+ Dương hư thì trị bằng thuốc bổ dương như phương Bát vị quế phụ+ Tạng phủ hư thì dùng thuốc trị vào tạng phủ đó: Tâm tỳ hư dùng phương Quy tỳ; Tâm âm hư dùng phương Thiên vương bổ tâm
Trang 2* Trên cơ sở học thuyết âm dương
- NN gây bệnh
+ Âm tà (hàn, thấp)
+ Dương tà (phong, thử, táo, hỏa)
- Triệu chứng bệnh: Âm hay Dương
- Quy luật phát sinh bệnh: do tà khí gây ra
- Quy luật phát sinh do thời tiết
- Quy luật phát sinh theo thời điểm
Trang 3* Trên cơ sở học thuyết tạng phủ
• Xác định bệnh ở tạng phủ nào
VD: mất ngủ do tâm hỏa, can nhiệt
Ho khan, nóng rát trong ngực do phế nhiệt
* Trên cơ sở học thuyết kinh lạc
Xác định bệnh ở đường kinh nào
Trang 42 Tiêu, bản, hoãn, cấp
(chữa bệnh phải có ngọn, gốc, hoãn cấp)
- Bản (Gốc): Nguyên nhân chính gây bệnh
Trang 5+ Huyết hư trị bằng thuốc bổ huyết: phương
tứ vật, hà sa đại tạo hoàn
+ Khí huyết lưỡng hư thì trị bằng thuốc bổ khí huyết như phương bát trân, thập toàn đại bổ,…
+ Âm hư thì trị bằng thuốc bổ âm như phương lục vị địa hoàng, bát tiên trường thọ,…
Trang 6+ Dương hư thì trị bằng thuốc bổ dương như phương Bát vị quế phụ
+ Tạng phủ hư thì dùng thuốc trị vào tạng phủ đó: Tâm tỳ hư dùng phương Quy tỳ; Tâm
âm hư dùng phương Thiên vương bổ tâm
đan; phế âm hư dùng phương Bách hợp cố kim thang
• Chú ý: Bệnh hư nhẹ dùng thuốc bổ khí
huyết, hư nặng dùng thuốc bổ thủy hỏa
“Tiểu bệnh trị khí huyết, đại bệnh trị thủy
hỏa
• Tạng bị hư có thể dùng thuốc bổ vào tạng là
mẹ nó “con hư bổ mẹ”
Trang 7• + Bệnh hoàng đản do can đởm thấp nhiệt trị
bằng phương Long đởm tả can thang
• + Sốt cao do nhiệt độc ở Dương minh thì
dùng phương Bạch hổ thang
Trang 8+ Tâm nhiệt gây chảy máu thì trị bằng thuốc thanh tâm nhiệt, lương huyết chỉ huyết
+ Bàng quang thấp nhiệt thì trị bằng thuốc thanh nhiệt bàng quang, lợi thấp
+ Biểu hàn (phong hàn phạm biểu) thì trị bằng thuốc phát tán phong hàn
+ Huyết nhiệt gây mụn nhọt lở loét thì trị bằng thuốc thanh nhiệt lương huyết.
• Chú ý: Tạng bị thực có thể dùng thuốc tả
vào tạng là con nó “mẹ thực tả con”
VD: Phế thực thì tả vào thận, vì thận thủy sinh phế kim
Trang 94- Đóng mở
(khai hạp, bình nam bổ bắc):
Tiêu chảy, đi tiểu ít muốn cầm ỉa chảy phải lợi tiểu.
Âm hư: bổ âm kết hợp thanh nhiệt.
5- Phải có sơ trung, mạt
(chữa bệnh phải có giai đoạn)
VD: Bệnh truyền nhiễm (ôn bệnh): giai đoạn đầu (phần vệ) phát hãn thanh nhiệt; giai
đoạn tòan phát, tà, chính khí đấu tranh, phải vừa bổ vừa tả, giai đoạn phục hồi bổ làm
chính.
Trang 10ngược lại triệu chứng
VD: nhiệt sốt cao dùng thuốc thanh nhiệt để
chữa.
- Phản trị (tòng trị): Dùng thuốc tác dụng
cùng với triệu chứng (bệnh chân giả)
VD: nhiễm trùng gây sốt cao (chân nhiệt), sốt
cao nhiễm độc gây trụy mạch ngoại biên chân tay lạnh (giả hàn) dùng thuốc hàn
lương để chữa.
3 Hư thì bổ, thực thì tả
Trang 12NỘI DUNG PHƯƠNG THUỐC
• Nội kinh đã phân loại 7 loại hình thái phương
tễ gọi là “Thất phương”
• - Đại phương: Gồm nhiều vị thuốc hoặc liều
lượng cao để điều trị bệnh nặng
• - Tiểu phương: Có ít vị thuốc hoặc liều lượng
thấp dùng để điều trị khi bệnh mới bắt đầu
• - Hoãn phương: Tác dụng hòa hoãn, dùng điều
trị bệnh mãn tính hoặc cơ thể suy nhược
• - Cấp phương: Có dược lực mạnh, hiệu lực
tác dụng nhanh, thường dùng điều trị bệnh cấp tính
Trang 13- Kỳ phương: Phương thuốc chỉ có 1 vị thuốc
đơn độc như “Độc sâm thang”,…
- Ngẫu phương: Tạo thành từ 2 vị thuốc trở
lên
- Phức phương: Được hợp thành từ 2 phương
thuốc trở lên, dùng điều trị các bệnh phức tạp
* Các phương thuốc ghi lại trong sách Thương hàn luận và Kim quỹ gọi là Kinh phương
Những bài thuốc được lưu truyền lại gọi là Cổ phương, các bài mới được sáng lập gọi là Tân phương
Trang 14Các thành phần trong phương thuốc
Nguyên tắc để xây dựng một phương thuốc hoàn chỉnh là phải có các vị thuốc đảm nhận các vị trí QUÂN - THẦN - TÁ - SỨ
- Quân: vị thuốc có tác dụng chính trong
phương, có công năng chính, hoặc giải quyết các triệu chứng chính của hội chứng bệnh.
- Thần: một hay nhiều vị có tác dụng hỗ trợ vị thuốc Quân để giải quyết triệu chứng chính,
đồng thời vị Thần cũng có tác dụng giải quyết
một khía cạnh nào đó của bệnh Có thể có nhiều nhóm Thần giải quyết nhiều khía cạnh khác nhau
Trang 15- Tá: Một hay nhiều vị thuốc có tác dụng giải quyết các triệu chứng phụ của hội chứng bệnh Có nhiều nhóm Tá, mỗi nhóm giải
quyết một triệu chứng bệnh Ngoài ra, vị
Trang 16* Cách nhận dạng các thành phần trong phương thuốc
- Vị quân thường mang tên bài thuốc; thường
có lượng lớn trong phương; đôi khi lượng nhỏ nhưng tác dụng lại mạnh Thông thường một phương thuốc chỉ có một vị quân; tuy nhiên
những phương lớn để giải quyết những bệnh nan giải phải có hai vị quân.
- Vị thần thường nằm trong dãy phân loại của
vị quân, song tác dụng kém hơn; có khi ở
trong dãy phân loại khác, nhưng có tác dụng
tương tự vị quân (tác dụng kém hơn).
Trang 17
- Vị tá: nằm trong dãy phân loại khác; có tác dụng giải quyết triệu chứng phụ nào đó của bệnh.
- Vị sứ: vị cam thảo thường đóng vai trò sứ
trong phương thuốc Nếu không có cam thảo,
thì tìm trong phương một vị nào đó có tác
dụng tương đối mạnh với một tạng phủ hoặc kinh lạc nào đó để dẫn thuốc vào kinh.
Trang 18- Công năng phương pháp
+ Mỗi vị thuốc trong phương thuốc đều có công năng riêng.Nhưng công năng của
phương thuốc là công năng tổng hợp của các thành phần
+Thường dựa vào công năng của vị quân và thần để tìm ra công năng của phương
thuốc
- Chủ trị của phương thuốc
Dựa vào công năng của phương thuốc để đưa ra hướng điều trị
Trang 19* Liều lượng thuốc trong phương thuốc
- Liều trung bình của từng vị trong phương là 6, 8,12g ( với thuốc không độc).
- Với vị thuốc có độc thường liều thấp hơn;
thường là 4-8g Những vị có độc mạnh (cà độc dược, mã tiền chế ) cần dùng liều chính xác
và tuân theo liều đã ghi trong dược điển Việt Nam.
- Đối với các lá, rễ tươi, khi dùng thì liều lượng
có thể lớn hơn vài chục gam
Trang 20* Đơn vị đo lường:
• Một đồng cân tương đương 3g78; nay lấy
chẵn lá 4g Tuy nhiên, với các vị thuốc độc, nếu trong phương ghi bằng đồng cân, thì phải cân theo số lượng thực của đồng cân
• Một lạng (ta) theo đơn vị cũ là 37g8, cũng
làm tròn là 40g với các thuốc không có độc
• Hiện nay, thường sử dụng gam (g), lạng
(100g)
Trang 21• Cách uống thuốc
• Bệnh cảm hàn, trúng hàn, phong thấp cần uống
lúc nóng, bệnh nhiệt dùng thuốc thanh nhiệt cần uống lúc nguội (để tăng tác dụng)
• Với chứng chân hàn giả nhiệt dùng thuốc ôn
nhiệt nhưng uống lúc nguội, bệnh chân nhiệt giả hàn dùng thuốc hàn lương nhưng uống ấm (để người bệnh có thể dung nạp, không nôn ra)
• Các thuốc lý khí, lý huyết, nhuận hạ cần uống
lúc ấm (để thuốc dễ lưu hành)
• Không nên uống thuốc lúc quá no hoặc quá
đói Nhưng khi cần cấp cứu thì uống bất cứ lúc nào
Trang 22• Kiêng kỵ khi uống thuốc
• - Kiêng các thức ăn có tính năng đối lập với
thuốc VD:
• + Uống thuốc thanh nhiệt, kiêng các thức ăn
mang tính kích thích, vị cay nóng như rượu,
ớt, hạt tiêu, thịt chó
• + Uống thuốc ôn lý trừ hàn, thuốc tân ôn giải
biểu không nên ăn thức ăn sống lạnh: rau sống, thịt trâu, ba ba, rau dền, cua, ốc,…
• + Uống thuốc dị ứng không nên ăn cua cá
biển, nhộng, lòng trắng trứng
Trang 23+ Uống thuốc có kinh giới kiêng thịt gà
+ Uống thuốc có mật ong kiêng hành
+ Uống thuốc có thương nhĩ tử kiêng thịt ngựa, thịt lợn
+ Uống thuốc thanh phế trừ đờm kiêng chuối tiêu
+ Uống thuốc thanh nhiệt kiêng ăn trứng
- Nói chung, uống thuốc cổ truyền kiêng đậu xanh, cải sen (cải bẹ) vì bị giã thuốc
* Tuy nhiên cũng không nên kiêng khem thái quá mà ảnh hưởng tới sức khỏe