1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bài giảng dược học cổ truyền - Học thuyết tạng tượng

116 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 602,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI CƯƠNG Mỗi một tạng, không phải chỉ là thực chất cơ quan trong giải phẫu học mà chủ yếu bao gồm cơ năng hoạt động sinh lý của tạng đó và mối liên hệ hữu cơ giữa tạng đó với các tạng

Trang 3

ĐẠI CƯƠNG

 Học thuyết tạng tượng còn gọi là học thuyết tạng phủ

Tạng: Các tổ chức cơ quan trong cơ thể.

Tượng: là biểu tượng của hình thái, sinh lý,

bệnh lý của nội tạng phản ánh ra bên ngoài

cơ thể

Vì thế quan sát cơ thể sống để nghiên cứu quy luật hoạt động của nội tạng gọi là “tạng tượng”

Trang 5

ĐẠI CƯƠNG

 Mỗi một tạng, không phải chỉ là thực chất cơ quan trong giải phẫu học mà chủ yếu bao

gồm cơ năng hoạt động sinh lý của tạng đó

và mối liên hệ hữu cơ giữa tạng đó với các

tạng khác

 Hệ thống hoạt động của tổ chức cơ quan

dựa vào mối liên hệ lẫn nhau trong hoạt động sinh lý của các tạng mà phân chia ra

Trang 6

ĐẠI CƯƠNG

 Học thuyết tạng tượng đã phản ánh đầy đủ sự thống nhất trong nội bộ cơ thể và sự thống nhất giữa cơ thể với hoàn cảnh bên ngoài

 Tính thống nhất này biểu hiện ở chỗ hoạt động sinh lý, bệnh lý của hệ thống ngũ tạng quan hệ với

sự thay đổi của 5 mùa quan hệ lẫn nhau giữa các tạng phủ với các tổ chức phần ngoài cơ thể, với hoạt động tư duy của con người

Trang 7

 Theo YHCT: Tạng phủ 1 mặt chỉ thực chất các

cơ quan nội tạng, mặt khác còn chỉ sự hoạt

động sinh lý và biến hóa của cơ quan nội tạng.

Trang 8

ĐẠI CƯƠNG

 Thí dụ : Đối với Tâm.

- Y học Hiện đại cho rằng chức năng sinh lý của Tâm là quản lý sự tuần hoàn máu.

- YHCT cho rằng, Tâm không những chỉ quản lý về sự tuần hoàn máu (Tâm chủ huyết mạch) mà còn có liên

hệ với tinh thần con người (Tâm chủ thần minh, Tâm tàng thần) liên hệ đến mồ hôi (Mồ hôi là dịch của

Tâm), biểu hiện nơi tiếng cười, khai khiếu ra ở lưỡi

Do đó, Tâm không phải chỉ là quả Tim theo quan điểm sinh lý giải phẫu thuần túy mà còn bao gồm các hoạt động sinh lý và biến hóa bệnh lý của hệ Thần kinh

Trang 9

NGŨ TẠNG

Các tạng:

Tạng có chức năng chung là tàng giữ tinh khí Có 5 tạng chính và 1 phụ là:

Tâm (phụ là Tâm bào) - Can - Tỳ - Phế - Thận Quan

hệ giữa các Tạng là quan hệ Ngũ hành sinh, khắc.

Tương sinh: Can sinh Tâm, Tâm sinh Tỳ, Tỳ sinh Phế, Phế sinh Thận, Thận sinh Can.

Tương khắc: Can khắc Tỳ, Tỳ khắc Thận, Thận khắc Tâm, Tâm khắc Phế, Phế khắc Can.

Trang 10

I.CHỨC NĂNG CỦA NGŨ TẠNG

1 TÂM

1.1 Khái niệm

- Là tạng quan trọng nhất, là quân hỏa,

nằm trong lồng ngực

- Là chủ đề sự hoạt động sinh mệnh của

cơ thể, các tạng trong cơ thể phân

công hợp tác dưới sự thống lĩnh của

tâm mới có thể hoạt động theo quy

luật nhất định được Vì thế, ảnh

hưởng của tâm đối với sinh mệnh rất

lớn.

Trang 11

1.2 Một số chức năng

a, Tâm chủ thần minh:

 “Thần minh” là hoạt động của tinh thần, ý thức tư duy,

“tâm chủ thần minh” là nói tâm làm chủ đề hoạt động ý thức, tư duy Cho nên trên lâm sàng thấy những bệnh

có liên quan tới “thần kinh” như: hồi hộp, phiền nóng trong tim hoảng sợ, mất ngủ, nói sảng, hôn mê, cười không nghĩ vv… phần nhiều quy vào phạm vi bệnh

của tâm, hoặc cho là có quan hệ với tâm.

 Thuốc liên quan : trấn tâm an thần, thuốc bổ huyết, bổ âm,

Trang 12

b, Tâm chủ huyết mạch, tinh hoa

của tâm phô ra ở mặt :

 Huyết là do tâm làm chủ, mạch là

do đường ống của huyết lưu hành, tâm với huyết mạch phụ thuộc chặt chẽ với nhau trong việc thúc đẩy sự vận hành tuần hoàn của huyết dịch

Trang 13

 Nếu người có công năng của tâm thần được

kiện toàn huyết mạch được thịnh vượng thì sắc mặt hồng nhuận sáng bóng có thần , trái lại thì

nhợt nhạt, không tươi

 Nếu huyết vận hành bị trở ngại, huyết dịch bị

ngừng trệ thì sắc mặt hay thấy xám đen,

 Nếu huyết ngừng đọng không lưu thông, mất

dinh dưỡng thì chẳng những sắc mặt bị sạm đen

mà còn khô như củi nữa.

TÂM

Trang 14

 Tâm khí thịnh thì thần mạnh khoẻ mà cười luôn.

Trang 15

 Hoạt động của thần minh cũng ảnh hưởng đến huyết mạch, nếu

lo buồn tư lự quá độ thì tổn

thương tâm khí Sự hoạt động

Trang 16

c, Tâm chủ hãn

- Hãn là mồ hôi, là sản phẩm thanh lọc của

chất tân, được thải qua lỗ chân lông

- Các bệnh về hãn: tự hãn( tự ra mồ hôi), đạo hãn( ra mồ hôi trộm), vô hãn( không có mồ hôi) đều liên quan đến tâm

- Tâm không tàng được thần tự vã mồ hôi, đó

là trường hợp trúng phong, trúng thử, 1 việc kinh khủng xảy ra,

- Thuốc liên quan: liễm hãn, cố sáp, cố biểu,

an thần,

Trang 17

d, Tâm khai khiếu ra lưỡi

- Chất lưỡi mềm mại, sắc hồng nhuận, nói năng hoạt bát, tâm tốt

- Chất lưỡi nhợt nhạt, cứng hoặc lệch, nói ngọng hoặc không nói được, tàng thần kém

- Chất lưỡi và đầu lưỡi đỏ, tâm nhiệt

Trang 18

1.3 Một số bệnh liên quan đến tâm

- Tâm dương hư : biểu hiện tim đập nhanh, khí đoản(hơi thở ngắn) hoặc khó thở, mặt trắng bệch, lưỡi nhợt nhạt, môi tím tái, sợ lạnh, hoa mặt chóng mặt

Thuốc dùng: dưỡng tâm an thần, hóa đờm, bổ khí, bổ huyết

- Tâm huyết ứ trệ: đau vùng tim, tim đập

nhanh, mặt, môi, móng tay thâm tím

Thuốc dùng: thuốc hành khí, hành huyết,

Trang 19

- Tâm huyết bất túc: huyết thiếu, tim đập nhanh,

biểu hiện hay quên, mất ngủ, ngủ hay mộng, da xanh xao, lưỡi trắng nhợt, thân nhiệt thường hạ Thuốc dùng: bổ huyết, an thần,

- Tâm hỏa vượng: mặt đỏ, miệng đắng, niêm mạc miệng, lưỡi phồng rộp, đầu lưỡi đỏ, tiểu tiện nóng

đỏ, lòng bàn chân, bàn tay nóng

Thuốc dùng: thanh nhiệt kiêm lợi thủy, an thần,

Trang 20

TÂM BÀO LẠC

 Tâm bào lạc là cái màng ở ngoài bọc lấy

tim, lạc bám vào màng là đường của khí

huyết thông hành, gọi chung là tâm bào lạc

 Tâm bào lạc :có tác dụng bảo vệ tâm – tà khí xâm phạm vào cơ thể nói chung đều từ ngoài vào trong, từ biểu vào lý cho nên tà khí phạm tâm trước tiên là phạm vào tâm bào lạc

Trang 21

ĐẢN TRUNG

 Tôn khí là động lực của huyết mạch

vận hành và hô hấp, ngôn ngữ Tâm

chủ huyết mạch, phế chủ khí, coi về

thanh âm cho nên bệnh của đản trung

phần nhiều có liên quan tới tâm, phế.

 Khí hải không đủ, thì thiếu khí không

đủ để nói, khí hải dồi dào thì khí đầy

ở lồng ngực ảnh hưởng đến phế thì

sinh bệnh khó thở, ảnh hưởng tới tâm

thì thấy chứng mặt đỏ.

Đản trung ở chỗ giữa

hai vú trên ngực là chỗ

tụ tập của tôn khí gọi

là “khí hải”

Trang 23

 Các loại thuốc: bổ huyết, bổ âm, hành khí, hành huyết,

Trang 24

2 Can chủ gân:

 Tinh hoa của can phô ra ở móng tay, móng chân Gân bám vào xương, sự thu co dãn duỗi của gân chủ về việc vận động của khớp xương Sự dinh dưỡng cần thiết cho gân lại nhờ vào sự cung cấp của can Vì thế bệnh ở gân phần nhiều có quan hệ với can.

Ví dụ : Người già động tác chậm chạp, vận động không

nhanh nhẹn là vì can không dinh dưỡng cho gân, vì sự thu co dãn duỗi của gân bị thất thường mà xuất hiện chứng co giật cấp tính cũng thường có quan hệ với bệnh can.

Trang 25

 Can chủ cân” “móng tay là phần thừa

của cân” màu sắc hình thái của móng

tay có quan hệ rất lớn đến can và cân Nói chung sức cân khoẻ mạnh thì móng phần nhiều là mềm Can đởm có bệnh thì móng tay dài băng ra, cho nên người bệnh can nhiệt thì hay thấy chóng mặt,

da xanh, móng khô

 Thuốc: bổ can thận, bổ huyết

Trang 26

3 Can chủ sơ tiết:

 Can chủ sơ tiết, coi sự phân bố dương khí của

bệnh can khí uất kết như những chứng ngực khó chịu, sườn đau.

 Thuốc liên quan: sơ can giải uất, hành khí, hành huyết, lợi mật

Trang 27

4 Can chủ nộ

Can chủ về tức giận, về tính nóng nảy, cáu gắt Thuốc liên quan: an thần, bình can tiềm dương, trọng trấn an thần, sơ can giải uất,

5 Can khai khiếu ra mắt: Can khí thực do phong nhiệt gây chứng mắt đỏ, sưng, đau; can huyết

hư gây quáng gà, giảm thị lực Can phong nội động gây miệng méo, mắt lác

Trang 28

6 Một số bệnh lý của can

- Can khí uất kết: thể hiện 2 bên sườn đau

tức, đau lồng ngực, đau bụng kinh, viêm

gan mạn Thuốc dụng: sơ gan giải uất,

hành khí, hành huyết

- Can đởm thấp nhiệt: da vàng, tiểu tiện vàng

đỏ, sườn đau căng, khí hư Thuốc dùng:

thanh nhiệt táo thấp, giải độc, lợi thấp

Trang 29

- Can phong nội động : ngã đột ngột,

thậm chí hôn mê bất tỉnh, miệng mắt

méo xệch, thuốc dùng bình can tắt

phong, trọng trấn an thần, sơ can giải uất,

- Can hỏa thượng viêm: đau đầu, mặt

đỏ, mắt đỏ, miệng đắng, lưỡi hồng, hay chảy máu cam Thuốc dùng: thanh

nhiệt kiêm giải biểu nhiệt, chỉ huyết,

Trang 30

Tỳ là cơ quan có chức năng tiêu hóa dinh

dưỡng Như vậy tỳ bao gồm những cơ quan: dạ dày( chứa đựng), tiểu tràng ( hấp thu), đại tràng ( đào thải),

1 Tỳ ích khí sinh huyết: ích khí là làm giàu

phần khí, tức tạo nguồn năng lượng cho

cơ thể, cung cấp cho mọi hoạt động của lục phủ, ngũ tạng,

Tỳ khỏe mạnh : nguồn khí dồi dào cơ thể khỏe

mạnh

Tỳ kém: người mệt mỏi, đoản hơi, vô lực, xanh

xao vì huyết hư

Thuốc dùng: Kiện tỳ ích khí, hành khí ,bổ huyết

Trang 31

ăn Sau khi tiêu hoá, các chất tinh vi được

tỳ hấp thu và chuyển vận lên phế, phế đưa vào tâm mạch để đi nuôi dưỡng các tạng phủ, tứ chi, cân, não

Công năng vận hoá tốt thì sự hấp thu tốt trái lại sẽ gây các chứng rối loạn tiêu hoá: ăn kém, ỉa chảy, mệt mỏi, gầy…

Trang 32

b Vận hoá thuỷ thấp: tỳ đưa nước đến các

tổ chức cơ thể để nuôi dưỡng, sau đó chuyển xuống thận ra bàng quang bài tiết

ra ngoài Như vậy việc chuyển hoá chuyển hoá nước trong cơ thể do sự vận hoá của tỳ phối hợp với sự túc giáng của phế và sự khí hoá của thận.

Sự vận hoá thuỷ thấp của tỳ kém sẽ gây chứng đàm ẩm, khiến cho nước tràn ra tứ chi gây phù thũng, xuống đại trường gây

ỉa chảy, đến khoang bụng thành cổ trướng…

Thuốc dùng: kiện tỳ ích khí, thẩm thấp lợi niệu, tiêu đạo,

Trang 33

3 Thống huyết

 Thống huyết hay còn gọi là nhiếp huyết có

nghĩa là quản lý, khống chế huyết Sự vận hoá

đồ ăn của tỳ là nguồn gốc của khí và huyết,

nhưng tỳ còn thống huyết Tuỳ khí mạnh huyết

sẽ đi trong mạch, được khí thúc đẩy đi nuôi

dưỡng cơ thể, trái lại tỳ khí hư sẽ không thống được huyết, huyết sẽ ra ngoài gây các chứng

xuất huyết như rong huyết, đại tiện ra máu lâu ngày…

 Thuốc dùng: kiện tỳ kiêm chỉ huyết, bổ huyết, bổ âm,

Trang 34

4 Chủ cơ nhục, chủ tứ chi

 Tỳ đưa các chất dinh dưỡng của đồ ăn đến nuôi dưỡng cơ nhục, nếu tỳ khí đầy đủ sẽ làm cho cơ nhục rắn chắc, tứ chi nhẹ nhàng linh hoạt; trái lại nếu tỳ khí yếu sẽ làm thịt mềm, trương lực cơ

giảm gây tứ chi mệt mỏi, gây các chứng thoát vị: như sa trực tràng, sa sinh dục, sa dạ dày…

 Thuốc dùng: kiện tỳ ích khí, bổ huyết, bổ âm, bổ dương,

Trang 35

5 Tỳ chủ thăng( khí của tỳ đi lên trên, thượng tiêu)

 Cơ thể khỏe mạnh, tỳ khỏe mạnh, khí luôn hướng lên trên, có tác dụng giữ cho tạng phủ ở vị trí tự nhiên của nó

 Tỳ khí hư, trung khí bị hạ và hãm xuống hạ tiêu, làm xuất hiện triệu chứng sa giáng

 Thuốc dùng: kiện tỳ ích khí, tiêu đạo, hành khí,

thăng dương khí.

Trang 36

6 Tỳ cơ nhục tươi tốt ra ở môi:

 Thức ăn uống vào vị, qua sự vận hoá hấp thu

của tỳ để dinh dưỡng cơ nhục Công năng của

tỳ mạnh khoẻ, cơ nhục được nuôi dưỡng đầy đủ thì người béo đẫy Nếu tỳ bị bệnh đến nỗi bị trở ngại cho sự tiêu hoá hấp thu, cơ nhục không

được dinh dưỡng đầy đủ thì người sẽ vàng gầy

 Tỳ vừa chủ về cơ nhục lại vừa có mối quan hệ bên trong với miệng môi

Trang 37

Thường thấy ở những người tỳ

hư dinh dưỡng không tốt thì môi miệng thường vàng úa không tươi Nếu tinh khí của tỳ kiệt hết, cơ nhục mất tính năng bình thường thì sẽ xuất hiện các chứng lưỡi liệt, môi lật ra (chỗ nhân trung đầy lên)

Trang 38

 Tỳ dương hư: ăn uống kém, bụng sôi, đầy trướng, đại tiện lỏng, chân tay co quắp, thân thể nặng nề, phù thũng Dùng thuốc kiện tỳ kiêm bổ dương, thuốc hóa thấp

Trang 39

 Hàn thấp phạm tỳ: bụng ngực đầy, không muốn ăn, toàn thân mệt mỏi, đau ê ẩm, đại tiện lỏng Dùng thuốc hóa thấp kiêm hành khí

 Tỳ thấp nhiệt: vàng da, bụng đầy trướng

không muốn ăn, đại tiện táo kết, tiểu tiện

vàng đỏ, Nên dùng thuốc thanh nhiệt, táo thấp, lợi thủy, nhuận tràng,

Trang 40

1 Phế chủ khí:

 Khí là vật chất trọng yếu, cơ thể nhờ khí để duy trì sự sống, có hai nguồn: một là tinh khí trong đồ ăn uống, hai

là khí trời hút vào người Khí trời từ phía ngoài do phế hút vào, khí của đồ

ăn uống từ phía trong cơ thể, do tỳ mạch chuyển dẫn lên phế, hai khí ấy kết hợp lại chứa vào khí hải ở lồng ngực gọi là “Tông khí”.

Trang 41

2 Phế trợ tâm, chủ việc trị tiết:

 Trị tiết có nghĩa là quản lý rành mạch, không rối loạn, có thứ tự rõ ràng, ở đây là chỉ vào sự hoạt động sinh lý có quy luật Sở dĩ các tổ chức tạng phủ trong cơ thể hoạt động có quy luật nhất định, tuy do công dụng “tâm chủ thần minh” của tâm, nhưng vẫn cần được sự hỗ trợ của phế

Trang 42

 Tâm chủ huyết, phế chủ khí, cơ thể nhờ sự vận hành tuần hoàn của khí huyết để vận chuyển chất dinh dưỡng, duy trì hoạt động cơ năng và quan hệ nhịp nhàng giữa các tạng và quan hệ nhịp nhàng giữa các tạng phủ

 Sự vận hành của huyết, tuy do tâm làm chủ nhưng phải nhờ vào tình hình thoải mái của phế khí mới có thể vận hành bình thường Khí của toàn thân tuy do phế làm chủ nhưng cần phải nhờ sự vận hành huyết mạch mới có thể thông đạt khắp toàn thân

Trang 43

3 Phế chủ túc giáng, thông điều thủy đạo:

 Nước uống vào vị, tinh khí của nước qua sự chuyển vận của tỳ mà dồn lên phế, phế khi túc giáng thì thủy dịch theo đường thủy đạo của tam tiêu mà xuống

thấu bàng quang

 Nếu phế mất khả năng túc giáng thì thủy dịch sẽ dồn đọng lại, tiểu tiện sẽ không thông, thậm chí thành

bệnh thủy thũng Vì thế tiểu tiện có thông lợi hay

không, thường có quan hệ tới công năng túc giáng của phế

 Thuốc dùng : kiện tỳ, hành khí, lợi thủy thẩm thấp,

hóa đàm,

Trang 44

lông, da, cũng có tác dụng tán khí, cho nên lỗ

chân lông cũng gọi là “khí môn”

 Da lông nhờ sự hun nóng của phế khí mới được tươi nhuận Vì thế, phế khí đầy đủ thì da lông

mỡ màng, tươi nhuận; phế khí suy kiệt thì da

lông khô khan xơ xác

Trang 45

6 Phế khai khiếu ra mũi:

- Phế tốt hơi thở qua mũi nhịp nhàng

- Phế nhiệt: hơi thở qua mũi nóng, mũi đỏ

- Phế tắc: cánh mũi phập phồng

- Phế hư: hơi thở ngắn, cánh mũi xẹp, hay thở dài

Trang 46

7 Một số bệnh của phế:

- Phong tà nhập phế: Sợ lạnh, sốt cao, đau đầu, ho, sổ mũi, đau toàn thân Dùng thuốc giải biểu kiêm chỉ ho

- Phế âm hư: ho, ít đờm, trong đờm có tia máu, lưỡng

quyền hồng, sốt về chiều, nóng âm ỉ trong xương Dùng thuốc bổ âm kiêm chỉ ho, hóa đờm, chỉ huyết

- Đờm phế thấp nhiệt: ho, suyễn đờm đặc, vàng, mùi hôi, đau ngực, sốt Dùng thuốc hóa đờm, chỉ ho, bình suyễn, thanh nhiệt,

- Khí phế hư: ho nhiều, đờm nhiều mà loãng, đoản hơi, ra nhiều mồ hôi, tiếng nói yếu, người mệt mỏi Dùng thuốc bổ khí, chỉ ho, hóa đờm, cố biểu liễm hãn,

Trang 47

dưỡng có thể nhờ vào đó để sinh tồn

 Tinh nam nữ giao hợp gọi là tinh tiền thiên, tinh trong đồ ăn lại gọi là tinh hậu thiên

Trang 48

 Tàng tinh là công năng quan trọng của thận Từ sự sinh trưởng phát dục của cơ thể, cho đến sự sinh nòi

đẻ giống về sau đều là tác dụng

của thận tinh

 Tác dụng của thận tinh gọi là thận khí , quá trình phát dục của cơ thể cũng tức là quá trình biến hoá thịnh suy của thận khí.

 Cho nên con gái khoảng 7 tuổi,

con trai 8 tuổi thận khí vượng tinh dần dần thì có sự biến đổi.

Trang 49

 Răng thay tóc dài, con gái khoảng 14 tuổi, con trai khoảng 16 tuổi ngũ tạng lục phủ đã được phát dục rất vượng thịnh, cơ năng sinh thức bắt đầu thành thục, nên có sự biến đổi là con gái có kinh nguyệt, con trai

có tinh tràn ra, lúc bấy giờ nếu nam nữ giao hợp thì đã có khả năng sinh đẻ

Trang 50

 Con gái khoảng 35 tuổi, con trai khoảng 40 tuổi thận khí suy dần, tinh khí ngày càng giảm sút, tinh hoa của ngũ tạng lục phủ ngày càng suy tổn, cho nên nữ giới khoảng

49 tuổi, nam giới khoảng 64 tuổi thì thiên quý kiệt, kinh nguyệt dứt, tinh ít, không thể

đẻ con được nữa đồng thời cơ thể cũng già yếu dần dần

Ngày đăng: 28/11/2021, 22:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm