6- TÍNH NĂNG CỦA THUỐC ĐÔNG Y Tứ khí, ngũ vị, thăng, giáng, phù trầm, qui kinh, - Gi a ữa hàn – lương, nhiệt – ôn còn có tính bình Cách xác định Tổng kết thực tế lâm sàng qua nhiều thế h
Trang 2• ĐỊNH NGHĨA TCT?
Trang 31- ĐỊNH NGHĨA
- Một vị thuốc sống, chín
- Một chế phẩm thuốc được phối ngũ, bào chế theo phương pháp của YHCT
- Có tác dụng chữa bệnh hoặc có lợi cho
sức khỏe con người.
- Có nguồn gốc thực, động, khoáng vật
Trang 4• Những khái niệm liên quan
• Cổ phương
• Cổ phương gia giảm
• Thuốc gia truyền
• Tân phương
Trang 52 Nguồn gốc
• Sự xuất hiện của thuốc là do kinh nghiệm thực tiễn đấu tranh với bệnh tật của nhân dân mà tìm ra Số lượng, chất lượng tiến bộ theo sự phát triển của nền sản xuất của xã hội
• Thời nguyên thuỷ, thực vật hay động vật do nguồn
tự nhiêu cung cấp, sau thiếu dần phải gieo trồng, thu hái và chăn nuôi Các loại thuốc khoáng vật pháp triển theo nguồn khai thác mỏ như thạch cao, chu sa, hùng hoàng…
• Hiện nay ta đã tìm và xác định theo khoa học được nhiều cây thuốc có trong nước, một số thuốc đã di thực được như: sinh địa, bạch truật, huyền sâm, bạch chỉ… Một số vị thuốc do điều kiện đất đai, thổ nhưỡng chưa di thực được còn phải nhập
Trang 63 THU HÁI, SƠ CHẾ, BẢO QUẢN
3.1.Thu hái:
- Mỗi loại cây có thời gian sinh trưởng nhất định
- Thời gian thu hái thích hợp mới đảm bảo chất lượng thuốc
Trang 7+ Toàn cây: bắt đầu ra hoa.
Thuốc động vật cũng có thời gian thích hợp
Khi thu hái chú ý đến khí hậu, thời tiết, p/pháp.
3.2 Sơ chế:
Mục đích:
- Bảo quản, cất giữ vận chuyển thuận tiện
- Loại tạp làm sạch
- Làm khô để bảo quản, vận chuyển.
3.3 Bảo quản : Khô, tránh: ẩm, nóng quá, ánh sáng, sâu, mọt, mốc, giữ kín.
Trang 84 CÁCH ĐẶT TÊN VỊ THUỐC :
Thường căn cứ vào các yếu tố sau:
1-Hình dạng của vị
2-Theo màu sắc: Đan sâm, xích, bạch
thược3-Theo mùi vị: Hoắc hương, mộc hương,
khổ qua
Trang 9Yếu tố Ví dụ
5-Theo đặc điểm sinh
6-Tên bộ phận làm thuốc: Cát căn, quế chi
7-Theo tác dụng: ích mẫu, hương phụ
8-Tên người tìm ra vị
9-Theo cách chế: Khương bán hạ, tiêu
khương
Trang 105 -CÁCH PHÂN LOẠI THUỐC:
5.1 Theo y văn cổ Ví dụ
-Tác dụng, độ độc Thượng, trung, hạ phẩm
- Tác dụng Thập tễ: Tuyên, thông bổ,
tiết v(12)
- Thuộc tính Thủy, hỏa, thổ, thảo, cốc
- Theo hình thái thực vật Dây leo, ngũ cốc, rau, quả
(23loại)
- Theo bệnh Khí, huyết, phụ, nhi,
ngoại v (10)
Trang 11Chú ý: Chỉ mang tính tương đối vì một vị thuốc có nhiều tác dụng có thể xếp theo tác dụng (loại) này hoặc tác dụng khác cũng được.
Trang 126- TÍNH NĂNG CỦA THUỐC ĐÔNG Y
Tứ khí, ngũ vị, thăng, giáng, phù trầm, qui kinh,
- Gi a ữa hàn – lương, nhiệt – ôn còn có tính bình
Cách xác định Tổng kết thực tế lâm sàng qua
nhiều thế hệ
Trang 13Tác
dụng
Thuốc ôn nhiệt:
- Dùng để điều trị các bệnh thuộc chứng hàn-Thông kinh mạch, hồi dương, bổ hỏa, tán hàn chỉ thống, lợi niệu thăng phù
- Đa phần là các vị thuốc có chứa tinh dầu
- Dương dược
Ví dụ: quế nhục, phụ tử Có tính nhiệt dùng
để điều trị chứng hàn: hàn nhập lý dùng nhục quế; thận hư hàn dùng phụ tử
Ma hoàng, tía tô mang tính ôn, mức
độ hàn thấp hơn dùng để chữa cảm mạo phong hàn
Trang 14Tác dụng
Thuốc hàn lương:
- Dùng để chữa những bệnh thuộc chứng nhiệt
-Thanh nhiệt, tả hỏa, lương huyết, giải độc, nhuận tràng: dùng để chữa sốt, âm hư gây nóng bên trong, mụn nhọt,
- Phần lớn các vị thuốc có chứa các hợp chất glycosid, alcaloid, tanin,
- Trầm giáng
- Âm dược
Ví dụ: Hoàng liên có tính hàn, có tác dụng thanh tâm hỏa; mạch môn có tính lương
Trang 15Tác dụng
Thuốc tính bình-Có tác dụng:
+ Lợi thủy thẩm thấp+ Lợi tiểu
+ Hạ khí, long đờm+ Bổ tỳ vị
Ví dụ: Hoài sơn, cam thảo
Trang 166.2 Ngũ vị:
6.2.1 Định nghĩa:
Là 5 vị: Tân, Khổ, cam, toan, hàm (đạm, chát),
để định hướng chọn thuốc chữa bệnh theo
Trang 17cảm mạo; ôn trung chỉ thống
- TD bất lợi: Gây táo, tổn thương tân dịch; thận trong âm hư, biểu hư, mồ hôi nhiều
- Chữa: Biểu,khí, huyết, đàm ẩm tích trệ, đau
do hàn
Ví dụ: quế, hồi
6.2.3 Tác dụng
Trang 18Vị Tác dụng
Khổ
(đắng) Khổ năng tả, năng táo, năng kiện- Tả: Tả hạ và giáng nghịch
(đại hoàng, hậu phác)
- Táo: táo thấp: đắng hàn (hoàng liên), thuốc; đắng ôn (thương truật)
(đại hoàng); thanh hư nhiệt để tồn âm (Hoàng bá)
- Liều nhỏ khai vị; liều cao kéo dài tổn thương tỳ vị
- Bất lợi: Dùng kéo dài tổn âm, tân dịch, thận trọng âm hư tân dịch hao tổn
Trang 19Vị Tác dụng
Ngọt
(cam) Cam năng bổ, năng hòa hoãn- Bổ: Là bổ hư: cam ôn bổ khí, huyết,
dương (kỳ, sâm, qui); cam hàn bổ âm
- Hòa: Điều hòa tính vị các vị thuốc khác trong đơn
- Hoãn: Là hòa hõan tác dụng mạnh các vị thuốc khác, giảm đau co quắp (điều vị thừa khí thang)
- Ngoài ra: nhuận táo, nhuận tràng (mạch môn)
- Bất lợi: Hay nê trệ hại tỳ, thận trọng tỳ hư
“trung mãn kỵ cam”; kèm hành khí
Trang 20Vị Tác dụng
Toan
(chua) Toan năng thu sáp- Thu sáp: Thu liễm (làm săn da) cố sáp
(làm chắc chắn lại): liễm hãn ( giảm ra mồ hôi),sáp trường, sáp tinh, sáp niệu
-Chữa: mồ hôi nhiều, ỉa chảy mạn tính, ho lâu ngày, di hoạt tính, tiểu nhiều lần
Ví dụ: Sơn tra, mộc qua,
Trang 21Vị Tác dụng
Hàm
(mặn)
Hàm năng hạ, năng nhuyễn
- Hạ: Là tả hạ tẩy xổ (mang tiêu)
kết đọng, (mẫu lệ; miết giáp)
- Đi vào thận: bổ thận, tráng dương, ích tinh (lộc nhung, cáp giới); vào huyết: lương huyết (tê giác, huyền sâm)
- Chữa: ứ trệ, táo bón, trưng hà tích tụ, thận dương hư tinh tủy kém, huyết nhiệt
Trang 22Vị Tác dụng
Đạm
(nhạt) - Thẩm thấp lợi niệu, Thanh lọc, thanh nhiệt
- Chữa tiểu tiện không thông, thủy thũng, ung nhọt, viêm nhiễm (phục linh, ý dĩ)
Trang 236.2.4 Mối quan hệ giữa khí và vị:
- Khí vị đi liền nhau tạo tác dụng của vị thuốc
• Khí ( tính) và vị của vị thuốc trên thực tế không thể tách rời nhau ; nó quan hệ với nhau một cách hữu
cơ Ví dụ, các vị thuốc có tính hàn thường vị đắng, mặn thuốc có tính nhiệt thường có vị cay; thuốc
có tính bình thường có vị nhạt , chát
• Chú ý, một số vị thuốc cho nhiều vị khác nhau, ví
dụ sơn thù du vừa chát lại vừa chua, long cốt vừa ngọt lại vừa chát, vì thế khi sắp xếp “vị “ của nó, ta
ưu tiên cho những vị sẽ cho công năng rõ hơn lên trên Ví dụ: ngũ vị tử có 5 vị, song vị chua được ưu tiên trước nhất, sơn thù du vị chát được xếp ưu
Trang 24- Tính vị giống nhau, tác dụng giống nhau, gần giống nhau có thể thay thế cho nhau
• Ví dụ, hoàng bá , hoàng cầm đều có vị đắng tính hàn, chúng đều có tác dụng thanh nhiệt, táo thấp , chống viêm, thoái nhiệt Quế chi, bạch chỉ đều có vị cay, tính
ôn tác dụng của chúng là tán hàn, giải biểu, phát hãn, thông kinh hoạt lạc, giảm đau
• Do đó trong những trường hợp cần thiết , ta có thể dùng chúng thay thế cho nhau mà vẫn đạt được những hiệu quả mong muốn Tuy nhiên trong những trường hợp cụ thể cũng cần xem xét đến tác dụng đặc thù của từng vị thuốc Ví dụ: bạch chỉ tán hàn giải biểu, giảm đau,song còn có tác dụng bài nùng (làm hết mủ); quế chi cũng có tác dụng giải biểu , tán hàn, song lại có tác dụng trục ứ huyết thông kinh bế, trục
Trang 25- Tính, vị khác nhau tác dụng khác nhau hoàn toàn:
Ví dụ: quế nhục vị cay ngọt tính đại nhiệt; hoàng liên vị đắng tính hàn
Trang 26- Một vị thuốc có một tính, có thể nhiều vị: ngũ vị
tử, tam thất.
- Tính vị không phải là cơ sở duy nhất để xác định tác dụng của thuốc, có thể tham khảo tác dụng dược lý.
- Vị dương : Tân, cam, đạm
Trang 27- Chú ý ngũ cấm:
+ Tỳ bệnh cấm Toan (vào mộc, môc khắc thổ)
+ Phế bệnh cấm Khổ (vào hỏa, hỏa khắc kim)
Trang 286.3 Thăng giáng phù trầm:
6.3.1 Định nghĩa:
-Thăng, giáng, phù, trầm là bốn xu hướng tác dụng của thuốc: thăng là đi lên, giáng là đi xuống, phù là phát tán ra ngoài, trầm là thẩm lợi vào trong và xuống dưới
-Tác dụng ngược lại với xu hướng phát triển của bệnh
- Dùng để điều chỉnh sự cân bằng, điều trị bệnh phục hồi sức khỏe
- Các vị thuốc thăng và phù đều đi lên, hướng ra ngoài thường có tác dụng: thăng dương, phát biểu, tán hàn Các vị thuốc trầm và giáng thường đi
Trang 29Bệnh vào bên trong: biểu nhập lý, nhiệt nhập tâm bào.
Trang 306.3.3 Tác dụng:
• Thăng
Khuynh hướng của khí vị của thuốc hướng lên thượng tiêu , sau khi uống thuốc vào cơ thể , với mục đích để chữa các bệnh có khuynh hướng sa giáng ( sa dạ dày, trĩ , sa dạ con ) để đưa các tạng phủ dó về vị trí nguyên thuỷ Các vị thuốc chủ thăng thường có tính chất kiện tỳ ích khí thăng dương khí như hoàng kỳ, đẳng sâm, thăng ma, sài hồ.
• Giáng
Khuynh hướng của khí vị của thuốc hướng xuống hạ tiêu sau khi uống vào cơ thể, với mục đích để chữa các bệnh có khuynh hướng đi lên thượng tiêu(thượng nghịch) như bệnh hen suyễn khó thở, ho đờm, nôn mửa Các vị thuốc chủ giáng thường có tính chất hạ khí, giáng khí, bình suyễn như
ma hoàng, hạnh nhân, cát cánh (hạ phế khí nghịch), bán
hạ, phục long can ( hạ vị khí nghịch).
Trang 31• Phù
Khuynh hướng của khí vị của thuốc hướng ra phía ngoài (phía biểu), với mục đích để chữa các bệnh có xu hướng lấn sâu vào phía trong (phía lý) Ví dụ các bệnh cảm mạo phong hàn, cảm mạo phong nhiệt Các vị thuốc chủ phù thường có tính chất phát hãn, phát tán giải biểu, hạ nhiệt, chỉ thống Đó là các vị thuốc tân lương giải biểu như cát căn, bạc hà, tang diệp, cúc hoa hoặc các vị thuốc tân ôn giải biểu như quế chi, bạch chỉ, phòng phong, tế tân
• Trầm
Khuynh hướng của khí vị của thuốc đi vào phía trong (phía lý ) với mục đích để chữa các bệnh có xu hướng phù nổi ra phía biểu như bệnh đạo hãn, tự hãn, bệnh phù thũng, bệnh mụn nhọt, ban chẩn dị ứng, mẩn ngứa Đó là các vị thuốc thẩm thấp lợi niệu như kim tiền thảo, sa tiền tử, tỳ giải hoặc thuốc tả hạ như đại hoàng, mang tiêu, trầm hương, tô mộc hoặc thuốc thanh nhiệt, giải độc như liên kiều, kim ngân, bồ công anh.
Trang 32thăng ma, sài hồ
Giáng Xuống hạ tiêu Lên thượng
tiêu ( hen, khó thở )
Hạ khí, giáng khí, bình suyễn, chỉ ẩu:
ma hoàng, cát cánh
Phù Ra ngoài biểu Vào trong lí Giải biểu phát hãn,
hạ nhiệt, tán hàn chỉ thống: quế chi, tế tân
Trầm Vào trong, lắng Ra ngoài Chỉ hãn, chỉ huyết,
Trang 336.3.4 Tính tương đối:
- Thường kết hợp thăng với phù, trầm với giáng.
- Thuốc thăng phù: Tác dụng thăng dương, giải biểu, khu phong tán hàn, gây nôn, khai khiếu
- Thuốc trầm giáng: Tẩy xổ, trục thủy, thanh
nhiệt, lợi thủy, an thần, tiềm dương tức phong, tiêu đạo, giáng nghịch, thu liễm, chỉ khai bình suyễn
- Có vị thuốc có cả 2 tác dụng: Xuyên khung khu phong chỉ thống (thăng phù) hoạt huyết điều
kinh (trầm, giáng).
- Có vị thuốc nhẹ mà tác dụng trầm giáng Hòe
hoa, trị trường phong tịên huyết; nặng lại thăng phù như thương nhĩ tử, thảo quyết minh
Trang 346.3.5 Các yếu tố ảnh hưởng thăng giáng phù trầm:
Trang 356.3.6 Bào chế :
Trích rượu, gừng thuốc xu hướng thăng phù: bào chế
vị thuốc sao với rượu thì đi lên, sao với nước ngừng thì phát tán
Trích giấm, muối tác dụng trầm giáng: sao với giấm thì thu liễm, sao với muối thì đi xuống
Ví dụ: hoàng liên bản chất có khuynh hướng giáng
dùng để điều trị các bệnh ở vùng trung tiêu, hạ tiêu như viêm ruột, lỵ song khi sao với rượu, khuynh hướng tác dụng của hoàng liên lại trở nên thăng, lúc này dùng để chữa chứng tâm hoả dẫn đến loét mồm miệng, phồng rộp lưỡu Sài hồ bản chất là thăng, khi sao với dấm nó trở thành giáng Bán hạ, tỳ bà diệp bản chất là trầm,
sao với nước gừng nó trở thành phù, có tác dụng phát tán
Trang 366.3.7 Phối ngũ:
- Đơn đa số vị thuốc thăng phù, tác dụng
thăng phù và ngược lại
- Dùng một vị thăng phù, trầm giáng để dẫn thuốc
- Dùng đúng hiệu quả chữa bệnh cao, dùng sai sẽ gây phản tác dụng
Trang 377 - Bổ tả :
Thuốc bổ Thuốc tả
Tác dụng - Bổ sung sự thiếu hụt
khí, huyết, âm,dương, tân dịch cho cơ thể
Trang 38* Cách dùng chung:
- Đơn thuốc toàn tả: Cơ thể còn khỏe, tà khí mạnh
- Đơn thuốc toàn bổ: Bệnh mạn tính kéo dài, cơ thể còn khỏe
- Thường phối hợp công bổ kiêm trị Hàn không trệ, ôn không táo
Trang 398 Quy kinh:
* Định nghĩa:
Quy kinh là tác dụng đặc biệt của các vị thuốc
đối với các bộ phận khác nhau của cơ thể, tuy
về tính năng dược vật (khí, vị, bổ, tả) có thể giống nhau, nhưng tác dụng chữa bệnh ở các
vị trí lại khác nhau Thí dụ: bệnh nhiệt phải sử dụng thuốc hàn lương, nhưng nhiệt ở phế, vị, đại tràng… khác nhau, phải sử dụng thuốc khác nhau
Trang 40*Cơ sở của qui kinh:
- Trên cơ sở hệ kinh lạc và các trạng phủ để thể hiện
sự quy kinh Quy kinh là đem tác dụng của vị thuốc quan hệ với: lục phủ ngũ tạng và 12 kinh mạch, nói
rõ tác dụng của vị thuốc đối với bệnh trạng của
phủ, tạng, kinh lạc nào đó
Theo kinh nghiệm thực tế lâm sàng, người xưa đã tổng kết một số các triệu chứng quy nạp thành hội chứng bệnh của từng kinh lacj, từng tạng phủ, sau
đó nghiên cứu tác dụng của thuốc thấy nó tác dụng vào kinh lạc, tạng phủ nào
Thí dụ: Cát cánh, Hạnh nhân chữa chứng ho hen
thuộc bệnh của phế: Táo nhân vào tâm kinh vì nó tác dụng an thần: Cương tàm vào can vì chữa co
Trang 41- Sự quy kinh lấy lý luận ngũ hành làm cơ sở,
đặc biệt là quan hệ giữa ngũ sắc, ngũ vị, ngũ tạng Như cam thảo màu vàng vị ngọt chữa bệnh ở tỳ và vị: Mang tiêu mặn và đen vào thận; Chu sa đắng và đỏ vào tâm…
- Căn cứ vào học thuyết kinh lạc về sự liên
quan chặt chẽ giữa các đường kinh để thể hiện
sự quy kinh:
Sài hồ là vị thuốc chữa bệnh thuộc đởm kinh cũng có tác dụng chữa vào kinh can (sơ can giải uất, thanh can minh mục) vì can và đởm có quan hệ biểu lý về đường kinh và tạng phủ
Câu đằng là vị thuốc bình can tức phong chữa bệnh ở kinh can, cũng có tác dụng đến tâm bào lạc vì kinh can và kinh tâm bào lạc cũng là kinh quyết âm
Trang 42• Trên thực tế lâm sàng, ta thấy một số vị thuốc
có nhiều tác dụng khác nhau, chữa nhiều bệnh khác nhau vì sự quy kinh của nó vào nhiều tạng phủa khác nhau như hạt Sen có tác dụng cầm ỉa chảy, cầm di tinh, an thần vì vào kinh tỳ, thận, tâm Ô mai voà kinh phế, tỳ, can nên có tác dụng chữa ho, cầm ỉa chảy, chưa đau bụng giun Có những vị thuốc vào cả 12 kinh như Cam thảo nên việc dùng rất rộng rãi và phổ biến
• Khi nghiên cứu tác dụng của thuốc, nắm được
sự quy kinh có thể giúp cho sự vận dụng tổng hợp các vị thuốc được chính xác, giải thích được sự phối hợp của các vị thuốc mà bản thân chúng nằm ở các chương khác nhau Thí dụ: Bạch thược, Sài hồ hay phối hợp với nhau vì chúng đều quy vào kinh can (Sài hồ là thuốc giải
Trang 43* Vận dụng:
• Chế biến vị thuốc với dịch phụ liệu để tăng
khả năng quy kinh: đỗ trọng chế muối để tăng vào thận,
• Dùng thuốc đúng kinh, tác dụng được phát
huy: đau đầu đau 2 bên thái dương, sau gáy thuộc kinh thiếu dương đởm dùng mạn kinh
tử có tác dụng tốt
• Khi sử dụng cần quan tâm đến sự qui kinh:
trong một đơn thuốc vị quân quy vào kinh chủ
• Cần quan tâm đến sự quy kinh, tính vị, bệnh tật: ho do phế thực dùng tang bạch bì, ho do
Trang 44- Một vị thuốc có thể quy vào nhiều kinh nên có nhiều tác dụng
- Vị thuốc có tính vị, bổ tả giống nhau nhưng qui kinh khác nhau, có tác dụng khác nhau( Hoàng cầm,hoàng liên, hoàng bá cùng
vị đắng tính hàn; hoàng liên qk tâm tác dụng thanh tâm; hoàng bá qk thận tác dụng thanh thận hỏa; hoàng cầm qk phế tác dụng tả phế hỏa) Ngược lại ( Hoàng cầm, Can khương cùng phế: can khương dùng khi hàm ẩm phạm phế gây ho, suyễn)
Trang 45- Là cơ sở để phối ngũ thuốc ở những chương thuốc khác nhau để chữa bệnh cùng một kinh (Bạch thược, Sài hồ) bệnh gan
- Một bệnh có thể do nhiều kinh gây ra cần xác định đúng các kinh và chọn thuốc phối hợp đúng ( hen, thận hoặc phế); đau đầu ( Can, thận).