1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bài giảng dược học cổ truyền - Học thuyết âm dương

64 49 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 720,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bệnh nhiễm khuẩn gây sốt cao chân nhiệt do nhiễm độc gây trụy mạch ngoại biên làm tay chân lạnh, ra mồ hôi lạnh giả hàn phải dùng thuốc mát lạnh để chữa bệnh 2.. Bệnh ỉa chảy do lạnh châ

Trang 1

THUYẾT ÂM DƯƠNG

Mục tiêu học tập

1. Trình bày được định nghĩa, các qui luật

của học thuyết

2. Ứng dụng được học thuyết vào trong chẩn

đoán, điều trị và sử dụng thuốc cổ truyền

Trang 2

1 ĐỊNH NGHĨA

- Học thuyết âm dương là nền tảng tư duy nhận thấy sự vật luôn luôn có mâu thuẫn, nhưng thống nhất với nhau, không ngừng vận động, biến hóa để phát sinh, phát triển

và tiêu vong gọi là học thuyết âm dương

- Từ lý luận đến thực hành, trong chẩn đoán bệnh cũng như chữa bệnh, bào chế thuốc

và dùng thuốc tất cả đều dựa vào học thuyết âm dương

Trang 3

• Tính cơ bản của dương: Ở phía trên, ở bên

ngoài, hoạt động có xu hướng phân tán

Dựa vào những thuộc tính cơ bản, người ta phân định tích chất âm dương cho các sự vật và hiện tượng trong tự nhiên và trong xã hội

Trang 4

Là mâu thuẫn, đấu tranh, ức chế lẫn nhau:

Đó là sự đối lập không gian: trướcsau; trong ngoài; trên dưới; cao -thấp.

Đối lập thời gian: Đêm ngày; lâu mau; nhanh chậm; cấp tính-mạn tính

- Đối lập tính chất: như nóng -lạnh; sáng -tối; ẩm- khô; hưng phấn-ức chế; buồn-vui; sinh trưởng-tiêu vong; sự sống-cái chết; hoạt động- yên tĩnh; thông suốt-bế tắc sự đối lập là tuyệt đối và vĩnh hằng

3.CÁC QUI LUẬT CƠ BẢN

Trang 5

3.2 Âm dương hỗ căn (interdependence)

AD cùng 1 cội nguồn, nương tựa giúp đỡ lẫn

nhau như vật chất và năng lượng Cả 2 mặt đều

là quá trình phát triển tích cực của sự vật không

thể đơn độc phát sinh, phát triển được Vd: Có sinh thì có tử hoặc có trong thì có ngoài Vd: Cơ năng hoạt động (dương) phải có sự cung cấp của chất dinh dưỡng (âm) chất dinh dưỡng (âm) phải nhờ sự hoạt động của cơ năng (dương) mới trở thành chất hữu dụng để nuôi tạng phủ và cứ như thế không ngừng

Trang 6

3.3 Âm dương tiêu trưởng (mutual

- VD:Khí hậu 4 mùa Xuân hạ, thu đông, âm tiêu

dương trưởng, dương tiêu âm trưởng

+ Tính giai đoạn: Là sự vận động của mỗi mặt đến mức nào đó mới chuyển hóa cho nhau được

Dương cực sinh âm, âm cực sinh dương, hàn cực sinh nhiệt, nhiệt cực sinh hàn”

Trang 7

Hiện tượng bốc hơi nước và mưa Nước (Âm) bốc hơi lên, gặp khí nóng (Dương) tạo thành mây,

là âm tiêu dương trưởng - Mây (Dương) gặp khí lạnh (Âm) hóa thành mưa rơi xuống là dương tiêu

âm trưởng.

Trang 8

Ví dụ:

sốt cao (dương) ảnh hưởng đến phần âm,

làm mất nước, mất chất điện giải; (phần âm) mất nước, mất chất điện giải ảnh hưởng đến dương gây trụy mạch thoát dương, choáng.

Trang 9

3.4 Âm dương bình hành (balance)

 Hai mặt âm dương tuy đối lập, vận động không ngừng, nhưng luôn luôn lập lại được thế cân bằng, thế bình quân giữa 2 mặt.Bình hành là cân bằng cùng tồn tại, sự cân bằng âm dương là sự cân bằng động và cân bằng tĩnh Nếu sự cân bằng âm dương bị phá

vỡ thì sự vật có nguy cơ bị tiêu vong

* Tóm lại: 4 quy luật cơ bản của âm dương nói lên sự mâu thuẫn, thống nhất, vận động và nương tựa lẫn nhau của vật chất

Trang 10

Ăn uống để tích luỹ năng lượng là đồng hoá thuộc âm, hoạt động tiêu hao năng

lượng là dị hoá thuộc dương, đồng hoá -

dị hoá phải cân bằng nhau

Trang 11

4 Một số phạm trù của A-D

a) Sự tương đối và tuyệt đối của hai mặt A-D

- Sự đối lập giữa 2 mặt âm dương là tuyệt đối, nhưng trong điều kiện cụ thể nào đó nó

có tính tương đối

Ví dụ: hàn thuộc âm đối lập với nhiệt thuộc dương , nhưng lương ( là mát ) thuộc âm đối lập với ôn ( là ấm ) thuộc dương Trên lâm

sàng tuy sốt (là nhiệt) thuộc dương, nếu sốt cao thuộc lý dùng thuốc hàn, sốt ít thuộc

biểu dùng thuốc mát (lương).

Trang 12

b) Trong âm có dương và trong dương có âm:

Do âm dương cùng nương tựa với nhau

cùng tồntại,có khi xen kẽ vào nhau trong sự phát triển.

Ví dụ: Từ sáng sớm đến giữa trưa là dương trong ngày, dương

trong dương, từ giữa trưa đến sẫm tối, là dương trong ngày, âm trong dương; từ chập tối đến gà gáy là âm trong ngày Âm trong âm, từ

gà gáy đến sáng sớm là âm trong ngày, Âm trong dương

Trang 13

c) Bản chất và hiện tượng:

- Thông thường bản chất thường phù hợp với hiện tượng, khi chữa bệnh người ta chữa vào bản chất của bệnh: như bệnh hàn dùng thuốc nhiệt, bệnh nhiệt dùng thuốc hàn.

- Nhưng có lúc bản chất không phù hợp với hiện tượng gọi là sự ”thật giả” (chân giả) trên lâm sàng khi chẩn đoán phải xác định cho

đúng bản chất để dùng thuốc chữa đúng

nguyên nhân.

Trang 14

Thí dụ:

1 Bệnh nhiễm khuẩn gây sốt cao (chân nhiệt)

do nhiễm độc gây trụy mạch ngoại biên làm tay chân lạnh, ra mồ hôi lạnh (giả hàn) phải dùng thuốc mát lạnh để chữa bệnh

2 Bệnh ỉa chảy do lạnh (chân hàn) do mất nước, mất điện giải gây nhiễm độc thần kinh làm co

giật, sốt (giả nhiệt) phải dùng các thuốc nóng,

ấm để chữa nguyên nhân

Trang 15

- Biểu tượng âm dương:

 Thái âm

Thiếu dương Thiếu âm

Thái dương

Trang 16

- ý nghĩa của biểu tượng:

Trang 17

5- VẬN DỤNG VÀO Y DƯỢC HỌC CT

5.1- Cấu tạo cơ thể

Ngũ tang: Tâm, can, tỳ, phế,

thận Lục phủ:bàng quang, tam tiêu, đại Đởm, vị, tiểu trường,

tràng,

Vật chất dinh dưỡng, huyết,

tinh tân dịch Cơ năng hoạt động, khí

Bụng, trong, phía dưới Lưng, bên ngoài, phía trên

Đường kinh ở trước bụng,

phía trong cánh tay, chân Đường kinh ở lưng, ngoài chân, tay, mạng sườn

Trong âm có dương trong dương có âm

Trang 18

Âm Dương và Tạng Phủ

 Theo "Kinh Dịch", mỗi vật thể, hiện tượng đều do 2 yếu tố : THỂ (hình thể) và DỤNG (công dụng, chức năng) tạo nên Một vật nào đó, có thể có hình dạng (thể) là âm nhưng lại có công dụng là dương hoặc ngược lại, Thể là dương nhưng Dụng là âm

 Thí dụ : Tạng Tâm, xét về hình thể là 1 quả tim, đặc nặng, nên mang đặc tính dương tức là dương về Thể, nhưng Tâm lại có nhiệm vụ cung cấp máu cho toàn cơ thể, máu thuộc

âm, do đó Tâm mang đặc tính âm xét về Dụng.

 Thí dụ : Quả Ớt, xét về hình thể, quả ớt có màu đỏ, do đó thuộc dương, nhưng ớt có vị cay, khi vào ruột, làm nở các mao trạng ruột, tiêu thức ăn nhanh, như vậy, ớt có đặc tính

âm nếu xét về công dụng.

Trang 19

Bên trái là Dương, Bên phải là Âm

- Khi khởi động 1 cách tự nhiên, hầu như bao giờ chân trái cũng khởi động trước Theo nguyên tắc vật lý, 2 vật cùng tên đẩy nhau, khác tên hút nhau Lực của trái đất là âm, do đó sẽ hút lực dương, vì thế có thể coi như chân trái mang đặc tính dương

- Các vận động viên điền kinh, đua xe, chạy bao giờ cũng phải rẽ về bên trái

- Hình ảnh người chèo đò cho thấy, bao giờ mái chèo cũng nằm bên trái

Trang 20

Trong (bụng, ngực) là Âm, Ngoài (lưng) là Dương

+ Ngay từ trong bào thai, sự sắp xếp theo thứ tự trên cũng khá rõ : Bào thai nam, dương khí tụ ở lưng nên thường quay lưng ra, do đó, bụng người mẹ thường có dạng tròn và cứng Trái lại, bào thai nữ, âm khí tụ ở ngực nên thường quay mặt ra ngoài, do đó bụng người mẹ thường có dạng hình bầu dục (gáo nước) và mềm.

+ Hình ảnh người chết đuối trên sông cho thấy, xác nam bao giờ cũng nằm sấp vì dương khí tụ

ở lưng, còn xác nữ bao giờ cũng nằm ngửa vì

âm khí tụ ở ngực.

Trang 21

Theo giáo sư Hirasawa: từ 6-50 tuổi, diện tích tiếp xúc mặt đất của chân trái phái nam và nữ đều lớn hơn so với chân phải và diện tích tiếp xúc với mặt đất khi đứng của bàn chân trái lớn hơn Thời gian chạm đất khi đi phía bên trái cũng nhiều hơn Cảm giác ổn định khi đứng 1 chân bằng chân trái cũng tốt hơn Các vận động viên, diễn viên cũng đều dùng chân trái làm trục chống đỡ cơ thể, còn chân phải dùng để biểu diễn các động tác ".

Trang 22

5.2- Về bệnh lí

Âm- dương Trạng thái Biểu hiện của cơ thể

Âm- dương Cân bằng Cơ thể khỏe mạnh

Âm- dương Thay đổi Có thể mắc bệnh

Phần Âm Thắng Dương bệnh

Chứng Âm Thắng Nội hàn

Chứng Âm Hư Nội nhiệt

Phần Dương Thắng Âm bệnh

Chứng Dương Thắng Ngoại nhiệt

Chứng Dương Hư Ngoại hàn, lão suy, hưng

phấn TK giảm

Trang 23

Bản chất bệnh

- Phần âm thiên thắng: gây âm thịnh, thừa phần âm nên gây chứng lạnh bên trong, gọi là nội hàn Biểu hiện bệnh người bị lạnh từ trong ngực bụng lạnh

ra, chân tay giá lạnh, sưởi lửa, đắp chăn không hết lạnh Nước tiểu trong dài, đái xong càng lạnh, mạch trầm và trì, có lực Thuốc phải nóng tán được nội hàn như Thảo quả, can khương, ngô thù du, quế nhục, phụ tử chế, hạt xuyên tiêu

Trang 24

Bản chất bệnh

- Phần âm suy : thiếu phần âm nên phần dương

trội 1 cách tương đối gây chứng nóng từ bên trong gọi là âm hư sinh nội nhiệt Biểu hiện nóng từ trong ngực bụng, lòng bàn chân tay nóng, nước tiểu nóng ít, vàng hoặc đỏ sẻn quạt mát, tắm nước lạnh không hết nóng Mạch tế sác, lực mạc kém Thuốc phải bổ vào phần âm

bị thiếu hụt, đó là những vị thuốc bổ âm thuộc lại âm dược như Thục địa, hoàng tinh, thạch hộc, kỷ tử, mạch môn, thiên môn

Trang 25

Bản chất bệnh

- Phần dương thiên thắng: gây dương thịnh,

thừa phần dương sốt cao, nóng bên ngoài

gọi là ngoại nhiệt Thuốc phải mát lạnh để loại bỏ phần dương bị thừa để âm dương

về trạng thái cân bằng: Thuốc Tả hỏa thạch cao sống, chi tử, lá cối xay, cốc tinh thảo, hạt muồng, tri mẫu, mật gấu

Trang 26

Bản chất bệnh

- Phần dương suy: thiếu phần dương gây ngoại hàn, biểu hiện lạnh bên ngoài, sợ lạnh, tay chân lạnh, lạnh lưng, đái đêm nhiều lần, di tinh liệt dương Thuốc phải bổ vào phần dương bị thiếu hụt như đỗ trọng, cẩu tích, cốt toái bổ, ích trí nhân, ba kích, dâm dương hoắc, phụ tử chế, phá cố chỉ, nhục thung dung

- Âm dương lưỡng hư: là trường hợp suy giảm cả phần âm lẫn phần dương chỉ gặp ở người có tuổi, cao tuổi với biểu hiện cả âm hư lẫn dương

hư, thuốc dùng cả 2 loại bổ âm và bổ dương

Trang 27

- Hư chứng, thực chứng

Bệnh tật (sự rối loạn âm dương) phát sinh ra do nhiều nguyên nhân: dương thực, âm thực (hưng phấn) hoặc dương hư, âm hư (ức chế)

Thí dụ: triệu chứng SỐT

Sốt có thể do 2 nguyên nhân: do Dương hỏa vượng (hưng phấn) hoặc do âm hỏa suy không ức chế được dương hỏa, cả 2 trường hợp trên đều gây nên sốt Nếu do dương hỏa vượng thì chứng sốt

đó là Thực chứng Nếu do âm hỏa suy thì chứng sốt đó là Hư chứng

Trang 28

- Âm dương thực giả

+ Dương cực tựa âm : Do nhiệt độc tới chỗ cùng cực, phục vào trong cơ thể gây ra người lạnh, hôn mê giống như âm chứng, chỉ khác ở chỗ là trong lạnh nhưng không thích đắp ấm, thần khí tuy hôn mê nhưng sắc mặt vẫn tươi.Khi trị liệu, phải dùng thuốc Hàn.

+ Âm cực tựa Dương : Do hàn tà đến chỗ cùng cực, đẩy dương hỏa ở trong ra ngoài, gây ra mình nóng, buồn phiền, khát nước, giống như dương chứng nhưng chỉ khác ở chỗ mình nóng mà thích đắp chăn ấm, miệng khát

mà uống nước lạnh vào lại mửa ra ngay Khi trị liệu, phải dùng thuốc nhiệt (ôn nóng), nếu dùng lầm thuốc hàn có thể gây nguy hiểm đến tính mạng.

Trang 29

- Âm thăng dương giáng

+ Huyết thuộc âm, do đó, phải thăng (đi lên), nếu

huyết hư, không đi lên được, phần trên không

được huyết nuôi dưỡng, gây chóng mặt, hoa

mắt nguyên nhân do âm hư, cần bổ âm

+ Khí thuộc dương, phải giáng (đi xuống), khí không làm tròn chức năng, thay vì đi xuống lại đi lên, gọi

là khí nghịch gây ra chứng hen suyễn, khó thở,

nguyên nhân do khí nghịch, cần điều chỉnh ở khí

Trang 30

5.3-Chẩn đoán (biểu hiện TC âm- dương)

Hội chứng âm Hội chứng dương

Tạng phủ nhiệt, hưng

phấn tăng Tạng phủ hàn, hưng phấn giảm

Da, ngủ, ăn uống, đại tiểu

tiện, miệng, lưỡi v v Da, ngủ, ăn uống, đại tiểu tiện, miệng, lưỡi v vTrong âm có dương Trong dương có âm

Âm dương lẫn lộn

Trang 31

Tính: Hàn, lương Ôn, nhiệt

Trong âm có dương Trong dương có âm

Chữa dương bệnh Âm bệnh

Hàn ngộ hàn tắc tử Nhiệt ngộ nhiệt tắc cuồng

Trang 32

Giảm tính âm Giảm tính dương

Tăng tính âm Tăng tính dương

Trang 35

5.6 Cách sử dụng thuốc theo học thuyết âm dương

Nguyên tắc dùng thuốc theo âm dương: Bệnh có bản chất là nhiệt phải dùng thuốc đối lập đó là thuốc có tính hàn và ngược lại Tùy theo mức độ nhiệt, hàn

mà dùng thuốc hàn, nhiệt mạnh hay yếu, liều ít hay nhiều ví dụ :

a) Chứng thực nhiệt

- Huyết nhiệt : Mụn nhọt tái phát nhiều lần do huyết

nhiệt chỉ cần dùng những thuốc mát để lương huyết như sinh địa, rễ cỏ tranh, kết hợp thuốc thanh nhiệt giải độc kim ngân hoa, bồ công anh, quán chúng, lá chàm Đây là những thuốc tính hàn nhẹ

Trang 36

- Thấp nhiệt:

- Viêm gan siêu vi trùng, viêm phần phụ, viêm âm

hộ, âm đạo, nội mạc tử cung, viêm đài thận, bể thận do sỏi, viêm bàng quang, niệu đạo, viêm tinh hoàn, viêm ruột mạn tính Thuộc hệ tiêu hóa, tiết niệu, sinh dục Đây là chứng bệnh do thấp nhiệt, tuy bệnh dai dẳng nhưng mức nhiệt không cao

nên chỉ dùng thanh nhiệt trừ thấp: Nhân trần, long đởm thảo, nha đảm tử, hoàng liên, hoàng bá,

hoàng cầm, rễ chàm, dây hạt bí, ý dĩ nhân, rau

sam

Trang 37

- Thử nhiệt:

- Là say nóng, say nắng, choáng váng khi làm việc trong lò nhiệt như lò rèn, lò luyện gang thép Dùng thuốc mát để thanh nhiệt giải thử như

lá sen, đậu ván, quả dưa hấu

- Nhiệt độc: do nhiễm trùng bởi vi trùng, vi rút dùng thuốc thanh nhiệt giải độc kim ngân hoa, bồ công anh, sài đất, rẻ quạt, lá dấp cá

- Hỏa nhiệt:Sốt cao co giật mức nhiệt mạnh, cần hạ sốt ngay, dùng thuốc hàn mạnh, liều cao như thạch cao sống, chi tử, lá cối xay, hạt muồng sống, tri mẫu, mật gấu, cốc tinh thảo, hạ khô thảo

Trang 38

b) Chứng hư nhiệt

- Âm hư sinh nội nhiệt, nóng trong, sốt thấp 37,50

C-380C về buổi chiều đêm, ngũ tâm phiền nhiệt, bức bối, môi khô, đỏ dùng các thuốc bổ âm như

Thục địa, mạch môn, thiên môn, thạch hộc, kỷ tử,

lá dâu non, hoàng tinh trong vài ba tuần sẽ hết sốt

- Nội nhiệt do thận âm hư hoặc vị âm hư,can âm

hư, phế âm hư, tâm âm hư, tỳ âm hư, thông

thường nhất là thận âm, vị âm, phế âm hư

Trang 39

c)Chứng thực hàn

- Hàn từ ngoài thiên nhiên xâm nhập vào cơ thể gây lạnh, sợ lạnh, rét run, đau họng, không ra mồ hôi, thậm chí sau đó phát sốt nóng nhưng vẫn sợ lạnh thì dùng thuốc chữa phong hàn, vì loại hàn này là

biểu hàn

- Hàn thịnh tự trong cơ thể hoặc phục hàn từ trước

là lý hàn, thường gặp nhất ở trung tiêu như đau

dạ dày-tá tràng vào mùa đông, cơn co thắt đại

tràng do lạnh, dùng các thuốc ấm, nóng như phụ

tử chế, quế nhục, thảo quả, đại hồi,

Trang 40

- Hàn quyết :

- Do mất dương khí đột ngột, cảm lạnh đột ngột, tự nhiên người lạnh toát, mặt trắng bệch, chân tay giá lạnh, có thể vã mồ hôi loãng lạnh đầm đìa Phải dùng thuốc nhiệt mạnh, tác dụng nhanh để hồi dương cứu thoát: Phụ tử chế, cồn gừng, cồn quế, ngô thù du, dầu hồi vừa uóng vừa xoa xát

mạnh

Trang 41

d)Hư hàn do phần dương trong cơ thể suy giảm

nên khi chữa chủ yếu bổ dương Tùy theo mà có thể gặp các trường hợp sau:

- Tâm dương hư sinh tâm hàn trong cơn đau thắt ngực của thiếu máu cơ tim do lạnh

- Tỳ dương hư sinh chứng ỉa chảy khi lạnh

bụng, khi gặp thức ăn sống lạnh, viêm đại tràng mạn tính thể hàn phân sột sệt như

phân vịt

- Thận dương hư: Lạnh thắt lưng, đái đêm

nhiều lần, liệt dục, đau mỏi lưng gối, ù tai

Trang 42

Vị thuốc

Âm dược: dùng trị bệnh

thuộc chứng ôn nhiệt:

hoàng liên, hoàng cầm,

Dương dược: dùng để chữa bệnh hàn: sinh

khương, tế tân,…

Tính thuần âm: vị thuộc

âm, tính thuộc âm: hoàng

liên, hoàng bá,…

Tính thuần dương: vị thuộc D, tính thuộc D:

quế chi, bạch chỉ,…

Trong âm có dương: vị

thuộc âm, tính thuộc

dương: cẩu tích, tắc kè,

Trong dương có âm: vị thuộc dương, tính thuộc âm: bạc hà, cúc hoa

Ngày đăng: 28/11/2021, 22:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w