1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Bài giảng dược học cổ truyền - Học thuyết ngũ hành

97 55 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 674,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Người xưa qui nạp vật thể thiên nhiên thành 5 loại: kim kim loại, mộc gỗ, thủy nước, hỏalửa, thổ đất, và gán cho chúng tính chất riêng: + Mộc có tính chất động, khởi đầu sinh + Hỏa c

Trang 1

- Có 2 kiểu quan hệ: tương sinh và tương khắc

do đó mà có 5 vị trí( gọi là ngũ)

THUYẾT NGŨ HÀNH

Trang 2

- Người xưa qui nạp vật thể thiên nhiên thành 5 loại: kim (kim loại), mộc (gỗ), thủy (nước), hỏa

(lửa), thổ (đất), và gán cho chúng tính chất

riêng:

+ Mộc có tính chất động, khởi đầu (sinh)

+ Hỏa có tính chất nhiệt, phát triển (trưởng)

+ Thổ có tính chất nuôi dương, sinh sản (hóa)

+ Kim có tính chất thu lại (thu)

+ Thủy có tính chất tàng chứa (tàng)

- Cụ thể hóa, mở rộng phạm vi thuyết âm dương

- Y DHCT vận dụng một cách triệt để

Trang 4

1.2 Ngũ hành và cơ thể

* Nếu đem đồ hình Thái cực, áp dụng vào khuôn mặt,

nhìn từ sau ra trước, ta thấy :

- Trán thuộc Tâm.

- Cằm thuộc Thận.

- Má bên trái thuộc Can.

- Mũi thuộc Tỳ (trung ương).

Việc phân chia này giúp ích rất nhiều trong việc chẩn

bệnh.

Thí dụ : Nhìn thấy dấu hiệu báo bệnh ở vùng cằm có thể nghĩ đến bệnh lý ở thận, hoặc vùng trán có dấu hiệu báo bệnh có thể nghĩ đến rối loạn ở tâm

Trang 5

* Nếu xếp đồ hình dọc theo cơ thể con người ta thấy :

- Từ ngực trở lên thuộc Tâm.

- Từ thắt lưng xuống thuộc Thận.

- Nửa bên trái thuộc Can.

- Nửa bên phải thuộc Phế.

Trang 6

1.3 Ngũ hành và sinh lý con người

a) Quan niệm cổ truyền :

cỏi giống như chức năng của Can là 1 vị

tướng, vì thế, dùng hành Mộc ví với can

như Tâm bốc lên mặt và lưỡi, vì thế, dùng hành Hỏa ví với Tâm

giống là con người sinh tồn được là nhờ vào

các chất dinh dưỡng do Tỳ vị cung cấp, vì thế, dùng Hành thổ ví với Tỳ

Trang 7

+ Phế và Hành kim : Kim loại thường phát ra âm thanh giống như con người phát ra tiếng nói

nhờ Phế, vì thế, dùng hành Kim ví với Phế

xuống, thấm nhuần mọi chỗ giống như nước uống vào, một phần thấm vào cơ thể, phần

còn lại theo đường tiểu bài tiết ra ngoài, vì vậy đem hành Thủy ví với Thận

Trang 8

b) Quan điểm hiện đại :

của các cơ bắp, các sợi cơ ở khắp cơ thể (Cơ năng phát động)

nhiệt năng do sự chuyển hóa của các tế bào

(Cơ phát nhiệt)

là vận động đưa chất ra ngoài cơ thể

là vận động thu hút các chất vào

Đó là vận động tàng trữ các chất trong cơ thể

để dùng khi cần thiết

Trang 11

Kim

Tương khắc

Trang 12

2/08 12

2.2- TRONG ĐIỀU KIỆN KHÔNG BÌNH

THƯỜNG (bệnh lý)

a.Tương thừa ( thừa thế lấn át)

- Hành đi khắc, khắc quá mạnh, gây bệnh cho hành bị khắc

- Kim > mộc > thổ > thủy > hỏa

> kim)

Ví dụ: giận dữ quá độ (can mộc thái quá)

gây loét dạ dày (vị thổ bị tổn hại)

Trang 13

Méc

Háa

Thæ Kim

Thñy

Tương thừa

Trang 14

Ví dụ: Thủy ( thận) khắc hỏa (tâm) nếu thủy

(thận) suy yếu quá không khắc nổi hỏa sẽ sinh

ra chứng nóng nhiệt, khó ngủ

Trang 15

Tương vũ

Trang 16

2/08 16

c- Quy luật chế hoá

- Các hành bị ràng buộc ảnh hưởng lẫn nhau

- Một hành chịu ảnh hưởng bởi 4 hành khác

Để luôn giữ được thế cân bằng

Trang 17

2/08 17

Méc

Thñy

Kim Thæ

Quy luật chế hóa

Trang 19

Ngũ

Trang 20

3.2 Vận dụng vào tổ chức công việc, sinh

hoạt hàng ngày

Dựa theo tính chất và các qui luật mà tổ chức công việc hàng ngày:

- Khởi đầu một ngày, công việc luôn có tính chất

Mộc, cần có thời gian để sinh

VD người tập thể dục hít thở để khởi động cho 1 ngày

- Tiếp đó đẩy mạnh tiến độ công việc, đây là lúc năng suất công việc cao nhất Hỏa (trưởng)

Trang 21

- Công việc có kết quả, có sản sinh ra một cái gì

đó mới mẻ thì công việc mới tồn tại Thổ (hóa)

- Khi có kết quả cần thu lại, rút lui từ từ, nghỉ

ngơi dần Kim (thu)

- Và ẩn lại, chứa lại, nghỉ ngơi chuẩn bị cho ngày mới Thủy (tàng) Chuẩn bị cho quá trình Sinh- Trưởng – Hóa – Thu – Tàng tiếp theo, tránh

làm ngược lại làm rối loạn qui trình

Ví dụ: Tổ chức một cuộc họp

Trang 22

2/08 22

3.3- vận dụng vào y dược học

3.3.1- Vào tổ chức cơ thể

- Xếp các cơ quan trong cơ thể theo ngũ hành

- Trong điều kiện bình thường luôn ở thế cân bằng

Trang 23

biến Co quắp Hồi hộp Nôn ọe Ho Run rẩyChỗ bị

bệnh Cổ gáy Ngực sườn Sống lưng Vai lưng eo lưng

Trang 24

Hay cáu gắt, giận dữ Can

Vui mừng, cười nói Tâm

Buồn rầu, ưu phiền Phế

Lo nghĩ, nghĩ ngợi nhiều Tỳ

Trang 25

Hư tà: tạng trước gây bệnh cho nó (mẹ

truyền sang con)

Vd: chứng nhức đầu choáng váng do can

hỏa vượng, nguyên nhân do thận âm hư

Trang 26

Thực tà: tạng sau gây bệnh cho nó (con truyền

sang mẹ)

Vd: chứng khó thở (phế) do phù nề, nguyên nhân do Thận, phép chữa là lợi tiểu bình suyễn (tả thận)

Vị tà: tạng khắc gây bệnh cho nó (tương thừa)

Vd: viêm loét dạ dày do cán khí phạm vị

Tặc tà: tạng nó khắc gây bệnh cho nó (tương

vũ)

Vd: chứng phù dinh dưỡng do thận thủy áp đảo lại tạng tỳ gây phù

Trang 28

- Tương khắc:

Bồi thổ chế thủy (bổ tỳ tiêu phù)

Thanh kim chế mộc (thanh phế để tả can)

b- Dựa vào quan hệ tương thừa, tương vũ

- Tương vũ

Vừa tả tạng phản vũ (tặc tà), vừa nâng đỡ tạng bệnh

gặp trong phù suy dinh dưỡng, xơ gan, phù

tim ta phải kiện tỳ hành thủy

Trang 29

- Tương thừa

Vừa tả tạng khắc (vi tà), vừa nâng đỡ tạng

bệnh

VD: can mộc khắc tỳ thổ quá mạnh gọi là can

thừa tỳ Chứng này gặp trong trường hợp hội

chứng ruột dễ bị kích thích, mỗi khi xúc động

thì ỉa chảy, hoặc căng thẳng tinh thần quá trong thời gian dài dẫn tới bệnh dạ dày tá tràng Cách chữa giảm công năng tạng can, tăng cường

chức năng của tỳ theo pháp bình can kiện tỳ

Trang 30

c- Châm cứu: quy 5 loại huyệt

- Huyệt ngũ du là 5 huyệt du từ khuỷu tay và gối trở xuống đến ngón chi, YHCT cho rằng kinh khí vận hành trong kinh lạc như dòng nước chảy, chỗ đi xa là tỉnh, trôi chảy là huỳnh, dồn lại là du, đi qua là kinh, nhập vào là hợp

- Tỉnh (như cái giếng), huỳnh (là dòng chảy), du (dồn tới nơi sâu hơn), kinh (là xuyên qua), hợp (là dồn lại đi sâu vào tạng phủ)

Trang 31

2/08 31

Loại huyệt ngũ du

Tỉnh Huỳnh Du Kinh Hợp

Dương

Kim Thủy Mộc Hỏa Thổ

Âm Mộc Hỏa Thổ Kim Thủy

-Trong một đường kinh là tương sinh, kinh

dương/ âm tương khắc

Trang 32

sắc Ngọt vàng Mặnđen Cay trắng ChuaXanh ĐắngĐỏ

Trang 33

e- Vận dụng vào chế biến:

- Chọn sự qui kinh thuốc

VD: (Màu vàng, mùi thơm tăng qui tỳ, màu đen

tăng qui kinh thận)

- Có thể vận dụng đặc tính của Ngũ hành để thay đổi hoặc tăng cường hiệu quả của thuốc

Thí dụ : Tẩm thuốc với dấm (vị chua) để dẫn

thuốc vào Can, Tẩm thuốc với Muối (vị mặn) để dẫn thuốc vào Thận

Trang 34

g- Tiết chế, dinh dưỡng:

• Trong ăn uống không nên dùng nhiều và kéo dài một loại, nên ăn tạp và thay đổi thức ăn vì:

- Ngọt nhiều quá sẽ hại Tỳ

- Mặn nhiều quá sẽ hại Thận

- Cay nhiều quá sẽ hại Phế

- Đắng nhiều quá sẽ hại Tâm

- Chua nhiều quá sẽ hại Can

• Khi bị bệnh, cần kiêng khem những thứ có cùng vị liên quan Ngũ hành với tạng bệnh

- Bệnh Thận không nên ăn nhiều muối mặn

- Bệnh Phế cần kiêng cay như tiêu, ớt, rượu

- Bệnh về tiêu hoá nên kiêng ăn ngọt béo

nhiều

Trang 35

2/08 35

TÓM TẮT

NỘI DUNG HỌC THUYẾT NGŨ HÀNH :

Điều kiện bình thường: Tương sinh- Tương khắc; Quy luật chế hoá

Điều kiên không bình thường ( Bệnh lí): Tương

Trang 36

THỦY KHÍ

A.- ĐẠI CƯƠNG

- Nhìn vào đồ Thái cực,Mùa Đông:buổi tối khuya là dấu hiệu của Thái âm, âm khí ngự trị hoàn toàn, trời đất u tối, lạnh lẽo, cảnh vật điêu tàn, thê lương, tất cả đang

đi vào cõi chết, trong khi đó, mọi sinh vật đều lo ẩn núp, trốn tránh cái lạnh lẽo giá buốt của âm khí để cố duy trì và bảo tồn dương khí còn lại, tránh khỏi bị tiêu diệt, để chờ đợi mùa xuân (khởi đầu Thiếu Dương) để phát triển Dương khí đem lại sức sống Dương khí ở nơi người chính là Thủy khí.

- Thủy khí là nguồn năng lực tàng trữ trong con người, nhằm duy trì sự sống trong tình trạng Thái âm hủy diệt

Trang 37

B.- NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA THỦY KHÍ

a) Về cơ thể

1 Tóc "Thận suy, tóc rụng".

- Về già, Thủy khí suy, tóc người trở nên bạc, rụng, mất

vẻ bóng láng, do đó, giữa tóc và Thủy khí có liên hệ với nhau.

- Huyết do tinh sinh ra, tinh tràng trữ ở Thận, tóc là sản phẩm "thừa ra" của huyết, được huyết nuôi dưỡng, Thận suy không sinh được huyết, tóc sẽ rụng do đó Thận là căn nguyên của tóc.

- Tóc xanh, óng, dầy, đen huyền, tóc mây là dấu hiệu Thủy khí sung mãn.

- Tóc khô, rụng, bạc là dấu hiệu Thủy khí suy kém.

Trang 38

2 Tai và thính giác “Thận khai khiếu ở Tai”

- Thủy khí sung mãn thì thính giác tinh, có thể nghe được những âm thanh nhỏ và xa

- Thủy khí suy yếu thì thính giác sút giảm : nghe không rõ, ù tai, lãng tai, điếc, tai kêu như ve, lùng bùng trong tai

- Uống thuốc lợi tiểu, đi tiểu nhiều thấy mệt, tai lùng bùng (Thủy suy)

- Những người già, người bệnh nặng, sốt rét Thủy suy thường thấy ù tai

Trang 39

3 Xương và răng "Thận chủ cốt"

- Về già, vào mùa lạnh, người ta thường thấy đau nhức trong xương, ê ẩm trong răng, răng long, rụng Do đó, giữa xương răng và Thận có liên

hệ với nhau

- Thận ố hàn (Thận ghét lạnh), người đang đau nhức răng và xương, uống nước đá vào thấy đau và nhức hơn

- Nhức, lạnh trong xương, lạnh cột sống trong chứng sốt rét, cảm giác như kiến bò, giòi bọ rúc trong xương của những người ghiền xì ke ma túy, là dấu hiệu của những người Thủy khí suy

Trang 40

- Nóng trong xương, viêm xương là Hỏa của Thận vượng.

- Răng chắc, to, bóng láng là dấu hiệu Thủy khí sung mãn.

- Răng long, đen đục, ê nhức là dấu hiệu Thủy khí suy.

- Những người tiếp xúc nhiều với hàn khí (nước đá, nước lạnh ) làm cho Thủy khí suy (Thận ố hàn) dễ sinh ra hư, gẫy, rụng răng

Trang 41

4 Nước tiểu "Nước tiểu là dịch của Thận".

- Người già Thủy khí suy yếu, vào mùa đông, buổi tối, những ngày mưa các cụ thường đi tiểu nhiều, do đó nước tiểu và thủy khí có liên hệ với nhau

- Đi tiểu nhiều lần, nhất là tiểu đêm, nước tiểu nhiều và trong là dấu hiệu Thận suy

- Ít tiểu, nước tiểu đỏ, tiểu ít nước, tiểu ra máu là dấu hiệu Hỏa của Thận vượng

- Bí tiểu vì bọng đái không co thắt là dấu hiệu Mộc của Thận suy

- Đái rắt do sự quá co thắt của Bàng quang là dấu hiệu Mộc của Thận vượng

Trang 42

5 Tinh dịch "Thận tàng tinh".

- Tinh khí thật ra do tinh hoa 5 khí của Ngũ hành kết lại chứ không phải chỉ do 1 mình Thận, dù Thận giữ vai trò chủ yếu, do đó, nếu tổng trạng suy nhược, tinh dịch không thể sinh ra nhiều được

- Ngược lại, đa dục (ham mê tửu sắc quá độ) làm mất tinh dịch quá nhiều, sẽ có thể làm cho cơ thể suy nhược

- Làm mất nhiều tinh dịch hoặc tinh dịch không

đủ, có thể gây nên các chứng bệnh bất lực, hiếm muộn con cái

Trang 43

- Di tinh : Tinh dịch chảy ra tự nhiên, đây là dấu

hiệu Thận suy trầm trọng Ở những người bệnh nặng, nếu tinh tự xuất ra là dấu hiệu người bệnh sắp chết vì Thủy của Thận suy kiệt hoàn toàn, không giữ tinh được

- Tảo tinh : Tinh tiết quá sớm khi giao hợp

Thường do Thủy của Thận suy, nhưng cũng có khi do Hỏa của Tâm vượng phản khắc lại Thận thủy khiến xuất tinh sớm

- Liệt âm, liệt dương : Triệu chứng suy nhược

hoặc bất lực của bộ phận sinh dục nam nữ, đó

là dấu hiệu Thủy của Thận suy, chủ yếu là Mộc của Thận suy, đồng thời còn là dấu hiệu của sự suy nhược toàn bộ

Trang 44

b) Về chức năng

6 Trí nhớ

- Khi còn trẻ, trí nhớ mạnh mẽ, đầy đủ, ngược lại, đến tuổi già, thủy khí suy yếu, trí nhớ cũng từ

đó trở nên tồi tệ, vậy giữa thủy khí và trí nhớ có

sự liên hệ với nhau

- Các nhà nghiên cứu cho là trí nhớ con người giảm từ từ và đều đặn từ 50 - 60 tuổi, người ở

60 tuổi trở đi, thường gặp 2 khó khăn :

+ Khó khăn về ngôn ngữ : khó gọi đúng tên người muốn gọi

+ Khó khăn về trí nhớ : khó nhớ 1 lúc 2 việc cần làm trở lên

Trang 45

7 Ý chí

- "Thận chủ ý chí"

- Người Thủy khí suy yếu, thiếu hẳn ý chí : không thể quyết định dứt khoát, không có lập trường

8 Sự sợ hãi : "Ở chí của Thận là sự sợ hãi".

- Người Thận thủy suy thường hay sợ hãi

- Khủng thương thận (sự sợ hãi làm hại Thận), những biến động hăm dọa tính mạng đời sống con người, làm thủy khí suy

Trang 46

9 Lạnh "Thận ố hàn" (thận ghét lạnh).

- Về mùa đông, đêm khuya (thời điểm của Thái âm), người ta cảm thấy lạnh Vậy giữa lạnh và thủy khí có liên hệ với nhau.

- Sờ ngoài da thấy lạnh là Thủy của Thận ở phần Biểu suy (Biểu là phần bên ngoài).

- Người bệnh cảm thấy lạnh nhất là 2 bàn chân, lạnh trong cột sống, lạnh từ trong lạnh ra, dù sờ ngoài da không thấy lạnh là dấu hiệu Thủy của Thận suy ở lý (phần bên trong thuộc Lý).

- Tùy theo cảm giác lạnh ở vùng nào có thể suy ra cơ quan, cục bộ có rối loạn.

+ Thấy lạnh vùng lưng, chân là dấu hiệu Thủy của Thận suy.

+ Thấy lạnh vùng trán là dấu hiệu thủy của Tâm suy

Trang 47

10 Sự run rẩy "Ở sự biến động của Thận là run rẩy".

- Khi lạnh quá hoặc khi sợ hãi quá người ta thường run rẩy, vậy run rẩy có liên hệ với thủy khí

- Người hay run rẩy tung biến động là người có thủy khí suy.

11 Tiếng rên rỉ, hắt hơi

"Rên rỉ, hắt hơi là tiếng của Thận".

- Những người bị rét hoặc đang lên cơn kinh hãi thường hay run rẩy và rên rỉ.

- Người ta thường hay hắt hơi vào những ngày mưa, thời tiết lạnh, gió lạnh vào sáng sớm là dấu hiệu Thủy của Phế suy (vì chứng này thường gây ra kéo dài, mãn tính, do đó, thường là do kim suy kéo theo Thủy suy và Mộc vượng).

Trang 48

12 Sắc đen "Sắc của Thận là sắc đen".

- Sắc của Thái âm, buổi tối, mùa đông là sắc đen.

- Sắc đen sáng, bóng là dấu hiệu thủy khí sung mãn Thực tế cho thấy những người da đen, da bánh mật là những người thủy khí sung mãn, khả năng tình dục của họ rất cao.

- Sắc đen u ám là dấu hiệu của thủy khí suy, thường gặp nơi những người bệnh lâu ngày, sốt rét, ghiền xì khe, ma túy

- Quan sát khuôn mặt nơi đồ hình Thái cực ta thấy :

+ Cằm có sắc đen tối là dấu hiệu Thủy của Thận suy.

+ Trán có sắc đen tối là dấu hiệu Thủy của Tâm suy.

+ Mũi có sắc đen tối là dấu hiệu Thủy của Tỳ suy.

+ Má trái có sắc đen tối là dấu hiệu Thủy của Can suy.

+ Má phải có sắc đen tối là dấu hiệu Thủy của Phế suy

Trang 49

HỎA KHÍ

A.- ĐẠI CƯƠNG

- Phương nam, mùa hè, buổi trưa là biểu hiện của Thái dương (theo đồ Thái cực) Tính chất rõ rệt nhất của Thái dương là Nhiệt khí Ở người được gọi là Hỏa khí.

B.- NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA HỎA KHÍ

1 Lưỡi và vị giác "Tâm khai khiếu ở lưỡi".

- Lưỡi thường thường có sắc đỏ , biểu hiện Hỏa khí 1 cách rõ rệt.

- Lưỡi lở, dộp, nứt nẻ, viêm (sưng) là dấu hiệu Hỏa của Tâm vượng.

- Tùy theo màu sắc của lưỡi, có thể suy ra tình trạng vượng suy ngũ hành của Tâm.

- Lưỡi hồng nhạt là dấu hiệu Hỏa của Tâm suy.

- Lưỡi xanh tối là dấu hiệu Mộc của Tâm suy

- Lưỡi vàng tối là dấu hiệu Thổ của Tâm suy.

- Lưỡi đen bẩn là dấu hiệu Thủy của Tâm suy.

- Miệng có vị đắng (lưỡi đắng) là dấu hiệu Hỏa của Tâm vượng

- Miệng có vị chua là dấu hiệu Mộc của Tâm vượng

Trang 50

2 Mồ hôi “Mồ hôi là dịch của Tâm ".

- Khi trời nóng, lúc bị sốt, thường thấy có hiện tượng xuất mồ hôi, do đó, Hỏa khí và mồ hôi có liên hệ với nhau Mồ hôi là Thủy dịch dùng để chế ngự Hỏa khí.

- Sốt mà có mồ hôi là dùng hiệu tốt : Thủy khí còn vững mạnh để chống lại với nhiệt tà.

- Sốt mà không có mồ hôi là dấu hiệu nhiệt tà mạnh hơn chính khí.

- Khi bị cảm, sốt nóng, không ra được mồ hôi, người ta dùng nồi xông cho đổ mồ hôi để ức chế nhiệt tà, người ta sẽ bớt sốt.

- Không nóng sốt mà xuất mồ hôi (Mồ hôi lạnh hay gặp

ở những người thần kinh suy nhược) là dấu hiệu Thủy của Tâm suy.

- Tự ra mồ hôi ( tự hãn ) hoặc ra mồ hôi ban đêm (mồ hôi trộm, đạo hãn ) là dấu hiệu Thủy của Tâm suy.

Ngày đăng: 28/11/2021, 22:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w