c Bản chất và hiện tượng: Thông thường bản chất thường phù hợp với hiện tượng, khi chữa bệnh người ta chữa vào bản chất của bệnh: như bệnh hàn dùng thuốc nhiệt, bệnh nhiệt dùng thuốc hàn
Trang 1THUYẾT ÂM DƯƠNG
1 ĐỊNH NGHĨA
- Học thuyết âm dương là nền tảng tư duy nhận thấy sự vật luôn luôn có mâu thuẫn, nhưng thống nhất với nhau, không ngừng vận động, biến hóa để phát sinh, phát triển
và tiêu vong gọi là học thuyết âm dương
- Từ lý luận đến thực hành, trong chẩn đoán bệnh cũng như chữa bệnh, bào chế thuốc và dùng thuốc tất cả đều dựa vào học thuyết
âm dương.
Trang 22- NỘI DUNG
2.1.CÁC QUI LUẬT CƠ BẢN
Âm dương đối lập nhau (opposition)
Là mâu thuẫn, đấu tranh, ức chế lẫn nhau:
- Đó là sự đối lập không gian: trước-sau; trong- ngoài; trên -dưới; cao -thấp
- Đối lập thời gian: Đêm- ngày; lâu-mau; chậm; cấp tính-mạn tính
nhanh Đối lập tính chất: như nóng nhanh lạnh; sáng nhanh tối; ẩmnhanh khô; hưng phấn-ức chế; buồn-vui; sinh trưởng-tiêu vong; sự sống-cái chết; hoạt động- yên
tĩnh; thông suốt-bế tắc sự đối lập là tuyệt đối
và vĩnh hằng
Trang 3
-Âm dương hỗ căn (interdependence)
AD cùng 1 cội nguồn, nương tựa giúp đỡ lẫn
nhau như vật chất và năng lượng Cả 2 mặt đều
là quá trình phát triển tích cực của sự vật khôngthể đơn độc phát sinh, phát triển được
Vd: Có sinh thì có tử hoặc có trong thì có ngoài
Trang 4- Âm dương tiêu trưởng (mutual
dương, hàn cực sinh nhiệt, nhiệt cực sinh
hàn”
Trang 5-Ví dụ: sốt cao (dương) ảnh hưởng đến phần
âm, làm mất nước, mất chất điện giải; (phần âm) mất nước, mất chất điện giải ảnh hưởng đến dương gây trụy mạch thoát dương,
choáng
- Âm dương bình hành (balance)
- Lặp lại thế cân bằng mới trong chuyển hóa lẫn nhau
- Mất cân bằng đấu tranh 2 mặt, tạo cân
bằng mới
Trang 6Ví dụ: Thức dậy là phải hưng phấn, khi ngủ là
ức chế, tuy luân đổi nhau nhưng phải cân bằng nhau; Thân nhiệt luôn duy trì 37oC là quá trình cân bằng giữa sinh nhiệt và mất nhiệt
Ăn uống để tích luỹ năng lượng là đồng hoá thuộc âm, hoạt động tiêu hao năng lượng là dị hoá thuộc dương, đồng hoá - dị hoá phải cân bằng nhau
Trang 72.2 Một số tính chất của A-D
a) Sự tương đối và tuyệt đối của hai mặt A-D
- Sự đối lập giữa 2 mặt âm dương là tuyệt đối, nhưng trong điều kiện cụ thể nào đó nó có tính tương đối
Ví dụ: hàn thuộc âm đối lập với nhiệt thuộc
dương, nhưng lương (là mát) thuộc âm đối lập với ôn (là ấm) thuộc dương Trên lâm sàng tuy sốt (là nhiệt) thuộc dương, nếu sốt cao thuộc lý dùng thuốc hàn, sốt ít thuộc biểu dùng thuốc
mát (lương)
Trang 8b) Trong âm có dương và trong dương có âm:
Do âm dương cùng nương tựa với nhau cùng tồntại,có khi xen kẽ vào nhau trong sự phát triển
Ví dụ:
Trang 9c) Bản chất và hiện tượng:
Thông thường bản chất thường phù hợp với
hiện tượng, khi chữa bệnh người ta chữa vào bản chất của bệnh: như bệnh hàn dùng thuốc nhiệt, bệnh nhiệt dùng thuốc hàn.Nhưng có lúc bản chất không phù hợp với hiện tượng gọi là
sự ”thật giả” (chân giả) trên lâm sàng khi chẩn đoán phải xác định cho đúng bản chất để dùng thuốc chữa đúng nguyên nhân
Thí dụ: Bệnh nhiễm khuẩn gây sốt cao (chân
nhiệt) do nhiễm độc gây trụy mạch ngoại biên làm tay chân lạnh, ra mồ hôi lạnh (giả hàn) phải dùng thuốc mát lạnh để chữa bệnh
Trang 10- Biểu tượng âm dương:
Thái âm
Thiếu dương Thiếu âm
Thái dương
Trang 11- ý nghĩa của biểu tượng:
- Vòng tròn khép kín ám chỉ một sự vật.
- Hình chữ S ngược: ý nói âm dương luôn
lương tựa vào nhau để cùng tồn tại và phát triển.
- Hai màu khác nhau: một đại diện cho âm, một đại diện cho dương.
- Hai vòng tròn nhỏ có màu khác màu ở phần mình ý nói trong âm có dương, trong dương
có âm và là thiếu âm, thiếu dương.
Trang 123- VẬN DỤNG VÀO Y DƯỢC HỌC CT
3.1- Cấu tạo cơ thể
Ngũ tang: Tâm, can, tỳ,
phế, thận Lục phủ:trường, bàng quang, tam Đởm, vị, tiểu
tiêu, đại tràng,
Vật chất dinh dưỡng,
huyết, tinh tân dịch Cơ năng hoạt động, khí
Bụng, trong, phía dưới Lưng, bên ngoài, phía trên Đường kinh ở trước
Trang 133.2- Về bệnh lí
Âm- dương Trạng thái Biểu hiện của cơ thể
Âm- dương Cân bằng Cơ thể khỏe mạnh
Âm- dương Thay đổi Có thể mắc bệnh
Phần Âm Thắng Dương bệnh
Chứng Âm Thắng Nội hàn
Chứng Âm Hư Nội nhiệt
Phần Dương Thắng Âm bệnh
Chứng Dương Thắng Ngoại nhiệt
Chứng Dương Hư Ngoại hàn, lão suy,
hưng phấn TK giảm
Trang 14Bản chất bệnh
- Phần âm thiên thắng: gây âm thịnh, thừa phần
âm nên gây chứng lạnh bên trong, gọi là nội hàn Biểu hiện bệnh người bị lạnh từ trong ngực bụng lạnh ra, chân tay giá lạnh, sưởi lửa, đắp chăn không hết lạnh Nước tiểu trong dài, đái xong càng lạnh, mạch trầm và trì, có lực Thuốc phải nóng tán được nội hàn như Thảo quả, can khương, ngô thù du, quế nhục, phụ tử chế, hạt xuyên tiêu
Trang 15Bản chất bệnh
- Phần âm suy: thiếu phần âm nên phần dương
trội 1 cách tương đối gây chứng nóng từ bên trong gọi là âm hư sinh nội nhiệt Biểu hiện nóng từ trong ngực bụng, lòng bàn chân tay nóng, nước tiểu nóng ít, vàng hoặc đỏ sẻn quạt mát, tắm nước lạnh không hết nóng Mạch
tế sác, lực mạc kém Thuốc phải bổ vào phần
âm bị thiếu hụt, đó là những vị thuốc bổ âm thuộc lại âm dược như Thục địa, hoàng tinh, thạch hộc, kỷ tử, mạch môn, thiên môn
Trang 16Bản chất bệnh
- Phần dương thiên thắng: gây dương thịnh,
thừa phần dương sốt cao, nóng bên ngoài gọi là ngoại nhiệt Thuốc phải mát lạnh để loại bỏ phần dương bị thừa để âm dương về trạng thái cân bằng: Thuốc Tả hỏa thạch cao sống, chi tử, lá cối xay, cốc tinh thảo, hạt muồng, tri mẫu, mật gấu
Trang 17Bản chất bệnh
- Phần dương suy: thiếu phần dương gây ngoại hàn, biểu hiện lạnh bên ngoài, sợ lạnh, tay chân lạnh, lạnh lưng, đái đêm nhiều lần, di tinh liệt dương Thuốc phải bổ vào phần dương bị thiếu hụt như đỗ trọng, cẩu tích, cốt toái bổ, ích trí nhân, ba kích, dâm dương hoắc, phụ tử chế, phá cố chỉ, nhục thung dung
- Âm dương lưỡng hư: là trường hợp suy giảm cả phần âm lẫn phần dương chỉ gặp ở người có tuổi, cao tuổi với biểu hiện cả âm hư lẫn dương
hư, thuốc dùng cả 2 loại bổ âm và bổ dương
Trang 18- Hư chứng, thực chứng
Bệnh tật (sự rối loạn âm dương) phát sinh ra do nhiều nguyên nhân: dương thực, âm thực (hưng phấn) hoặc dương hư, âm hư (ức chế).
Thí dụ : triệu chứng SỐT
Sốt có thể do 2 nguyên nhân: do Dương hỏa
vượng (hưng phấn) hoặc do âm hỏa suy không
ức chế được dương hỏa, cả 2 trường hợp trên đều gây nên sốt.
Nếu do dương hỏa vượng thì chứng sốt đó là
Thực chứng
Nếu do âm hỏa suy thì chứng sốt đó là Hư
chứng.
Trang 19- Âm dương thực giả
+ Dương cực tựa âm : Do nhiệt độc tới chỗ cùng cực, phục vào trong cơ thể gây ra người lạnh, hôn mê giống như âm chứng, chỉ khác ở chỗ là trong lạnh nhưng không thích đắp ấm, thần khí tuy hôn mê nhưng sắc mặt vẫn tươi.Khi trị liệu, phải dùng thuốc Hàn.
+ Âm cực tựa Dương : Do hàn tà đến chỗ cùng cực, đẩy dương hỏa ở trong ra ngoài, gây ra mình nóng, buồn phiền, khát nước, giống như dương chứng nhưng chỉ khác ở chỗ mình nóng mà thích đắp chăn ấm, miệng khát mà uống nước lạnh vào lại mửa ra ngay Khi trị liệu, phải dùng thuốc nhiệt (ôn nóng), nếu dùng lầm thuốc hàn có thể gây nguy hiểm đến tính mạng.
Trang 20- Âm thăng dương giáng
+ Huyết thuộc âm, do đó, phải thăng (đi lên), nếu huyết hư, không đi lên được, phần trên không được huyết nuôi dưỡng, gây chóng mặt, hoa mắt nguyên nhân do âm hư, cần bổ âm
+ Khí thuộc dương, phải giáng (đi xuống), khí
không làm tròn chức năng, thay vì đi xuống lại
đi lên, gọi là khí nghịch gây ra chứng hen
suyễn, khó thở, nguyên nhân do khí nghịch,
cần điều chỉnh ở khí
Trang 213.3-Chẩn đoán (biểu hiện TC âm- dương)
Hội chứng âm Hội chứng dương
Tạng phủ nhiệt, hưng
phấn tăng Tạng phủ hàn, hưng phấn giảm
Da, ngủ, ăn uống, đại
tiểu tiện, miệng,
lưỡi v v
Da, ngủ, ăn uống, đại tiểu tiện, miệng,
lưỡi v v Trong âm có dương Trong dương có âm
Âm dương lẫn lộn
Trang 22Tính: Hàn, lương Ôn, nhiệt
Trong âm có dương Trong dương có âm
Chữa dương bệnh Âm bệnh
Hàn ngộ hàn tắc tử Nhiệt ngộ nhiệt tắc cuồng
Trang 23Giảm tính âm Giảm tính dương
Tăng tính âm Tăng tính dương
Trang 243.5- VỀ DƯỢC LiỆU
a) Về tác dụng
- Các vị thuốc có tác dụng Thăng (đi lên) thuộc
âm Thí dụ : Ma hoàng, Quế
- Các vị thuốc có tác dụng giáng (đi xuống) thuộc dương Thí dụ : Mang tiêu, Mộc hương
Trang 25c) Về tính chất
- Các vị thuốc có tính Hàn (lạnh), Lương (Mát) thuộc âm Thí dụ : Cỏ mực, Hoàng bá
- Các vị thuốc có tính Nóng (Nhiệt), ấm (ôn) thuộc dương Thí dụ : Trần bì, Phụ tử
- Việc phân biệt đặc tính âm dương của dược liệu rất quan trọng trong việc trị liệu
Thí dụ : Một bệnh thuộc dương chứng, thực chứng cần phải tìm vị thuốc mang đặc tính âm
để ức chế bớt dương, lập lại sự quân bình âm dương Nếu không nắm vững, cho những vị thuốc mang đặc tính dương vào sẽ làm bệnh tăng hơn (như đổ dầu thêm vào lửa), có khi nguy hiểm đến tính mạng người bệnh
Trang 263.6 Cách sử dụng thuốc theo học thuyết âm dương
Nguyên tắc dùng thuốc theo âm dương: Bệnh
có bản chất là nhiệt phải dùng thuốc đối lập đó
là thuốc có tính hàn và ngược lại Tùy theo
mức độ nhiệt, hàn mà dùng thuốc hàn, nhiệt
mạnh hay yếu, liều ít hay nhiều ví dụ :
a) Chứng thực nhiệt
- Huyết nhiệt: Mụn nhọt tái phát nhiều lần do
huyết nhiệt chỉ cần dùng những thuốc mát để lương huyết như sinh địa, rễ cỏ tranh, kết hợp thuốc thanh nhiệt giải độc kim ngân hoa, bồ
công anh, quán chúng, lá chàm Đây là những thuốc tính hàn nhẹ
Trang 27- Thấp nhiệt:Viêm gan siêu vi trùng, viêm phần
phụ, viêm âm hộ, âm đạo, nội mạc tử cung,
viêm đài thận, bể thận do sỏi, viêm bàng
quang, niệu đạo, viêm tinh hoàn, viêm ruột mạn tính Thuộc hệ tiêu hóa, tiết niệu, sinh dục Đây
là chứng bệnh do thấp nhiệt, tuy bệnh dai dẳng nhưng mức nhiệt không cao nên chỉ dùng
thanh nhiệt trừ thấp: Nhân trần, long đởm thảo, nha đảm tử, hoàng liên, hoàng bá, hoàng cầm,
rễ chàm, dây hạt bí, ý dĩ nhân, rau sam
Trang 28- Thử nhiệt: Là say nóng, say nắng, choáng váng khi làm việc trong lò nhiệt như lò rèn, lò luyện gang thép Dùng thuốc mát để thanh nhiệt giải thử như lá sen, đậu ván, quả dưa hấu
- Nhiệt độc: do nhiễm trùng bởi vi trùng, vi rút
dùng thuốc thanh nhiệt giải độc kim ngân hoa,
bồ công anh, sài đất, rẻ quạt, lá dấp cá
- Hỏa nhiệt:Sốt cao co giật mức nhiệt mạnh, cần
hạ sốt ngay, dùng thuốc hàn mạnh, liều cao
như thạch cao sống, chi tử, lá cối xay, hạt
muồng sống, tri mẫu, mật gấu, cốc tinh thảo, hạ khô thảo
Trang 29b) Chứng hư nhiệt
- Âm hư sinh nội nhiệt, nóng trong, sốt thấp
37,50C-380C về buổi chiều đêm, ngũ tâm phiền nhiệt, bức bối, môi khô, đỏ dùng các thuốc bổ
âm như Thục địa, mạch môn, thiên môn, thạch hộc, kỷ tử, lá dâu non, hoàng tinh trong vài ba tuần sẽ hết sốt
- Nội nhiệt do thận âm hư hoặc vị âm hư,can âm
hư, phế âm hư, tâm âm hư, tỳ âm hư, thông
thường nhất là thận âm, vị âm, phế âm hư
Trang 30- Hàn thịnh tự trong cơ thể hoặc phục hàn từ
trước là lý hàn, thường gặp nhất ở trung tiêu
như đau dạ dày-tá tràng vào mùa đông, cơn co thắt đại tràng do lạnh, dùng các thuốc ấm, nóng như phụ tử chế, quế nhục, thảo quả, đại hồi,
Trang 31- Hàn quyết: Do mất dương khí đột ngột, cảm
lạnh đột ngột, tự nhiên người lạnh toát, mặt
trắng bệch, chân tay giá lạnh, có thể vã mồ hôi loãng lạnh đầm đìa Phải dùng thuốc nhiệt
mạnh, tác dụng nhanh để hồi dương cứu thoát: Phụ tử chế, cồn gừng, cồn quế, ngô thù du,
dầu hồi vừa uóng vừa xoa xát mạnh
Trang 32d)Hư hàn do phần dương trong cơ thể suy giảm nên khi chữa chủ yếu bổ dương Tùy theo mà
- Thận dương hư: Lạnh thắt lưng, đái đêm nhiều lần, liệt dục, đau mỏi lưng gối, ù tai
Trang 33Phương thuốc
Tính thuần âm Tính thuần dương
Trong âm có dương (có
cả vị thuốc hàn, nhiệt
trong phương)
Trong dương có âm (Vị dương, tính âm giải biểu nhiệt)
Trang 343.7 Âm dương và châm cứu
* Âm dương và kinh lạc
a) Theo nguyên tắc thăng giáng
Theo nguyên tắc : "Âm thăng, Dương giáng" (âm
đi lên, dương đi xuống) Đứng thẳng, giơ tay
lên trời ta có :
- Các kinh âm ở tay, đi lên, tức đi từ vùng nách, ngực lên ngón tay Các kinh Dương ở tay, đi
xuống, tức từ các ngón tay đi vào ngực, nách
- Các kinh âm ở chân, đi lên, tức từ các ngón
chân đi lên đầu mặt Các kinh dương ở chân đi xuống, tức từ đầu mặt đi xuống chân
Trang 35b) Theo nguyên tắc trong ngoài
- Âm trong, dương ngoài thì : Các kinh ở phía trong chân, tay thuộc âm(Phế, Tâm, Tâm bào, Thận, Can, Tỳ) Các kinh ở phía ngoài chân tay thuộc dương (Đại trường, Tiểu trường, Tam tiêu, Bàng quang, Đởm, Vị)
- Ngoài ra, Bụng thuộc Âm nên Nhâm mạch thuộc âm
- Lưng thuộc dương nên Đốc mạch thuộc Dương
Trang 36* Âm dương và huyệt
a) Bên trái là dương, bên phải là âm : Do đó, các huyệt bên trái mang đặc tính dương (hưng phấn) gọi là Dương huyệt Các huyệt bên phải mang đặc tính âm (ức chế) gọi là âm huyệt
Thí dụ : Bệnh về Phế
- Người bệnh đi nắng về, sốt, chảy máu mũi (máu cam) Biện chứng bệnh như sau : Đi nắng về sốt là bệnh cấp tính, thực chứng Mũi chảy máu
là do Hỏa khí của Phế vượng (Mũi có liên hệ đến Phế vì Nội Kinh ghi : Phế khai khiếu ở mũi, Máu màu đỏ, thuộc Hỏa) Đây là thực chứng,
áp dụng nguyên tắc "Thực tắc tả”
Trang 37b) Các huyệt của kinh âm (mặt trong chân tay) thuộc âm, các huyệt của kinh dương (mặt ngoài chân tay) thuộc dương.
c) Các huyệt thuộc Nhâm mạch (đường giữa bụng) thuộc âm Các huyệt thuộc Đốc mạch (đường giữa sống lưng) thuộc dương
d) Những huyệt nào không nằm vào các đường kinh âm hoặc dương có thể dựa vào vị trí hoặc tác dụng của huyệt để xác định đặc tính âm dương cho huyệt đó :
Thí dụ : Huyệt Ấn đường, khi kích thích, tiết ra chất Endorphin, làm giảm đau (có tác dụng ức chế) do đó, mang đặc tính âm
Trang 38TÓM LẠI
Bệnh hàn dùng cứu Bệnh nhiệt dùng châm
Hư thì châm bổ Thực châm tả
Bệnh tạng dùng huyệt
du sau lưng Bệnh phủ dùng huyệt mô ngực, bụng NT: Theo âm dẫn dương Theo dương dẫn âm
Trang 393.8 Âm dương và cuộc sống
- Trong tính cách:
+ Nếu Dương tính quá nhiều dễ sinh ra manh động, liều lĩnh, nóng vội và thường khó thành công trong mọi việc
+ Nếu Âm tính quá nhiều sẽ uỷ mị, không quyết đoán làm lỡ mất thời cơ
+ Cần rèn luyện để đạt đến trạng thái cân bằng, bình tĩnh, khoan hoà để giải quyết mọi việc, khi thời cơ đến cần quyết đoán để không bỏ lỡ thời
cơ
Trang 40- Trong sức khoẻ: nhất là vấn đề ăn uống cần giữ cân bằng Âm Dương
+ Tránh ăn quá nhiều thức ăn Âm tính sẽ làm
yếu mềm cá tính, hại cho nội quan
+ Tránh ăn quá nhiều thức ăn Dương tính sẽ
làm hại tỳ vị, sinh ra nhiều bệnh tật
+ Cần ăn cân bằng cả chất rau, hoa quả và các chất đạm, chất béo
Trang 41- Trong sức khoẻ:
+ Cơn nóng giận, bực tức nổi lên là Dương, không nên dùng thêm Dương như lửa cháy đổ thêm dầu, càng bực tức sẽ sinh nóng giận, bực tức khác Cần dùng Âm để điều hoà Dương bằng những suy nghĩ và hành động Âm như nghĩ đến những sự yên tĩnh, hoà bình, những
kỷ niệm đẹp, dùng những lời nói êm dịu, nhẹ nhàng, đi đến những nơi thanh tĩnh, yên bình
Trang 42
+ Nếu gặp sự chán nản, buồn phiền tức là Âm thì không nên bổ sung thêm Âm lại càng buồn phiền hơn, sẽ dẫn đến chán nản, buồn phiền khác Cần bổ sung thêm Dương bằng những suy nghĩ và hành động Dương như đến chỗ đông người, vui vẻ, nhộn nhịp, hoạt động tích cực, hăng say, dùng những lời nói quyết đoán, vui vẻ, hài hước