• Trong y học, học thuyết ngũ hành được ứng dụng để quan sát, quy nạp và nêu lên sự tương quan trong hoạt động sinh lý, bệnh lý của các tạng phủ; để chẩn đoán bệnh tật; để tìm tính năng
Trang 11 Định nghĩa
• Học thuyết ngũ hành là học thuyết âm dương liên hệ cụ thể hơn trong việc quan sát, quy nạp
và sự liên quan của các sự vật trong thiên nhiên
• Trong y học, học thuyết ngũ hành được ứng dụng để quan sát, quy nạp và nêu lên sự tương quan trong hoạt động sinh lý, bệnh lý của các tạng phủ; để chẩn đoán bệnh tật; để tìm tính năng và tác dụng thuốc và để tiến hành công tác bào chế
THUYẾT NGŨ HÀNH
Trang 22 NỘI DUNG CỦA HỌC THUYẾT NGŨ HÀNH
2.1 Ngũ hành là gì?
- Ngũ là 5, hành là vận động, đi
- Học thuyết ngũ hành là một học thuyết về mối quan hệ giữa các sự vật hiện tượng Đó
là mối quan hệ “động” vì vậy gọi là hành
- Có 2 kiểu quan hệ: tương sinh và tương khắc do đó mà có 5 vị trí( gọi là ngũ )
Trang 3- Người xưa qui nạp vật thể thiên nhiên thành 5 loại: kim (kim loại), mộc (gỗ), thủy (nước), hỏa
(lửa), thổ (đất), và gán cho chúng tính chất riêng: + Mộc có tính chất động, khởi đầu (sinh)
+ Hỏa có tính chất nhiệt, phát triển (trưởng)
+ Thổ có tính chất nuôi dương, sinh sản (hóa)
+ Kim có tính chất thu lại (thu)
+ Thủy có tính chất tàng chứa (tàng)
- Cụ thể hóa, mở rộng phạm vi thuyết âm dương
- Y DHCT vận dụng một cách triệt để
Trang 5- Má bên trái thuộc Can.
- Mũi thuộc Tỳ (trung ương)
Việc phân chia này giúp ích rất nhiều trong việc
Trang 6* Nếu xếp đồ hình dọc theo cơ thể con người ta thấy :
- Từ ngực trở lên thuộc Tâm
- Từ thắt lưng xuống thuộc Thận
- Nửa bên trái thuộc Can
- Nửa bên phải thuộc Phế
Trang 72.3 Ngũ hành và sinh lý con người
a) Quan niệm cổ truyền :
+ Can và Hành mộc : Tính của cây gỗ thì cứng cỏi giống như chức năng của Can là 1 vị tướng, vì thế, dùng hành Mộc ví với can
+ Tâm và Hành hỏa : Lửa cháy thì bốc lên, giống như Tâm bốc lên mặt và lưỡi, vì thế, dùng hành Hỏa ví với Tâm
+ Tỳ và Hành thổ : Đất là mẹ đẻ của muôn vật
giống là con người sinh tồn được là nhờ vào các chất dinh dưỡng do Tỳ vị cung cấp, vì thế, dùng Hành thổ ví với Tỳ
Trang 8+ Phế và Hành kim : Kim loại thường phát ra
âm thanh giống như con người phát ra
tiếng nói nhờ Phế, vì thế, dùng hành Kim ví với Phế.
+ Thận và Hành thủy : Nước có tác dụng đi xuống, thấm nhuần mọi chỗ giống như
nước uống vào, một phần thấm vào cơ thể, phần còn lại theo đường tiểu bài tiết ra
ngoài, vì vậy đem hành Thủy ví với Thận.
Trang 9b) Quan điểm hiện đại :
- Hành Mộc và sự vận động : Đó là sự vận động của các cơ bắp, các sợi cơ ở khắp cơ thể (Cơ năng
phát động)
- Hành Hỏa và sự phát nhiệt : Đó là sự sản sinh nhiệt năng do sự chuyển hóa của các tế bào (Cơ phát nhiệt)
- Hành Thổ và sự bài tiết (Cơ năng bài tiết) : Đó là
vận động đưa chất ra ngoài cơ thể
- Hành Kim và sự hấp thụ (Cơ năng hấp thụ) : Đó là vận động thu hút các chất vào
- Hành Thủy và sự tàng trữ (Cơ năng tàng trữ) : Đó
là vận động tàng trữ các chất trong cơ thể để dùng khi cần thiết
Trang 103- CÁC QUI LUẬT CỦA HỌC THUYẾT
3.1- TRONG ĐIỀU KIỆN BÌNH THƯỜNG
(sinh lý)
a-Tương sinh ( sinh hàm ý nuôi dưỡng, giúp đỡ)
- Các hành thúc đẩy, giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển
- Trong quan hệ Tương sinh, mỗi Hành đều có mối quan
hệ với hai Hành khác (hai vị trí khác: Cái-Sinh-Nó và
Cái-Nó-Sinh) Người hình tượng hóa quan hệ tương
sinh cho dễ hiểu bằng hình ảnh quan hệ Mẫu - Tử:
chẳng hạn Mộc (Mẹ) sinh Hỏa (Con)… Thí dụ: vận động chân tay (Mộc) làm cho người nóng lên (sinh Hỏa)…
Trang 12hóa sẽ giảm đi (khắc Thổ)…
Méc
Thæ
Thñy Háa
Kim
Tương khắc
Trang 13• Tương tự như mối quan hệ giữa Âm và Dương, Tương sinh và Tương khắc không tách rời nhau, nhờ đó vạn vật mới giữ được thăng bằng trong mối quan hệ với nhau
• Thí dụ: Mộc khắc Thổ, nhưng Thổ lại sinh Kim khắc Mộc nhờ đó Mộc và Thổ giữ được thế quan bình, Thổ không bị suy Có tương sinh mà không tương khắc thì không thăng bằng, không phát triển bình thường được Có tương khắc mà không tương sinh thì không thể có sự sinh trưởng biến hóa Như vậy, qui luật tương sinh tương khắc của Ngũ hành, về bản chất, chính là
sự cụ thể hóa Học thuyết Âm Dương
Trang 142/08 14
3.2- TRONG ĐIỀU KIỆN KHÔNG BÌNH THƯỜNG (bệnh lý)
a.Tương thừa ( thừa thế lấn át)
- Hành đi khắc, khắc quá mạnh, gây bệnh cho
hành bị khắc
- Chẳng hạn: bình thường Mộc khắc Thổ, nếu có một lý do nào đó làm Mộc tăng khắc Thổ, lúc đó gọi là Mộc thừa Thổ
- Kim > mộc > thổ > thủy > hỏa > kim)
Ví dụ: giận dữ quá độ (can mộc thái quá) gây loét
dạ dày (vị thổ bị tổn hại)
Trang 15Méc
Háa
Thæ Kim
Thñy
Tương thừa
Trang 16b-Tương vũ ( hàm ý khinh nhờn)
- Hành bị khắc mạnh hơn hành đến khắc và chống lại hành đến khắc, gây bệnh cho hành đến khắc
- Nếu Hành này không khắc được Hành kia thì quan
hệ Tương khắc trở thành quan hệ Tương vũ Chẳng hạn: bình thường Thủy khắc Hỏa, nếu vì một lý do nào đó làm Thủy giảm khắc Hỏa (nói cách khác: Hỏa
“khinh lờn” Thủy) thì lúc đó gọi là Hỏa vũ Thủy
- Kim > Mộc > Thổ > Thủy > Hỏa > Kim
Ví dụ: Thủy ( thận) khắc hỏa (tâm) nếu thủy (thận) suy yếu quá không khắc nổi hỏa sẽ sinh ra chứng nóng nhiệt, khó ngủ
Trang 17Tương vũ
Trang 18c- Quy luật chế hoá
Quy luật chế hóa
Trang 20sắc Xanh Đỏ vàng trắng ĐenNgũ
Ngũ
Trang 214.2 Vận dụng vào tổ chức công việc, sinh hoạt hàng ngày
Dựa theo tính chất và các qui luật mà tổ
chức công việc hàng ngày:
- Khởi đầu một ngày, công việc luôn có tính chất Mộc , cần có thời gian để sinh
VD người tập thể dục hít thở để khởi động cho 1 ngày
- Tiếp đó đẩy mạnh tiến độ công việc, đây là lúc năng suất công việc cao nhất Hỏa
(trưởng)
Trang 22- Công việc có kết quả, có sản sinh ra một cái gì
đó mới mẻ thì công việc mới tồn tại Thổ (hóa)
- Khi có kết quả cần thu lại, rút lui từ từ, nghỉ ngơi dần Kim (thu)
- Và ẩn lại, chứa lại, nghỉ ngơi chuẩn bị cho ngày mới Thủy (tàng) Chuẩn bị cho quá trình Sinh-
Trưởng – Hóa – Thu – Tàng tiếp theo, tránh làm ngược lại làm rối loạn qui trình
Ví dụ: Tổ chức một cuộc họp
trước tiên cần có thời gian cho mọi người chuẩn bị, tập trung (Mộc); sau đó đi vào vấn đề bàn luận
kết quả hữu ích (Thổ); rồi có đúc kết lại vấn đề
dứt cuộc họp (Thủy)
Trang 232/08 23
4.3- vận dụng vào y dược học
4.3.1- Vào tổ chức cơ thể
- Xếp các cơ quan trong cơ thể theo ngũ hành
- Trong điều kiện bình thường luôn ở thế cân bằng
lông Xương
Trang 24biến Co quắp Hồi hộp Nôn ọe Ho Run rẩyChỗ bị
bệnh Cổ gáy Ngực sườn Sống lưng Vai lưng eo lưng
Trang 25Hay cáu gắt, giận dữ Can
Vui mừng, cười nói Tâm
Buồn rầu, ưu phiền Phế
Lo nghĩ, nghĩ ngợi nhiều Tỳ
Trang 27Hư tà: tạng trước gây bệnh cho nó (mẹ
truyền sang con)
hỏa vượng, nguyên nhân do thận âm hư
Trang 28Thực tà: tạng sau gây bệnh cho nó (con truyền sang mẹ)
Vd: chứng khó thở (phế) do phù nề, nguyên nhân do Thận, phép chữa là lợi tiểu bình suyễn (tả thận)
Vị tà: tạng khắc gây bệnh cho nó (tương thừa)
Vd: viêm loét dạ dày do cán khí phạm vị
Tặc tà: tạng nó khắc gây bệnh cho nó (tương vũ)
Vd: chứng phù dinh dưỡng do thận thủy áp đảo lại tạng tỳ gây phù
Trang 30- Tương khắc:
Bồi thổ chế thủy (bổ tỳ tiêu phù)
Thanh kim chế mộc (thanh phế để tả
Trang 31- Tương thừa
Vừa tả tạng khắc (vi tà), vừa nâng đỡ tạng
bệnh
VD : can mộc khắc tỳ thổ quá mạnh gọi là can
thừa tỳ Chứng này gặp trong trường hợp hội
chứng ruột dễ bị kích thích, mỗi khi xúc động
thì ỉa chảy, hoặc căng thẳng tinh thần quá trong thời gian dài dẫn tới bệnh dạ dày tá tràng Cách chữa giảm công năng tạng can, tăng cường
chức năng của tỳ theo pháp bình can kiện tỳ
Trang 32c- Châm cứu: quy 5 loại huyệt
- Huyệt ngũ du là 5 huyệt du từ khuỷu tay và gối trở xuống đến ngón chi, YHCT cho rằng kinh khí vận hành trong kinh lạc như dòng nước chảy, chỗ đi xa là tỉnh, trôi chảy là huỳnh, dồn lại là du, đi qua là kinh, nhập vào
là hợp.
- Tỉnh (như cái giếng), huỳnh (là dòng chảy),
du (dồn tới nơi sâu hơn), kinh (là xuyên qua), hợp (là dồn lại đi sâu vào tạng phủ)
Trang 332/08 33
Loại huyệt ngũ du
Dương
Kim Thủy Mộc Hỏa Thổ
-Trong một đường kinh là tương sinh, kinh
dương/ âm tương khắc
Trang 34sinh-Vd Mộc sinh Hỏa: muốn thuốc bổ tâm phải
chọn thuốc có đặc điểm của can
Vị, màu
sắc Ngọt vàng Mặnđen Cay trắng ChuaXanh ĐắngĐỏ
Trang 35e- Vận dụng vào chế biến:
- Chọn sự qui kinh thuốc.
VD: (Màu vàng, mùi thơm tăng qui tỳ, màu
đen tăng qui kinh thận)
- Có thể vận dụng đặc tính của Ngũ hành để thay đổi hoặc tăng cường hiệu quả của
thuốc.
Thí dụ : Tẩm thuốc với dấm (vị chua) để dẫn thuốc vào Can, Tẩm thuốc với Muối (vị mặn)
để dẫn thuốc vào Thận
Trang 36g- Tiết chế, dinh dưỡng:
• Trong ăn uống không nên dùng nhiều và kéo dài một loại, nên ăn tạp và thay đổi thức ăn vì:
- Ngọt nhiều quá sẽ hại Tỳ
- Mặn nhiều quá sẽ hại Thận
- Cay nhiều quá sẽ hại Phế
- Đắng nhiều quá sẽ hại Tâm
- Chua nhiều quá sẽ hại Can.
• Khi bị bệnh, cần kiêng khem những thứ có
cùng vị liên quan Ngũ hành với tạng bệnh.
- Bệnh Thận không nên ăn nhiều muối mặn
- Bệnh Phế cần kiêng cay như tiêu, ớt, rượu
- Bệnh về tiêu hoá nên kiêng ăn ngọt béo
nhiều
Trang 372/08 37
TÓM TẮT
NỘI DUNG HỌC THUYẾT NGŨ HÀNH :
Điều kiện bình thường: Tương sinh- Tương khắc; Quy luật chế hoá
Điều kiên không bình thường ( Bệnh lí): Tương
Trang 38THỦY KHÍ A.- ĐẠI CƯƠNG
- Nhìn vào đồ Thái cực,Mùa Đông:buổi tối khuya
là dấu hiệu của Thái âm, âm khí ngự trị hoàn toàn, trời đất u tối, lạnh lẽo, cảnh vật điêu tàn, thê lương, tất cả đang đi vào cõi chết, trong khi
đó, mọi sinh vật đều lo ẩn núp, trốn tránh cái lạnh lẽo giá buốt của âm khí để cố duy trì và bảo tồn dương khí còn lại, tránh khỏi bị tiêu diệt, để chờ đợi mùa xuân (khởi đầu Thiếu Dương) để phát triển Dương khí đem lại sức sống Dương khí ở nơi người chính là Thủy khí
- Thủy khí là nguồn năng lực tàng trữ trong con người, nhằm duy trì sự sống trong tình trạng Thái âm hủy diệt
Trang 39B.- NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA THỦY KHÍ
a) Về cơ thể
1 Tóc "Thận suy, tóc rụng".
- Về già, Thủy khí suy, tóc người trở nên bạc, rụng, mất vẻ bóng láng, do đó, giữa tóc và Thủy khí có liên hệ với nhau
- Huyết do tinh sinh ra, tinh tràng trữ ở Thận, tóc
là sản phẩm "thừa ra" của huyết, được huyết nuôi dưỡng, Thận suy không sinh được huyết, tóc sẽ rụng do đó Thận là căn nguyên của tóc
- Tóc xanh, óng, dầy, đen huyền, tóc mây là dấu hiệu Thủy khí sung mãn
- Tóc khô, rụng, bạc là dấu hiệu Thủy khí suy kém
Trang 402 Tai và thính giác “Thận khai khiếu ở Tai”
- Thủy khí sung mãn thì thính giác tinh, có thể nghe được những âm thanh nhỏ và xa.
- Thủy khí suy yếu thì thính giác sút giảm : nghe không rõ, ù tai, lãng tai, điếc, tai kêu như ve, lùng bùng trong tai
- Uống thuốc lợi tiểu, đi tiểu nhiều thấy mệt, tai lùng bùng (Thủy suy).
- Những người già, người bệnh nặng, sốt rét Thủy suy thường thấy ù tai.
Trang 413 Xương và răng "Thận chủ cốt"
- Về già, vào mùa lạnh, người ta thường thấy đau nhức trong xương, ê ẩm trong răng, răng long, rụng Do đó, giữa xương răng và Thận có liên hệ với nhau.
- Thận ố hàn (Thận ghét lạnh), người đang đau nhức răng và xương, uống nước đá vào thấy đau và nhức hơn.
- Nhức, lạnh trong xương, lạnh cột sống trong chứng sốt rét, cảm giác như kiến bò, giòi bọ rúc trong xương của những người ghiền xì
ke ma túy, là dấu hiệu của những người Thủy khí suy.
Trang 42- Nóng trong xương, viêm xương là Hỏa của Thận vượng.
- Răng chắc, to, bóng láng là dấu hiệu Thủy khí sung mãn.
- Răng long, đen đục, ê nhức là dấu hiệu Thủy khí suy.
- Những người tiếp xúc nhiều với hàn khí (nước đá, nước lạnh ) làm cho Thủy khí suy (Thận ố hàn) dễ sinh ra hư, gẫy, rụng răng
Trang 434 Nước tiểu "Nước tiểu là dịch của Thận".
- Người già Thủy khí suy yếu, vào mùa đông, buổi tối, những ngày mưa các cụ thường đi tiểu nhiều,
do đó nước tiểu và thủy khí có liên hệ với nhau
- Đi tiểu nhiều lần, nhất là tiểu đêm, nước tiểu nhiều
và trong là dấu hiệu Thận suy
- Ít tiểu, nước tiểu đỏ, tiểu ít nước, tiểu ra máu là dấu hiệu Hỏa của Thận vượng
- Bí tiểu vì bọng đái không co thắt là dấu hiệu Mộc của Thận suy
- Đái rắt do sự quá co thắt của Bàng quang là dấu hiệu Mộc của Thận vượng
Trang 445 Tinh dịch "Thận tàng tinh".
- Tinh khí thật ra do tinh hoa 5 khí của Ngũ hành kết lại chứ không phải chỉ do 1 mình Thận, dù Thận giữ vai trò chủ yếu, do đó, nếu tổng trạng suy nhược, tinh dịch không thể sinh ra nhiều được.
- Ngược lại, đa dục (ham mê tửu sắc quá độ) làm mất tinh dịch quá nhiều, sẽ có thể làm cho cơ thể suy nhược.
- Làm mất nhiều tinh dịch hoặc tinh dịch không đủ, có thể gây nên các chứng bệnh bất lực, hiếm muộn con cái.
Trang 45- Di tinh : Tinh dịch chảy ra tự nhiên, đây là
dấu hiệu Thận suy trầm trọng Ở những người bệnh nặng, nếu tinh tự xuất ra là dấu hiệu người bệnh sắp chết vì Thủy của Thận suy kiệt hoàn toàn, không giữ tinh được.
- Tảo tinh : Tinh tiết quá sớm khi giao hợp
Thường do Thủy của Thận suy, nhưng cũng
có khi do Hỏa của Tâm vượng phản khắc lại Thận thủy khiến xuất tinh sớm.
- Liệt âm, liệt dương : Triệu chứng suy
nhược hoặc bất lực của bộ phận sinh dục nam nữ, đó là dấu hiệu Thủy của Thận suy, chủ yếu là Mộc của Thận suy, đồng thời còn
là dấu hiệu của sự suy nhược toàn bộ.
Trang 46b) Về chức năng
6 Trí nhớ
- Khi còn trẻ, trí nhớ mạnh mẽ, đầy đủ, ngược lại, đến tuổi già, thủy khí suy yếu, trí nhớ cũng từ đó trở nên tồi tệ, vậy giữa thủy khí và trí nhớ có sự liên hệ với nhau
- Các nhà nghiên cứu cho là trí nhớ con người giảm từ từ và đều đặn từ 50 - 60 tuổi, người ở 60 tuổi trở đi, thường gặp 2 khó khăn :
+ Khó khăn về ngôn ngữ : khó gọi đúng tên người muốn gọi
+ Khó khăn về trí nhớ : khó nhớ 1 lúc 2 việc cần làm trở lên
Trang 477 Ý chí
- "Thận chủ ý chí".
- Người Thủy khí suy yếu, thiếu hẳn ý chí : không thể quyết định dứt khoát, không có lập trường.
8 Sự sợ hãi : "Ở chí của Thận là sự sợ hãi".
- Người Thận thủy suy thường hay sợ hãi.
- Khủng thương thận (sự sợ hãi làm hại Thận), những biến động hăm dọa tính mạng đời sống con người, làm thủy khí suy.
Trang 489 Lạnh "Thận ố hàn" (thận ghét lạnh).
- Về mùa đông, đêm khuya (thời điểm của Thái âm), người ta cảm thấy lạnh Vậy giữa lạnh và thủy khí
có liên hệ với nhau
- Sờ ngoài da thấy lạnh là Thủy của Thận ở phần Biểu suy (Biểu là phần bên ngoài)
- Người bệnh cảm thấy lạnh nhất là 2 bàn chân, lạnh trong cột sống, lạnh từ trong lạnh ra, dù sờ ngoài
da không thấy lạnh là dấu hiệu Thủy của Thận suy
ở lý (phần bên trong thuộc Lý)
- Tùy theo cảm giác lạnh ở vùng nào có thể suy ra
cơ quan, cục bộ có rối loạn
+ Thấy lạnh vùng lưng, chân là dấu hiệu Thủy của Thận suy
+ Thấy lạnh vùng trán là dấu hiệu thủy của Tâm suy
Trang 4910 Sự run rẩy "Ở sự biến động của Thận là run
11 Tiếng rên rỉ, hắt hơi
"Rên rỉ, hắt hơi là tiếng của Thận"
- Những người bị rét hoặc đang lên cơn kinh hãi thường hay run rẩy và rên rỉ
- Người ta thường hay hắt hơi vào những ngày mưa, thời tiết lạnh, gió lạnh vào sáng sớm là dấu hiệu Thủy của Phế suy (vì chứng này thường gây ra kéo dài, mãn tính, do đó, thường là do kim suy kéo theo Thủy suy và Mộc vượng)