường hợp VCT tường nghiêng, do đó khả năng biến dạng của lăng trụ đá đổ sau tường tâm sẽ lớn hơn Để khắc phục nhược điểm này thường phải tăng mặt cắt ở phần nêm hạ lưu của đập có tường tâm, chủ yếu là tăng hệ số mái dốc hạ lưu đập hoặc tăng độ chặt của vật liệu Một biện pháp khác với mục đích hạn chế vết nứt của tường tấm bê tông là tăng độ dày của tường

Trang 21

Tường tâm bằng bê tông atphan hiện nay được sử dụng khá phổ biến (xem

hình 2-12) ở những đập thấp và trung bình

Hình 2-12 Mặt cắt đập Ây - khaghen (CHLB Đức) có kết cấu chống thấm

dạng tường tâm bê tông atphan

a) Mặt cắt ngang của đập; b) Chi tiết tường bê tông atphan;

1- tường tâm bê tông atphan; 2- vùng lan toả của nhựa đường vào trong đá đổ;

3- răng bê tông; 4- màn ximăng chống thấm ở nền; 5- đá đổ được đầm chặt;

6- đá lát có đầm; 7- mực nước do nước dâng ở đập phụ; 8- bê tông nhựa đường có đá

trộn chìm vào khi đầm; 9- vùng lan toả nhựa đường khi đầm; 10- lớp nhũ bitum;

11- máng bằng kim loại để thu và đo lượng nước thấm qua tường; 12- trầm tích aluvi

Độ dày của lớp bê tông atphan khi đổ phụ thuộc vào thiết bị thi công, thường là

20 á 30 cm Thành phần cốt liệu càng đa dạng với hệ số không đồng nhất h > 20 thì độ chặt kết cấu càng cao khi đầm và càng tiết kiệm tỉ lệ bitum

Chiều dày tường bê tông atphan ở những đập đ∙ xây dựng thường trong phạm vi

2 á 3% chiều cao đập và không nhỏ hơn 0,5 m

Do ưu điểm có độ mềm dẻo cao và khả năng cơ giới hoá thi công cho nên tường tâm bê tông atphan đ∙ được phát triển áp dụng trong các đập đá đổ có chiều cao lớn, ví

dụ đập Phinstertal (Cộng hoà áo) cao 92 m, có đập tới 105 m

Tường tâm loại màng chất dẻo còn rất ít được sử dụng Đập đá đổ duy nhất trên

thế giới có tường tâm loại màng chất dẻo là đập Atbasinskaia của Liên Xô (cũ)

Vấn đề phức tạp cần giải quyết là sự nối tiếp màng chất dẻo với nền và bờ

Trong trường hợp màng chất dẻo bị hỏng thì có thể sử dụng biện pháp khoan phụt vữa chống thấm để sửa chữa

Tường tâm bằng kim loại trong đập đá đổ cũng sử dụng rất ít Trường hợp ví dụ về

tường tâm kim loại là ở đập Xêrêbrianskaia (Liên Xô cũ) Tường có cấu tạo theo hình thức bản cừ thẳng đứng

Tường tâm bằng màn phun xi măng là một giải pháp chống thấm qua đập đá đổ

rất đáng chú ý và có hiệu quả trong trường hợp sử dụng cát sỏi để đắp đập ở phần dưới mực nước

Trang 23

Ví dụ thành công là trường hợp đập đá đổ Axuan (Ai Cập) và đập đá đổ Hoà Bình (Việt Nam) Cơ sở xuất phát ở đây là nếu đắp lõi giữa bằng đất dính ở khu vực lòng sông thì phải làm đê quây và hút nước hố móng Bằng biện pháp đắp cát sỏi - đổ trực tiếp vào trong nước - sau đó tiến hành khoan phun vữa xi măng để tạo màn chống thấm

sẽ tạo ra kết cấu tường lõi giữa hỗn hợp, cho phép phần lõi giữa bằng đất sét hoặc á sét

được thi công hoàn toàn trên khô Mặt khác vì phần nền đập là đá cho nên biện pháp chống thấm ở nền hợp lý nhất là dùng màn phun xi măng

Sử dụng một loại kết cấu màn phun xi măng cho phép đồng thời giải quyết được cả chức năng chống thấm ở đập (phần dưới mực nước hạ lưu) và ở nền Giải pháp kết cấu chống thấm ở đập Hoà Bình (1990) có thể xem là mô hình tương tự của đập Axuan (1969)

Tường chống thấm dạng màn phun vữa sẽ là loại kết cấu ngày càng được sử dụng rộng r∙i hơn vì ưu điểm rất lớn của nó là có thể thi công trong khi hồ đ∙ tích đầy nước Các ưu điểm khác rất quan trọng của màn phun vữa có thể sửa chữa và điều chỉnh

dễ dàng bằng cách khoan phun bổ sung, chất lượng chống thấm tốt

Màn chống thấm dạng khoan phun vữa có thể được sử dụng ở đập đất đá thi công bằng nổ mìn định hướng hoặc đập đá đổ bằng hỗn hợp đ∙ núi hay đập vật liệu cuội sỏi

2.6 Đập đá đổ t-ờng trọng lực

Hình 2-14 Mặt cắt ngang đập đá đổ tường trọng lực bê tông Sư tử Than (đơn vị: m)

1- tường nghiêng bê tông cốt thép; 2- r∙nh thoát nước sau tường nghiêng;

3- tường trọng lực bê tông đá hộc; 4- màn chống thấm trên bề mặt đáy tường;

5- tấm bê tông cốt thép dạng nêm trượt; 6- khối đá đổ dạng nêm;

10- đắp đất sét để chống thấm; 11- chân khay bê tông chống thấm;

12- màn xi măng chống thấm nền; 13- đá xếp khan

Trang 24

Đập đá đổ tường trọng lực được sử dụng nhằm giảm khối lượng đá của đập và giảm thể tích của đập nói chung Loại đập này thường có chiều cao trung bình và thấp

Đối với đập đá đổ tường trọng lực, phía thượng lưu của khối đá đổ là kết cấu xây trọng lực có thể bằng bê tông, đá xây vữa hoặc đá xây khan có lớp chống thấm ở mặt ngoài

Tường trọng lực là loại kết cấu có độ chặt và tính kết dính cao hơn nhiều so với khối đá đổ, cho nên có thể xây tường với hệ số mái dốc nhỏ, nó vừa đảm bảo tự ổn định vừa có tác dụng làm khối tựa tăng ổn định cho đá đổ nhất là khi đá đổ không được đầm chặt Đây cũng là một trong các nguyên nhân đập đá đổ tường trọng lực được xây dựng nhiều vào giữa thế kỉ 20 trở về trước, vì khi đó thiết bị và phương tiện đầm đá đổ còn hạn chế

2.7 Biện pháp và kết cấu chống thấm ở nền đập đá đổ

Các kết cấu chống thấm ở nền đập đất đá và đập đá đổ được sử dụng để giảm lưu lượng thấm, loại bỏ biến dạng thấm trong nền, hạ thấp đường b∙o hoà đối với chuyển

động thấm vòng quanh hai đầu của đập Ngoài ra, kết cấu chống thấm nền còn có tác dụng loại trừ những khiếm khuyết của nền không được phát hiện trong giai đoạn điều tra khảo sát địa chất công trình đối với nền đập

Loại kết cấu chống thấm ở nền được lựa chọn và xác định căn cứ vào điều kiện

địa chất nền và loại kết cấu chống thấm trong thân đập

Tuỳ theo chiều sâu vị trí tầng đá gốc so với mặt đất tự nhiên có thể chia thành 3 trường hợp dưới đây

2.7.1 Đá gốc lộ ra bề mặt đất hoặc bị che phủ một lớp trầm tích có độ dày nhỏ

Đối với trường hợp này biện pháp xử lí nền là bóc bỏ lớp trầm tích và dọn sạch bề mặt đá gốc Nếu lớp phủ là đá yếu với hệ số thấm không lớn hơn hệ số thấm của VCT ở

đập thì cũng bóc bỏ lớp đá yếu và xây đập trực tiếp lên trên nền đá gốc

Phần bề mặt nền đá nằm dưới kết cấu chống thấm của đập ở khu vực lòng sông cũng như ở hai bên bờ cần được xử lí kĩ hơn so với phần nền dưới các khối đá đổ Biện pháp xử lí nền nối tiếp với VCT của đập có thể là đào ngàm vào đá hoặc làm chân răng

bê tông Ngoài ra, cần bạt mái ở hai bên bờ để làm giảm độ dốc phần bờ nối tiếp với VCT của đập Hệ số mái dốc ở vùng nối tiếp bờ với VCT của đập cũng như ở các vùng chuyển tiếp nên lấy không nhỏ hơn một đơn vị (m ³ 1)

Trong trường hợp lòng sông có dạng thung lũng hẹp và mở rộng ra hai bên bờ thì kết cấu nối tiếp nên làm dưới dạng nút bê tông (ví dụ ở đập Cougar, Orovil, Nurếch, Trarvacsk, v.v ) Sau đó tiến hành làm sạch nền theo phương pháp dùng súng phun thủy lực để rửa hoặc thổi bằng khí nén

Những chỗ nền bị nứt nẻ hoặc có khuyết tật thì rửa sạch và lấp kín bằng vữa xi măng, bê tông, hoặc bằng vật liệu như của thân đập

Ngày đăng: 21/01/2014, 15:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2-1. Thông số của một số đập đá đổ có chiều cao trên 100m - Tài liệu Sổ tay Kỹ Thuật Thuỷ Lợi -Phần 2-Tập 1 -Mục B-Chương 2 pdf
Bảng 2 1. Thông số của một số đập đá đổ có chiều cao trên 100m (Trang 2)
Hình 2-1. Loại đập đá đổ có vật chống thấm không phải là đất - Tài liệu Sổ tay Kỹ Thuật Thuỷ Lợi -Phần 2-Tập 1 -Mục B-Chương 2 pdf
Hình 2 1. Loại đập đá đổ có vật chống thấm không phải là đất (Trang 3)
Hình 2-3. Đường cong thành phần hạt của đất đá - Tài liệu Sổ tay Kỹ Thuật Thuỷ Lợi -Phần 2-Tập 1 -Mục B-Chương 2 pdf
Hình 2 3. Đường cong thành phần hạt của đất đá (Trang 5)
Bảng 2-2. Phân loại đất cát và đất đá - Tài liệu Sổ tay Kỹ Thuật Thuỷ Lợi -Phần 2-Tập 1 -Mục B-Chương 2 pdf
Bảng 2 2. Phân loại đất cát và đất đá (Trang 6)
Hỡnh 2-5. Mặt cắt đập đỏ đổ Hoà Bỡnh  (Tuyến lũng sụng, sau khi đó hoàn thành năm 1990) 1- lừi giữa bằng đất ỏ sột; 2- hỗn hợp cỏt sỏi; 3- đỏ nhỏ; 4- hỗn hợp đỏ nỳi - đỏ đổ; 5- lớp gia cố mỏi thượng lưu;   6- màn chống thấm ở nền và ở phần đắp cỏt sỏi lũn - Tài liệu Sổ tay Kỹ Thuật Thuỷ Lợi -Phần 2-Tập 1 -Mục B-Chương 2 pdf
nh 2-5. Mặt cắt đập đỏ đổ Hoà Bỡnh (Tuyến lũng sụng, sau khi đó hoàn thành năm 1990) 1- lừi giữa bằng đất ỏ sột; 2- hỗn hợp cỏt sỏi; 3- đỏ nhỏ; 4- hỗn hợp đỏ nỳi - đỏ đổ; 5- lớp gia cố mỏi thượng lưu; 6- màn chống thấm ở nền và ở phần đắp cỏt sỏi lũn (Trang 8)
Bảng 2-4. Giá trị tham khảo của mái dốc đập đá đổ - Tài liệu Sổ tay Kỹ Thuật Thuỷ Lợi -Phần 2-Tập 1 -Mục B-Chương 2 pdf
Bảng 2 4. Giá trị tham khảo của mái dốc đập đá đổ (Trang 12)
Hình 2-6. Đập đá đổ Miboro - Tài liệu Sổ tay Kỹ Thuật Thuỷ Lợi -Phần 2-Tập 1 -Mục B-Chương 2 pdf
Hình 2 6. Đập đá đổ Miboro (Trang 13)
Hình 2-8. Đập có lõi trọng lực Triniti (Mỹ) - Tài liệu Sổ tay Kỹ Thuật Thuỷ Lợi -Phần 2-Tập 1 -Mục B-Chương 2 pdf
Hình 2 8. Đập có lõi trọng lực Triniti (Mỹ) (Trang 15)
Hình 2-10. Đồ thị quan hệ giữa hệ số a r  với độ rỗng (n)   và hệ số không đồng nhất của đất h - Tài liệu Sổ tay Kỹ Thuật Thuỷ Lợi -Phần 2-Tập 1 -Mục B-Chương 2 pdf
Hình 2 10. Đồ thị quan hệ giữa hệ số a r với độ rỗng (n) và hệ số không đồng nhất của đất h (Trang 16)
Bảng 2-5. Bảng so sánh kết cấu tường nghiêng bằng bê tông atphan - Tài liệu Sổ tay Kỹ Thuật Thuỷ Lợi -Phần 2-Tập 1 -Mục B-Chương 2 pdf
Bảng 2 5. Bảng so sánh kết cấu tường nghiêng bằng bê tông atphan (Trang 19)
Hình 2-12) ở những đập thấp và trung bình. - Tài liệu Sổ tay Kỹ Thuật Thuỷ Lợi -Phần 2-Tập 1 -Mục B-Chương 2 pdf
Hình 2 12) ở những đập thấp và trung bình (Trang 21)
Hỡnh 2-13. Mặt cắt đập đỏ đổ Axuan (Ai Cập) 1- đỏ lỏt khan trờn lớp đệm bằng đỏ dăm; 2- ba lớp lọc ngược (Đỏ dăm cỡ hạt 40 ỏ 50 mm dày 1 m, đỏ dăm cỡ hạt 5 ỏ 35 m dày  0,5  m và cỏt lớn d = 1,5 mm dày 1 m); 3- đỏ vụn ở mỏ; 4- giếng thoỏt nước; 5- cỏt cồn  - Tài liệu Sổ tay Kỹ Thuật Thuỷ Lợi -Phần 2-Tập 1 -Mục B-Chương 2 pdf
nh 2-13. Mặt cắt đập đỏ đổ Axuan (Ai Cập) 1- đỏ lỏt khan trờn lớp đệm bằng đỏ dăm; 2- ba lớp lọc ngược (Đỏ dăm cỡ hạt 40 ỏ 50 mm dày 1 m, đỏ dăm cỡ hạt 5 ỏ 35 m dày 0,5 m và cỏt lớn d = 1,5 mm dày 1 m); 3- đỏ vụn ở mỏ; 4- giếng thoỏt nước; 5- cỏt cồn (Trang 22)
Hình 2-14. Mặt cắt ngang đập đá đổ tường trọng lực bê tông Sư tử Than (đơn vị: m) - Tài liệu Sổ tay Kỹ Thuật Thuỷ Lợi -Phần 2-Tập 1 -Mục B-Chương 2 pdf
Hình 2 14. Mặt cắt ngang đập đá đổ tường trọng lực bê tông Sư tử Than (đơn vị: m) (Trang 23)
Hỡnh 2-15. Đập đỏ đổ Nurếch cú hành lang khoan phun trong lừi giữa bằng ỏ sột - Tài liệu Sổ tay Kỹ Thuật Thuỷ Lợi -Phần 2-Tập 1 -Mục B-Chương 2 pdf
nh 2-15. Đập đỏ đổ Nurếch cú hành lang khoan phun trong lừi giữa bằng ỏ sột (Trang 26)
Hình 2-16. Sơ đồ xây dựng màn chống thấm ở nền đập - Tài liệu Sổ tay Kỹ Thuật Thuỷ Lợi -Phần 2-Tập 1 -Mục B-Chương 2 pdf
Hình 2 16. Sơ đồ xây dựng màn chống thấm ở nền đập (Trang 26)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm