1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NỘI DUNG CỦA QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN, VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN TRONG ĐÁNH GIÁ, BỔ NHIỆM CÁN BỘ TẠI CƠ QUAN CÔNG TÁC

15 103 10

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 61,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quan điểm toàn diện đòi hỏi chủ thể phải biết nhận thức trọng tâm, trọng điểm, từ đó xem xét cái toàn bộ, trên cơ sở thấu hiểu quy luật vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng. Quan điểm toàn diện đối lập và đòi hỏi phải loại bỏ mọi suy nghĩ và hành động phiến diện, chiết trung và ngụy biện. Đây là những “căn bệnh” thường gặp khá nhiều trong nhận thức và thực tiễn, đều dẫn con người đến sự mơ hồ, trừu tượng, hỗn tạp, khiến cho chủ thể khó phân biệt được cái bản chất với cái không bản chất, cái không chủ yếu với cái chủ yếu… dẫn đến những sai lầm trong nhận thức sự vật, hiện tượng nói chung và trong công tác cán bộ nói riêng. Để vận dụng tốt quan điểm toàn diện trong đánh giá, bổ nhiệm cán bộ, học viên chọn nội dung “Cơ sở lý luận và nội dung của quan điểm toàn diện, vận dụng quan điểm toàn diện trong đánh giá, bổ nhiệm cán bộ tại cơ quan công tác” làm bài thu hoạch hết môn.

Trang 1

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC II

BÀI THU HOẠCH

LỚP CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

HỆ TẬP TRUNG

TÊN MÔN HỌC:

TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN

TÊN BÀI THU HOẠCH:

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NỘI DUNG CỦA QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN, VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN TRONG ĐÁNH GIÁ, BỔ

NHIỆM CÁN BỘ TẠI CƠ QUAN CÔNG TÁC

ĐIỂM TRUNG BÌNH CHUNG Bằng số Bằng chữ

TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2021

Trang 2

PHẦN I: MỞ ĐẦU 1

PHẦN II: NỘI DUNG 2

2.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN 2

2.1.1 Nguyên lý về mối liên hệ 2

2.1.2 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến 2

2.2 QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN 3

2.2.1 Yêu cầu quan điểm toàn diện 3

2.2.2 Quan điểm toàn diện chống quan điểm phiến diện, chiết trung và ngụy biện 6

2.2.3 Ý nghĩa phương pháp luận – Quan điểm toàn diện 7

2.3 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÁNH GIÁ CÁN BỘ TẠI CƠ QUAN 8

2.4 GIẢI PHÁP ĐỂ VẬN DỤNG TỐT QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN TRONG ĐÁNH GIÁ, BỔ NHIỆM CÁN BỘ TẠI CƠ QUAN 10

PHẦN III: KẾT LUẬN 11

Trang 3

Phần I: MỞ ĐẦU

Trong thời gian qua, công tác đánh giá, bổ nhiệm cán bộ đã được Đảng, Nhà nước quan tâm, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp đủ năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược Tuy nhiên, đây vẫn là khâu yếu nhất trong các khâu của công tác tổ chức - cán bộ Một số trường hợp đánh giá, bố trí cán bộ chưa thật sự dân chủ, toàn diện, công tâm, khách quan Do

đó, để nâng cao hiệu quả trong công tác đánh giá, bổ nhiệm cán bộ, việc vận dụng quan điểm toàn diện để xem xét, đánh giá, bổ nhiệm cán bộ có ý nghĩa hết sức quan trọng trong giai đoạn hiện nay

Yêu cầu của quan điểm toàn diện là khi nhận thức hoặc hoạt động thực tiễn thì phải xem xét toàn diện các mối liên hệ của sự vật, hiện tượng, kể cả mối liên hệ của sự vật, hiện tượng này với sự vật, hiện tượng khác, đến mối liên hệ giữa các yếu tố, bộ phận cấu thành sự vật, hiện tượng, cũng như mối liên hệ của sự vật, hiện tượng với môi trường và hoàn cảnh xung quanh; đồng thời, khi xem xét hệ thống các mối liên hệ của sự vật, cần chú ý đến những mắt khâu trung gian, gián tiếp của chúng; nhìn nhận, đánh giá sự vật, hiện tượng trong cả hiện tại, quá khứ và xu hướng phát triển trong tương lai

Quan điểm toàn diện đòi hỏi chủ thể phải biết nhận thức trọng tâm, trọng điểm, từ đó xem xét cái toàn bộ, trên cơ sở thấu hiểu quy luật vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng Quan điểm toàn diện đối lập và đòi hỏi phải loại bỏ mọi suy nghĩ và hành động phiến diện, chiết trung và ngụy biện Đây là những

“căn bệnh” thường gặp khá nhiều trong nhận thức và thực tiễn, đều dẫn con người đến sự mơ hồ, trừu tượng, hỗn tạp, khiến cho chủ thể khó phân biệt được cái bản chất với cái không bản chất, cái không chủ yếu với cái chủ yếu… dẫn đến những sai lầm trong nhận thức sự vật, hiện tượng nói chung và trong công tác cán bộ nói riêng

Để vận dụng tốt quan điểm toàn diện trong đánh giá, bổ nhiệm cán bộ, học viên chọn nội dung “Cơ sở lý luận và nội dung của quan điểm toàn diện, vận dụng quan điểm toàn diện trong đánh giá, bổ nhiệm cán bộ tại cơ quan công tác” làm bài thu hoạch hết môn

Trang 4

Phần II: NỘI DUNG

2.1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN

2.1.1 Nguyên lý về mối liên hệ

Các sự vật, hiện tượng, quá trình khác nhau của thế giới có mối liên hệ qua lại, tác động, ảnh hưởng lẫn nhau hay chúng tồn tại biệt lập, tách rời nhau? Nếu chúng có mối liên hệ qua lại thì cái gì quy định mối liên hệ đó?

Quan điểm siêu hình cho rằng, các sự vật tồn tại biệt lập, tách rời nhau, cái này tồn tại bên cạnh cái kia; chúng không có sự phụ thuộc, ràng buộc và quy định lẫn nhau Nếu giả sử giữa chúng có sự quy định, liên hệ lẫn nhau thì đó chỉ là những quy định, liên hệ bề ngoài, mang tính ngẫu nhiên, không có khả năng chuyển hóa lẫn nhau

Quan điểm biện chứng cho rằng, các sự vật khác nhau vừa tồn tại độc lập, vừa quy định, tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau

* Mối liên hệ: là sự tác động lẫn nhau giữa các sự vật mà trong đó, sự thay

đổi của cái này sẽ tất yếu kéo theo sự thay đổi của cái kia

* Ba Tính chất đặc trưng trong mối liên hệ

Tính khách quan của mối liên hệ thể hiện ở chỗ bản thân mọi sự vật đều tồn tại trong sự quy định, tác động và làm chuyển hóa lẫn nhau Đó là cái vốn có của

nó, tồn tại độc lập không phụ thuộc vào ý thức của con người; con người chỉ có thể nhận thức và vận dụng các mối liên hệ đó trong hoạt động thực tiễn của mình Tính phổ biến của mối liên hệ thể hiện ở chỗ bất cứ sự vật nào cũng không tồn tại tuyệt đối biệt lập với các sự vật khác; mặt khác, bất cứ sự vật nào cũng là một hệ thống, hơn nữa là hệ thống mở, tồn tại trong mối liên hệ với các hệ thống,

sự vật khác và thông qua sự tương tác mà chúng quy định và làm biến đổi lẫn nhau

Tính đa dạng của mối liên hệ thể hiện ở chỗ các sự vật khác nhau đều có những mối liên hệ cụ thể khác nhau, giữ vị trí, vai trò khác nhau đối với sự tồn tại

và phát triển của nó; mặt khác, cùng một mối liên hệ nhất định của sự vật nhưng trong những điều kiện cụ thể khác nhau, ở những giai đoạn khác nhau trong quá trình vận động, phát triển của sự vật thì cũng có những tính chất và vai trò khác nhau

2.1.2 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến

* Mối liên hệ phổ biến: là mối liên hệ giữa các mặt đối lập tồn tại trong mọi

sự vật, trong mọi lĩnh vực hiện thực Chúng chi phối một cách tổng quát sự tồn tại,

Trang 5

vận động, phát triển của mọi sự vật, hiện tượng, quá trình xảy ra trong thế giới và

là đối tượng nghiên cứu của phép biện chứng

* Tính chất của mối liên hệ phổ biến

Mối liên hệ phổ biến cũng có tính khách quan, phổ biến và đa dạng Mối liên hệ phổ biến được nhận thức trong các cặp phạm trù biện chứng như: mối liên

hệ giữa cái riêng - cái chung; mối liên hệ giữa nguyên nhân - kết quả; mối liên hệ giữa nội dung - hình thức; mối liên hệ giữa bản chất - hiện tượng; mối liên hệ giữa tất nhiên - ngẫu nhiên; mối liên hệ giữa khả năng - hiện thực Mối liên hệ phổ biến còn là: mối liên hệ giữa các mặt đối lập của nhau; mối liên hệ giữa chất - lượng; mối liên hệ giữa cái cũ - cái mới

* Tóm tắt nội dung nguyên lý: Trong thế giới, mọi sự vật đều tồn tại trong

muôn vàn mối liên hệ Trong muôn vàn mối liên hệ chi phối sự tồn tại của sự vật

có những mối liên hệ phổ biến

2.2 QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN

Cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện là nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của phép biện chứng duy vậy Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến chỉ ra rằng, mọi

sự vật, hiện tượng khách quan tồn tại trong mối liên hệ, ràng buộc lẫn nhau Vì vậy, muốn nhận thức được sự vật, hiện tượng phải xem xét tất cả các mặt, các mối liên hệ giữa các yếu tố, các bộ phận trong sự vật đó và giữa các sự vật, hiện tượng với nhau

2.2.1 Yêu cầu quan điểm toàn diện

Thứ nhất, muốn nhận thức được bản chất của sự vật, hiện tượng phải xem xét

sự tồn tại của nó trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, các yếu tố, thuộc tính khác nhau của sự vật, hiện tượng ấy và trong mối liên hệ qua lại giữa sự vật, hiện tượng đó với sự vật, hiện tượng khác Bởi vì bản chất của sự vật, hiện tượng được hình thành, biến đổi và bộc lộ thông qua mối liến hệ giữa chúng với các sự vật, hiện tượng khác

V.I.Lênin cho rằng: “Muốn thực sự hiểu được sự vật, cần phải nhìn bao quát

và nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả mối liên hệ và “quan hệ gián tiếp” của sự vật

đó, phải tính đến “tổng hòa những quan hệ muôn vẻ của sự vật ấy với những sự vật khác” Tuy nhiên, cũng theo V.I.Lênin, chúng ta không thể làm được điều đó hoàn toàn đầy đủ (bởi vì sự vật luôn thay đổi; hơn nữa, các mặt, các mối liên hệ cũng chỉ biểu hiện ra trong những điều kiện nhất định và năng lực nhận thức của

Trang 6

mỗi con người luôn bị chế ước bởi những điều kiện lịch sử cụ thể…) nhưng sự cần thiết phải xem xét tất cả mọi mặt sẽ đề phòng không phạm sai lầm và cứng nhắc Mặt khác, quan điểm toàn diện cũng yêu cầu phải nhận thức sự vật trong tính chỉnh thể của nó, trong tính nhiều mặt và sự tác động qua lại quy định lẫn nhau, chi phối lẫn nhau của chúng Sự vật trong thực tế tồn tại với tư cách như một chỉnh thể Nó không phải là “tổng số đơn giản” các mối liên hệ mà là tổng số các mối liên hệ hữu cơ, có sự tác động qua lại quy định, chi phối lẫn nhau Có nhận thức sự vật trong tính chỉnh thể thì mới nhận thức được sự vật, nhận thức được bản chất của sự vật

Trong hoạt động nhận thức khoa học, đặc biệt là khoa học xã hội, quan điểm toàn diện đòi hỏi phải có sự phối hợp liên ngành để nghiên cứu đối tượng Chúng

ta sẽ không hiểu được thực chất của một hiện trạng xã hội hay bản chất của con người nào đó nếu chỉ dừng lại xem xét một vài mối liên hệ, quan hệ hay một vài yếu tố, phương diện của chúng, cho dù đó là những cái cơ bản, quan trọng Trong bối cảnh đối mới toàn diện và cơ bản của xã hội Việt Nam hiện nay, nếu không phân tích toàn diện những mối liên hệ, những lĩnh vực hoạt động, những yếu tố chủ quan – khách quan, trong nước và thế giới… thì sẽ không đánh giá đúng tình hình, không xác định đúng nhiệm vụ, không lường hết mọi khó khăn, không thấy được hết những thuận lợi; không tránh được những nguy cơ, tận dụng được những thời cơ (vận hội)… để đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng đất nước theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh

Trong hoạt động thực tiễn cách mạng, quan điểm toàn diện đòi hỏi tính đồng bộ trong việc vận dụng các biện pháp, phương tiện, công cụ để làm thay đổi các mặt, các mối liên hệ của đối tượng Song, trong từng giai đoạn phải có những biện pháp trọng tâm, những phương tiện, công vụ chủ yếu tác động đến những khâu then chốt của đối tượng Trong cách mạng giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ, Đảng ta đã quán triệt và vận dụng sáng tạo quan điểm này vào quá trình xây dựng chiến lược, sách lược cách mạng, tìm kiếm phương pháp, xác định phương tiện công cụ đấu tranh cách mạng đúng đắn nên công cuộc cách mạng đã thành công Ngày nay, trong công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trên cơ sở nhấn mạnh tính tất yếu phải đổi mới cả lĩnh vực kinh tế và lĩnh vực chính trị, Đảng luôn xác định phát triển kinh tế là trọng tâm, xây dựng Đảng là then chốt

Trang 7

Từ khi đổi mới đất nước, với quan điểm đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, Việt Nam đã hội nhập quốc tế sâu rộng Sau hơn 35 năm đổi mới hội nhập quốc tế, đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với hơn 170 nước, trong đó bao gồm tất cả các nước lớn; có quan hệ thương mại với hơn 220 nước và vùng lãnh thổ, là thành viên chính thức của tất cả các tổ chức quốc tế lớn, các tổ chức và định chế thương mại, tài chính chủ chốt ở khu vực cũng như trên thế giới Điều đó chứng tỏ tính đúng đắn và sáng tạo trong các quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam

Trong thời đại hiện nay, việc nhận thức sâu sắc quan điểm, đường lối của Đảng về hội nhập quốc tế cũng là tiền đề cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ra quyết định phù hợp, mở ra khả năng hợp tác cho các tỉnh, thành phố trong hội nhập quốc tế để phát triển kinh tế - xã hội và mở rộng giao lưu hợp tác văn hóa, tiếp thu thành tựu khoa học công nghệ trong lao động sản xuất Bên cạnh đó, để hoạt động lãnh đạo, quản lý có hiệu quả, người cán bộ phải nắm chắc đặc điểm kinh tế, xã hội, văn hóa, lối sống, truyền thống, phong tục tập quán, con người ở địa phương mình thì mới ban hành được những quyết định lãnh đạo, quản lý đúng đắn, phù hợp Ngoài ra, phải biết đặt địa phương mình vào trong tổng thể liên kết một vùng, miền để tạo ra hệ thống đồng bộ, thống nhất

Thứ hai, quan điểm toàn diện chỉ ra rằng, sự vật, hiện tượng tồn tại trong mối liên hệ phổ biến, nhưng vị trí, vai trò của các mối liên hệ không “ngang bằng” nhau Do vậy, trong vô vàn các mối liên hệ của sự vật, hiện tượng phải nắm được mối liên hệ chủ yếu, bản chất, quy định sự tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng để tìm ra xu hướng, cách thức, cơ chế tác động cho sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng Ở địa phương, cơ sở, người cán bộ lãnh đạo, quản lý cũng cần biết xác định rõ thế mạnh của từng vùng, miền để ra quyết định, lãnh đạo, quản lý Hiện nay, việc thực hiện Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” (OCOP) theo Quyết định số 490/QĐ-TTg, của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày

7-5-2018 đang góp phần thúc đẩy phát triển thế mạnh nông sản ở các vùng miền trên địa bàn cả nước ta, cũng là tinh thần của quan điểm toàn diện

Thứ ba, quan điểm toàn diện chỉ ra rằng, nhận thức của con người về sự vật, hiện tượng cũng chỉ mang tính tương đối, không đầy đủ, trọn vẹn Không có một đường lối, chính sách, quyết định lãnh đạo, quản lý luôn đúng khi thực tiễn đã thay đổi Do vậy, người cán bộ lãnh đạo, quản lý phải luôn nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý thông qua việc học tập, đào tạo, tu dưỡng rèn luyện, nhất là bồi dưỡng

Trang 8

năng lực tư duy lý luận để có tư duy khái quát, hệ thống, tư duy chiến lược trong việc xây dựng, ban hành các quyết định quản lý đúng đắn, phù hợp với thực tiễn

2.2.2 Quan điểm toàn diện chống quan điểm phiến diện, chiết trung và ngụy biện

Phiến diện là chỉ thấy mặt này mà không thấy mặt kia; không đảm bảo tính

đồng bộ; không thấy được vị trí, vai trò khác nhau của các mối liên hệ

Quan điểm toàn diện cũng hoàn toàn xa lạ với chiết trung và ngụy biện Thực chất của chiết trung là kết hợp một cách vô nguyên tắc, chủ quan những cái

mà về nguyên tắc là không thể kết hợp được hoặc coi những mối liên hệ là “ngang bằng” nhau, không có sự phân biệt về vai trò của chúng Trong lãnh đạo, quản lý, những người có tư tưởng chiết trung thường thể hiện ra là những người thiếu chính kiến, thiếu bản lĩnh, lập trường, không có thái độ rõ ràng trong lời nói và việc làm Một “căn bệnh” nguy hiểm nảy sinh từ những người chiết trung là chủ nghĩa cơ hội Người cơ hội về chính trị thường tung hô, ca ngợi những thành tích của tổ chức, cơ quan, nhưng lại nhấn mạnh những sai lầm, khuyết điểm của cơ quan, tổ chức ấy Những người cơ hội thường dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyên hóa” gây tổn hại cho tổ chức, cho cách mạng

Ngụy biện là lối tư duy đánh tráo một cách có chủ đích vị trí, vai trò của các

mối liên hệ, coi cái không cơ bản là cái cơ bản, cái không bản chất là cái bản chất Khi đó, có thể “tô hồng” hoặc “bôi đen” đối tượng Người lãnh đạo, quản lý mắc bệnh này sẽ biểu hiện ra là người độc đoán, chuyên quyền hoặc những người yếu năng lực lãnh đạo phải nịnh nọt, bợ đỡ Khi thấy cái sai của người không cùng phe cánh thì lợi dụng trù dập, nói xấu, kỷ luật nặng, “nâng quan điểm”; đối với cái sai của những người cùng phe cánh thì xuề xòa bỏ qua hoặc chỉ rút kinh nghiệm Trong công tác, họ luôn tỏ ra là người cấp tiến, ưa cái mới, họ luôn tìm mọi cách

để lập luận cho những quan điểm, chính sách mới của mình để nhằm thực hiện những mục đích nhất định Trong đánh giá cán bộ, người cán bộ lãnh đạo, quản lý ngụy biện không công tâm, khách quan Họ dùng “thuật” ngụy biện, sẽ dẫn đến đánh giá sai năng lực, phẩm chất của người cán bộ Nhận thức rõ điều này cũng góp phần vào việc đấu tranh chống lại những tư tưởng sai trái, để bảo vệ cán bộ tốt, bảo vệ quan điểm, đường lối đúng

Chiết trung và ngụy biện có vẻ như toàn diện, nhưng thực chất là đối lập với quan điểm toàn diện Chiết trung và ngụy biện đều là những biểu hiện khác nhau của phương pháp luận sai lầm trong việc xem xét các sự vật hiện tượng Nói về sự

Trang 9

khác nhau này, V.I.Lênin viết: “Tính linh hoạt đó áp dụng một cách chủ quan bằng chủ nghĩa chiết trung và ngụy biện Tính linh hoạt áp dụng một cách khách quan, nghĩa là phản ánh tính toàn diện của quá trình vật chất và là sự thống nhất của quá trình đó, thì đó là phép biện chứng, là sự phản ánh chính xác sự phát triển vĩnh viễn của thế giới”

2.2.3 Ý nghĩa phương pháp luận – Quan điểm toàn diện

Trong hoạt động nhận thức, muốn hiểu đúng sự vật phải phát hiện ra những mối liên hệ, quan hệ nội tại bên trong sự vật cũng như giữa nó với các sự vật khác;

cụ thể:

- Tìm hiểu, phát hiện càng nhiều mối liên hệ, quan hệ đang chi phối sự tồn tại của bản thân sự vật càng tốt Xem xét sự vật từ khắp các góc độ, từ nhiều phương diện càng hay

- Phân loại để xác định những mối liên hệ, quan hệ nào là bên trong, cơ bản, tất nhiên, ổn định…; còn những mối liên hệ, quan hệ nào là bên ngoài, không cơ bản, ngẫu nhiên, không ổn định…

- Dựa trên những mối liên hệ, quan hệ bên trong, cơ bản, tất nhiên, ổn định… để lý giải được những mối liên hệ, quan hệ còn lạ Qua đó, xây dựng một hình ảnh về sự vật như sự thống nhất các mối liên hệ, quan hệ; phát hiện ra quy luật của nó

Trong hoạt động thực tiễn, muốn hành động đạt hiệu quả cần phải dựa trên hiểu biết về những mối liên hệ, quan hệ đang chi phối sự tồn tại của sự vật để xây dựng các đối sách, rồi tìm kiếm và sử dụng nhiều công cụ, phương tiện, biện pháp thích hợp để can thiệp đúng lúc, đúng chỗ, đúng mức độ vào tiến trình vận động, phát triển của sự vật, lèo lái nó theo đúng quy luật và hợp lợi ích của chúng ta, cụ thể:

- Đánh giá đúng vai trò của từng mối liên hệ, quan hệ chi phối sự vật

- Sử dụng nhiều công cụ, phương tiện, biện pháp thích hợp để biến đổi những mối liên hệ, quan hệ của bản thân sự vật, đặc biệt là những mối quan hệ, quan hệ,… bên trong, cơ bản, tất nhiên, quan trọng của nó

- Nắm vững sự chuyển hóa các mối liên hệ, quan hệ của bản thân sự vật; kịp thời sử dụng các công cụ, phương tiện, biện pháp bổ sung để phát huy hay hạn chế

sự tác động của chúng, nhằm lèo lái sự vật vận động, phát triển theo đúng quy luật

và hợp lợi ích chúng ta

Trang 10

Quán triệt và vận dụng sáng tạo quan điểm toàn diện sẽ khắc phục được chủ nghĩa phiến diện, chủ nghĩa chiết trung, chủ nghĩa ngụy biện,… trong hoạt động thực tiễn và nhận thức của chính mình

- Chủ nghĩa phiến diện là cách xem xét chỉ thấy một mặt, một mối quan hệ, tính chất nào đó mà không thấy được nhiều mặt, nhiều mối quan hệ, nhiều tính chất của sự vật; chỉ xem xét sự vật ở một góc độ hay từ một phương diện nào đó

mà thôi Trong những năm qua Tây Ninh cũng là một trong những tỉnh thu hút được nhiều dự án đầu tư nhưng các vấn đề về môi trường, an sinh xã hội và các vấn đề xã hội khác cũng chưa có giải pháp xử lý, giải quyết triệt để; một số dự án

đã gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, nông dân bị thu hồi đất sản xuất để phục

vụ cho việc quy hoạch các khu công nghiệp dẫn đến tình trạng thừa lao động, thiếu việc làm… là những vấn đề khó giải quyết hiện nay

- Chủ nghĩa chiết trung là cách xem xét chỉ chú ý đến nhiều mặt, nhiều mối liên hệ của sự vật nhưng không rút ra được mặt bản chất, không thấy được mối liên hệ cơ bản của sự vật; mà coi chúng như nhau, kết hợp chúng một cách vô nguyên tắc, tùy tiện Trong đánh giá, bình xét, sử dụng cán bộ, người cán bộ lãnh đạo, quản lý nếu lấy yêu cầu về phẩm chất, trình độ, năng lực của người này để xem xét, đánh giá người khác là quan điểm chiết trung Điều này không chỉ đánh giá sai con người, năng lực của mỗi cán bộ và còn hạn chế sự phát triển một cá nhân, kìm hãm sự phát triển, làm mất động lực của một cơ quan, tổ chức

- Chủ nghĩa ngụy biện là cách xem xét qua đó đánh tráo cái cơ bản với cái không cơ bản, cái chủ yếu với cái thứ yếu… hay ngược lại nhằm đạt được mục đích hay lợi ích của mình một cách tinh vi Trong đánh giá cán bộ, người cán bộ lãnh đạo, quản lý ngụy biện không công tâm, khách quan Họ dùng “thuật” ngụy biện, sẽ dẫn đến đánh giá sai năng lực, phẩm chất của người cán bộ Nhận thức rõ điều này cũng góp phần vào việc đấu tranh chống lại những tư tưởng sai trái, để bảo vệ cán bộ tốt, bảo vệ quan điểm, đường lối đúng

2.3 THỰC TRẠNG TRONG CÔNG TÁC ĐÁNH GIÁ CÁN BỘ TẠI CƠ QUAN

Thực tế cho thấy, chỉ có đánh giá đúng năng lực, phẩm chất của cán bộ mới làm cơ sở cho việc tuyển chọn, quy hoạch, bồi dưỡng, luân chuyển, đề bạt cán

bộ một cách chính xác, khách quan Ngược lại, nếu nhận xét, đánh giá chủ quan, thiên lệch, phiến diện, không đúng phẩm chất, năng lực của cán bộ sẽ dẫn đến bố

Ngày đăng: 28/11/2021, 19:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Giáo trình Triết học Mác- Lênin (Dùng cho hệ đào tạo Cao cấp lý luận chính trị), Nxb.Lý luận chính trị, H.2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Triết học Mác-Lênin
Nhà XB: Nxb.Lý luận chính trị
2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2016, tr.76, 186 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứXII
Nhà XB: Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật
3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2012, tr.23-26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hànhTrung ương khóa XI
Nhà XB: Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật
4. Hội đồng chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh: Giáo trình Triết học Mác-Lênin, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.1999, tr.212-230 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Triết học Mác-Lênin
Nhà XB: Nxb.Chính trịquốc gia Sự thật
5. Viện Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Hỏi – Đáp Triết học, Nxb.Lý luận chính trị, H.2007, tr.70-93.--------------------------- Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi – ĐápTriết học
Nhà XB: Nxb.Lý luận chính trị

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w