- Phong thấp : kết hợp giữa Phong tà và Thấp tà, do Thấp tà nhiều hơn gây ra : + Viêm khớp dạng Thấp do máu huyết không thông bị ứ trệ, Tỳ ố thấp, Thấp khí làm cho Tỳ suy, không thống đư
Trang 1NGUYÊN NHÂN GÂY BỆNH
A- NGUYÊN NHÂN BÊN NGOÀI (lục dâm, lục tà):
6 thứ khí gây bệnh: phong (gió), hàn (lạnh),
Trang 21- PHONG:
• Phân loại
Có 2 loại phong là :
nhưng mùa xuân nhiều hơn cả Thường gây bệnh đối với tạng Can, sách Nội kinh : Can ố Phong.
gây nên, thường gọi là "Can Phong Nội
Động"
Trang 3• Đặc tính:
- Phong mang đặc tính dương, dương thì động, do đó hay gây co rút, kinh giật
- Phong là gió, gió nhẹ nên hay bốc lên, do đó đầu mặt hay
bị (miệng giật , miệng méo, mắt xếch ) và đi ra ngoài gây
ra sợ gió, gai rét
- Phong khí gắn với Mộc khí , chủ sự chuyển động, do đó,
hay di chuyển chỗ này chỗ khác, gọi là "Phong động",
thường gặp trong các chứng đau nhức khớp xương
Ngoài ra, Phong di động mau lẹ nên gây bệnh cũng nhanh
và rút đi cũng nhanh, bệnh nặng đấy mà cũng nhẹ đấy.
- Sách 'Y Tông Kim Giám' : trên trời là Phong, dưới đất là
Mộc, ở người là Can do đó, Can khí là Phong khí có liên
hệ với nhau Các bệnh về Phong khí, đều thuộc về Can.
3
Trang 4• Các bệnh
+ Ngoại phong
- Phong hàn : do Phong tà và Hàn tà kết hợp với nhau, tuy nhiên trên thực tế lâm sàng,
chứng này do Hàn tà nhiều hơn.
+ Cảm lạnh : chảy nước mũi, sợ lạnh (biểu
hiện của Hàn) sợ gió, mạch phù (biểu hiện của Phong).
+ Thời tiết lạnh (Hàn tà) làm đau dây thần kinh ngoại biên (Phong).
+ Dị ứng lạnh (hắt hơi, ban chẩn) và đau khớp
do lạnh.
Trang 5- Phong nhiệt : kết hợp Phong tà và Nhiệt tà, chủ yếu là do nhiệt tà ảnh hưởng đến
+ Mắt ( dấu hiệu của Can Mộc) viêm, đau,
đỏ (dấu hiệu của Hỏa vượng).
Trang 6- Phong thấp : kết hợp giữa Phong tà và Thấp tà, do Thấp tà nhiều hơn gây ra :
+ Viêm khớp dạng Thấp (do máu huyết không thông
bị ứ trệ, Tỳ ố thấp, Thấp khí làm cho Tỳ suy, không thống được huyết, huyết bị đình trệ gây ra tê mỏi, đau nhức ở các phần thần kinh ngoại biên
- Nội phong : do Can bị rối loạn gây ra :
+ Can chủ Cân, Can khí vượng lên, gây ra co giật
+ Can dương vượng lên, gây ra nhức đầu, chóng
mặt, huyết áp cao
+ Can huyết hư không nuôi dưỡng được gân cơ, sinh
ra liệt, chân tay co quắp
Trang 72- HÀN
• Phân loại : Hàn có 2 loại :
vào mùa đông, trời mưa, về khuya Hàn khí xâm nhập vào cơ thể bằng 2 cách :
- Thương hàn : Hàn tà phạm vào phần Biểu bên ngoài.
- Trúng hàn : Hàn tà nhập thẳng vào tạng
phủ.
không chống nổi hàn (dương hư sinh
ngoại hàn).
Trang 8• Đặc tính:
- Hàn là âm tà, do đó, thường làm hại dương (trong
cơ thể phần Biểu, ngoài da, liên hệ đến Dương), do
đó, Hàn tà dễ xâm nhập vào da, cơ, vệ, khí của cơ thể Hàn tà xâm nhập vào Tỳ làm Tỳ dương hư,
không vận hóa được thức ăn gây ra tiêu chảy,
chân tay lạnh
- Hàn tà có tính cách ngưng trệ, do đó khi xâm nhập vào cơ thể làm cho máu huyết đình trệ, đau nhức
- Hàn có tính cách co rút do đó thường gây ra chứng
co rút các cơ, chuột rút, cổ vẹo khó xoay trở
- Sách 'Y Tông Kim Giám' : Trên trời là Hàn, dưới đất
là Thủy, ở người là Thận vì thế, Thận khí thông với Hàn khí, các bệnh gây nên bởi Hàn khí đều có liên hệ đến Thận
Trang 9+ Các bệnh (ngoại hàn):
- Phong hàn:
lạnh.
+ Chứng nội hàn (do dương hư)
lạnh, hen do thận dương hư không nạp khí.
- Tỳ vị hư hàn
Dương khí kém -> vệ khí cũng kém -> dễ cảm lạnh.
Trang 10• Trên lâm sàng thường gặp các loại sau :
vận hóa được thức ăn, gây nên : ỉa chảy, đầy bụng, ăn kém, bụng đau âm ỉ
hư sinh ra sợ lạnh, tay chân lạnh, tiêu tiểu nhiều
dương hư, không chuyển được huyết, gây
ứ trệ, làm tắc động mạch vành
hư, không thông được khí, gây khí nghịch làm khó thở, hen suyễn
Trang 113- THỬ (nắng mùa hè)
+ Đặc tính:
- Gây sốt, khát, ra mồ hôi, viêm nhiệt
- Lên trên, tản ra ngoài, mất tân dịch
- Phối hợp với thấp gây tiêu chảy lỵ
Trang 12+ Các chứng hay gặp:
• Sốt cao, nhức đầu, khát nước, người buồn bực khó chịu, có mồ hôi, mạch hồng sác, chia làm 3 loại :
- Dương thử còn gọi là trúng thử : do ở lâu ngoài
nắng, bỗng ngã lăn ra mê man, không biết gì, bản chất là Nhiệt
- Âm thử, còn gọi là Thương thử : do mùa Hè, chỉ ở trong mát, ăn nhiều thức ăn sống lạnh làm âm khí lấn át dương khí gây ra : sốt cao, do đó sợ lạnh,
đầu đau, bụng đau, thổ tả, bản chất bệnh là hàn
- Thử thấp : do mùa Hè lội nước, dầm mưa ở nơi ẩm thấp làm cho Thử hợp với Thấp xâm phạm vào
ruột gây ra Lị, hoặc thổ tả
Trang 134- THẤP: (độ ẩm thấp)
a) Phân loại : Có 2 loại Thấp :
+ Ngoại thấp : khí ẩm thấp, thường gặp vào mùa Hè, thường gặp ở những nơi có độ ẩm thấp, đầm lầy
+ Nội thấp : do Tỳ dương hư, không vận hóa được thủy dịch, làm thủy dịch ứ đọng lại gây bệnh.
b) Đặc tính của Thấp
+ Thấp chủ sự nặng nề, đình trệ, do đó các chứng có kèm
thêm Thấp thường thấy tay chân nặng nề.
+ Thấp hay gây dính, nhớt : miệng dính nhớt, tiểu khó.
+ Thấp bài tiết chất đục (trọc khí) : đại tiện lỏng, nước tiểu đục, huyết trắng
Thấp làm dương khí của Tỳ giảm sút, ảnh hưởng đến sự vận hóa thủy dịch, gây phù thũng, tiêu hóa kém
+ Sách "Y Tông Kim Giám" : Trên trời là Thấp, dưới đất là
Thổ, ở người là Tỳ, Thấp khí thông với Tỳ khí, vì vậy các
bệnh gây nên bởi thấp khí đều thuộc về Tỳ.
Trang 14• Do Tỳ hư không vận hóa được Thủy thấp.
+ Ở Thượng tiêu : gây ra đầu nặng, mắt hoa, ngực sườn đầy tức
+ Ở Trung tiêu : gây bụng đầy trướng, kém ăn, chậm tiêu, miệng dính, chân tay nặng nề
+ Ở Hạ tiêu : gây phù chân, nước tiểu ít, huyết trắng
Trang 15a) Phân loại : Có 2 loại Táo :
+ Ngoại táo : là độ khô ráo, hay gặp vào mùa Thu, chia làm 2 loại : Ôn Táo và Lương Táo, thường xâm phạm
từ mũi, miệng, Phế và Vệ khí vào bên trong cơ thể.
+ Nội Táo : do tân dịch, khí huyết suy giảm gây nên.
b) Đặc tính : Táo có tính cách khô ráo, do đó, hay làm tổn thương tân dịch và thủy dịch trong cơ thể gây ra : mũi khô, họng khô, da khô, đại tiện táo, nước tiểu ít,
ho khan, ít đờm.
- Sách "Y Tông Kim Giám" : Trên trời là Táo, dưới đất là Kim, ở người là Phế, Táo khí thông với Phế khí, vì thế các bệnh gây ra bởi Táo khí đều thuộc về Phế.
Trang 16- Lương táo : cảm lạnh về mùa thu
- Ôn táo : bệnh truyền nhiễm về mùa thu, sốt xuất huyết, viêm não Nhật Bản: sốt, phiền khát mê sảng hôn mê
+ Chứng nội táo: bẩm tố tạng nhiệt: nóng, khát, táo bón.
Trang 17• Bệnh chứng của táo
- Lương Táo : Cảm phải gió heo may hiu hắt của mùa Thu
(còn gọi là Phong Táo) gây ra : sốt, sợ lạnh Đầu đau, ho khan, họng khô, mũi nghẹt, không có mồ hôi
- Ôn Táo : Cảm phải khí mùa Thu, lạnh lâu không mưa gây nên (còn gọi là Nhiệt Táo) gây nên : Sốt cao, ít sợ lạnh,
đầu đau, ngực đau, mũi khô, miệng khát, trong người bứt rứt, lưỡi đỏ hay gặp trong các bệnh truyền nhiễm về mùa Thu như : Sốt xuất huyết, Viêm não
- Ôn táo hay làm khô tân dịch, do đó dễ gây mất điện giải
sinh ra nhiễm độc hệ thần kinh và vận mạch : Hôn mê, vật
vã, xuất huyết
d) Chứng nội Táo
• Do tân dịch khô kiệt, âm hư, dùng thuốc cay đắng và thuốc
hạ lâu ngày làm da nhăn nheo, môi nứt nẻ, móng tay chân khô, khát nhiều, táo kết
Trang 186- HỎA:
a) Phân loại : Hỏa hay Nhiệt, thường có 2 loại :
- Thực nhiệt : do Hỏa khí và nhiệt khí bên
ngoài gây nên Thí dụ : đi nắng hoặc đứng gần lửa cháy, Hỏa khí trong người bị bùng theo lên gây ra nóng.
- Hư Hỏa : do âm hư, không kềm chế nổi Hỏa, khiến Hỏa vượng lên, thường gặp trong các chứng Âm hư hỏa vượng.
Trang 196- HỎA:
b) Đặc tính
- Hỏa khí thường gây sốt : sốt cao, họng đỏ, mặt đỏ
- Hỏa hay bốc lên (như hình dáng ngọn lửa bốc cháy) vì thế hay gây ra viêm nhiệt ở phần trên Thí dụ : Hỏa của Vị vượng, gây
lở loét môi miệng, lợi răng (Tỳ khai khiếu ở miệng).
+ Hỏa của Can vượng gây nên mắt sưng, mắt đau, mắt đỏ
(Can khai khiếu ở mắt).
+ Hỏa của Tâm vượng gây nên lưỡi lở loét sưng dộp (Tâm
khai khiếu ở lưỡi).
- "Tâm chủ huyết" do đó, Hỏa dễ gây chảy máu : chảy máu cam (hỏa củaPhế vượng), Tiểu ra máu (Hỏa của Thận vượng), Ói
ra máu (Hỏa của vị vượng)
- Hỏa vượng lên , phản khắc lại Thủy, do đó thường làm hao đốt tân dịch (thủy khí), gây ra khát nước, miệng khô, táo bón
- Sách "Y Tông Kim Giám" : Trên trời là Hỏa, dưới đất là Nhiệt , ở người là Tâm Hỏa khí thông với Tâm khí, do đó, các bệnh gây nên bởi Hỏa khí đều thuộc về Tâm.
Trang 20+ Các chứng hỏa:
- Hỏa độc nhiệt độc: bệnh nhiễm trùng, viêm họng, phổi, bệnh truyền nhiễm giai đoạn toàn phát.
- Thấp nhiệt: trung hạ tiêu
-Táo nhiệt, Thử nhiệt
Trang 21c) Chứng bệnh của Hỏa
- Hỏa sinh Nhiệt, nhiệt có thể kết hợp với các khí
khác gây nên bệnh như : Phong Nhiệt, Thấp Nhiệt, Thử Nhiệt, Táo Nhiệt
- Vào mùa Hè (Hỏa khí vượng), hay gây nên các
bệnh nhiễm khuẩn : mụn nhọt, phổi viêm, họng
viêm Nếu nhiệt quá độ, thành Hỏa, gây sốt rất
cao, có khi mê sảng, phát cuồng
- Gây các chứng bệnh truyền nhiễm ở thời kỳ toàn phát, có hoặc không có biền chứng mất nước,
nhiễm độc thần kinh, chảy máu : Mặt đỏ, mắt đỏ,
sợ nóng, khát, tiểu ít, đỏ, chảy máu cam, đại tiện
ra máu
Trang 22d) Chứng hư Nhiệt : do Âm hư sinh nội
nhiệt : gò má đỏ, trong lòng phiền nhiệt, ra
mồ hôi trộm
Cũng do thất (7) tình gây nên : Giận quá, làm Can hỏa bốc lên, Phòng dục quá độ làm Tường hỏa động, buồn thương quá
làm Hỏa bốc lên Phế
Trang 23B NGUYÊN NHÂN BÊN TRONG (thất tình)
• Thất tình
• Nguyên nhân bên trong chủ yếu do thất tình gây nên Vui (hỷ), giận (nộ), buồn (ai),
Bảy tình này kích thích quá độ hoặc kéo dài,
sẽ ảnh hưởng đến sự tuần hoàn của khí
huyết làm rối loạn chức năng của tạng phủ gây nên bệnh : huyết áp cao, bao tử loét,
thần kinh suy nhược
Trang 24b) Thất tình và tạng phủ
- Tình chí bị kích động, tạng phủ sẽ biến hóa
vui mừng, Tỳ sinh ra nghĩ, phế sinh ra lo,
thận sinh ra sợ
- Thất tình gây tổn thương tinh, khí, huyết của
mừng quá hại tâm (hỷ thương tâm), lo quá hại hại tỳ (ưu thương tỳ), buồn quá hại phế (bi thương phế), sợ quá hại thận (khủng
thương thận).
Trang 25- Thất tình làm ảnh hưởng đến sự thăng giáng khí của tạng phủ : "Giận làm khí bốc lên, mừng làm khí hãm, buồn làm khí tiêu, sợ làm khí hạ, kinh làm khí loạn, nghĩ làm khí kết ".
• Triệu chứng chung là : tính tình thay đổi, mừng giận buồn vui thất thường, mất ngủ, mộng nhiều,
ăn kém, không biết đói, đầu đau, ngực tức, hay ngáp vặt, thở dài, mệt mỏi, nặng hơn thì tinh
thần hốt hoảng, dễ kinh sợ, nói năng sai lạc, điên dại, ngẩn ngơ kèm theo những hội chứng rối loạn của tạng phủ như : tiểu nhiều (thận), thở
mệt (phế)
Trang 26• Thất tình thường gây nhiều bệnh ở 3 tạng chính là tâm, tỳ và can.
không ổn định, cười nói huyên thuyên , điên
cuồng
không đều
chứng : buồn, lo Âm sinh âm, do đó, thường làm cho phần âm của cơ thể bị tổn hại, phần âm của cơ thể giữa gặp nhất chính là huyết Ba tạng Tâm,
Can và Tỳ liên hệ trực tiếp đến huyết (Tâm chủ
huyết, Can tàng huyết và Tỳ thông huyết)
Trang 27C NGUYÊN NHÂN KHÁC
1 Đàm ẩm
a) Đại cương : đàm ẩm là chất đặc, ẩm là chất trong
loãng Đàm ẩm là 1 sản phẩm bệnh lý.
b) Nguồn gốc : do tân dịch ngưng tụ hóa thành Chủ yếu
do 3 tạng Tỳ, phế và thận không làm được công năng vận chuyển thủy dịch gây nên, Tỳ vận hóa thủy thấp, đưa lên phế, Phế truyền xuống cho Thận thải ra
ngoài Nếu 1 trong 3 tạng trên bị suy kém, không vận hóa được thủy dịch, thủy dịch đọng lại gây nên đàm ẩm.
c) Tác động : Sau khi hình thành, đàm ẩm theo khí vận chuyển trong cơ thể, gây ảnh hưởng đến sự vận hành khí huyết, sự thăng giáng của khí, gây ra bệnh
27
Trang 28d) Bệnh chứng của đàm ẩm :
1 Đàm :
+ Đàm đình trệ ở phế, gây hen suyễn, khạc đàm + Đàm đình trệ ở tâm, che lấp làm tâm không khai thông được sinh ra điên cuồng, lưỡi cứng không nói được
+ Ẩm tràn ra ngực sườn gây ho suyễn
+ Ẩm vào Tỳ gây sôi bụng, đầy bụng, kém ăn
Trang 29e) Hội chứng bệnh do đàm ẩm gây ra :
+ Phong đàm : hoa mắt, chóng mặt, đột nhiên ngã qụy, khò khè, miệng méo, lưỡi cứng không nói được, thường gặp nơi người Động kinh.
+ Nhiệt đàm : đầu mặt nóng, táo bón, họng đau, điên cuồng
+ Hàn đàm : ho ra đàm lỏng, xương đau dữ dội, mạch trầm trì
+ Thấp đàm : người nặng nề, mệt mỏi
+ Lao hạch : còn được gọi là Tràng nhạc, Loa lịch, hạch lao thường ở cổ, bẹn (háng) thành khối hạch, không nóng đau, khi vỡ hay loét ra chất bã đậu, khó lành miệng vết thương.
+ Huyền ẩm : mạn sườn đau, khó thở, thường gặp trong
chứng tràn dịch màng phổi (phổi nước).
+ Yêm ẩm : Yêm là tràn, do đó, người thường thấy nặng nề, phù tay chân, không có mồ hôi, sợ lạnh hen suyễn, mặt phù
Trang 30- Những biểu hiện của ứ huyết :
+ Đau : Nội Kinh : "Thông tắc bất thống, thống tắc bất thông" (Lưu thông thì không đau, đau là do không thông), đau ở đây thường do xung huyết gây chèn ép, thường đau cố định 1 chỗ, ấn vào thấy đau hơn.
+ Sưng : thành khối, hay gặp trong ngoại khoa là gẫy xương, ngã, bong gân hoặc ứ huyết ở các tạng phủ.
+ Xuất huyết nội : như đại tiện ra máu, rong huyết hoặc
xuất huyết dưới da như trong trường hợp sốt xuất huyết, ngộ độc
30
Trang 313 ĂN UỐNG, SANG CHẤN, TRÙNG THÚ CẮN.
- Số lượng thức ăn : ăn nhiều quá gây bội thực Ăn ít quá không đủ năng lượng cho cơ thể, gây mỏi
tố, chiên xào với quá nhiều mỡ dễ gây ra chứng
xơ mỡ động mạch Rán nướng quá cháy dễ gây
ung thư
• Ngoài ra cần để ý đến những yếu tố gây bệnh đối với từng tạng phủ : Thức ăn lạnh quá, làm Tỳ vị hư hàn, thận suy yếu Thức ăn cay, nóng gây táo
bón
Trang 32Bảng tóm tắt nguyên nhân gây bệnh
1-Phong - Đi lên, đi ra- Di chuyển, biến hóa
- Xuất hiện đột ngột, ngứa
Trang 33Yếu tố Đặc tính Biểu hiện
4-Hỏa - Gây sốt, gây viêm ở
-Thấp nhiệt-Táo nhiệt-Thử nhiệt-Phong nhiệt
Trang 34Yếu tố Đặc tính Biểu hiện
háo, nứt lẻ -Lương táo-Ôn tháoNội táo Bẩm tố tạng
nhiệt, táo
Trang 35Yếu tố Đặc tính Biểu hiện bệnh
Thất
tình
(NN)
- Làm mất cân bằng âm dương, khí huyết, kinh lạc
- Gây tổn thương tạng phủ
- Tăng huyết
- Suy nhược thần kinh
-Viêm lóet dạ dày-Mất ngủ
Trang 36Yếu tố Đặc tính Biểu hiện bệnh
- Loa lịch
- Huyễn ẩm ( tràn dịch)
-Yêm ẩm (phù hen suyễn)