Yêu cầu đổi mới kinh tế, đòi hỏi phải xây dựng đồng bộ hệ thống cơ chế và bộ máy quản lý, đồng thời hình thành và sử dụng có hiệu quả các công cụ kiểm soát, phù hợp với nền kinh tế thị trường và nguyên tắc, chuẩn mực, thông lệ quốc tế. Ở Việt Nam, kiểm toán mới xuất hiện từ những năm đầu thập kỷ 90, của Thế kỷ XX. Trên thế giới, hoạt động kiểm toán đã có từ rất lâu, từ khi xuất hiện nhu cầu xác định tính trung thực, độ tin cậy của thông tin trong báo cáo tài chính, kế toán và thực trạng tài sản của một chủ thể trong quan hệ kinh tế. Nếu kế toán có nhiệm vụ tổ chức hệ thống thông tin phục vụ cho quyết định kinh tế của các chủ thể, các đối tượng có liên quan, thì kiểm toán có trách nhiệm thẩm tra, đánh giá mức độ chính xác, tin cậy, đảm bảo và nâng cao độ tin cậy của các thông tin tài chính do kế toán cung cấp. Lịch sử về quá trình ra đời và phát triển của Kiểm toán Nhà nước và Kiểm toán độc lập trên thế giới được gắn liền với sự ra đời và phát triển của Nhà nước pháp quyền và sự phát triển của nền kinh tế thị trường. Trong nền kinh tế này, cạnh tranh được xem là động lực thúc đẩy xã hội phát triển. Có thể nói hoạt động kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước và Kiểm toán độc lập được coi là một yếu tố cấu thành các quan hệ của nền kinh tế thị trường để đảm bảo sự cân bằng các mối quan hệ kinh tế tài chính trong cạnh tranh, bảo đảm các thông tin công khai luôn trung thực và hợp lý, nhằm làm minh bạch và lành mạnh hóa nền tài chính quốc gia. Từ đó cần có sự phân định và nhìn nhận sự khác nhau một các rất khoa học của 2 loại kiểm toán này.
Trang 1Đề tài: PHÂN BIỆT KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP VÀ KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ……….2
CƠ SỞ NỘI DUNG : Phân biệt Kiểm toán độc lập và Kiểm toán Nhà nước ……… 3
1 Khái quát chung về Kiểm toán độc lập và Kiểm toán Nhà nước ……… 3
1.1 Khái quát chung về phân loại Kiểm toán ………3
1.2 Khái quát chung về Kiểm toán độc lập và Kiểm toán Nhà nước ………4
2 Các yếu tố phân biệt giữa Kiểm toán độc lập và Kiểm toán Nhà nước ……… 5
2.1 Chủ thể Kiểm toán ………5
2.2 Mô hình tổ chức ………6
2.3.Khách thể Kiểm toán ………7
2.4 Loại hình Kiểm toán chủ yếu ………8
2.5 Mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể Kiểm toán là ngoại kiểm ………8
2.6 Gía trị pháp lí của Báo cáo kiểm toán ……….,9
KẾT LUẬN ……… 10
MỤC LỤC ………11
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 12
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ……… 13
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Yêu cầu đổi mới kinh tế, đòi hỏi phải xây dựng đồng bộ hệ thống cơ chế và bộ máy quản lý, đồng thời hình thành và sử dụng có hiệu quả các công cụ kiểm soát, phù hợp với nền kinh tế thị trường và nguyên tắc, chuẩn mực, thông lệ quốc tế Ở Việt Nam, kiểm toán mới xuất hiện từ những năm đầu thập kỷ 90, của Thế kỷ XX Trên thế giới, hoạt động kiểm toán đã có từ rất lâu, từ khi xuất hiện nhu cầu xác định tính trung thực, độ tin cậy của thông tin trong báo cáo tài chính, kế toán và thực trạng tài sản của một chủ thể trong quan hệ kinh tế
Nếu kế toán có nhiệm vụ tổ chức hệ thống thông tin phục vụ cho quyết định kinh tế của các chủ thể, các đối tượng có liên quan, thì kiểm toán có trách nhiệm thẩm tra, đánh giá mức độ chính xác, tin cậy, đảm bảo và nâng cao độ tin cậy của các thông tin tài chính
do kế toán cung cấp
Lịch sử về quá trình ra đời và phát triển của Kiểm toán Nhà nước và Kiểm toán độc lập trên thế giới được gắn liền với sự ra đời và phát triển của Nhà nước pháp quyền và sự phát triển của nền kinh tế thị trường Trong nền kinh tế này, cạnh tranh được xem là động lực thúc đẩy xã hội phát triển Có thể nói hoạt động kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước
và Kiểm toán độc lập được coi là một yếu tố cấu thành các quan hệ của nền kinh tế thị trường để đảm bảo sự cân bằng các mối quan hệ kinh tế tài chính trong cạnh tranh, bảo đảm các thông tin công khai luôn trung thực và hợp lý, nhằm làm minh bạch và lành mạnh hóa nền tài chính quốc gia Từ đó cần có sự phân định và nhìn nhận sự khác nhau một các rất khoa học của 2 loại kiểm toán này
Trang 3CƠ SỞ NỘI DUNG
1 Khái quát chung về Kiểm toán độc lập và Kiểm toán Nhà nước
1.1 Khái quát chung về phân loại Kiểm toán
Qua nghiên cứu lịch sử và bản chất của kiểm toán, chúng ta đã tiếp cận các loại kiểm toán khác nhau Để có nhận thức rõ hơn về kiểm toán và có cơ sở tổ chức tốt công tác kiểm toán cần đi sâu vào nghiên cứu các loại kiểm toán Cũng như các hoạt động khác, kiểm toán cần và có thể phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau:
Theo đối tượng cụ thể, kiểm toán có thể phân thành kiểm toán (bảng khai) tài chính,
kiểm toán hoạt động và kiểm toán liên kết
Theo lĩnh vực cụ thể, có thể phân kiểm toán thành kiểm toán thông tin, kiểm toán quy
tắc (tuân thủ), kiểm toán hiệu năng và kiểm toán hiệu quả
Theo phương pháp áp dụng trong kiểm toán, có thể phân kiểm toán thành kiểm toán
chứng từ và kiểm toán ngoài chứng từ Kiểm toán chứng từ là phương pháp mà kiểm toán dựa vào thông tin kế toán, trên cơ sở phương pháp luận và phương pháp kỹ thuật để xây dựng phương pháp riêng của mình như kiểm tra các cân đối hoặc đối chiếu Kiểm toán ngoài chứng từ là phương pháp mà kiểm toán viên chưa có đủ các cơ sở dẫn liệu nếu chỉ dựa đơn thuần vào thông tin kế toán và thông tin có liên quan khác do khách thể kiểm toán cung cấp Để thu thập bằng chứng, kiểm toán cần phải có các phương pháp thích hợp như kiểm kê, thực nghiệm và điều tra
Theo quan hệ giữa chủ thể và khách thể kiểm toán có thể phân kiểm toán thành nội
kiểm và ngoại kiểm Kiểm toán từ bên ngoài (ngoại kiểm) là hình thức kiểm toán do chủ thể kiểm toán ở bên ngoài đơn vị thực hiện Nội kiểm là hình thức kiểm toán do đơn vị tự thực hiện các hoạt động kiểm tra, kiểm soát với mục đích quản trị nội bộ
Theo phạm vi tiến hành kiểm toán, có thể phân thành kiểm toán toàn diện và kiểm toán
chọn điểm (điển hình) Kiểm toán toàn diện và chọn điểm có thể được hiểu theo nhiều nghĩa Trong phạm vi đối tượng kiểm toán, kiểm toán toàn diện đồng nghĩa với việc toàn
Trang 4bộ các chứng từ, nghiệp vụ thuộc đối tượng kiểm toán sẽ được chọn để áp dụng các thủ tục kiểm toán Với chọn điển hình, bằng phán đoán và kinh nghiệm nghề nghiệp, kiểm toán viên chỉ quan tâm đến những phần tử trong tổng thể chứa đựng các đặc trưng của tổng thể hoặc các phần tử có quy mô lớn, có khả năng sai phạm nhất
Theo tính chu kỳ của kiểm toán, có thể phân kiểm toán thành kiểm toán thường kỳ, kiểm
toán định kỳ và kiểm toán bất thường (đột xuất) Kiểm toán thường kỳ hướng đến mục đích thường xuyên củng cố, tăng cường và lành mạnh hóa nề nếp các hoạt động, đặc biệt
là hoạt động tài chính Kiểm toán bất thường hướng đến việc phát hiện các tình huống sai sót, gian lận, vi phạm các quy định, thủ tục, trong quá trình thực hiện các hoạt động mà thời gian thực hiện các cuộc kiểm toán dạng này không được báo trước Trong khi đó, kiểm toán định kỳ lại gắn liền với các kế hoạch, các lịch trình kiểm toán mà khách thể kiểm toán đã được biết trước và cần phải chủ động lên chương trình để thực hiện
Theo quan hệ về thời điểm kiểm toán với thời điểm thực hiện nghiệp vụ, kiểm toán bao
gồm kiểm toán trước, kiểm toán hiện hành và kiểm toán sau Mục đích thực hiện kiểm toán trước nhằm cung cấp thông tin cho việc ra quyết định, góp phần ngăn chặn hoặc phòng ngừa những quyết định không hợp lý, không khả thi trong thực tế
Theo tổ chức bộ máy kiểm toán, có thể phân kiểm toán thành kiểm toán nhà nước, kiểm
toán độc lập và kiểm toán nội bộ
Theo quan hệ pháp lý của kiểm toán, có thể có kiểm toán bắt buộc và kiểm toán tự
nguyện Kiểm toán bắt buộc là kiểm toán đối với báo cáo tài chính hàng năm và các thông tin tài chính khác của các doanh nghiệp, tổ chức do pháp luật quy định Kiểm toán tự nguyện liên quan đến các khách thể kiểm toán theo quy định của pháp luật không phải kiểm toán nhưng vẫn có nhu cầu kiểm toán báo cáo tài chính hoặc các công việc kiểm toán khác
Theo tính chất và phạm vi của kiểm toán có thể phân thành kiểm toán ngân sách và tài
sản công, kiểm toán dự án các công trình, kiểm toán các đơn vị dự toán,…
1.2 Khái quát chung về Kiểm toán độc lập và Kiểm toán Nhà nước
KTĐL và KTNN là 2 loại kiểm toán được phân loại theo tổ chức bộ máy kiểm toán.
“ Kiểm toán Nhà nước là hệ thống bộ máy chuyên môn của Nhà nước thực hiện các chức năng kiểm toán ngân sách và tài sản công.”
Trang 5Ở thời kỳ trung đại, kiểm toán nhà nước đã xuất hiện để đối soát tài sản của vua chúa Qua quá trình phát triển cho đến nay, kiểm toán nhà nước ở các nước phát triển đều thực hiện chức năng kiểm toán đơn vị ở khu vực công cộng
“ Kiểm toán độc lập là các tổ chức kinh doanh dịch vụ kiểm toán và tư vấn theo yêu cầu của khách hàng Đây là hoạt động đặc trưng của nền kinh tế thị trường.”
Cho đến nay, trên thế giới đã có hàng trăm ngàn tổ chức kiểm toán độc lập hoạt động trong lĩnh vực kiểm toán và tư vấn tài chính
2 Các yếu tố phân biệt giữa Kiểm toán độc lập và Kiểm toán Nhà nước
2.1 Chủ thể Kiểm toán
Chủ thể KTĐL là các kiểm toán viên độc
lập Các kiểm toán viên độc lập là những
người hội tụ đủ các tiêu chuẩn theo chuẩn
mực kiểm toán và các quy định pháp lý về
hành nghề kiểm toán Nói cách khác, các
kiểm toán viên độc lập phải hành nghề
kiểm toán chuyên nghiệp và bắt buộc phải
có chứng từ kiểm toán
Ví dụ, ở Việt Nam, để hành nghề kiểm
toán thì cần có đủ các điều kiện sau đây:
Về nghiệp vụ chuyên môn: Phải có
chứng chỉ kế toán viên công chứng (CPA)
Về phẩm chất đạo đức: Phải có
người không có tiền án tiền sự
Về pháp lý: Phải đăng ký hành nghề
tại Bộ Tài chính Ở các quốc gia khác,
kiểm toán viên thường đăng ký hành nghề
tại Bộ tư pháp
Về xã hội: Không có chung lợi ích,
không có quan hệ ruột thịt với khách thể
kiểm toán
Chủ thể thực hiện KTNN được gọi là các kiểm toán viên nhà nước Kiểm toán viên nhà nước là các viên chức, công chức nhà nước được bổ nhiệm vào ngạch kiểm toán để thực hiện nhiệm vụ kiểm toán Chức năng và quyền hạn cụ thể của từng ngành bậc cũng có quy định cụ thể tùy theo từng nước song nói chung cũng có sự gần gũi giữa các quốc gia Ngoài ra, các kiểm toán viên nhà nước phải có chứng chỉ hành nghề do Tổng kiểm toán nhà nước cấp
2.2 Mô hình tổ chức
Trang 6Kiểm toán độc lập Kiểm toán Nhà nước
Công ty kiểm toán là bộ máy tổ chức
bộ máy kiểm toán với số lượng lớn các
kiểm toán viên độc lập Các công ty
này thực hiện nhiều loại dịch vụ trên
địa bàn rộng lớn Do đó, chúng được
tổ chức theo hình thức phân tán và
điều hành theo phương thức chức năng
hoặc kết hợp Theo mô hình này, các
công ty đòi hỏi trình độ tổ chức phối
hợp cao của các nhà quản lý, đòi hỏi
khả năng chuyên môn cao và toàn diện
của kiểm toán viên và lãnh đạo công
ty, đòi hỏi đầu tư lớn về chuyên gia,
kinh nghiệm và tiền vốn,… Tuy nhiên,
cũng do luôn có tiềm năng lớn như thế
nên các công ty kiểm toán có sức cạnh
tranh lớn trên thị trường Hiện nay, thế
mạnh trong cạnh tranh quốc tế của
KTĐL thuộc về các công ty kiểm toán
có quy mô lớn quốc gia và xuyên quốc
gia.Trong số đó phải nhắc đến 4 công
ty xuyên quốc gia đứng đầu thế giới
(gọi tắt là Big-fours) là Ernst and
Young, Deloitte, KPMG Peat Marwick
and Price Waterhouse Coopers
Văn phòng kiểm toán tư được hình
thành bởi một hoặc vài kiểm toán viên
độc lập đẻ kinh doanh dịch vụ kiểm
toán và các dịch vụ khác có liên quan
Mô hình này phát triển phổ biến ở
Cộng hòa Pháp và các nước Tây Âu
Ưu điểm của loại hình này là phát huy
năng động cao của bộ máy kiểm toán,
thích ứng với nhu cầu kiểm toán và tư
vấn của doanh nghiệp vừa và nhỏ Tuy
nhiên, nhược điểm là các văn phòng
chỉ thực hiện giới hạn các dịch vụ và
sức cạnh tranh của mỗi tổ chức cũng
hạn chế Hiện nay ở Việt Nam chưa có
thành lập văn phòng kiểm toán tư, các
công ty kiểm toán đa số có quy mô
Trong quan hệ với kiểm toán viên Nhà nước, kiểm toán Nhà nước là một hệ thống tập hợp kiểm toán viên này theo một trật tự xác định Trong hàng loạt mối liên hệ phức tạp đó đã hình thành những mô hình tổ chức khác nhau tùy theo phạm vi các mối liên hệ
- Trong quan hệ nhà nước, KTNN
có thể độc lập với hệ thống hành pháp hoặc trực thuộc một phía hành pháp hoặc lập pháp
+ KTNN trực thuộc cơ quan lập pháp: Với mô hình này, KTNN trợ giúp đắc lực cho Nhà nước không chỉ ở kiểm tra thực hiện pháp luật mà trong cả việc soạn thảo và xây dựng các sắc luật cụ thể
Mô hình này cũng tạo điều kiện tối đa để
có thể độc lập và thực hiện chức năng phản biện đối với Chính phủ, giúp Quốc hội thực thi quyền kiểm soát các hoạt động tài chính của Chính phủ Tuy nhiên,
mô hình này cũng khiến cho cơ quan KTNN không có cơ hội tiếp xúc trực tiếp thương xuyên với sự điều hành và các hoạt động của Chính phủ, do đó có thể làm chậm đi công tác kiểm toán Mô hình
cơ quan KTNN trực thuộc cơ quan lập pháp được ứng dụng rộng rãi ở nhiều nước trên khắp thế giới như Anh, Mỹ, Canada, Nga, Việt Nam (1/1/2006)
+ KTNN trực thuộc cơ quan hành pháp: Mô hình này giúp Chính phủ điều
Trang 7nhỏ hành nhanh nhạy quá trình thực hiện ngân
sách và các hoạt động khác Tuy nhiên, nó cũng hạn chế phần nào tính độc lập của KTNN khi thực hiện chức năng phản biện của Chính phủ Việc tổ chức cơ quan kiểm toán Nhà nước trực thuộc Chính phủ ở các nước khác nhau cũng không hoàn toàn như nhau Chẳng hạn, ở Trung Quốc, KTNN được tổ chức thành một cơ quan hành chính như một bộ, song có quyền kiểm toán các bộ khác của Chính phủ (kể
cả Bộ tài Chính); hoặc KTNN cũng có thể được tổ chức như cơ quan chuyên môn
Mô hình này đucợ áp dụng tại một số quốc gia như: Trung Quốc, Nhật Bản, Inđônêxia
+ KTNN độc lập với cơ quan lập pháp và hành pháp: Mô hình này được ứng dụng ở hầu hết các nước có nền kiểm toán phát triển, có nhà nước pháp quyền được xây dựng có nền nếp như: KTNN CHLB Đức, Tòa thẩm kế của Cộng hòa Pháp,… Nhờ đó KTNN phát huy được đầy đủ tính độc lập trong việc thực hiện các chức năng của mình
Trong liên hệ nộ bộ, cơ quan KTNN có thể liên hệ theo chiều dọc và theo chiều ngang
+ Liên hệ theo chiều ngang: là mối liên hệ nội bộ trong cơ quan kiểm toán cung cấp Liên hệ này có thể trực tuyến hoặc chức năng Trong liên hệ trực tuyến, Tổng kiểm toán trưởng (hoặc Phó tổng kiểm toán) được ủy nhiệm trực tiếp chỉ
Trang 8huy các hoạt động của KTNN Trong liên
hệ chức năng, quyền điêug hành công việc được phân thành nhiều khối, mỗi khối lại được chia thành nhiều cấp khác nhau
+ Liên hệ dọc: là mối liên hệ trong nội bộ tổ chức của cơ quan KTNN theo tính chất cấp bậc, cơ quan KTNN trung ương có thể có mạng lưới ở tất cả các địa phương hoặc ở từng khu vực
2.3.Khách thể Kiểm toán
Khách thể của KTĐL thường bao gồm:
+ Các doanh nghiệp, xí nghiệp tư
+ Các doanh nghiệp có 100% vốn đầu tư
nước ngoài
+ Các liên doanh, các tổ chức trong nước
và ngoài nước
+ Các hợp tác xã và doanh nghiệp cố phần
+ Các chương trình, dự án có nguồn ngân
phí từ bên ngoài nhà nước
Khách thể của KTNN thường được bao gồm tất cả các đơn vị, cá nhân có sử dụng nguồn ngân sách nhà nước như:
+ Các dự án, công trình do ngân sách nhà nước đầu tư
+ Các doanh nghiệp nhà nước có 100% vốn ngân sách nhà nước
+ Các xí nghiệp công cộng thuộc sở hữu nhà nước
+ Các cơ quan kinh tế, quản lí nhà nước và các đoàn thể xã hội
+ Các cá nhân có nguồn từ NSNN
2.4 Loại hình Kiểm toán chủ yếu
KTĐL chủ yếu tiến hành kiểm toán tài
chính, góp phần công khai, minh bạch báo
cáo tài chính của các doanh nghiệp, tổ
chức; lành mạnh môi trường đầu tư; phát
Kiểm toán nhà nước chủ yếu thực hiện kiểm toán tài chính và kiểm toán hoạt động Với chức năng, nhiệm vụ của mình, kiểm toán nhà nước tiến hành xác minh
Trang 9hiện và ngăn chặn hành vi vi phạm pháp
luật từ đó nâng cao hiệu quả công tác quản
lý và điều hành kinh tế, tài chính của Nhà
nước và hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp Ngoài ra, tùy theo yêu cầu của
khách hàng mà KTĐL có thể tiến hành
cung cấp các dịch vụ khác như tư vấn tài
chính, kế toán,…
tính trung thực, đúng đắn của Báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước, chỉ ra những sai phạm, bất cập trong việc thực hiện ngân sách nhà nước, kiến nghị với Chính phủ các giải pháp để quản lý, điều hành ngân sách nhà nước phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội; đánh giá hiệu quả và hiệu năng của các chương trình, dự án của Nhà nước trong lĩnh vực kinh tế - ngân sách
2.5 Mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể Kiểm toán là ngoại kiểm
KTĐL tiến hành kiểm toán dựa trên cơ
sở thỏa thuận với khách hàng thông qua
hợp đồng kiểm toán và thu phí kiểm toán
từ khách hàng
KTNN tiến hành kiểm toán mang tính bắt buộc theo kế hoạch hàng năm và không được thu phí kiểm toán đối với các đơn vị, tổ chức, cá nhân có sử dụng vốn và kinh phí từ ngân sách nhà nước
2.6 Gía trị pháp lí của Báo cáo kiểm toán
Báo cáo kiểm toán mà KTĐL phát hành có
giá trị pháp lý cao, tạo niềm tin cho những
“người quan tâm” đến tình hình tài chính
của đơn vị được kiểm toán:
- Báo cáo kiểm toán của KTĐL đươc cơ
quan Nhà nước và đơn vị cấp trên sử dụng
cho quản lý, điều hành theo chức năng,
nhiệm vụ được giao;
- Các cổ đông, các nhà đầu tư có quyền
lợi trực tiếp với đơn vị được kiểm toán,
Báo cáo kiểm toán do KTNN phát hành có giá trị pháp lý cao Báo cáo kiểm toán của KTNN phục vụ cho Quốc hội, Chính phủ, Hội đồng nhân dân,… xem xét và quyết định dự toán ngân sách nhà nước, địa phương, sử dụng trong quản lý, điều hành
và thực thi nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước Đơn vị được kiểm toán sẽ phải thực hiện các kết luận, kiến nghị của KTNN đối với các sai phạm trong báo cáo tài chính
Trang 10các bên tham gia liên doanh, liên kết, các
khách hàng và tổ chức, cá nhân khác sử
dụng kết quả kiểm toán để xử lý các mối
quan hệ về quyền lợi và nghĩa vụ của các
bên có liên quan trong quá trình hoạt động
của đơn vị;
- Ngoài ra, báo cáo KTĐL còn giúp đơn
vị được kiểm toán phát hiện, xử lý và ngăn
ngừa kịp thời các sai sót, yếu kém trong
hoạt động của đơn vị
và các sai phạm trong việctuân thủ pháp luật; thực hiện các biện pháp khắc phục yếu kém trong hoạt động của đơn vị do KTNN phát hiện và kiến nghị Những kết luận kiểm toán đã được cơ quan, người có thẩm quyền chấp nhận có giá trị bắt buộc thực hiện
Sự hiện diện và hoạt động của cơ quan KTNN đã góp phần quan trọng vào việc thiết lập và giữ vững kỷ cương tài chính, chấp hành Luật Ngân sách Nhà nước, phát hiện và ngăn chặn các hành vi tham nhũng, tiêu xài phung phí tiền của Nhà nước KTNN đã thực sự trở thành một bộ phận hợp thành không thể thiếu của hệ thống kiểm tra, kiểm soát của Nhà nước
KẾT LUẬN
Kiểm toán là một lĩnh vực còn hết sức mới mẻ ở Việt Nam Lịch sử hình thành và phát triển của kiểm toán Việt Nam mới chỉ bắt đầu từ những năm đầu của thập niên 90, xuất phát từ nhu cầu tất yếu khách quan của nền kinh tế thị trường: đòi hỏi các hoạt động kinh tế - tài chính diễn ra một cách bình đẳng, minh bạch, công khai Điều này thực sự cần thiết đối với các nhà đầu tư, các doanh nhân, thương nhân và cả Nhà Nước Những người quan tâm rất cần độ tin cậy cao của những thông tin kinh tế - tài chính để sử dụng, xem xét cân nhắc khi đưa ra quyết định đầu tư, kinh doanh, hoặc quyết định những vấn đề