Tanaka 1954 khi nghiên cứu về các loài cam quýt ở phương Đông đã đề nghị 1 số giả thuyết về sự phân chia ranh giới phát sinh của nó ở Đông Nam Á Châu, trong đó sự phát sinh của một vài l
Trang 1Giáo trình cây ăn trái
Trang 2
CHƯƠNG 2 CÂY CAM QUÝT (Citrus spp.)
A GIÁ TRỊ, NGUỒN GỐC, PHÂN LOẠI VÀ GIỐNG TRỒNG
1 GIÁ TRỊ DINH DƯỠNG VÀ SỬ DỤNG
Trái cam quýt được sử dụng rộng rãi vì có chứa nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể, nhất là vitamin C Vị chua nhẹ và hơi đắng (bưởi) giúp dễ tiêu hóa và tuần hoàn của máu Vỏ trái giàu pectin được sử dụng làm xu xoa, mứt, kẹo, làm thuốc nam hay trích lấy tinh dầu Trái được chế biến thành nhiều loại sản phẩm như nước giải khát, xy rô, mứt, rượu bổ
Bảng 5 Thành phần dinh dưỡng của cam, quýt, chanh, bưởi
40
22 0,6
35
17 0,4
30
19 0,7
48
0,3 0,04 0,01 0,01
40
0,6 0,08 0,03 0,02
55
0,02 0,05 0,01 0,1
42
2 NGUỒN GỐC, PHÂN BỐ, PHÂN LOẠI VÀ GIỐNG TRỒNG
2 1 Nguồn gốc và phân bố
Tanaka (1954) khi nghiên cứu về các loài cam quýt ở phương Đông đã đề nghị
1 số giả thuyết về sự phân chia ranh giới phát sinh của nó ở Đông Nam Á Châu, trong đó sự phát sinh của một vài loài cam quýt cũng như những loài thân cận được phân bố từ biên giới đông bắc của Ấn Độ qua Miến Điện và 1 vùng phía nam của đảo Hải
Trang 3Nam Những loài nầy bao gồm chanh tây, chanh ta, thanh yên, bưởi, cam ngọt, cam chua
Ở châu Âu, thanh yên (citron) là loại trái đầu tiên trong giống Citrus được biết đến, trồng ở vùng vịnh Ba Tư, được mô tả trong khoảng 300 năm trước công nguyên và có lẽ được trồng không muộn hơn 500 năm trước công nguyên Sau đó, thanh yên đã được trồng ở Ý và những vùng ấm áp hơn ở châu Âu (Webber, 1967)
Cam chua (sour orange) hay cam đắng được phát triển trong thế kỷ thứ 10 ở phía đông Địa Trung Hải và muộn hơn ở châu Phi và phía nam châu Âu
Chanh tây (lemon), chanh ta (lime) và bưởi (pummelo) cũng được phân bố trong kiểu tương tự như trên ở nửa đầu thế kỷ thứ 12
Cam ngọt (sweet orange) đã được giới thiệu từ Trung Quốc và phổ biến ở châu
Âu bởi người Bồ Đào Nha, có lẽ trong thế kỷ thứ 16 Mặc dù cam ngọt đã được trồng
ở châu Âu trước khi được người Bồ Đào Nha du nhập thêm vào nhưng chúng đã không được sử dụng rộng rãi Các giống cam ngọt nầy đã nhanh chóng trở thành hàng hóa quan trọng của người Bồ Đào Nha, phân bố rộng rãi đến những quốc gia Địa Trung Hải và trở thành nổi tiếng với tên gọi là "cam Bồ Đào Nha"
Quýt (mandarin, tangerine) cũng đã được trồng ở Trung Quốc và Nhật trong thời gian rất sớm Cây quýt đầu tiên được mang tới nước Anh năm 1805 và được phổ biến từ đây đến Địa Trung Hải Nhiều tác giả cho rằng, hầu hết các giống quýt hàng hoá có nguồn gốc ở Trung Quốc, Nhật Bản hoặc Đông Nam Á châu, riêng quýt Satsuma có nguồn gốc hoàn toàn ở Nhật Bản
Bưởi chùm (grapefruit) hay còn gọi là bưởi vỏ dính, có nguồn gốc phát sinh ở West Indies, có lẽ đây là 1 loài lai của bưởi (pummelo)
Sự quan trọng của cam quýt trồng trọt trên thế giới được chứng minh bởi sự phân bố rộng rãi và sản xuất đại trà Hiện nay, cam quýt được trồng nhiều nơi trong vùng khí hậu nhiệt đới và á nhiệt đới, nơi có đất đai thích hợp và đủ ẩm, không quá lạnh để làm chết cây
Theo thống kê của FAO, trên thế giới có khoảng 49 nước sản xuất cam quýt, có diện tích trồng khoảng 2,8 triệu ha
Các nước sản xuất nhiều cam là Mỹ, Braxin, Tây Ban Nha, Ý, Mêhicô, Ấn Độ,
Ai Cập, Israel, Trung Quốc, Achentina, Nam Phi, Marốc, Hy lạp và Thổ Nhĩ Kỳ Các nước sản xuất nhiều quýt là Nhật, Tây Ban Nha, Mỹ, Ý, Braxin, Trung Quốc và Achentina
Các nước trồng nhiều chanh gồm có Mỹ, Ý, Mêhicô, Ấn Độ, Tây Ban Nha và Thổ Nhĩ Kỳ
Các nước trồng nhiều bưởi là Mỹ, Israel, Achentina và Trung Quốc
Trang 42.2 Phân loại
Cam quýt thuộc họ Rutaceae (có khoảng 130 giống), họ phụ Aurantioideae (có khoảng 33 giống), tộc (tribe) Citreae (khoảng 28 giống), tộc phụ Citrinae Hầu hết việc phân loại các giống trong họ phụ Aurantioideae hiện nay là do W.T Swingle (Swingle và Reece, 1967) Tộc phụ Citrinae có khoảng 13 giống, trong đó có 6 giống quan trọng đó là Citrus, Poncirus, Fortunella, Eremocitrus, Microcitrus và Clymenia Đặc điểm chung của 6 giống nầy là cho trái có con tép (phần ăn được trong múi) với cuống thon nhỏ, mọng nước Số nhị đực nhiều bằng hay hơn 4 lần số cánh hoa, đây cũng là một trong những đặc điểm xác định các giống trồng, các giống hoang thường có số nhị đực ít hơn hay chỉ gấp đôi số cánh hoa và con tép không phát triển
Ngoại trừ giống Poncirus có lá rụng theo mùa, các giống còn lại đều có lá xanh quanh năm Hai trong 6 giống nầy có khả năng chịu lạnh tốt, đó là Ponicirus (rụng lá hằng năm, lá có 3 lá chét) và Fortunella (kim quất), hai giống nầy có thể lai với giống Citrus và các giống khác Giống Eremocitrus và Microcitrus được tìm thấy ở dạng hoang dại, hấu hết là ở Úc và Euremocitrus là giống chịu hạn tốt, cả hai đều được lai thành công với Citrus và Poncirus Giống thứ 6 là Clymenia được biết duy nhất từ đảo Thái Bình Dương của New Ireland, không được lai tạo với các giống khác
Giống Citrus chia làm 2 nhóm nhỏ là Eucitrus và Papeda Nhóm Papeda có 6 loài, thường được dùng làm gốc ghép hay lai với các loài khác và đã lai tạo được những giống lai nổi tiếng
Trong nhóm Eucitrus có nhiều loài được trồng phổ biến hiện nay ở các nước như
- Citrus medica L : Thanh yên
- Citrus limon (L.) Burm.f : Chanh tây
- Citrus aurantifolia (Christm.) Swing : Chanh ta
- Citrus sinensis (L.) Osbeck : Cam ngọt
- Citrus nobilis var typica Hassk.: Cam sành
- Citrus grandis (L.) Osbeck : Bưởi
- Citrus paradisi Macf : Bưởi chùm, bưởi vỏ dính
- Citrus reticulata Blanco : Quýt
- Citrus nobilis var.microcarpa Hassk.: Quýt xiêm
- Citrus aurantium L : Cam chua, cam đắng
- Citrus microcarpa (Hassk.) Bunge : Hạnh, tắc
Hiện nay, trên thế giới có một số loài lai quan trọng được dùng làm gốc ghép như:
Trang 5- Tangor: (quýt x cam ngọt)
- Tangelo: (quýt x bưởi chùm)
- Lemonime: (chanh tây x chanh ta)
- Citrange: (cam ngọt x Poncirus)
- Citrumelo: (bưởi chùm x Poncirus)
- Limequat: (chanh ta x Kumquat)
- Chanh sần: (Citrus jambhiri)
- Chanh ngọt: (C limetioides)
- Chanh Rangpur (C limonia)
- Quít Cleopatra (C reshni)
2.3 Mô tả một số giống trồng
· Chanh: Citrus aurantifolia (Christm.) Swingle (2n=18)
Chanh là giống trồng phổ biến ở nhiệt đới, dễ trồng trên đất nghèo dinh dưỡng Cây nhỏ, dạng bụi, nhiều nhánh, cao khoảng 5m, thường mang những gai ngắn bén
Lá nhỏ, dài khoảng 4-8cm, rộng 2-5cm hình trứng bầu dục, cuống lá có cánh nhỏ
Phát hoa mọc ở nách lá có từ 1-7 hoa, được tạo ra trong 1 khoảng thời gian dài Hoa nhỏ có 4-5 cánh màu trắng, dài 8-12mm, rộng 2,5-4mm, có từ 20-25 nhị đực, bầu noãn có 9-12 ngăn (múi)
Trái nhỏ, hình cầu hay xoan, đường kính 3,5-6cm Vỏ mỏng dính vào trái, màu vàng hay xanh vàng nhạt khi chín Thịt trái màu xanh nhạt hay vàng, rất chua Hột nhỏ hình xoan, đa phôi, tử diệp trắng
Trong loài Citrus aurantifolia có hai nhóm: nhóm chanh lưỡng bội (2n=18) gồm các giống Key, Mexican hoặc West Indian; nhóm chanh tam bội (3n=27) như giống Tahiti, Persian và Bears Nhóm chanh lưỡng bội thì có dạng cây nhỏ, trái có hột, vỏ trái mỏng và nhiều nước, trong khi ở chanh tam bội thì trái to không có hột và vỏ trái hơi dầy hơn Chanh tam bội phát triển tốt hơn chanh lưỡng bội ở những vùng cao
· Chanh tây: Citrus limon (L.) Burm.f (2n=18)
Ít quan trọng hơn chanh ta ở vùng nhiệt đới, được trồng nhiều ở vùng á nhiệt đới Ý, Tây Ban Nha, Hy Lạp, Hoa Kỳ là những nước sản xuất chính Ở nhiệt đới chúng phát triển tốt nhất ở vùng cao trung bình
Cây nhỏ, cao khoảng 3-6m có gai cứng lớn Lá hình xoan có răng cưa, dài 10cm, rộng 3-6cm, cuống lá ngắn không có cánh lá
Trang 6Hoa mọc mọi mùa trong năm, mọc đơn hay chùm, đường kính khoảng 5mm Cánh hoa màu hồng khi chưa nở, khi nở có màu trắng ở trên, hồng nhạt ở phía dưới, 20-40 nhị đực, bầu noãn có 8-10 ngăn
Trái hình xoan nhọn chóp, dài 5-10cm vàng nhạt khi chín Vỏ khá dầy, hơi nhám sần, dính vào thịt Thịt vàng nhạt, chua Trái nặng trung bình 7-9 trái/kg Hột
đa phôi với 10-15% cây mầm vô tính, tử diệp trắng
Các giống chanh tây gồm có chanh sần (Rough lemon), Eureka , Lisbon , Villa France và Meyer
· Bưởi: Citrus grandis (L.) Osbeck (2n=18)
Là giống trồng quan trọng ở Đông Nam Á châu Cây cao khoảng 5-15m, thường có gai lớn (nhất là trồng hột), nhánh non có lông tơ
Lá lớn, có cánh lá to, phiến lá hình xoan tới bầu dục dạng quả tim, dài 5-20cm, rộng 2-12cm, mặt dưới gân chính thường có lông
Hoa lớn, mọc đơn hay chùm, cánh hoa màu trắng kem, 20-25 nhị đực, bầu noãn có 11-16 ngăn
Trái lớn, hình cầu dạng quả lê, đường kính 10-40cm có màu xanh vàng nhạt khi chín, vỏ dầy, con tép lớn màu vàng nhạt hay hồng, ngọt lạt Trái nặng trung bình 1-2kg Hột lớn, đơn phôi
Bưởi chịu được nhiệt độ nóng tốt và cả nhiệt độ thấp, có khả năng phát triển tốt ở vùng đất thấp khô khan Ở Thái Lan, giống bưởi Siamese có trái nhỏ dạng quả
lê, được trồng trên những bờ mương được bao quanh liên tục bởi nước mặn
· Cam chua, cam đắng: Citrus aurantium L (2n=18)
Có thể dùng ăn tươi, nhưng thường dùng làm mứt và dùng như một chất cho mùi vị Tinh dầu ở lá, hoa, trái được dùng trong kỹ nghệ dầu thơm
Được dùng làm gốc ghép cho chanh tây, cam và bưởi Kháng được bệnh chảy mủ gốc, nhưng dễ bị bệnh Tristeza (thối rễ do virus)
Cây cao khoảng 10m, có gai mỏng mảnh
Phiến lá hình xoan hay bầu dục, dài 7-10cm, rộng 3-4cm, cuống dài 2-3cm, cánh lá nhỏ
Hoa lớn mọc ở nách lá, trắng, rất thơm, có 20-25 nhị đực, 4-5 cánh hoa, bầu noãn có 10-12 ngăn
Trái gần hình cầu, vỏ dầy, nhám sần, đường kính 4-6cm, thường có màu đỏ cam khi chín, thơm Thịt trái rất chua và đắng, phần lỏi giữa thì xốp Trái nặng trung bình 4-5 trái/kg, nhiều hột, đa phôi
Trang 7· Bưởi chùm, bưởi vỏ dính: Citrus paradisi Macf (2n=18)
Dùng để ăn tươi, nước có vị đắng dịu Múi có thể được đóng hộp hay ép lấy nước Đây là giống có lẽ do sự ngẫu biến ở chồi của bưởi (Citrus grandis) hình thành Cây có tán rộng, cao 10-15m, cành có lông
Lá nhỏ hơn lá bưởi, cuống lá có cánh lá nhỏ, phiến lá hình xoan
Hoa mọc đơn hay chùm, đường kính khoảng 4-5mm, màu trắng thường có 5 cánh, 20-25 nhị đực, bầu noãn có 12-14 ngăn
Trái nhỏ hơn trái bưởi ta, hình cầu, đường kính khoảng 8-10cm, màu xanh nhạt hay vàng lợt khi chín, vỏ mỏng hơn và con tép nhỏ hơn bưởi ta
Hột trắng đa phôi, tử diệp trắng
Bưởi chùm trồng thích hợp ở những vùng thấp, nóng Các giống quan trọng gồm Duncan (có hột), Marsh Seedless (không hột), Thompson (không hột, thịt hồng), Foster (có hột, thịt hồng) và Hohn Garner (giống như gống Duncan nhưng ít hột hơn)
· Quýt: Citrus reticulata Blanco (2n=18)
Cây nhỏ, cao khoảng 2-8m đôi khi có gai
Lá nhỏ, hẹp, hình xoan, dài 4-8cm, rộng 1,5-4cm màu xanh đậm bóng ở phía trên mặt và xanh vàng nhạt ở mặt dưới, cuống có cánh nhỏ
Hoa nhỏ, đường kính 1,5-2,5mm, 5 cánh trắng, 20 nhị đực, bầu noãn có 10-15 ngăn
Trái dạng hình cầu hơi dẹp, đường kính 5-8cm, vỏ mỏng dễ lột, màu xanh vàng hay đỏ cam khi chín, nhiều nước màu cam, ngọt Trái nặng trung bình 6-7 trái/kg
Đây là giống khó trồng trong các giống cam quýt Cây chịu nóng kém, trồng tốt nhất ở vùng có độ cao trung bình
Hột đa phôi, tử diệp xanh
· Thanh yên: Citrus medica L (2n=18) và Phật thủ: Citrus medica var.dactylis (Noot.) Swing (2n=18)
Được dùng trong y học và như 1 chất cho mùi vị của người La Mã hoặc dùng làm kẹo, mứt
Cây nhỏ, cao khoảng 3m có gai lớn
Lá hình bầu dục có răng cưa, dài 8-20cm, rộng 3-9cm, cuống lá ngắn, không có cánh lá
Hoa lưỡng tính và hoa đực với tỉ lệ hoa đực lớn, có 5 cánh màu hồng, 30-40 nhị đực, đường kính hoa khoảng 3-4mm, bầu noãn lớn khoảng 10-13 ngăn
Trang 8Trái lớn, hơi dài 10-20cm, vỏ thường có u sần, vàng, rất dầy, múi trái nhỏ, thịt trái xanh nhạt, chua
Hột nhỏ trắng, đơn phôi
· Cam sành: Citrus nobilis var typica Hassk (2n=18)
Tán nhỏ, cao khoảng 3-5m, nhiều cành, mọc yếu, không gai
Lá có cánh nhỏ, có khi không rõ, màu xanh thẩm, dài 7-8cm, rộng 4-4,5cm Hoa mọc đơn hay chùm, đường kính 2,5-4mm, có 4-5 cánh trắng, khoảng 20-
40 nhị đực
Trái tròn hơi dẹp, đường kính 7-8,2cm, cao khoảng 6-8cm Đáy trái và cuống lõm xuống, vỏ dầy 4-6mm xù sì, màu xanh vàng hay vàng đỏ khi chín Bầu noãn có 10-14 ngăn, dễ lột, con tép to nhiều nước, vị ngọt hơi chua Trái nặng trung bình 3-4 trái/kg
Hột hình tròn trứng, đa phôi, tử diệp trắng
Hiện nay ở ĐBSCL có trồng các giống cam quýt như:
Ø Các giống cam:
Giống cam mật được trồng phổ biến nhất Trái dùng xuất khẩu tươi và tiêu thụ nội địa Yếu tố ảnh hưởng đến phẩm chất trái xuất tươi là nhiều hột và khi chín trái vẫn còn màu vàng xanh
Cam sành (thật ra là một loại quýt) có giá trị kinh tế cao, trồng chủ yếu để tiêu thụ nội địa Cây tương đối khó trồng, tuổi thọ không cao
Cam dây có dạng trái giống như cam mật nhưng vỏ trái xanh nhiều, ít láng như cam mật, phẩm chất tương đương cam mật
Cam soàn, có lẽ là một giống tên gọi Lauxang (hay lậu xảng), ở đáy trái có vết hơi lõm vào nhỏ như đồng tiền, phẩm chất khá, nhiều hột
Cam chua ít phổ biến, không có giá trị kinh tế cao, có thể để dùng làm gốc ghép
Cam sen mang đặc tính giống như cam và bưởi Trái rất to, vỏ dầy hơn cam mật, múi trái và con tép giống như bưởi, vị chua Không có giá trị kinh tế, thường dùng để chưng
Ø Các giống quýt:
Quýt xiêm được trồng phổ biến nhất Trái tròn, to Khi chín có màu xanh vàng, ngọt nhiều nước, có giá trị kinh tế cao
Quýt tiều có dạng trái tròn hơi dẹp, to, màu sắc đẹp khi chín (vàng cam), vị ngọt hơi chua Có giá trị kinh tế cao trong dịp tết, còn lại các tháng trong năm thì
Trang 9không được ưa chuộng như quýt xiêm Đây là một giống cần được chú ý để xuất khẩu tươi vì có màu sắc đẹp và hợp với khẩu vị người châu Âu
Quýt ta không được trồng phổ biến vì giá trị kinh tế thấp Cây sai trái nhưng trái thì chua nhiều Dạng trái hơi giống quýt tiều, khi chín có màu vàng cam, nhưng thường bị xốp trong ruột, ít nước
Ø Các giống bưởi:
Tập đoàn giống bưởi ở ĐBSCL rất phong phú, có rất nhiều giống với các tên gọi khác nhau, tuy nhiên hiện nay việc phân biệt rõ các đặc điểm của từng giống trồng còn nhiều hạn chế Các giống như bưởi Biên Hòa (Đường lá cam, Đường núm), bưởi Năm roi có hương vị rất ngon, ngọt nhiều nước, đặc biệt khi chín trái có thể không còn hột Ngoài ra, các giống khác như bưởi long, bưởi đường, bưởi bánh xe, bưởi thanh trà, bưởi ổi cũng được trồng rải rác
Ø Các giống chanh:
Các giống chanh ta và chanh núm được trồng phổ biến
Trái chanh ta có dạng hình cầu, vỏ mỏng nên còn gọi là chanh giấy Ruột trái màu xanh, rất chua, sai trái, nhưng giá trị kinh tế thường không ổn định
Trái chanh núm to, vỏ dầy, sần, ruột hơi vàng, chua dịu, thơm Tuy không được ưa chuộng bằng chanh ta nhưng có triển vọng xuất khẩu
Ø Các giống khác:
Ngoài các giống trên còn có một số giống trồng khác không có giá trị kinh tế cao như:
Sảnh: Có tán cao to hơn cam mật, phân cành nhiều, lá thường xanh đậm Trái tròn hơi dẹp, khi chín vẫn còn xanh Vỏ mỏng dễ lột nhưng vách múi dầy, dai, nhiều nước, vị lạt
Hạnh: Thường được dùng làm kiểng trong dịp tết Cây rất sai trái, trái nhỏ nhiều nước, chua thơm, được sử dụng làm nước giải khát, mứt
B ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC VÀ THỰC VẬT
1 RỄ
Các giống cam quýt khi trồng bằng hột thường có một rễ cái và nhiều rễ nhánh Từ rễ nhánh mọc ra các rễ lông yếu ớt Sự phát triển của rễ thường xen kẽ với sự phát triển của thân cành trên mặt đất
Trang 10Các nghiên cứu cho thấy, trong năm hoạt động của rễ có các thời kỳ nhất định như:
- Trước lúc mọc cành mùa xuân
- Sau khi rụng trái đợt đầu đến trước lúc mọc cành mùa hè
- Sau khi cành mùa thu đã phát triển đầy đủ
Thường thì khi rễ hoạt động mạnh, rễ lông phát triển, thân cành sẽ hoạt động chậm và ngược lại Sự hoạt động của bộ rễ thường kéo dài cả sau các đợt cành mọc rộ,
do đó việc bón phân vào giai đoạn cành phát triển đầy đủ có tác dụng cung cấp dinh dưỡng kịp thời cho cây trong giai đoạn rễ hoạt động
Sự phân bố của bộ rễ tùy thuộc các yếu tố như tầng đất canh tác, hình thức nhân giống, loại giống, loại gốc ghép, mực thuỷ cấp và kỹ thuật trồng Các yếu tố nầy có ảnh hưởng làm rễ mọc sâu hay cạn, xa hay gần Nói chung, rễ cam quýt thường mọc cạn, đa số rễ hút dinh dưỡng phân bố gần lớp đất mặt Do đó việc giữ cho lớp đất mặt tơi xốp êm mát có tác dụng giúp cây hấp thu được dinh dưỡng tốt hơn
Rễ mọc ra từ hột thường khỏe, mọc sâu, nếu đất thoát nước tốt và tơi xốp, rễ có thể mọc sâu trên 4m Do đó, ở ĐBSCL, trên những vùng đất thấp việc trồng cam quýt bằng hột hay gốc tháp thường bị ảnh hưởng bởi mực thủy cấp Nếu không lên líp trồng cao và thiết kế bờ bao vườn để điều tiết nước thì cây có thể bị suy yếu dần và chết do thối rễ Trái lại rễ mọc ra từ cây chiết hay cành giâm thường ăn cạn hơn, ít bị ảnh hưởng bởi mực thuỷ cấp
2 THÂN, CÀNH
Cam quýt thuộc loại thân gỗ, dạng bụi hay bán bụi (không có trục thân chính rõ rệt) Các cành chính thường mọc ra ở các vị trí trong khoảng 1m cách mặt đất Cành có thể có gai, nhất là khi trồng bằng hột Tuy nhiên sau khi ra hoa trái, các gai thường ít phát triển Ở một vài loài, gai chỉ mọc ra từ những cành sinh trưởng mạnh Cành cam quýt phát triển theo lối hợp trục, khi cành mọc dài đến một khoảng nhất định thì ngừng lại, các mầm bên dưới đỉnh sinh trưởng của ngọn cành sẽ mọc ra, các cành thứ cấp nầy cũng mọc dài đến một khoảng nhất định thì ngừng và các mầm bên dưới đỉnh sinh trưởng lại tiếp tục phát triển giống như cũ
Trong một năm cây có thể cho 3-4 đợt cành Tùy theo chức năng của cành trên cây, có thể gọi như sau:
- Cành mang trái:
Là những cành có mang trái, thường mọc ra trong mùa xuân, cành ngắn nhỏ, mau tròn mình, dài trung bình < 10cm trên cành có lá hoặc vết lá, các cành có mang lá cho trái tốt hơn Cành mang trái mọc ra từ những cành lớn hơn gọi là cành mẹ, những
Trang 11cành mang trái mọc ở ngọn hay gần ngọn cành mẹ là những cành đậu trái tốt so với các cành mọc bên trong Vì phải tập trung dinh dưỡng để nuôi trái nên thường cành mang trái không tiếp tục cho ra những cành mới trong năm kế tiếp Sau khi thu hoạch các cành mang trái thường héo khô đi
- Cành mẹ:
Là cành tạo ra cành mang trái, thường phát triển mạnh trong mùa hè và mùa thu Cành to khỏe, lâu tròn mình Cần nắm được thời vụ ra cành mẹ của cây để có biện pháp bồi dưỡng tích cực, giúp mọc được nhiều cành mang trái hơn trong mùa xuân
Nói chung, sự phát triển của cành tùy thuộc nhiều vào số trái trong năm Trong điều kiện tự nhiên, nếu năm nay cây sai trái thì năm sau số trái ra ít đi vì số lượng cành mọc ra không nhiều Do đó cần phải chú ý bồi dưỡng cho cây ở giai đoạn sau thu hoạch để giúp cây có đủ dinh dưỡng tạo nhiều cành mới
3 LÁ
Lá cam quýt thuộc loại lá đơn gồm có cuống lá, cánh lá và phiến lá Phần cánh lá có kích thước thay đổi tùy giống, có loài không có cánh lá như thanh yên (Citrus medica), các loài hoang trong nhóm Papeda thì có cánh lá rất to gần bằng phiến lá Đối với các loài trồng thì bưởi có cánh lá to nhất, kế đến là cam, chanh, cam sành và quýt Trên cùng một loài thì kích thước cánh lá cũng thay đổi theo mùa Một cây cam quýt khoẻ mạnh có thể có 150.000-200.000 lá với tổng diện tích lá khoảng 200m2
Trên lá, khí khổng tập trung nhiều nhất ở mặt lưng, số lượng thay đổi tùy giống, trung bình 400-500 khí khổng/mm2, kích thước khí khổng rất nhỏ, thường mở
ra lúc 10 giờ sáng đến 4 giờ chiều Lá có chứa các túi tinh dầu, hiện diện ở lớp mô giậu Ngoại trừ loài cam 3 lá (Poncirus trifoliata) rụng lá theo mùa, các loài còn lại có lá sống từ 1 năm hay lâu hơn tùy điều kiện khí hậu và chăm sóc
Trang 124 HOA
Hoa cam quýt thường thuộc loại hoa đầy đủ, mọc đơn hay chùm từ nách lá Trong điều kiện tự nhiên hoa thường mọc ra trong mùa xuân, tuy nhiên sau một đợt hạn kéo dài rồi gặp mưa hay nước tưới thì cây cũng ra hoa rộ như thường thấy ở đầu mùa mưa hay trong kỹ thuật siết nước kích thích ra hoa Cũng có loài sau mỗi đợt ra cành lá thì ra hoa, như ở chanh ta (Citrus aurantifolia)
Hoa cam quýt có dạng hình thuẩn tròn, đỉnh hơi to hơn phía dưới, đường kính rộng từ 2,5-4cm, rất thơm, thường là hoa lưỡng tính Tuy nhiên cũng có hoa đực với bầu noãn không phát triển ở loài thanh yên và chanh tây Đài hoa dai không rụng, hình chén, có 3-5 lá đài Hoa có 4-8 cánh (thường là 5), màu trắng, riêng chanh tây và phật thủ có màu tía hồng, 20-40 nhị đực hợp lại thành từng nhóm, dính liền vào nhau
ở đáy Bao phấn có 4 ngăn màu vàng, mọc bằng hay hơi nhô cao hơn đầu nướm nhụy Đầu nướm nhụy cái to Bầu noãn có 8-15 ngăn dính liền nhau tại một trục ở giữa trái, mỗi tâm bì có 0-6 tiểu noãn
Sự phân hóa mầm hoa thường xãy ra từ sau khi thu hoạch trái đến trước lúc mọc cành mùa xuân, nói chung là thay đổi tùy theo điều kiện khí hậu, nước Cây thường phân hóa trong tháng 11 dl đến đầu tháng 2 dl trong năm Loài cam mật Ôn Châu trồng ở Nhật có thời gian phân hóa mầm hoa kéo dài từ tháng 9 dl đến tháng 3
Côn trùng như (ong, bướm) cũng góp phần quan trọng vào việc thụ phấn do bị quyến rũ bởi hoa thơm, nhiều mật Ở một vài giống, hạt phấn không có sức sống cũng được tạo ra trong hoa, như cam Washington Navel
Thời gian từ khi ra hoa đến khi hoa tàn thay đổi tùy giống và điều kiện khí hậu, trung bình là 1 tháng
Trang 13Các túi tinh dầu nằm trong các mô, được giữ lại dưới sức trương của các tế bào chung quanh
- Vỏ giữa:
Là phần phía trong kế vỏ ngoài, đây là một lớp gồm nhiều tầng tế bào hợp thành, có màu trắng, đôi khi có màu vàng nhạt hay hồng nhạt như ở bưởi Các tế bào cấu tạo dài với những khoảng gian bào rộng, chứa nhiều đường bột, vitamin C và pectin Khi trái còn non hàm lượng pectin cao (20%) giữ vai trò quan trọng trong việc hút nước cung cấp cho trái
Chiều dầy của phần vỏ giữa thay đổi theo loài trồng, dầy nhất ở thanh yên, bưởi, kế đến là cam, chanh, quýt, hạnh Phần mô nầy cũng còn tồn tại ở giữa các màng múi nối liền vào vỏ quả, khi trái càng lớn thì trở nên xốp
- Vỏ trong:
Gồm có các múi trái được bao quanh bởi vách mỏng trong suốt Bên trong vách múi có những sợi đa bào (hay còn gọi là con tép hay lông mập), phát triển và đầy dần dịch nước, chiếm đầy các múi chỉ chừa lại một số khoảng trống để hột phát triển Như vậy vỏ trong cung cấp phần ăn được của trái với dịch nước có chứa đường và acid (chủ yếu là acid citric) Tùy giai đoạn chín, lượng acid giảm dần và lượng đường tăng lên cùng với chất thơm Tỷ lệ đường và acid thay đổi tùy loài trồng và điều kiện canh tác
Ở một vài giống như cam Washington Navel có quả đơn tính, không hột thì sự thụ phấn không cần thiết và hạt phấn không có sức sống Ở hầu hết các loài cam quýt khác, đôi khi cũng gặp trường hợp có quả đơn tính, nhưng sự thụ phấn lại cần thiết cho trái phát triển
Ở các loài cam quýt, thời gian chín của trái thay đổi từ 7-14 tháng kể từ khi thụ phấn Ở cam mật, thời gian nầy khoảng 7 tháng, cam sành 9-10 tháng, quýt 9-10 tháng, bưởi, chanh 7-8 tháng Thường cây có thể cho nhiều hoa, nhưng chỉ có một tỷ
Trang 14lệ nhỏ trái phát triển được mà thôi Hoa và trái non có thể bị rụng, thời kỳ này có thể kéo dài đến 10-12 tuần sau khi hoa nở
Tỷ lệ đậu trái bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như chất dinh dưỡng, lượng nước cung cấp, khí hậu, sâu bệnh Bộ tán lá của cây cũng có ảnh hưởng đến tỷ lệ đậu trái, nếu mỗi trái được nuôi bởi một số lá thích hợp thì sẽ phát triển tốt hơn Thí dụ, bưởi cần khoảng 60 lá/trái, chanh khoảng 20 lá/trái, cam, quýt khoảng 50 lá/trái (trung bình là 20-25 lá/trái) Do đó việc duy trì bộ tán lá khỏe, nhiều sẽ giúp trái đậu tốt
6 HỘT
Hình dạng, kích thước, trọng lượng, số lượng hột trong trái và mỗi múi thay đổi nhiều tùy giống Ở quất (Fortunella), hột nhỏ nhất, kế đến chanh, quýt, cam, lớn nhất là bưởi Số lượng hột trong mỗi múi có từ 0-6 hột Có loại cho nhiều hột như bưởi, có thể có từ 80-100 hột mỗi trái, tuy nhiên ở một số giống bưởi như bưởi Năm roi, Biên Hòa hột thường mất dần theo quá trình phát triển của trái Có giống hoàn toàn không hột như cam Washington Navel, cam mật Ôn Châu, các giống chanh tam bội
Ngoại trừ bưởi có hột đơn phôi, hầu hết các loài cam quýt đều có hột đa phôi (tức có nhiều cây con mọc ra từ mỗi hột) Phôi hữu tính hình thành từ giao tử do sự thụ tinh của tế bào trứng Có khoảng 6 hay hơn phôi vô tính phát triển từ tế bào sinh dưỡng của phôi tâm và vì vậy cây sẽ mang đặc điểm di truyền của cây mẹ Cây mọc
ra từ phôi hữu tính thường thiếu sức sống, dễ chết và thường bị lấn áp bởi phôi vô tính Ở cam quýt sự thụ phấn thường cần thiết cho sự phát triển của phôi vô tính Khi nẩy mầm, từ hột mọc ra rễ cái to khỏe và rễ nhánh xuất hiện khi rễ cái dài khoảng 8-10cm, các rễ lông thì phát triển ít Trục thượng diệp và 2 lá mầm đầu tiên được thành lập trên mặt đất
C YÊU CẦU NGOẠI CẢNH
1 KHÍ HẬU
Cam quýt thường được trồng từ 45oC Nam đến 35oC Bắc, phần lớn các loài cam quýt hàng hóa được trồng trong các vùng khí hậu á nhiệt đới có độ cao dưới mực nước biển là 760m Ở xích đạo cam quýt không thể phát triển tốt ở độ cao trên 2000m
Trang 151.1 Nhiệt độ
Cam quýt có thể sống và phát triển được trong khoảng nhiệt độ từ 13-38oC, thích hợp nhất là từ 23-29oC Dưới 13oC và trên 42oC thì sự sinh trưởng ngừng lại, dưới -5oC thì chết Tuy nhiên hiện nay người ta đã chọn được những giống chịu lạnh tốt như cam mật Ôn Châu, Washington Navel dưới -11 đến -12oC cây mới chết, do đó các giống nầy có thể trồng được ở vĩ độ cao, hoặc dùng giống kháng lạnh như Poncirus trifoliata để làm gốc ghép
Tổng tích ôn trung bình hằng năm cần cho cam là 2.600-3.400oC, cho bưởi là 6.000oC (tính từ 12oC trở lên làm khởi điểm và nhiệt độ bình quân hằng năm lớn hơn
15oC) Tổng tích ôn có ảnh hưởng đến thời gian chín của trái Ở nhiệt đới lượng tổng tích ôn cần thiết cho cam quýt đạt sớm hơn nhiều nên thời gian ra hoa đến trái chín ngắn hơn vùng á nhiệt đới
Nhiệt độ còn ảnh hưởng quan trọng đến phẩm chất và sự phát triển của trái Thường ở nhiệt độ cao, trái chín sớm, ít xơ và ngọt, nhưng khả năng cất giữ kém và màu sắc trái chín không đẹp (ở nhiệt độ thấp các sắc tố hình thành nhiều hơn) Ở miền Nam thường có biên độ nhiệt giữa ngày và đêm không cao nên khi chín vỏ trái thường còn màu xanh, tuy nhiên yếu tố tạo màu sắc khi chín còn ảnh hưởng bởi giống trồng
1.2 Ánh sáng
Cam quýt là loại cây không thích ánh sáng trực xạ Kết quả nghiên cứu cho thấy cường độ ánh sáng thích hợp khoảng 10.000-15.000 lux (tương đương với ánh sáng khoảng 8 giờ sáng và 4-5 giờ chiều trong ngày mùa hè) Cường độ ánh sáng quá cao có thể làm nám trái (dễ thấy trên trái cam sành), mất nước nhiều, sinh trưởng kém dẫn đến tuổi thọ ngắn Ở các loài trồng thì bưởi tương đối chịu đựng được lượng ánh sáng cao, kế đến là cam Cam sành và quýt thì thích lượng ánh sáng vừa phải, do đó việc trồng xen tạo điều kiện có bóng râm sẽ giúp cây sinh trưởng tốt hơn Có thể tạo điều kiện ánh sáng vừa phải cho cam quýt ở ĐBSCL bằng việc trồng dầy hợp lý, như trồng dầy trên hàng nhưng thưa giữa các hàng và có thể bố trí líp trồng theo hướng Đông-Tây để tránh bớt ánh sáng trực xạ
1.3 Vũ lượng và ẩm độ không khí
Vũ lượng hằng năm cần cho cam quít ít nhất là 875mm trong trường hợp không tưới Nhiều tác giả cho rằng lượng mưa thích hợp hằng năm cho cam là từ
Trang 161.000-1.400mm và phân phối đều Quýt, chanh có yêu cầu vũ lượng lớn hơn từ 2.000mm/năm Bưởi chịu hạn tốt nhất
Nói chung, cam quýt không thích hợp với khí hậu nhiệt đới quá ẩm và ẩm độ không khí quá cao (làm tăng sự xuất hiện của sâu bệnh) Yêu cầu ẩm độ không khí khoảng 75%
1.4 Gio.ï
Phần lớn các loài cam quýt có thể chịu được bão nhỏ trong một thời gian ngắn, mức độ chống chịu theo thứ tự sau: thanh yên, chanh ta, chanh tây, bưởi, cam ngọt, cam chua, quýt, quất (Fortunella) và cam 3 lá (Poncirus trifoliata)
Gió nhẹ với vận tốc khoảng 5-10km/giờ có tác dụng hạ thấp nhiệt độ của vườn trong mùa hè, cây được thoáng mát, giảm sâu bệnh Khi lập vườn cũng cần lưu ý hướng gió có hại (như hướng gió tây nam ở ĐBSCL) để bố trí trồng cây chắn gió, giúp điều hòa được không khí trong vườn, giảm đổ ngã, cây thụ phấn tốt trong mùa hoa nở
2 NƯỚC
Nước rất cần thiết cho cây trong thời kỳ ra hoa và trái phát triển, tuy nhiên cam quýt rất mẩn cảm với điều kiện ngập nước Trong vùng đất thấp, mực thủy cấp cao nếu không thoát nước kịp trong mùa mưa sẽ gây tình trạng thối rễ, lá vàng úa và cây chết Để hạn chế tác hại trên cần phải đào mương lên líp và làm bờ bao điều tiết nước khi trồng, đồng thời có biện pháp bồi líp nâng dần độ cao cũng như bón phân cạn, bón nhiều hữu cơ giúp rễ mọc cạn và hoạt động tốt hơn
Trong kỹ thuật trồng cam quýt, việc cung cấp nước có ảnh hưởng quan trọng đến sự ra hoa của cây Trong mùa khô hạn nếu cây nhận được nhiều nước sẽ ra hoa ngay Ở các vườn cam quýt thuộc ĐBSCL, thường nông dân ít tưới cho cây trong mùa khô mà chỉ cung cấp nước khi nào muốn cho cây ra hoa tập trung, điều nầy có ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng của cây, nhất là ở những vùng đất cao Do đó, cần có biện pháp giữ ẩm ở mặt líp để hạn chế bớt tác hại của việc thiếu nước và rễ mọc sâu dần tìm nước
Phẩm chất nước tưới cũng cần lưu ý Không dùng nước phèn, mặn để tưới cho cam quýt Lượng muối NaCl trong nước tưới phải nhỏ hơn 1,5g/lít nước và lượng Mg không quá 0,3g/lít nước Chanh và bưởi có thể chịu đựng tương đối với lượng muối trong nước tưới cao hơn
Trang 173 ĐẤT
Cam quýt có bộ rễ ăn cạn gần lớp đất mặt, các rễ lông mọc ra yếu nên khả năng hấp thu chất dinh dưỡng thấp Cây không kén đất lắm, đất đồng bằng, phù sa ven sông, đất đồi núi đều có thể trồng được Tốt nhất là đất thịt pha, mầu mỡ, thoát nước tốt và thoáng khí vì rễ cần nhiều oxy trong đất Tầng canh tác phải dầy ít nhất 0,5m
Độ pH tốt cho cam quýt nằm trong khoảng 4-8, tốt nhất là từ 5,5-6,5 Đặc biệt cây mẫn cảm xấu với muối Bo, muối Carbonat và NaCl
Không nên trồng cam quýt trên đất sét nặng, phèn, đất nhiều cát, đất có tầng canh tác mỏng, mực thuỷ cấp cao
4 CHẤT DINH DƯỠNG
Cam quýt hấp thu chất dinh dưỡng quanh năm, tuy nhiên nhiều nhất trong thời kỳ nở hoa và khi cây đã phát triển đọt non
Theo Chapman (1960), phân tích lá mùa xuân được 4-10 tháng tuổi lấy ở cành mang trái cho thấy:
Mức độ đạm thích hợp là 2,2 - 2,7% chất khô
- lân - 0,12 - 0,8% -
- kali - 1,0 - 1,7% -
- Mg - 0,3 - 0,6% -
- Ca - 3,0 - 6,0% -
- Na - 0,01 - 0,15% -
- S - 0,2 - 0,3% -
- B - 50,0 - 200ppm -
- Cu - 5,1 - 15ppm -
- Fe - 60,0 - 150ppm -
- Mn - 25,0 - 100ppm -
- Mo - 0,1 - 3ppm -
- Zn - 25,0 - 100ppm -
4.1 Chất đạm (N)
Đây là nguyên tố dinh dưỡng quan trọng nhất đối với cam quýt Cây cần lượng N tương đối lớn Các thí nghiệm đã chứng tỏ có sự tương quan nhất định giữa đạm và năng suất
Trang 18Thí nghiệm của Parker và Jones (1951) trên cam Washington Navel ở vùng Riversida (California) cho thấy, ở mức độ bón khoảng 2kg urea/cây trong năm đã thu được năng suất khoảng 88kg/cây (khoảng 490 trái/cây)
Ở mức bón 400kg N/ha (khoảng 869,5kg urea/ha) thì giữa N và năng suất có mối tương quan rõ rệt
Triệu chứng thiếu N điển hình là lá có màu xanh vàng nhạt, chồi không mọc ra dài được và cành con có triệu chứng chết khô Những cây bị thiếu N có trái nhỏ, nhạt màu, vỏ trái nhẵn, mỏng, dai, trái bị chín ép Cần tránh thừa N vì có ảnh hưởng xấu đến phẩm chất, ngoại hình của cây Tuy vậy, cam quýt vẫn chịu được lượng N tương đối lớn, nếu được bón cân đối với P, K, Mg và các nguyên tố vi lượng
4.2 Chất lân (P)
Cây bị thiếu P thì tốc độ sinh trưởng giảm, lá mỏng, màu xanh tối, những lá già hơn có thể ngả màu hồng Lá thường nhỏ hơn bình thường và có thể rụng sớm Cây ít lớn thêm và năng suất giảm Trái có thể rụng nhiều trước khi chín, trái rất chua, vỏ dầy, thô và thường rổng ruột
Bón phân P cho những cây cam bị thiếu P có tác dụng giúp tán lá sinh trưởng tốt, cải thiện màu sắc lá, tăng số lượng cành mang trái, cải thiện phẩm chất trái và tăng được tỷ lệ trái tốt
Đối với những cây còn non có bộ rễ phát triển ít, cần được bón một lượng lớn phân P dễ tiêu Cần tránh hiện tượng thừa P vì sự tích lũy P dự trữ lớn có thể làm giảm mức dễ tiêu của Zn và Cu đến mức có thể gây ra sự thiếu hụt hai nguyên tố này, đặc biệt là trên đất nhẹ Tuy nhiên, bón P hình như thúc đẩy sự hấp thu Mangan, có lẽ thông qua việc hình thành những Phosphat mangan dễ tan hơn Một ảnh hưởng khác của việc thừa P là việc sử dụng N bị mất cân đối
4.3 Chất Kali (K)
Nhu cầu K cao nhất vào lúc cây ra trái và trái lớn Cần bón K với số lượng đủ, nhằm bảo đảm cho quả phát triển tối ưu Khi bón ít K, trái nhỏ một cách tương ứng, ảnh hưởng đến năng suất
Không có triệu chứng riêng nào được coi là đặc thù của hiện tượng thiếu K Tổng hợp nhiều triệu chứng khác nhau mới có thể cho biết cây có thiếu K hay không Những triệu chứng thiếu K quan trọng nhất là lá bị quăn nhỏ, trở nên dai, mất diệp lục, rụng hàng loạt sau khi ra hoa, chồi non bị thui, quả nhỏ, tỷ lệ K trong lá thấp
Trang 19đồng thời tỷ lệ Ca và Mg tương đối cao Việc cung cấp K vào giai đoạn sắp thu hoạch còn giúp trái chín nhanh và màu sắc đẹp hơn
Cần tránh hiện tượng thừa K vì nó có ảnh hưởng đến sự hấp thu Ca và Mg, khiến có thể xuất hiện triệu chứng thiếu những nguyên tố này, ảnh hưởng xấu đến phẩm chất trái
4.5 Manhê (Mg)
Triệu chứng thiếu Mg thường xuất hiện do một trong những điều kiện sau:
- Đất có tỷ lệ Mg thấp
- Bón thừa K hay đất có tỷ lệ K cao gây hiện tượng thiếu Mg do K
Triệu chứng đầu tiên biểu hiện là có những đám màu vàng rời rạc ở cả hai bên gân chính, trên những lá trưởng thành trong mùa mưa Những đám màu vàng ngày càng lớn và hợp lại với nhau, chỉ còn ở phần cuống lá và đôi khi ở gần ngọn lá còn xanh (ở gần cuống lá có một phần màu xanh hình chữ V ngược), cuối cùng toàn bộ lá có thể bị ngả vàng Triệu chứng thiếu Mg có thể chỉ xuất hiện trên một cành lớn hoặc một phần cây, trong khi phần cây còn lại có thể vẫn bình thường Triệu chứng thiếu
Mg có thể biến mất khi lá rụng và trên cây chỉ còn lại những lá non hơn không có triệu chứng đó Thiếu Mg cây rụng trái nhiều, chịu lạnh kém, bộ rễ mọc kém, năng suất thấp, cây ra quả cách năm rõ rệt
Khi lượng Mg trong đất và trong lá đều thấp mà lượng Ca và K lại tối thích nên bón Mg vào đất hoặc lên lá Trường hợp trong đất và trong lá thừa K thì tạm thời ngừng hoặc giảm bón K có thể là cách tốt nhất để tăng Mg trong lá
Trang 20Khi triệu chứng thiếu Mg kèm theo tỷ lệ Ca trong lá và trong đất cao thì khó khắc phục được việc thiếu Mg Việc tăng cường bón N thường khắc phục được triệu chứng thiếu Mg ở những vườn cam quít thiếu Mg Bưởi chùm (Citrus paradisi) hình như mẫm cảm với việc thiếu Mg hơn các loài cam quýt khác
Ở đất chua có thể dùng đá Dolomit để cung cấp Mg cho cây, còn ở đất ít chua thì có thể dùng MgSO4 hay Mg(NO3)2 nồng độ 1% và phun lên lá
4.6 Kẽm (Zn)
Trong trường hợp thiếu Zn, lá bị uá vàng kèm theo những sọc xanh không đều đặn dọc theo gân chính và các gân phụ Cành non có lóng ngắn lại, lá nhỏ nhọn, mọc dựng đứng và có chiều hướng chết khô từ ngọn xuống Trái nhỏ, mất màu, vỏ mềm không có mùi vị và hình dạng trái không bình thường, năng suất thường bị giảm Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng việc bón vôi hay P trong nhiều năm đã gây ra hiện tượng thiếu Zn, tình trạng tương tự khi bón nhiều N kéo dài, tuy nhiên nếu vẫn duy trì việc phun Zn hàng năm thì không thấy ảnh hưởng xấu của việc bón N và P đến tỷ lệ Zn trong lá
Bệnh thiếu Zn là một bệnh rất phổ biến ở vùng trồng cam quýt, có lẽ một phần
do rễ cam quýt hút Zn yếu Có thể khắc phục bằng cách phun ZnSO4 0,5% kết hợp với CaO 0,5 % hoặc phun Oxyt kẽm 0,2 % lên lá
4.7 Đồng (Cu)
Triệu chứng thiếu Cu thường thể hiện ở trái nhiều hơn là ở lá và cành non Ở trái, triệu chứng thiếu Cu thể hiện qua những vết nứt sùi gôm màu sẩm, có thể thành những đám u hình thù không đều đặn và ngã màu đen khi quả chín Hiện tượng nầy xuất hiện ở cam nhiều hơn là ở bưởi chùm và quýt Ở lá, có biểu hiện là lá lớn, màu lục sẩm ở mép lá không đều Cành non có hình cong như chữ S, có đùn ra nhiều đám gôm giữa vỏ và gỗ, đôi khi cành bị chết Những cây thiếu Cu thường nhỏ hơn bình thường Trái có hình dạng không đều và có gôm màu đen khi trái già, ruột trái thường khô, ít nước, chua Ở trục giữa của múi có gôm, vỏ trái nứt nẻ và rụng sớm Năng suất giảm nhiều
Hiện tượng thiếu Cu có thể xuất hiện trên đất than bùn và đất chua nghèo Việc bón nhiều vôi và P liên tục cũng gây ra hiện tượng thiếu Cu Người ta không cần phải bón Cu cho các loại đất đã có khoảng 55kg CuO/ha trong 15cm đất mặt Việc cung cấp Cu tốt nhất là phun lên lá bằng CuSO4 0,5% kết hợp với CaO 0,5 %
4.8 Sắt (Fe)
Trang 21Ở nhiều vùng trồng cam quýt người ta đã nói đến hiện tượng úa vàng do thiếu
Fe Những triệu chứng chính là một mạng lưới rất mảnh những gân xanh trên nền nhạt màu hơn nhiều, thường xuất hiện trước ở những lá đọt, lá thường mỏng hơn bình thường Đặc biệt ở cam khi bị thiếu Fe nặng toàn bộ lá trên cây ngã vàng, lá có thể bị trắng toàn bộ rồi mới có những đám úa vàng Ở giai đoạn nầy thì chẳng bao lâu lá sẽ bị rụng, cây ít trái, trái nhỏ, cứng
Có thể là đất thực sự thiếu Fe nhưng thường là Fe khó tiêu do pH đất cao hoặc
do ảnh hưởng đối kháng của việc thừa Cu trong đất
Hiện tượng thiếu Fe là một trong những vấn đề nghiêm trọng nhưng việc giải quyết chưa thỏa đáng Ở những đất giàu Ca và pH cao thường hay có hiện tượng thiếu Fe ở dạng dễ tiêu, cũng thấy hiện tượng nầy ở đất cát chua nghèo
Thừa Zn và Mn và nhất là Cu có ảnh hưởng đến thiếu Fe, P và K cao cũng gây
ra tình trạng tương tự Những điều kiện có hại cho bộ rễ như úng, mặn, nhiệt độ đất thấp, bị tuyến trùng rễ đều làm cho tình trạng thiếu thêm trầm trọng
Trên những chân đất chua người ta đã đề nghị dùng Fe Chelat Ethylendiamin tetraacetic acid (Chelat Fe EDTA) bón cho cây bị úa vàng vì sắt, mỗi cây khoảng 10-20gr, có thể bón riêng hoặc trộn với phân bón Phản ứng thực hiện rất nhanh và thường những cây bị úa vàng sẽ xanh lại sau 6 tuần kể từ khi dùng Chelat Nếu cây đang ra trái thì nên dùng Chelat dạng nước vì dạng bột dính vào trái sẽ làm trái bị cháy Thường một lần xử lý có tác dụng 1-2 năm Nơi đất có pH trên 7, chelat Fe EDTA dễ bị thủy phân và sắt bị kết tủa thành hydroxit Fe Vì vậy phải dùng những dạng chelat Fe khác, đắt tiền hơn (như Fe-EDTA-OH hoặc Fe EDDHA)
Việc phủ bồi đất bằng chất hữu cơ và bón những loại phân có gốc chua để có nhiều Fe tham gia vào dung dịch đất có thể giúp giảm được rối loạn về Fe