Bệnh nhiễm khuẩn gây sốt cao chân nhiệt do nhiễm độc gây trụy mạch ngoại biên làm tay chân lạnh, ra mồ hôi lạnh giả hàn phải dùng thuốc mát lạnh để chữa bệnh 2.. Bệnh ỉa chảy do lạnh châ
Trang 1THUYẾT ÂM DƯƠNG
Mục tiêu học tập
1. Trình bày được định nghĩa, các qui luật
của học thuyết
2. Ứng dụng được học thuyết vào trong chẩn
đoán, điều trị và sử dụng thuốc cổ truyền
Trang 21 ĐỊNH NGHĨA
- Học thuyết âm dương là nền tảng tư duy nhận thấy sự vật luôn luôn có mâu thuẫn, nhưng thống nhất với nhau, không ngừng vận động, biến hóa để phát sinh, phát triển
và tiêu vong gọi là học thuyết âm dương
- Từ lý luận đến thực hành, trong chẩn đoán bệnh cũng như chữa bệnh, bào chế thuốc
và dùng thuốc tất cả đều dựa vào học thuyết âm dương
Trang 3• Tính cơ bản của dương: Ở phía trên, ở bên
ngoài, hoạt động có xu hướng phân tán
Dựa vào những thuộc tính cơ bản, người ta phân định tích chất âm dương cho các sự vật và hiện tượng trong tự nhiên và trong xã hội
Trang 4Là mâu thuẫn, đấu tranh, ức chế lẫn nhau:
Đó là sự đối lập không gian: trướcsau; trong ngoài; trên dưới; cao -thấp.
Đối lập thời gian: Đêm ngày; lâu mau; nhanh chậm; cấp tính-mạn tính
- Đối lập tính chất: như nóng -lạnh; sáng -tối; ẩm- khô; hưng phấn-ức chế; buồn-vui; sinh trưởng-tiêu vong; sự sống-cái chết; hoạt động- yên tĩnh; thông suốt-bế tắc sự đối lập là tuyệt đối và vĩnh hằng
3.CÁC QUI LUẬT CƠ BẢN
Trang 53.2 Âm dương hỗ căn (interdependence)
AD cùng 1 cội nguồn, nương tựa giúp đỡ lẫn
nhau như vật chất và năng lượng Cả 2 mặt đều
là quá trình phát triển tích cực của sự vật không
thể đơn độc phát sinh, phát triển được Vd: Có sinh thì có tử hoặc có trong thì có ngoài Vd: Cơ năng hoạt động (dương) phải có sự cung cấp của chất dinh dưỡng (âm) chất dinh dưỡng (âm) phải nhờ sự hoạt động của cơ năng (dương) mới trở thành chất hữu dụng để nuôi tạng phủ và cứ như thế không ngừng
Trang 63.3 Âm dương tiêu trưởng (mutual
- VD:Khí hậu 4 mùa Xuân hạ, thu đông, âm tiêu
dương trưởng, dương tiêu âm trưởng
+ Tính giai đoạn: Là sự vận động của mỗi mặt đến mức nào đó mới chuyển hóa cho nhau được
Dương cực sinh âm, âm cực sinh dương, hàn cực sinh nhiệt, nhiệt cực sinh hàn”
Trang 7Hiện tượng bốc hơi nước và mưa Nước (Âm) bốc hơi lên, gặp khí nóng (Dương) tạo thành mây,
là âm tiêu dương trưởng - Mây (Dương) gặp khí lạnh (Âm) hóa thành mưa rơi xuống là dương tiêu
âm trưởng.
Trang 8Ví dụ:
sốt cao (dương) ảnh hưởng đến phần âm,
làm mất nước, mất chất điện giải; (phần âm) mất nước, mất chất điện giải ảnh hưởng đến dương gây trụy mạch thoát dương, choáng.
Trang 93.4 Âm dương bình hành (balance)
Hai mặt âm dương tuy đối lập, vận động không ngừng, nhưng luôn luôn lập lại được thế cân bằng, thế bình quân giữa 2 mặt.Bình hành là cân bằng cùng tồn tại, sự cân bằng âm dương là sự cân bằng động và cân bằng tĩnh Nếu sự cân bằng âm dương bị phá
vỡ thì sự vật có nguy cơ bị tiêu vong
* Tóm lại: 4 quy luật cơ bản của âm dương nói lên sự mâu thuẫn, thống nhất, vận động và nương tựa lẫn nhau của vật chất
Trang 10Ăn uống để tích luỹ năng lượng là đồng hoá thuộc âm, hoạt động tiêu hao năng
lượng là dị hoá thuộc dương, đồng hoá -
dị hoá phải cân bằng nhau
Trang 114 Một số phạm trù của A-D
a) Sự tương đối và tuyệt đối của hai mặt A-D
- Sự đối lập giữa 2 mặt âm dương là tuyệt đối, nhưng trong điều kiện cụ thể nào đó nó
có tính tương đối
Ví dụ: hàn thuộc âm đối lập với nhiệt thuộc dương , nhưng lương ( là mát ) thuộc âm đối lập với ôn ( là ấm ) thuộc dương Trên lâm
sàng tuy sốt (là nhiệt) thuộc dương, nếu sốt cao thuộc lý dùng thuốc hàn, sốt ít thuộc
biểu dùng thuốc mát (lương).
Trang 12b) Trong âm có dương và trong dương có âm:
Do âm dương cùng nương tựa với nhau
cùng tồntại,có khi xen kẽ vào nhau trong sự phát triển.
Ví dụ: Từ sáng sớm đến giữa trưa là dương trong ngày, dương
trong dương, từ giữa trưa đến sẫm tối, là dương trong ngày, âm trong dương; từ chập tối đến gà gáy là âm trong ngày Âm trong âm, từ
gà gáy đến sáng sớm là âm trong ngày, Âm trong dương
Trang 13c) Bản chất và hiện tượng:
- Thông thường bản chất thường phù hợp với hiện tượng, khi chữa bệnh người ta chữa vào bản chất của bệnh: như bệnh hàn dùng thuốc nhiệt, bệnh nhiệt dùng thuốc hàn.
- Nhưng có lúc bản chất không phù hợp với hiện tượng gọi là sự ”thật giả” (chân giả) trên lâm sàng khi chẩn đoán phải xác định cho
đúng bản chất để dùng thuốc chữa đúng
nguyên nhân.
Trang 14Thí dụ:
1 Bệnh nhiễm khuẩn gây sốt cao (chân nhiệt)
do nhiễm độc gây trụy mạch ngoại biên làm tay chân lạnh, ra mồ hôi lạnh (giả hàn) phải dùng thuốc mát lạnh để chữa bệnh
2 Bệnh ỉa chảy do lạnh (chân hàn) do mất nước, mất điện giải gây nhiễm độc thần kinh làm co
giật, sốt (giả nhiệt) phải dùng các thuốc nóng,
ấm để chữa nguyên nhân
Trang 15- Biểu tượng âm dương:
Thái âm
Thiếu dương Thiếu âm
Thái dương
Trang 16- ý nghĩa của biểu tượng:
Trang 175- VẬN DỤNG VÀO Y DƯỢC HỌC CT
5.1- Cấu tạo cơ thể
Ngũ tang: Tâm, can, tỳ, phế,
thận Lục phủ:bàng quang, tam tiêu, đại Đởm, vị, tiểu trường,
tràng,
Vật chất dinh dưỡng, huyết,
tinh tân dịch Cơ năng hoạt động, khí
Bụng, trong, phía dưới Lưng, bên ngoài, phía trên
Đường kinh ở trước bụng,
phía trong cánh tay, chân Đường kinh ở lưng, ngoài chân, tay, mạng sườn
Trong âm có dương trong dương có âm
Trang 18 Âm Dương và Tạng Phủ
Theo "Kinh Dịch", mỗi vật thể, hiện tượng đều do 2 yếu tố : THỂ (hình thể) và DỤNG (công dụng, chức năng) tạo nên Một vật nào đó, có thể có hình dạng (thể) là âm nhưng lại có công dụng là dương hoặc ngược lại, Thể là dương nhưng Dụng là âm
Thí dụ : Tạng Tâm, xét về hình thể là 1 quả tim, đặc nặng, nên mang đặc tính dương tức là dương về Thể, nhưng Tâm lại có nhiệm vụ cung cấp máu cho toàn cơ thể, máu thuộc
âm, do đó Tâm mang đặc tính âm xét về Dụng.
Thí dụ : Quả Ớt, xét về hình thể, quả ớt có màu đỏ, do đó thuộc dương, nhưng ớt có vị cay, khi vào ruột, làm nở các mao trạng ruột, tiêu thức ăn nhanh, như vậy, ớt có đặc tính
âm nếu xét về công dụng.
Trang 19 Bên trái là Dương, Bên phải là Âm
- Khi khởi động 1 cách tự nhiên, hầu như bao giờ chân trái cũng khởi động trước Theo nguyên tắc vật lý, 2 vật cùng tên đẩy nhau, khác tên hút nhau Lực của trái đất là âm, do đó sẽ hút lực dương, vì thế có thể coi như chân trái mang đặc tính dương
- Các vận động viên điền kinh, đua xe, chạy bao giờ cũng phải rẽ về bên trái
- Hình ảnh người chèo đò cho thấy, bao giờ mái chèo cũng nằm bên trái
Trang 20 Trong (bụng, ngực) là Âm, Ngoài (lưng) là Dương
+ Ngay từ trong bào thai, sự sắp xếp theo thứ tự trên cũng khá rõ : Bào thai nam, dương khí tụ ở lưng nên thường quay lưng ra, do đó, bụng người mẹ thường có dạng tròn và cứng Trái lại, bào thai nữ, âm khí tụ ở ngực nên thường quay mặt ra ngoài, do đó bụng người mẹ thường có dạng hình bầu dục (gáo nước) và mềm.
+ Hình ảnh người chết đuối trên sông cho thấy, xác nam bao giờ cũng nằm sấp vì dương khí tụ
ở lưng, còn xác nữ bao giờ cũng nằm ngửa vì
âm khí tụ ở ngực.
Trang 21Theo giáo sư Hirasawa: từ 6-50 tuổi, diện tích tiếp xúc mặt đất của chân trái phái nam và nữ đều lớn hơn so với chân phải và diện tích tiếp xúc với mặt đất khi đứng của bàn chân trái lớn hơn Thời gian chạm đất khi đi phía bên trái cũng nhiều hơn Cảm giác ổn định khi đứng 1 chân bằng chân trái cũng tốt hơn Các vận động viên, diễn viên cũng đều dùng chân trái làm trục chống đỡ cơ thể, còn chân phải dùng để biểu diễn các động tác ".
Trang 225.2- Về bệnh lí
Âm- dương Trạng thái Biểu hiện của cơ thể
Âm- dương Cân bằng Cơ thể khỏe mạnh
Âm- dương Thay đổi Có thể mắc bệnh
Phần Âm Thắng Dương bệnh
Chứng Âm Thắng Nội hàn
Chứng Âm Hư Nội nhiệt
Phần Dương Thắng Âm bệnh
Chứng Dương Thắng Ngoại nhiệt
Chứng Dương Hư Ngoại hàn, lão suy, hưng
phấn TK giảm
Trang 23Bản chất bệnh
- Phần âm thiên thắng: gây âm thịnh, thừa phần âm nên gây chứng lạnh bên trong, gọi là nội hàn Biểu hiện bệnh người bị lạnh từ trong ngực bụng lạnh
ra, chân tay giá lạnh, sưởi lửa, đắp chăn không hết lạnh Nước tiểu trong dài, đái xong càng lạnh, mạch trầm và trì, có lực Thuốc phải nóng tán được nội hàn như Thảo quả, can khương, ngô thù du, quế nhục, phụ tử chế, hạt xuyên tiêu
Trang 24Bản chất bệnh
- Phần âm suy : thiếu phần âm nên phần dương
trội 1 cách tương đối gây chứng nóng từ bên trong gọi là âm hư sinh nội nhiệt Biểu hiện nóng từ trong ngực bụng, lòng bàn chân tay nóng, nước tiểu nóng ít, vàng hoặc đỏ sẻn quạt mát, tắm nước lạnh không hết nóng Mạch tế sác, lực mạc kém Thuốc phải bổ vào phần âm
bị thiếu hụt, đó là những vị thuốc bổ âm thuộc lại âm dược như Thục địa, hoàng tinh, thạch hộc, kỷ tử, mạch môn, thiên môn
Trang 25Bản chất bệnh
- Phần dương thiên thắng: gây dương thịnh,
thừa phần dương sốt cao, nóng bên ngoài
gọi là ngoại nhiệt Thuốc phải mát lạnh để loại bỏ phần dương bị thừa để âm dương
về trạng thái cân bằng: Thuốc Tả hỏa thạch cao sống, chi tử, lá cối xay, cốc tinh thảo, hạt muồng, tri mẫu, mật gấu
Trang 26Bản chất bệnh
- Phần dương suy: thiếu phần dương gây ngoại hàn, biểu hiện lạnh bên ngoài, sợ lạnh, tay chân lạnh, lạnh lưng, đái đêm nhiều lần, di tinh liệt dương Thuốc phải bổ vào phần dương bị thiếu hụt như đỗ trọng, cẩu tích, cốt toái bổ, ích trí nhân, ba kích, dâm dương hoắc, phụ tử chế, phá cố chỉ, nhục thung dung
- Âm dương lưỡng hư: là trường hợp suy giảm cả phần âm lẫn phần dương chỉ gặp ở người có tuổi, cao tuổi với biểu hiện cả âm hư lẫn dương
hư, thuốc dùng cả 2 loại bổ âm và bổ dương
Trang 27- Hư chứng, thực chứng
Bệnh tật (sự rối loạn âm dương) phát sinh ra do nhiều nguyên nhân: dương thực, âm thực (hưng phấn) hoặc dương hư, âm hư (ức chế)
Thí dụ: triệu chứng SỐT
Sốt có thể do 2 nguyên nhân: do Dương hỏa vượng (hưng phấn) hoặc do âm hỏa suy không ức chế được dương hỏa, cả 2 trường hợp trên đều gây nên sốt Nếu do dương hỏa vượng thì chứng sốt
đó là Thực chứng Nếu do âm hỏa suy thì chứng sốt đó là Hư chứng
Trang 28- Âm dương thực giả
+ Dương cực tựa âm : Do nhiệt độc tới chỗ cùng cực, phục vào trong cơ thể gây ra người lạnh, hôn mê giống như âm chứng, chỉ khác ở chỗ là trong lạnh nhưng không thích đắp ấm, thần khí tuy hôn mê nhưng sắc mặt vẫn tươi.Khi trị liệu, phải dùng thuốc Hàn.
+ Âm cực tựa Dương : Do hàn tà đến chỗ cùng cực, đẩy dương hỏa ở trong ra ngoài, gây ra mình nóng, buồn phiền, khát nước, giống như dương chứng nhưng chỉ khác ở chỗ mình nóng mà thích đắp chăn ấm, miệng khát
mà uống nước lạnh vào lại mửa ra ngay Khi trị liệu, phải dùng thuốc nhiệt (ôn nóng), nếu dùng lầm thuốc hàn có thể gây nguy hiểm đến tính mạng.
Trang 29- Âm thăng dương giáng
+ Huyết thuộc âm, do đó, phải thăng (đi lên), nếu
huyết hư, không đi lên được, phần trên không
được huyết nuôi dưỡng, gây chóng mặt, hoa
mắt nguyên nhân do âm hư, cần bổ âm
+ Khí thuộc dương, phải giáng (đi xuống), khí không làm tròn chức năng, thay vì đi xuống lại đi lên, gọi
là khí nghịch gây ra chứng hen suyễn, khó thở,
nguyên nhân do khí nghịch, cần điều chỉnh ở khí
Trang 305.3-Chẩn đoán (biểu hiện TC âm- dương)
Hội chứng âm Hội chứng dương
Tạng phủ nhiệt, hưng
phấn tăng Tạng phủ hàn, hưng phấn giảm
Da, ngủ, ăn uống, đại tiểu
tiện, miệng, lưỡi v v Da, ngủ, ăn uống, đại tiểu tiện, miệng, lưỡi v vTrong âm có dương Trong dương có âm
Âm dương lẫn lộn
Trang 31Tính: Hàn, lương Ôn, nhiệt
Trong âm có dương Trong dương có âm
Chữa dương bệnh Âm bệnh
Hàn ngộ hàn tắc tử Nhiệt ngộ nhiệt tắc cuồng
Trang 32Giảm tính âm Giảm tính dương
Tăng tính âm Tăng tính dương
Trang 355.6 Cách sử dụng thuốc theo học thuyết âm dương
Nguyên tắc dùng thuốc theo âm dương: Bệnh có bản chất là nhiệt phải dùng thuốc đối lập đó là thuốc có tính hàn và ngược lại Tùy theo mức độ nhiệt, hàn
mà dùng thuốc hàn, nhiệt mạnh hay yếu, liều ít hay nhiều ví dụ :
a) Chứng thực nhiệt
- Huyết nhiệt : Mụn nhọt tái phát nhiều lần do huyết
nhiệt chỉ cần dùng những thuốc mát để lương huyết như sinh địa, rễ cỏ tranh, kết hợp thuốc thanh nhiệt giải độc kim ngân hoa, bồ công anh, quán chúng, lá chàm Đây là những thuốc tính hàn nhẹ
Trang 36- Thấp nhiệt:
- Viêm gan siêu vi trùng, viêm phần phụ, viêm âm
hộ, âm đạo, nội mạc tử cung, viêm đài thận, bể thận do sỏi, viêm bàng quang, niệu đạo, viêm tinh hoàn, viêm ruột mạn tính Thuộc hệ tiêu hóa, tiết niệu, sinh dục Đây là chứng bệnh do thấp nhiệt, tuy bệnh dai dẳng nhưng mức nhiệt không cao
nên chỉ dùng thanh nhiệt trừ thấp: Nhân trần, long đởm thảo, nha đảm tử, hoàng liên, hoàng bá,
hoàng cầm, rễ chàm, dây hạt bí, ý dĩ nhân, rau
sam
Trang 37- Thử nhiệt:
- Là say nóng, say nắng, choáng váng khi làm việc trong lò nhiệt như lò rèn, lò luyện gang thép Dùng thuốc mát để thanh nhiệt giải thử như
lá sen, đậu ván, quả dưa hấu
- Nhiệt độc: do nhiễm trùng bởi vi trùng, vi rút dùng thuốc thanh nhiệt giải độc kim ngân hoa, bồ công anh, sài đất, rẻ quạt, lá dấp cá
- Hỏa nhiệt:Sốt cao co giật mức nhiệt mạnh, cần hạ sốt ngay, dùng thuốc hàn mạnh, liều cao như thạch cao sống, chi tử, lá cối xay, hạt muồng sống, tri mẫu, mật gấu, cốc tinh thảo, hạ khô thảo
Trang 38b) Chứng hư nhiệt
- Âm hư sinh nội nhiệt, nóng trong, sốt thấp 37,50
C-380C về buổi chiều đêm, ngũ tâm phiền nhiệt, bức bối, môi khô, đỏ dùng các thuốc bổ âm như
Thục địa, mạch môn, thiên môn, thạch hộc, kỷ tử,
lá dâu non, hoàng tinh trong vài ba tuần sẽ hết sốt
- Nội nhiệt do thận âm hư hoặc vị âm hư,can âm
hư, phế âm hư, tâm âm hư, tỳ âm hư, thông
thường nhất là thận âm, vị âm, phế âm hư
Trang 39c)Chứng thực hàn
- Hàn từ ngoài thiên nhiên xâm nhập vào cơ thể gây lạnh, sợ lạnh, rét run, đau họng, không ra mồ hôi, thậm chí sau đó phát sốt nóng nhưng vẫn sợ lạnh thì dùng thuốc chữa phong hàn, vì loại hàn này là
biểu hàn
- Hàn thịnh tự trong cơ thể hoặc phục hàn từ trước
là lý hàn, thường gặp nhất ở trung tiêu như đau
dạ dày-tá tràng vào mùa đông, cơn co thắt đại
tràng do lạnh, dùng các thuốc ấm, nóng như phụ
tử chế, quế nhục, thảo quả, đại hồi,
Trang 40- Hàn quyết :
- Do mất dương khí đột ngột, cảm lạnh đột ngột, tự nhiên người lạnh toát, mặt trắng bệch, chân tay giá lạnh, có thể vã mồ hôi loãng lạnh đầm đìa Phải dùng thuốc nhiệt mạnh, tác dụng nhanh để hồi dương cứu thoát: Phụ tử chế, cồn gừng, cồn quế, ngô thù du, dầu hồi vừa uóng vừa xoa xát
mạnh
Trang 41d)Hư hàn do phần dương trong cơ thể suy giảm
nên khi chữa chủ yếu bổ dương Tùy theo mà có thể gặp các trường hợp sau:
- Tâm dương hư sinh tâm hàn trong cơn đau thắt ngực của thiếu máu cơ tim do lạnh
- Tỳ dương hư sinh chứng ỉa chảy khi lạnh
bụng, khi gặp thức ăn sống lạnh, viêm đại tràng mạn tính thể hàn phân sột sệt như
phân vịt
- Thận dương hư: Lạnh thắt lưng, đái đêm
nhiều lần, liệt dục, đau mỏi lưng gối, ù tai
Trang 42Vị thuốc
Âm dược: dùng trị bệnh
thuộc chứng ôn nhiệt:
hoàng liên, hoàng cầm,
Dương dược: dùng để chữa bệnh hàn: sinh
khương, tế tân,…
Tính thuần âm: vị thuộc
âm, tính thuộc âm: hoàng
liên, hoàng bá,…
Tính thuần dương: vị thuộc D, tính thuộc D:
quế chi, bạch chỉ,…
Trong âm có dương: vị
thuộc âm, tính thuộc
dương: cẩu tích, tắc kè,
Trong dương có âm: vị thuộc dương, tính thuộc âm: bạc hà, cúc hoa