TÁI HÒA NHẬP CHO NGƯỜI DI CƯ TRÁI PHÉP SANG ANH HỒI HƯƠNG VỀ VIỆT NAM: TIẾP CẬN TỪ GÓC ĐỘ CÔNG TÁC XÃ HỘI Tóm tắt: Trong khoảng 10 năm trở lại đây nhiều người ở một số tỉnh miền Bắc và
Trang 1See discussions, stats, and author profiles for this publication at: https://www.researchgate.net/publication/276207560
Tái hoà nhập cho người di cư trái phép sang Anh hồi hương về Việt Nam từ góc
độ công tác xã hội
Conference Paper · November 2014
DOI: 10.13140/RG.2.1.4444.7842
CITATIONS
0
READS
225
3 authors, including:
Some of the authors of this publication are also working on these related projects:
Understanding Daily Life in Vietnam View project
Kham Tran
University of South Australia
46 PUBLICATIONS 60 CITATIONS
SEE PROFILE
Trang 2TÁI HÒA NHẬP CHO NGƯỜI DI CƯ TRÁI PHÉP SANG ANH HỒI HƯƠNG VỀ VIỆT NAM: TIẾP CẬN TỪ GÓC ĐỘ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Tóm tắt: Trong khoảng 10 năm trở lại đây nhiều người ở một số tỉnh miền Bắc và
miền Trung theo nhau di cư bất hợp pháp sang Anh thông qua các đường dây đưa người trái phép với giấc mơ làm giầu nhanh chóng Khi hồi hương về Việt Nam họ đã phải đối mặt với nhiều khó khăn trong quá trình tái hòa nhập Tuy nhiên vẫn chưa có các dịch vụ
hỗ trợ tái hòa nhập phù hợp và dễ tiếp cận cho những người này Việc đánh giá lại dịch
vụ và bổ sung các dịch vụ mới là việc làm cần thiết từ các cách tiếp cận khác nhau, trong
đó có cách nhìn của công tác xã hội
Từ khóa: di cư trái phép, buôn bán người, hồi hương, tái hòa nhập, dịch vụ hỗ trợ
tái hòa nhập
Trang 3REINTEGRATION PROCESS FOR VIETNAMESE IRREGULAR MIGRANTS
IN THE UNITED KINGDOM: AN SOCIAL WORK PERSPECTIVE
Abstract: In the last 10 years, through smugglers, some Vietnamese people from
the central and northern provinces entered illegally into the United Kingdom with dream
of getting rich quickly When repatriated to Vietnam they were faced with many difficulties in the reintegration process However, there is no suitable and accessible reintegration services for these people The evaluation of the services and adding new services is essential from different perspectives including social work one
Key words: irregular migrant, human trafficking, repatriation, reintegration,
reintegration services
Trang 4Đặt vấn đề
Trong khi có nhiều lựa chọn hợp pháp để ra nước ngoài lao động thông qua các chương trình hợp tác xuất khẩu lao động chính thức thì người dân ở một số địa phương như Hà Tĩnh, Quảng Bình, Hải Phòng, v.v vẫn tìm cách di cư bất hợp pháp sang Anh thông qua các đường dây đưa người trái phép Những người này phải đối mặt với nhiều rủi ro về sức khỏe, an toàn tính mạng, phạm pháp, bị bóc lột, và hạng loạt khó khăn trong quá trình tái hòa nhập sau khi hồi hương về Việt Nam do không có việc làm, nợ nần và túng thiếu
Theo báo cáo của Cơ quan phòng chống tội phạm nghiêm trọng có tổ chức Vương quốc Anh (SOCA), trong năm 2011, trong số nạn nhân của các đường dây buôn lậu người vào Anh, nạn nhân là trẻ em từ Việt Nam chiếm 13% trong tổng số 489 trẻ em từ
43 nước (đứng thứ hai sau Rumania) Cũng theo cơ quan này thì những người được đưa lậu vào Anh có thể bị bóc lột dưới nhiều hình thức, như bị buộc phải bán dâm, lao động
bị trả lương thấp, trồng cần sa và làm các việc làm phi pháp khác Theo Sứ quán Anh tại Việt Nam, riêng trong năm 2009 có 525 người Việt Nam đã bị trục xuất khỏi Anh sau khi
bị bắt giữ vì tội nhập cư lậu và nhiều người khác đã bị bắt vì trồng cần sa trái phép 1 Theo SOCA, trong năm 2013, trong số 140 nạn nhân người Việt Nam được hồi hương từ Anh về nước thì có tới 95 người (68%) đã nói là họ bị các đường dây đưa lậu người và băng nhóm tội phạm ở Anh ép buộc trồng cần sa Cũng trong năm 2013, nạn nhân là người Việt Nam chiếm 5% trong số các nạn nhân được các cơ quan hữu quan của Anh
đánh giá theo Cơ chế xác định nạn nhân (được ban hành từ năm 2009 để sàng lọc và bảo
vệ nạn nhân buôn bán người)
Những thực tế trên đây đặt ra vấn đề cần phải tìm hiểu những lý do khiến người dân di cư trái phép sang Anh và đặc biệt là những khó khăn mà người di cư hồi hương phải đối mặt và các nhu cầu của họ để tái hòa nhập Bên cạnh đó, việc đánh giá các dịch
vụ hỗ trợ tái hòa nhập để chỉ ra mức độ sẵn có – tính phù hợp và khả năng tiếp cận cũng
là việc làm cần thiết Trên cở đó cần xây dựng các mô hình trợ giúp phù hợp để hỗ trợ tái hòa nhập và phòng chống (tái) di cư bất hợp pháp, đặc biệt là các giải pháp về hỗ trợ vốn
1
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2010/09/100907_uk_viet_illegals.shtml
Trang 5vay tạo sinh kế và cung cấp thông tin về di cư an toàn hướng đến tạo được cuộc sống phát triển bền vững Bài viết này là một phần trong đề tài nghiên cứu về Người Việt Nam
di cư trái phép sang Anh hồi hương và nhu cầu về dịch vụ hỗ trợ tái hoà nhập cộng đồng
Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Trong những năm gần đây, một số cơ quan và tổ chức trong nước cũng như quốc
tế đã có các nghiên cứu, đánh giá về vấn đề người Việt Nam di cư ra nước ngoài, trong
đó có vấn đề hỗ trợ tái hòa nhập cho người hồi hương Nghiên cứu đầu tiên phải kể đến là
Báo cáo Tổng quan về tình hình di cư của công dân Việt Nam ra nước ngoài do Cục
Lãnh sự - Bộ Ngoại giao và Tổ chức Di cư quốc tế (IOM) thực hiện năm 2011 Bằng phương pháp phân tích tài liệu, ngoài phần mô tả thực trạng công dân Việt Nam ra nước ngoài, báo cáo đã đưa ra một số bài học kinh nghiệm và một số khuyến nghị nhằm phát huy vai trò của di cư quốc tế vì mục tiêu hội nhập và phát triển, thúc đẩy di cư hợp pháp, bảo đảm di cư an toàn, phòng chống di cư trái phép và nạn buôn bán người
Một báo cáo khác cũng được thực hiện bằng phương pháp phân tích tài liệu là
Tóm tắt thảo luận chính sách: để người di cư trở về đóng góp tích cực cho Việt Nam Báo
cáo này do nhóm các cơ quan gồm IOM, Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) và Cơ quan Phụ nữ Liên hợp quốc (UNWOMEN) thực hiện Báo cáo đã chỉ ra nhiều tồn tại và thách thức trong công tác hỗ trợ tái hòa nhập cho người di cư hồi hương Mặc dù đã có một luật riêng về người Việt Nam đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng lao động (luật số 72/2006/QH11 - gọi tắt là Luật 72), nhưng công tác quản lý và chế độ phúc lợi cho người lao động di cư trở về vẫn chưa được giải quyết triệt để Mặc dù luật bao gồm các điều khoản hỗ trợ người di cư trở về nhưng trên thực tế nhìn chung các chính quyền địa phương không có các chính sách hỗ trợ người trở về hoặc thậm chí không biết con số người trở về Việc thực hiện Luật 72 hiện đang tồn tại một số bất cập và không có cơ quan nào chịu trách nhiệm quản lý và hỗ trợ người lao động di cư trở về mặc dù Bộ Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (LĐ-TB&XH) chịu trách nhiệm chung về quản lý lao động đi làm việc tại nước ngoài
Đánh giá hai mô hình hỗ trợ tái hòa nhập cho nạn nhân bị buôn bán ra nước ngoài
là Trung tâm Tiếp nhận và Nhóm Tự lực tại các tỉnh An Giang, Bắc Giang và Lào Cai do
Trang 6chính các tổ chức này thực hiện, IOM và Bộ LĐ-TB&XH đã nêu lên những thành công
cũng như những thách thức trong việc thực hiện công tác bảo vệ nạn nhân (Báo cáo đánh
giá các mô hình hỗ trợ tái hòa nhập cho nạn nhân bị mua bán trở về tại Việt Nam)
Khuyến nghị đáng lưu ý mà báo cáo này nên ra là ngành LĐ-TB&XH các tỉnh cần xây dựng hệ thống theo dõi tiếp tục sau khi cung cấp dịch vụ, và tăng cường sự tham gia của các tỉnh vào các hoạt động hỗ trợ; các mạng lưới tái hòa nhập cần được khuyến khích thành lập với sự tham gia của nhiều cơ quan tổ chức, trong đó có các tổ chức phi chính phủ và tổ chức quần chúng
Trong tài liệu nghiên cứu (Tái) hòa nhập: Nhìn từ quan điểm của các cơ sở hỗ trợ
nạn nhân về những thành công & thách thức trong quá trình (tái) hòa nhập cộng đồng của nạn nhân bị buôn bán trong khu vực Tiểu vùng sông Mê-Công mở rộng được các tổ
chức quốc tế về phòng chống buôn bán người là UNIAP, World Vision và Học viện Nexus xây dựng 2, các tác giả cho rằng hiện vẫn chưa có giải thích cụ thể về định nghĩa
“tái hòa nhập thành công” Điều đó có nghĩa là hoạt động hỗ trợ nạn nhân buôn bán người tái hòa nhập vẫn còn nhiều thách thức và hiệu quả của họat động hỗ trợ tái hòa nhập cần phải được xem xét lại trên cơ sở làm rõ các phương pháp, công cụ, tiêu chí và chỉ số đánh giá tái hòa nhập
Cũng được xây dựng bởi UNIAP, World Vision và Học viện Nexus, báo cáo
nghiên cứu có tên Hậu bị buôn bán: Trải nghiệm và thách thức trong quá trình (tái) hoà
nhập của người bị buôn bán trong khu vực Tiểu vùng sông Mê Kông đã làm rõ một số
thuật ngữ liên quan đến hỗ trợ tái hòa nhập, đồng thời nêu ra một số tồn tại trong công tác tái hòa nhập cho nạn nhân buôn bán người ở các nước trong khu vực Tiểu vùng sông Mê Kông, như: nạn nhân không được hỗ trợ hoặc có được hỗ trợ nhưng không đầy đủ; bản thân nạn nhân từ chối sự hỗ trợ; nạn nhân bị ép buộc phải nhận hỗ trợ; việc chuyển tuyến, điều phối và phối kết hợp còn nhiều yếu kém; không cung cấp đẩy đủ thông tin; sự riêng
2
Tài liệu này được Dự án Liên minh các tổ chức Liên hợp quốc về phòng chống buôn bán người
(UNIAP), tổ chức Tầm nhìn Thế giới (World Vision) và Học viện NEXUS xây dựng cho Chính phủ các nước COMMIT COMMIT là sáng kiến phối hợp cấp bộ trưởng các nước thuộc khu vực tiểu vùng Sông Mê-kông mở rộng về phòng chống buôn bán người
Trang 7tư và bảo mật chưa được chú trọng; thiếu các hỗ trợ mang tính cá nhân hóa; thiếu các dịch vụ toàn diện, thiếu chỗ ở phù hợp, v.v
Một số nghiên cứu khác như: Xuất khẩu lao động ở Việt Nam: một số vấn đề thực tiễn và chính sách (Viện Xã hội học, 2003); Thực trạng hoạt động xuất khẩu lao động tại Thái Bình (tổ chức Health Bridge Canada, 2006); Tác động của xuất khẩu lao động đến cuộc sống gia đình tại tỉnh Thái Bình (tổ chức Health Bridge Canada, 2008), v.v
Đánh giá chung: Từ những nghiên cứu hiện nay về vấn đề di cư, các nghiên cứu
nhấn mạnh nhiều đến các vấn đề vĩ mô liên quan đến chính sách, sự đóng góp của dòng
di cư, những khó khăn ở nơi làm việc, v.v Hiện còn thiếu những nghiên cứu đề cập toàn diện và cụ thể hơn về cách thức tạo các điều kiện thuận lợi để hỗ trợ người di cư trái phép hồi hương hoà nhập với cộng đồng từ góc độ những quy định, chính sách và các mô hình dịch vụ xã hội cụ thể Do đó, cần thiết phải tìm hiểu những khó khăn và nhu cầu của họ
để từ đó có thể xây dựng các các giải pháp đồng bộ nhằm hỗ trợ tái hòa nhập và phòng chống (tái) di cư trái phép
Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Bài viết này được dựa trên câu hỏi nghiên cứu thứ tư trong 4 câu hỏi nghiên cứu
chính của đề tài: (a) Những nguyên nhân dẫn đến việc di cư trái phép, những rủi ro và
khó khăn mà người Việt Nam phải đối mặt trong quá trình di chuyển và nhập cư trái phép
và sinh sống tại Anh là gì? (b) Những khó khăn và trở ngại đối với người di cư trái phép hồi hương trong quá trình tái hòa nhập xã hội là gì? (c) Đâu là những nhu cầu về dịch vụ
hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng và giảm thiểu nguy cơ tái di cư không an toàn của người di
cư hồi hương? Và (d) Các dịch vụ hỗ trợ tái hòa nhập và khả năng tiếp cận, và chính sách
phòng chống di cư không an toàn hiện có là gì? Các câu hỏi nghiên cứu được định hướng
và tiếp cận bởi lý thuyết nhu cầu và lý thuyết hệ thống trong công tác xã hội, trong đó nhìn nhận đâu là những nhu cầu cơ bản mà người di cư cần hiện thực hoá khi trở về Việt Nam cũng như đâu là những nguồn lực quan trọng (chính thức, phi chính thức, xã hội) để người di cư giải quyết những khó khăn khi quay trở lại Việt Nam Từ những câu hỏi nghiên cứu và tiếp cận, nghiên cứu này có áp dụng khảo sát, phân tích tài liệu, phỏng vấn
là phương pháp nghiên cứu chính
Trang 8Để tìm hiểu về người Việt Nam di cư trái phép sang Anh hồi hương và nhu cầu của họ về dịch vụ hỗ trợ tái hòa nhập, chúng tôi đã khảo sát 340 người Một vài nét về những người tham gia khảo sát:
- Địa bàn cư trú: Hà Nội (21 người), Hải Phòng (61 người), Quảng Ninh (17 người), Hà Tĩnh (80 người) và Quảng Bình (161 người)
- Giới tính: 8,2% là nữ và 91,8% là nam
- Học vấn: 84,3% có trình độ THCS hoặc THPT
- Nghề nghiệp trước khi đi Anh: 22,9% làm nông nghiệp, 30% là lao động phổ thông, 13,8% không có việc làm, v.v
- Thời điểm đi Anh: phần lớn đi Anh vào những năm 2007 – 2010 (chiếm 68,5%) Những người còn lại đi cả trước và sau thời điểm này
- Thời gian sống ở Anh: những người sống ở Anh từ 2 đến 5 năm chiếm 52,8%, sống dưới 2 năm chiếm 28,5%, sống trên 5 năm chiếm 15,6% và có một bộ phận nhỏ sống ở Anh trên 10 năm
- Thời điểm hồi hương về Việt Nam: Đa phần người di cư tham gia nghiên cứu hồi hương trong các năm từ 2010 đến 2013 (xấp xỉ 80%) Phần còn lại hồi hương cả trước và sau thời điểm này
- Tình trạng việc làm ở thời điểm khảo sát (2014): 32,1% không có việc làm
- Lý do trở về Việt Nam: 81,8% trở vệ do bị trục xuất và chỉ có 16,9% tự trở về Việc có một tỷ lệ lớn người bị trục xuất về nước cũng có nghĩa là kế hoạch làm việc và kiếm tiền ở Anh ở của họ bị phá sản Hệ quả là nhiều người đã về nước với bàn tay trắng
và số nợ đã vay để đi Anh không có nguồn để trả Kết quả này logic với thông tin về tình trạng của những người di cư sau khi hồi hương về Việt Nam
Bên cạnh đó chúng tôi cũng áp dụng phương pháp phân tích tài liệu để tìm hiểu các nghiên cứu liên quan về hỗ trợ tái hòa nhập cho người đi xuất khẩu lao động về nước
và nạn nhân của buôn bán người hồi hương, và hệ thống các chính sách và hoạt động can thiệp hiện có nhằm hỗ trợ tái hòa nhập cho những người này cũng được chúng tôi rà soát Kết quả từ phương pháp này nhằm hướng đến có được cách nhìn mang tính bối cảnh hơn cho vấn đề nghiên cứu, cũng như nhận diện các dịch vụ hiện có dành cho người lao động
Trang 9di cư, và là cơ sở để hướng đến đánh giá khả năng tiếp cận của người lao động di cư với các dịch vụ này
Kết quả nghiên cứu
Nhận diện trải nghiệm cuộc sống sau hồi hương
Số tiền mà người di cư phải trả cho đường dây đưa người để được đi Anh dao động trong khoảng từ 200 triệu đến 800 triệu Kết quả khảo sát cho thấy, có đến hơn ¾ số người đã phải vay nợ trên 70% tổng số tiền để đi Anh Trong số những người phải vay nợ
để đi Anh, mới chỉ có 51,8% đã trả hết nợ vay bằng khoản tiền mang từ Anh về
Về tình trạng việc làm của những người di cư hồi hương, vào thời điểm khảo sát,
có 32,1% không có việc làm Trong số 67,9% có việc làm thì một bộ phận chỉ làm công việc thời vụ, không cố định
Phải hồi hương trước dự định, không có tiền, gánh nặng nợ nần và sự kỳ vọng quá lớn của gia đình đã khiến nhiều người cảm thấy bị áp lực và căng thẳng Theo kết quả khảo sát, có 26,7% số người được hỏi cho biết gia đình đã mong đợi quá mức về số tiền
họ có thể kiếm được ở Anh Những khó khăn về kinh tế cộng với việc xa cách lâu ngày
đã khiến một số gia đình rạn nứt, đổ vỡ Một người di cư trở về ở Hà Nội cho biết ”cái
buồn nhất khi đi về là vợ chồng nó không còn được như cũ nữa, rồi ly dị Đấy là cái sai lầm nhất của mình Có khả năng là cũng vì xa nhau quá, rồi cũng nhiều cái…”
Với những khó khăn nêu trên, đã có đến 98% người di cư trái phép hồi hương cho biết họ mong muốn nhận được hỗ trợ từ chính quyền địa phương và chính phủ Anh Trong đó, hỗ trợ để vay vốn được nhiều người mong đợi nhất (66,1%), sau đó là hỗ trợ về giới thiệu việc làm (38,1%), hỗ trợ học nghề (12,7%) và hỗ trợ khám sức khỏe, tư vấn pháp lý và hôn gia đình (4,2%)
Đánh giá một số dịch vụ hiện có
Mặc dù đa phần người di cư trái phép sang Anh hồi hương có mong muốn được nhận một sự hỗ trợ nào đó để giúp họ nhanh chóng tái hòa nhập, nhưng kết quả khảo sát thực tế cho thấy, chỉ có rất ít người đã từng nhận được một hỗ trợ nào đó (những hỗ trợ hàm ý ở đây chưa bao gồm khoản tiền mà chính phủ Anh hỗ trợ cho một số người di cư hồi hương) Xin xem bảng dưới:
Trang 10Những hỗ trợ mà người di cư trái phép hồi hương nhận được
Hỗ trợ về pháp lý (nhập khẩu, giấy tờ đất đai, các giấy tờ khác) 2,1
Việc có rất ít người tham gia khảo sát cho biết đã từng được trợ giúp hoàn toàn phù hợp với kết quả trong các nghiên cứu khác mà chúng tôi đã đề cập ở trên trong phần tổng quan nghiên cứu (và sẽ tiếp tục bàn đến ở phần sau) Có nghĩa là hiện chưa có các dịch vụ cụ thể được xây dựng và cung cấp riêng cho những người di cư trái phép hồi hương Một số dịch vụ xã hội đã có, tuy không dành riêng cho người di cư trái phép hồi hương nhưng những người này vẫn có thể sử dụng nếu có nhu cầu, thì khả năng tiếp cận vẫn thấp vì dịch vụ chưa phù hợp hoặc thông tin về dịch vụ chưa được phổ biến Thực trạng này không chỉ xảy ra riêng với người di cư trái phép sang Anh hồi hương mà xảy ra với cả những người đi lao động xuất khẩu ở nước ngoài một cách hợp pháp
Các chính sách và hoạt động hỗ trợ nạn nhân mua bán người và người đi xuất khẩu lao động về nước tái hòa nhập được coi là các chính sách hiện có “gần gũi” nhất với người di cư trái phép sang Anh hồi hương Có thể điểm qua một số chính sách và hoạt động như sau:
- Luật Phòng, chống mua bán người (có hiệu lực từ 1/1/2012)
- Chương trình hành động quốc gia phòng, chống mua bán người giai đoạn
2011 - 2015
- Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng lao
động (có hiệu lực từ 29/11/2006)