Các vị thuốc trong thang nên xếp thành nhiều vòng và tầng:- Vị thuốc là lá, cành xếp ở tầng dưới bên trong - Tiếp theo là vị thuốc rắn, to bản, màu nâu hoặc xám - Trên là vị thuốc than
Trang 1BÀO CHẾ
THUỐC CỔ TRUYỀN
Trang 22/11/08 2
1- ĐẠI CƯƠNG
1.1 BÀO CHẾ LÀ GÌ?
- Bào là dùng sức nóng để thay đổi lý tính và dược
tính của thuốc, thuận tiện cho việc chế biến và điều trị
- Chế là dùng công phu thay đổi hình dạng, tính
chất của dược liệu
* Tóm lại: bào chế là công việc biến đổi tính thiên
nhiên của dược liệu thành những vị thuốc phòng và trị
bệnh
Trang 4
1.3 YÊU CẦU CỦA VIỆC BÀO CHẾ
Trang 52/11/08 5
Một vài lưu ý khi chế biến thuốc:
+ Để ý phòng cháy nhất là những khâu sao thuốc
+ Nếu xông thuốc, cần đeo khẩu trang tránh hơi độccủa Diêm sinh hoặc Luu huỳnh bốc lên
+ Một vài dược liệu có chất ăn da, khi rửa, nên để ởdưới vòi nước chảy Thí dụ:
- Bạch chỉ nếu rửa vào chậu nước trong nhiều giờchất Acid Angelic sẽ làm phồng và loét da tay
- Bán hạ, Thiên niên kiện nếu rửa lâu sẽ gây dị ứng
lở ngứa da
Trang 62/11/08 6
1- THUỐC THANG
1.1 Khái niệm
- Là hỗn hợp các vị thuốc
đã được chế biến và phối ngũ
theo pp YHCT và được bào
Trang 71.2 Đặc điểm của thuốc thang
- Thuốc thang thường ứng dụng rất rộng trong các dạng thuốc vì:
+ Nó dùng được liều cao
+ Hấp thụ dễ dàng
+ Hiệu quả nhanh chóng, mà lại còn gia giảm được linh hoạt, rất phù hợp với bịnh tình phức tạp, nhất là trong giai đoạn tấn công
- Được sử dụng rộng rãi vì dễ hấp thu
và công dụng nhanh
- Được uống 2-3 lần trong ngày
Trang 81.3 Cấu tạo của thuốc thang
Theo nguyên lý YHCT: Quân – thần – tá - sứ
Theo phương thuốc gia truyền
Theo phương thuốc trong y học dân gian
Tuy nhiên phải đảm bảo được tính hiệu quả và tính an toàn cho ngưới sử dụng
Trang 91.4 Liều lượng của thuốc thang
Trang 101.4 Liều lượng của thuốc thang
Khối lượng một thang:
+ Dưới 5 tuổi: 30g
+ Từ 6 – 10 tuổi: 50 – 80g
+ Từ 10 – 15 tuổi: 80 – 120g
+ Từ 15 tuổi trở lên: 120 – 150 – 200g
Nếu theo một thang thuốc cổ thường rất thấp: VD
ma hoàng thang chưa đến 50g Tuy nhiên người ta
có thể gia giảm nhiều
Trang 111.5 Cân đong thuốc thang
Trang 12 Các vị thuốc trong thang nên xếp thành nhiều vòng và tầng:
- Vị thuốc là lá, cành xếp ở tầng dưới bên trong
- Tiếp theo là vị thuốc rắn, to bản, màu nâu hoặc xám
- Trên là vị thuốc thanh mảnh, màu sắc đẹp
- Trên cùng và vòng giữa là các loại hạt, hoa
1.5 Cân đong thuốc thang
Trang 131.6 Một số điểm cần chú ý khi cân đong thuốc
Cần đánh dấu các vị thuốc đã cân
Để riêng các vị thuốc để lấy khí hoặc vị thuốc bị
phân hủy bởi nhiệt, thuốc bột gói riêng, để riêng
Cần kiểm tra các vị thuốc trong đơn để kiểm tra các trường hợp bất hợp lý: tương úy, tương sát, tương phản
Sau khi cân xong cần phải gói riêng, ghi tên, địa chỉ, kèm theo đơn và cách hướng dẫn sử dụng
Trang 141.8 Cách bào chế thang thuốc
* Dụng cụ sắc và nước để sắc
- Dùng siêu bằng đất là tốt nhất, nhưng ngày nay có thể dùng ấm men hay nhôm, không được dùng đồ sắt, gang
vì có nhiều dược liệu kỵ gang, sắt (chất chát, axit )
Siêu, ấm dùng không nên nhỏ quá, phải chứa được 1.5 lít nước.
- Một cái rây nhỏ, đường kính 8-10 cm để lọc nước thuốc.
- Nước dùng phải là nước nóng, sạch (nước mưa, nước máy, nước giếng), không dùng nước ao tù.
- Sắc thuốc đun bằng củi, than củi là tốt nhất, nếu sắc
nhiều phải xây lò đốt than quả bàng, để siêu trên 1 tấm gang, lót cát.
Trang 15 Có hai loại thuốc sắc: thuốc phát
tán và thuốc bổ
- Thuốc phát tán: loại thuốc này phần nhiều lấy
khí, cho nên dùng lửa to, sắc nhanh, đổ nước
ngập dược liệu, sắc một lần, đun sôi khoảng nửa giờ
- Sắc thuốc bổ: loại này cần lấy vị nên phải sắc nhỏ lửa, sắc chậm để chất thuốc chiết ra, đổ nhiều
nước ngập 3 – 5cm, đun âm ỉ trong 2 giờ Sắc 2 lần rồi cô lại còn khoảng 250ml
*Kỹ thuật sắc thuốc
Trang 16• Về cách uống thuốc: :
- Nên uống lúc bụng trống cho thuốc dễ hấp thu
- Không dùng chung với trứng, sữa, phó mát
- Không uống chung với nước giải khát có gas, nước
ép trái cây, nước trà, các loại chè đậu, nước canh thịt, nước rau muống
- Không dùng các chất kích thích như rượu, thuốc lá, các chất cay, nóng
- Không ăn những thức ăn cứng, dai, khó tiêu, giúp thuốc dễ hấp thu
Trang 17+ Các loại thuốc bột, lông phải cho vào túi
+ Các loại lá, cành nhỏ sắc 1 nước/1-2 giờ; rễ cứng, cành to sắc 2 lần
Trang 18CHÈ THUỐC
1.1 Định nghĩa
- Là dạng thuốc rắn bao gồm 1 hay nhiều loại dược
liệu đã được chế biến, phân chia đến mức độ
nhất định, đóng gói nhỏ và sử dụng dưới dạng thuốc hãm
- Là dạng thuốc thang đặc biệt, áp dụng cho dược
liệu có cấu tạo mỏng manh, dễ chiết xuất, không chịu được nhiệt độ khi đun lâu
Trang 191.2 Ưu – Nhược điểm
* Ưu điểm:
- Điều chế đơn giản
- Vận chuyển, bảo quản dễ dàng
- Có thể sản xuất với qui mô lớn
- Sử dụng thuận tiện
- Khắc phục được nhược điểm của thuốc sắc
* Nhược điểm:
- Chỉ thích hợp với thuốc có cấu trúc mỏng manh, dễ chiết xuất
- Nồng độ hoạt chất thấp nên tác dụng điều trị thấp
- Chỉ dùng trong một số trường hợp: cảm mạo, lợi niệu,
- Để làm chất dẫn, phối hợp với các dạng thuốc khác
Trang 202 Kỹ thuật bào chế (có 3 phương pháp)
Trang 21Làm chè gói
+ Dược liệu có cấu tạo rắn:
• Tán dập hay làm thành bột thô để chiết tối đa hoạt chất
• Nếu chiếm tỷ lệ lớn trong đơn thì chế thành cao lỏng hay chiết sơ bộ rồi phun vào dược liệu thô khi sấy
+ Dược liệu tươi: thêm vào chè thuốc bằng cách ép lấy dịch ép
+ Chất tan được trong dung môi nên hòa tan vào dung môi
Để nguội, vò nhỏ
Trang 232.2 Làm chè bánh
Áp dụng: đơn có nhiều dược liệu có cấu trúc rắn
Kỹ thuật bào chế:
- Phân chia dược liệu
+ Dược liệu là hoa, thân thảo làm như làm chè gói + Dược liệu có cấu trúc rắn chế thành dạng bột
thô
+ Dược liệu khó chiết chuyển thành cao lỏng hoặc cao thô
Trang 242.2 Làm chè bánh
- Chọn tá dược dính:
+ Chọn loại có độ dính thấp vì chúng chỉ đóng vai trò trung gian để làm dạng bánh chè
+ Thông thường người ta sử dụng các dược liệu có khả
năng dính: cao lỏng, siro, dịch ép,
- Phối hợp dược liệu : có 2 cách
+ Trộn đều dược liệu, cho thêm tá dược dính, trộn đều,
Trang 262.3 Chè tan ( cốm tan)
Cao mềm
Tá dược độn, rã để điều vị ( lactose, saccarose
Khối dẻo
Xát qua rây
Hạt Sấy khô đến độ ẩm qui định
Đóng gói 3 – 5g
Trang 27Hỗn hợp
Trang 282.3 Chè tan ( cốm tan)
dễ hút ẩm, phải có thiết bị phun sương và sản phẩm phải chống ẩm tốt
Bột hoặc hạt nhỏ
Phun sương
Đóng gói 3 – 5 g
Trang 29- Hãm thay uống nước hàng ngày
- Thời gian hãm: dược liệu cấu trúc mỏng manh: 10 – 15 phút, dược liệu rắn lâu hơn Chè tan hòa tan trong nước ấm uống ngay
- Với bánh chè phải vò vụn trước khi hãm
Trang 30THUỐC TÁN ( Bột )
1 Định nghĩa
Là dạng bột khô tơi, để uống hoặc dùng ngoài, được điều chế từ một hay nhiều dược liệu (đã chế biến hay sấy khô) bằng cách tán mịn, rây qua cỡ rây thích hợp và trộn đều
Là dạng thành phẩm trung gian
dùng để điều chế nhiều dạng khác nhau như cốm, rượu, viên,
Trang 31- Thuốc tán là những loại thuốc không thể chịu lửa,hoặc có vị sắc thuốc thang uống sẽ bị nôn, thuốc tán còn
Đặc điểm
Trang 32Phân loại
cam thảo, ); bột kép ( hoắc hương chính khí tán, ).
nhất tán), bột dùng ngoài để xoa ( bột phèn sa), để rắc, để tra mắt, rửa vết thương, để ngửi,
bột rất mịn
Trang 33Ưu – Nhược điểm
• Ưu điểm:
- Phương pháp điều chế đơn giản, kết hợp được nhiều loại dược liệu
- Dễ phân liều, ít biến chất
- Có khả năng che chở, bảo vệ đối với niêm mạc, vết thương
- Có tác dụng thu liễm, hút dịch tiết làm vết thương khô ráo, chóng lành, sử dụng thuận tiện
- Đóng gói, chuyên chở rõ ràng
Trang 34Ưu – Nhược điểm
Trang 35+ Đơn thuốc có nhiều vị thuốc có thể chất giống nhau: nghiền chung các vị không qua giai đoạn trộn bột kép
Trang 36Nghiền bột
- Nghiền qua chất trung gian:
+ Với dược liệu có thể chất mềm dẻo, chứa nhiều đường, chất nhựa, cao mềm, chứa dầu mỡ:
phải thêm một số bột khô có tác dụng hút và lót cối Nếu dược liệu nhiều dầu mỡ, nên loại chất béo trước khi nghiền bột
+ Với dược liệu quý, dược liệu dễ bay hơi, dược liệu màu, dược liệu độc: để tránh hao hụt và gây bẩn nên nghiền trung với bột thô
+ Thủy phi
Trang 37Nghiền bột
Chú ý:
- Trong quá trình nghiền thỉnh thoảng phải rây
- Mức độ nghiền mịn theo yêu cầu điều trị
- Bột uống có mùi khó chịu không nên
nghiền mịn quá; bột khoáng vật có tỷ
trọng lớn nên nghiền mịn hơn bột thảo mộc
Trang 38Rây và trộn bột két
theo qui định
kiểm tra sự đồng lượng
Trang 39Kiểm soát, kiểm nghiêm
Kiểm soát bằng cảm quan
Kiểm tra bằng sai số
Kiểm nghiệm bằng vi phân tích
Bảo quản: Nên phân chia thành liều
lượng cần dùng, cho vào túi nhựa hàn kín miệng lại, khi sử dụng sẽ tiện và
nhanh hơn Nếu không phân thành gói nhỏ thì phải cho vào lọ đậy kín.
Trang 401 Đại cương
1.1 Định nghĩa
- Thuốc hoàn là 1 dạng thuốc làm bằng dược liệu tán mịn và chất dính vê thành viên hoặc nén thành viên dẹt
- Những bài thuốc có vị độc (Thạch tín, Hùng
hoàng, Hoàng nàn ) hoặc có chất thơm không
sắc được và dùng để trị bệnh suy nhược mãn tính thì phải bào chế dạng thuốc hoàn
THUỐC HOÀN
Trang 41Ưu – nhược điểm
* Ưu điểm:
- Điều chế đơn giản, sử dụng thuận tiện, dễ phân liều, dễ sử dụng
- Thuốc tan chậm do đó thuốc ngấm dần có tác dụng trị bệnh mãn tính (hoàn có nghĩa là hoãn sự thẩm hút).
- Làm dễ uống đối với các vị thuốc có mùi vị khó chịu (A nguỳ, Hắc phàn )
- Thuốc uống đúng liều lượng.
- Có thể đưa thuốc xuống tận ruột, tránh tác dụng phá huỷ của dịch vị.
- Thuốc ít bị ảnh hưởng của không khí và hơi nước nên dễ bảo quản hơn thuốc tán.
Trang 42Ưu – nhược điểm
Nhược điểm:
Trang 45- Cối chày: bằng đá để giã nhuyễn.
- Bàn chia viên: để lăn và cắt thành viên
- Ống in viên: viên này hình dẹt 0.50-1-2g.
- Máy vo viên: thay thúng lắc để làm viên nhỏ
- Máy làm viên mềm: thay cho bàn lăn và ống in viên.
- Tủ sấy: bằng điện hoặc đốt than, nhiệt độ 60°-100°.
Trang 46( đường kính 1-2cm ).,gồm Thuốc và mật (Mật ong
hoặc mật mía hoặc Mạch nha)
Tỉ lệ mật để trộn với thuốc là 1: 1 hoặc 1,2/1,5
Thuốc tễ phần lớn là thuốc bồi dưỡng cơ thể
hoặc các thuốc cần dùng liên tục lâu dài để chữa
các bịnh mạn tính
Trang 472/11/08 47
Cách chế biến:
+ Thuốc tán thành bột
+ Chế biến Mật:
Dùng 1 lít Mật, thêm 50ml nước, nấu sôi,
Vớt bỏ bọt nổi ở trên, tiếp tục nấu nhỏ lửa cho
Đến khi mật nổi bọt, phồng to, vớt bỏ bọt đi
Tiếp tục nấu cho đến khi lấy 1 giọt nhỏ vào
chén nước lạnh mà thấy mật chìm xuống đáy
chén, khônghòa tan vào trong nước ngay là
được
Trang 48Tuy nhiên, trong chuyên môn người ta còn phân biệt ra ba loại:
- Mật luyện ở 1140C gọi là mật non.
- Mật luyện ở 1170C gọi là mật luyện.
- Mật luyện ở 120 – 1220C gọi là mật già.
Cách sử dụng mật:
- Loại thuốc có độ dính lớn: dùng mật non.
- Loại thuốc không dính, không khô: dùng mật luyện.
- Loại thuốc khô như khoáng vật, rễ nhiều xơ: dùng loại mật già.
Tuy nhiên, khi làm thuốc, đa số dùng loại mật
luyện.
Trang 49+ Làm thành tễ
Cho thuốc bột vào cối, rưới mật đang nóng vào bột cho vừa đủ, trộn đều, giã mạnh liên tục cho đến khi thuốc thành một khối dẻo, nhấc chầy lên thuốc bám thành cả tảng, không còn thuốc dính vào cối nữa là được
Nếu khi chế tễ mà dược liệu bột có loại chứa tinh dầu thì không nên dùng mật nóng quá sẽ
làm cho tinh dầu bốc hơi, hiệu lực của thuốc sẽ giảm
Trang 50+ Đóng gói:
Trang 52 Được hồ rồi, lấy 1 ít bột dược liệu trộn với ít nước hồ cho hơi mềm rồi xát qua sàng thưa để làm hạt gây con: sấy khô
tròn rồi lần lượt cho bột, nước hồ, lắc tới khi đạt được cỡ viên yêu cầu.
Phải dùng sàng để loại viên cỡ bé và cỡ to quá, bé thì lắc lại, to thì phá đi làm lại Loại viên này to bằng hạt đậu xanh hay bằng hạt ngô
đường mật, cao động vật, hoặc dược liệu không có đủ chất dính
Trang 53* Thuốc hoàn nước
- Dùng nước làm hoàn phải có điều kiện cốt yếu là dược liệu có sẵn chất dinh dưỡng, và trong bài thuốc không có mật, đường cao động vật nếu
có những vị này thì pha loãng ra với nước mà
lắc viên (đối với mật thì đun sôi vớt bỏ bọt)
- Số lượng nước dùng để rẩy lên bột từ 80% đến 90% (thuốc Nam) và từ 40% đến 50% (thuốc
Bắc) so với bột dược liệu Làm viên bằng thùng lắc
Trang 54 Thuốc hoàn nước có đặc điểm dễ tan hơn thuốc hoàn mật, hay hồ, dùng để chữa các bệnh cấp tính và ở
thượng tiêu, nhưng khó bảo quản vì dễ nát và mốc
Thuốc hoàn nước còn có thể dùng máy để nén viên 0.30g hay 0.50g
Muốn dùng máy làm viên nén, phải có mấy điều kiện sau đây:
- Bột dược liệu phải có chất dính
- Bột dược liệu rẩy qua nước hoặc hồ loãng cho ẩm rồi xát qua sàng để làm cốm, sấy khô rồi mới cho vào máy nén
- Nếu bột xốp quá, có nhiều tinh dầu, dù có thêm hồ loãng mà không nén được thì phải dùng cách lắc
thúng
Trang 55* Làm thuốc viên từ cao khô
- Các loại thuốc viên trên đây có nhược điểm là có
nhiều xơ, làm viên thuốc không mịn và không có tác dụng, nhất là trẻ em uống vào thêm nặng bụng khó tiêu: ta nên cải tiến các loại thuốc hoàn bằng cách nấu dược liệu thành cao khô, tán bột, rồi dập viên hoặc là nấu dược liệu chế thành cao sền sệt rồi
trộn thêm 1 tá dược thích hợp (bột gạo tẻ, hoặc 1 thứ bột nào khác có trong thành phần các bài thuốc như Hoài sơn ) sấy cho vừa khô, sát cốm rồi đập viên
Trang 56Cách chia viên:
- Thuốc hoàn dùng trị bệnh ở thượng tiêu (tim, phổi)
ở hạ tiêu (gan, thận) thường làm viên cỡ 0.10g, dùng trị bệnh trung tiêu (tỳ, vị) thì làm viên cỡ
+ Nếu bài thuốc có 3-4 vị,
viên to hơn tùy theo yêu cầu
Trang 57Áo viên thuốc
Sau khi thuốc đã được chia thành viên với thúng lắc hoặc máy vo viên, Đông y thường "áo" viên thuốc lại mục đích để:
- Viên thuốc giữ được hương vị trong lần áo đó
- Viên thuốc để được lâu
- Viên thuốc được đẹp hơn, màu sắc được đồng đều
- Đưa viên thuốc đến tận ruột (nếu cần)
Trang 58Tá dược dùng để làm áo viên
Thường là lựa chọn vị thuốc có trong công
thức như Thục địa, Dây tơ hồng, Hoạt thạch, Hùng hoàng, Chu sa, hoặc là dược liệu có
lông gây ngứa không dùng bột được (Kim anh tử ) Dược liệu dùng để áo phải có mấy điều kiện sau đây:
- Dễ nấu thành cao lỏng hoặc dễ tán mịn;
- Có màu sắc đẹp;
- Để lâu không bị mốc
Trang 59* ĐƠN (ĐAN) THUỐC VIÊN
Thường loại thuốc Đơn
được bào chế dưới dạng
những viên nhỏ như Nhân
Đơn của Nhật Bản, tuy nhiên, cách xử lý đòi hỏi nhiều công phu hơn Vì vậy chúng tôi giới thiệu cách làm viên to hơn (Hoàn) thay cho dạng Đơn Thuốc viên thường làm dưới dạng hình tròn,
to bằng hạt đậu xanh hoặc lớn hơn Thường làm viên nặng khoảng 0,50g – 2g.
Trang 60Thành phần :
gồm 2 phần chính là:
- Chất thuốc: đa số là thuốc đã tán thành bột, các dạng cao thảo mộc hoặc động vật
- Những chất phụ gia cần thiết để tạo thành
viên Tùy theo chất liệu của thuốc mà chọn phụ gia cho thích hợp:
+ Chất thuốc khô, cứng, nên dùng chất lỏng như Mật, dung dịch hồ nếp
+ Chất thuốc mềm hoặc lỏng, dùng loại phụ gia khô như bột Cam thảo, bột gạo, bột mì…
Trang 61Làm viên
- Dụng cụ:
+ Dùng một chậu bằng nhôm Đục 3 lỗ ở 3 góc cho cân, dùng 3 sợi dây cột vào 3 lỗ đó, treo chậu lên cao ngang tầm tay cho dễ lắc.
+ Một bộ sàng bằng tre: khoảng 4-5 cái, có cỡ mắt (lỗ)
khác nhau, từ 1,2, 3, 4, 5mm.
- Tiến hành:
+ Cho thuốc đã tán bột vào chậu hoặc cối, đổ chất phụ gia dần dần vào, dùng chầy vừa nghiền vừa trộn đều thành một khối dẻo
+ Nấu sẵn nước để hồ (thường dùng nước hồ gạo).
Trang 62Giai đoạn 1
Gây con giống hoặc viên nhân:
+ Lấy chừng 40g bột, tẩm cho ướt, xát lên mặt sàng loại 1mm, cho thuốc rơi vào trong thúng lắc thành những hạt thuốc nhỏ (con giống
Trang 63Giai đoạn 1
+ Chia làm 3 loại:
- Loại nhỏ lọt qua mắt sàng rơi xuống
dùng để tiếp tục gây giống.
- Loại lớn xù xì, lấy ra để riêng hoặc
nghiền nát để gây tiếp.
- Loại hạt tròn đều, vừa kích cỡ, dùng để tiếp tục làm thành viên theo yêu cầu.
Thường 1kg bột thuốc sẽ gây được 100 –
150 con giống to bằng hạt Cải.