1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Tài liệu Giáo trình cây ăn trái - chương 1 docx

31 1,4K 26
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giáo trình cây ăn trái - chương 1
Tác giả Th.S. Lờ Thanh Phong, TS. Nguyễn Bảo Vệ
Trường học Đại học Cần Thơ
Chuyên ngành Khoa học cây trồng
Thể loại Giáo trình
Năm xuất bản 2023
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 222,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Địa hình và cao độ có liên quan đến chiều sâu mực thủy cấp và khả năng thoát thủy của đất, là các yếu tố rất quan trọng của vấn đề đào mương lên líp trồng cây ăn trái ở ĐBSCL.. Trồng cây

Trang 1

ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG

GIÁO TRÌNH CÂY ĂN TRÁI

Biên soạn: Th.S Lê Thanh Phong

TS Nguyễn Bảo Vệ

Trang 2

MỤC LỤC Trang Chương 1 Mở đầu

A Thiết kế vườn

1 Điều tra cơ bản

2 Thiết kế vườn

B Vườn ươm

2 Chọn địa điểm thành lập vườn ươm

3 Bố trí các khu vực trong vườn ươm

4 Gieo trồng và chăm sóc cây con

5 Một số điểm cần lưu ý khi xuất cây con

khỏi vườn ươm

C Phương pháp nhân giống

A Giá trị, nguồn gốc, phân loại và giống trồng

1 Giá trị dinh dưỡng và sử dụng

2 Nguồn gốc, phân bố, phân loại và giống trồng

B Đặc điểm sinh học và thực vật

Trang 3

Chương 3 Cây khóm (ananas comosus (l.) Merr.)

A Giá trị-nguồn gốc-phân loại và giống trồng

5.thu hoạch và tồn trữî

Chương 4 Cây chuối (musa spp.)

A Giá trị, nguồn gốc, phân loại và giống trồng

4 Bẹ và lá

5 Hoa và trái

C Các yêu cầu ngoại cảnh

Trang 4

4 Thu hoạch và tồn trữ

Tài liệu tham khảo

Trang 5

CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU

A THIẾT KẾ VƯỜN

Do có điều kiện thiên nhiên thuận lợi, nguồn giống phong phú, sản phẩm đa dạng, dễ tiêu thụ, nhân dân có nhiều kinh nghiệm tốt trong canh tác nhất là ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nên ngành trồng cây ăn trái ở nước ta có khả năng phát triển rất lớn

Vì là cây lâu năm, có đặc tính thực vật, sinh học riêng, có yêu cầu sinh thái khác với cây trồng khác, do đó khi thành lập vườn với qui mô lớn cần phải cân nhắc đầy đủ các yêu cầu để bảo đảm được sinh trưởng, phát triển, tuổi thọ của cây Các bước cần thiết để thành lập vườn cây ăn trái gồm có:

1 ĐIỀU TRA CƠ BẢN

Điều tra cơ bản để có cơ sở lựa chọn nơi và cách thức thành lập vườn có lợi nhất về mọi mặt

1.1 Địa hình, vị trí

- Điều tra hướng, vĩ độ, kinh độ, bình độ, độ dốc

- Khoảng cách nơi lập vườn với đường giao thông

- Diện tích có thể phát triển

1.3 Đất đai

- Điều tra độ dầy tầng canh tác, loại đá mẹ, thành phần cơ giới của đất

- Phân tích các chỉ tiêu nông hóa, thổ nhưỡng của đất để có cơ sở đánh giá độ phì nhiêu của đất

Trang 6

- Điều tra nguồn phân bón trong khu vực lập vườn (phân vô cơ, hữu cơ )

- Tập quán sử dụng phân của nhân dân địa phương

1.7 Khả năng kết hợp trong sản xuất

- Chăn nuôi gia súc, gia cầm

- Nuôi trồng thủy sản, nuôi ong

1.8 Tình hình xã hội

- Tình hình dân cư, nguồn lao động

- Thị trường tiêu thụ sản phẩm, khả năng vận chuyển

2 THIẾT KẾ VƯỜN

2.1 Các điểm chung cần lưu ý trong thiết kế

* Địa hình và cao độ đất

Địa hình và cao độ có liên quan đến chiều sâu mực thủy cấp và khả năng thoát thủy của đất, là các yếu tố rất quan trọng của vấn đề đào mương lên líp trồng cây ăn trái ở ĐBSCL

Đồng bằng sông Cửu Long có tổng diện tích khoảng 3.955.550 ha Có ba nhóm đất có địa hình tương đối cao, khả năng thoát thủy tốt, trồng cây ăn trái không cần lên líp như nhóm đất núi ở Tịnh Biên, Tri Tôn, Hà Tiên; nhóm đất phù sa cổ dọc theo biên giới Việt Nam và Campuchia; và nhóm đất cát giồng chạy song song bờ biển

Trang 7

Đông ở các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng Tuy nhiên, ba nhóm đất nầy chiếm diện tích không quá 2% Những nhóm đất còn lại như đất phù sa, đất phèn, đất mặn, đất phèn mặn và đất than bùn có địa hình thấp, bằng phẳng, thoát thủy kém, cao độ biến động từ 0-2m, phần lớn cao không quá 1m so với mực nước biển Mực thủy cấp rất gần mặt đất ngay cả trong mùa nắng, trung bình từ 50-80cm Trong mùa mưa hầu hết các nhóm đất nầy đều bị ngập Trồng cây ăn trái phải đào mương lên líp nhằm nâng cao mặt đất, làm dầy tầng canh tác và giúp đất thoát thủy được tốt

* Tầng phèn trong đất

Độ sâu xuất hiện tầng phèn quyết định chiều sâu của mương và cách lên líp ở ĐBSCL Có 2 loại là tầng phèn tiềm tàng và tầng phèn hoạt động

Tầng phèn tiềm tàng: Tùy theo loại đất mà tầng phèn tiềm tàng có ở những độ sâu khác nhau trong đất Tầng đất nầy luôn ở trạng thái khử do bị bão hòa nước quanh năm, mềm nhão, có màu xám xanh hay xám đen, có hàm lượng SO42- hòa tan từ 0,8-3,5%, lượng Al3+ từ 5-135 cmol kg-1, lượng Fe2+ từ 12-525 cmol kg-1 Không nên lấy tầng phèn tiềm tàng làm líp trồng cây ăn trái vì khi đất khô rất chua, có trị số pH

< 3,5 và chứa nhiều độc chất Al và Fe

Tầng phèn hoạt động: Tương tự như tầng phèn tiềm tàng, tùy theo loại đất mà có thể gặp tầng phèn hoạt động ở bất kỳ độ sâu nào trong đất Tầng phèn hoạt động là tầng phèn tiềm tàng bị oxy-hóa, do mực thủy cấp trong đất bị hạ xuống Đất thuần thục hoặc bán thuần thục Tầng đất nầy có chứa những đốm phèn jarosite màu vàng rơm, nên rất dễ nhận diện ngoài đồng Đất rất chua và chứa nhiều độc chất hòa tan như SO42- từ 0,08-2,3%, lượng Al3+ từ 8-1.200 cmol kg-1, lượng Fe2+ từ 73-215 cmol kg-1, không nên lấy làm líp Nếu phải sử dụng để làm líp thì nên áp dụng kỹ thuật được trình bày ở phần sau

Đất có tầng phèn ở độ sâu trong vòng 1,5m được gọi là đất phèn Đất phèn chiếm 40% tổng diện tích đất ĐBSCL, phần lớn tập trung ở 3 vùng là Đồng Tháp Mười, tứ giác Long Xuyên - Hà Tiên, và bán đảo Cà Mau Mương không nên đào sâu đến tầng phèn

Trang 8

trồng được cây ăn trái Tuy nhiên, có những năm lũ lớn, đỉnh lũ cao hơn bình thường gây úng ngập vườn cây ăn trái, nên cần có đê bao chống lũ Làm đê bao chống lũ riêng lẽ từng vườn không hiệu quả kinh tế bằng làm đê bao cho từng vùng cây ăn trái rộng lớn và có máy bơm nước ra, giữ mực nước trong mương vườn luôn cách mặt líp

ít nhất là 0,6m

Sông rạch bị mặn trong mùa nắng: Vùng đất ven biển bị nhiễm mặn trong mùa nắng thì không bị ảnh hưởng lũ Yếu tố hạn chế để lập vườn cây ăn trái là thiếu nước ngọt để tưới trong mùa nắng, thường thấy ở các tỉnh Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau Vườn cây ăn trái phải có đê bao ngăn mặn, líp và mương rộng để trữ nước ngọt tưới trong mùa nắng, tuy nhiên, cũng còn tùy thuộc vào vũ lượng và thời gian mưa Vùng đất phía biển Tây của các tỉnh Kiên Giang và Cà Mau có vũ lượng mưa cao, trên 2.000mm/năm và kéo dài khoảng 7 tháng nên thuận lợi để trữ nước trong mương vườn hơn vùng đất bên biển Đông

Khi thiết kế vườn với qui mô lớn cần lưu ý các điểm:

- Các lô gần nguồn nước, thuận tiện cho việc cơ giới hóa

- Mạng lưới thủy lợi nên kết hợp với giao thông, chú ý tưới, tiêu nước dễ dàng

- Tùy theo yêu cầu sinh thái của từng loại cây mà thiết kế lô, líp trồng thích hợp

- Hệ thống hành chính, kho tàng, nơi chế biến, bảo quản phải bố trí hợp lý, tránh làm mất thời gian trong sản xuất

2.2 Thiết kế mương líp

2.2.1 Hiện trạng mương líp vườn cây ăn trái của nông dân ở ĐBSCL

Theo kết quả điều tra ở các tỉnh Cần Thơ, Vĩnh Long, Trà Vinh, Đồng Tháp và

An Giang của Bộ môn Khoa Học Cây Trồng, khoa Nông Nghiệp, trường Đại Học Cần Thơ (1992-1996) thì hầu hết nông dân áp dụng kỹ thuật đào mương lên líp theo lối thông thường (Hình 1), tức lấy lớp đất mặt làm chân líp và lớp đất sâu làm mặt líp Sau đó phơi đất khoảng 3-6 tháng rồi tiến hành trồng Hoặc trồng chuối trước, sau đó trồng xen cây ăn trái vào rồi đốn bỏ chuối Ở những nơi đất trũng thấp, nông dân chở đất mặt ruộng từ nơi khác tới làm đất mặt líp rồi trồng ngay

Trang 9

Hình 1 Lên líp theo kiểu thông thường của nông dân

Kích thước mương líp vườn của người dân thay đổi tùy theo loại cây trồng Đối với nhóm cam quýt, líp có chiều rộng từ 5,1-9m, kích thước nầy khá thích hợp (Bảng 1) Líp trồng xa-bô, chôm chôm, nhãn, xoài có chiều rộng thay đổi từ 5-7,7m là tương đối nhỏ khi bố trí trồng 2 hàng trên líp, nếu trồng một hàng thì quá rộng Líp trồng ổi có chiều rộng thay đổi từ 7,2-7,5 m thì khá rộng, líp trồng táo có chiều rộng từ 4,4-6m là tương đối nhỏ Nhìn chung, chiều rộng líp trồng cây ăn trái ở ĐBSCL thay đổi từ 4,4-9m Líp có hình thang cân, đáy líp rộng hơn mặt líp từ 1,1-1,4 lần Chiều cao líp so với mực nước cao nhất trong năm thay đổi từ - 0,3 đến 0,5m Như vậy có vườn bị ngập trong mùa lũ nếu không có đê bao Tỉ lệ nầy chiếm khoảng 31,3% (Bảng 2)

Tùy theo địa hình và mục đích sử dụng mà chiều rộng mặt mương biến động từ 2,2-7m (Bảng 3) Để tránh sụt lở bờ mương, đáy mương nhỏ hơn mặt mương từ 1,1-2,1 lần Chiều sâu mương thay đổi từ 1-1,6 m Tỉ lệ đất mương chiếm trung bình 33,7% tổng diện tích vườn (Bảng 4), như vậy diện tích đất sử dụng trồng cây ăn trái chiếm 66,3% Có hai vấn đề lớn cần đặt ra trong việc đào mương lên líp của nông dân ĐBSCL là kỹ thuật đào mương để có líp tốt và làm sao cho líp không bị úng ngập do lũ

Điều kiện tự nhiên ở ĐBSCL có các yếu tố giới hạn đối với các loại cây lâu năm như :

- Đất thường thấp, mực thuỷ cấp thường trực cao, dễ bị ngập úng trong mùa mưa

- Độ dầy tầng canh tác mỏng, thường có tầng phèn hay tầng sinh phèn ở dưới

- Vũ lượng phân phối không đều trong năm, dễ gây ngập úng trong mùa mưa, thiếu nước trong mùa nắng

Do đó việc đào mương, lên líp nhằm mục đích :

- Nâng cao tầng canh tác, tránh ngập úng

- Mương cung cấp nước tưới trong mùa khô, thoát nước trong mùa mưa, giúp rữa phèn, mặn, các chất độc và làm đường vận chuyển

- Kết hợp nuôi trồng thuỷ sản trong vườn

Trang 10

2.2.2 Kích thước mương

Kích thước mương thường được quyết định tùy theo các yếu tố:

- Địa hình cao hay thấp

- Độ sâu của tầng sinh phèn

- Giống cây trồng và chế độ nuôi, trồng xen trong vườn

Bảng 1 Kích thước líp vườn cây ăn trái của nông dân ở ĐBSCL

Loại cây trồng Rộng mặt

(m)

Rông đáy (m)

Cao (m)

Tỉ lệ (đáy/mặt)

Bảng 2 Tỷ lệ vườn cây bị úng ngập của nông dân ở ĐBSCL

Loại cây trồng Tỷ lệ (%)

Nhãn 28,0

Trang 11

Bảng 3 Kích thước mương vườn cây ăn trái của nông dân ở ĐBSCL

Loại cây trồng Rộng mặt

(m)

Rông đáy (m)

Cao (m)

Tỉ lệ (đáy/mặt)

Bảng 4 Tỷ lệ sử dụng mương líp của nông dân ở ĐBSCL

Loại cây trồng Rộng líp/rộng

mương

Tỷ lệ sử dụng mương (%)

Tỷ lệ sử dụng líp

Bề mặt và chiều sâu của mương thường phụ thuộc vào chiều cao của líp Tỉ lệ

mương/líp thường là 1/2 Chiều sâu mương từ 1-1,5m tuỳ địa hình, tầng sinh

Trang 12

phèn Vách bên của mương (cũng như mặt bên của líp) luôn luôn phải có độ nghiêng (tà ly) khoảng 30-45 độ để tránh sụp lỡ Tỷ lệ sử dụng đất mương thay đổi khoảng 30-35%

2.2.3 Kích thước líp

Líp đơn: Ở những vùng đất có độ dầy tầng canh tác mỏng, đỉnh lũ cao, đất có phèn thì có thể thiết kế líp đơn để trồng một hàng, giúp rữa phèn nhanh, dễ bố trí độ cao líp Líp có thể rộng 4-5m

Líp đôi: Ở những vùng đất có độ dầy tầng canh tác khá, đỉnh lũ vừa phải, đất tốt thì líp đôi thường được thiết kế Líp đôi được dùng trồng 2 hàng, có khi 3 hàng (dạng tam giác, chữ ngũ) Chiều rộng líp thay đổi tùy loại cây, từ 6-12m Trong trường hợp muốn thoát nước nhanh trong mùa mưa, có thể xẻ các mương phèn nhỏ trên líp Khi sử dụng líp đôi cần phải bảo đảm độ bằng của mặt líp để tránh cho các hàng trồng giữa líp bị thiếu nước trong mùa khô hay líp bị ngập úng trong mùa mưa Nói chung, chiều cao líp tùy thuộc vào đỉnh lũ trong năm, tuy nhiên chiều cao líp thích hợp cho hầu hết cây ăn trái ở ĐBSCL là cách mực nước cao nhất trong năm khoảng 30cm

2.2.4 Hướng líp

Cần xây dựng hướng líp song song hay thẳng góc với bờ bao, để dễ dàng điều tiết nước trong vườn Đối với các loại cây ưa trãng, nên bố trí líp theo hướng Bắc-Nam để nhận được nhiều ánh sáng, ngược lại bố trí líp theo hướng Đông-Tây cho những loại thích bóng râm

2.2.5 Kỹ thuật lên líp

Lên líp theo lối cuốn chiếu

Trong những vùng có lớp đất mặt tốt và lớp đất dưới không xấu lắm thì kỹ thuật lên líp theo lối cuốn chiếu được áp dụng

Đào lớp đất mặt mương đấp làm chân líp, sau đó trải lớp đất sâu làm mặt líp Cách làm nầy đỡ tốn chi phí, tuy nhiên sau đó cần lên mô bằng đất tốt, cũ (dùng đất mặt ruộng, bãi sông, bùn mương phơi khô hay đất vườn cũ) để trồng, tránh gây ngộ độc cây con Có thể trồng một vài vụ chuối, cây phân xanh trước khi trồng cây trồng chính (Hình 2)

Trang 13

Hình 2 Lên líp theo lối cuốn chiếu

Lên líp theo kiểu kê đất, theo băng hay đấp mô

Trong những vùng có lớp đất mặt mỏng, lớp đất dưới không tốt, có phèn thì có thể lên líp theo lối kê đất, đấp thành băng hay mô

- Lên líp kê đất:

Đào lớp đất mặt ở mương thứ nhất đưa qua líp thứ nhất bên trái, sau đó đưa lớp sâu của mương thứ nhất trải lên làm chân líp thứ hai bên phải, tiếp đến lấy lớp đất mặt ở mương thứ hai trải lên làm mặt líp thứ hai Lấy lớp đất sâu của mương thứ hai trải làm chân líp thứ ba và đào lớp đất mặt mương thứ ba trải lên làm mặt líp thứ

ba Tiếp tục như vậy cho đến líp cuối cùng ( Hình 2)

- Lên líp theo băng hay đắp thành mô:

Đào lớp đất mặt ở mương trải dài thành một băng ở giữa dọc theo líp, sau đó đấp lớp đất sâu của mương vào hai bên băng Cây được trồng ngay trên 2 băng dọc líp Cần lưu ý đấp lớp đất ở hai bên băng luôn luôn thấp hơn mặt băng, để có thể rửa được các độc chất khi mưa, không thấm vào băng (Hình 3)

Hình 3 Lên líp theo băng

Trong trường hợp đắp thành mô thì lớp đất mặt được tập trung đắp thành các

mô để trồng cây ngay sau khi thiết kế (kích thước, khoảng cách tùy theo loại cây trồng), phần đất xấu của mương được đấp vào phần còn lại của líp và thấp hơn mặt

mô (Hình 4)

Trang 14

Hình 4 Lên líp theo lối đắp mô

Điểm quan trọng cần lưu ý khi đào mương lên líp là không nên đào mương sâu quá tầng sinh phèn (lớp đất sét màu xám xanh) vì sẽ đưa phèn lên mặt gây độc cho cây

2.2.6 Xây dựng bờ bao, cống bọng

Bờ bao

Việc xây dựng bờ bao quanh vườn rất quan trọng trong điều kiện ở ĐBSCL vì:

- Là đường giao thông vận chuyển trong vườn

- Là nơi xây dựng cống đầu mối để điều tiết nước

- Nơi trồng các hàng cây chắn gió

- Hạn chế ngập lũ trong mùa mưa

Mặt bờ bao thường rộng để kết hợp trồng cây chắn gió, chiều cao bờ bao được tính theo đỉnh lũ cao nhất trong năm Song song với bờ bao là các mương bờ bao, nên thiết kế rộng và sâu hơn mương vườn để có thể rút hết nước ra khỏi vườn khi cần thiết

Trang 15

Bọng có thể có nắp đậy hay không tùy vào mục đích sử dụng Khi trong các mương có kết hợp với việc nuôi trồng thủy sản thì hệ thống cống bọng hoàn chỉnh là một điều rất cần thiết

2.2.7 Đai rừng chắn gió

Khi thiết kế vườn với diện tích lớn nơi bằng phẳng, có gió bão thường xuyên, cần phải lập đai rừng chắn gió, vì có tác dụng giảm tốc độ gió, giảm lượng bốc hơi, điều tiết nhiệt độ, giữ ẩm trong mùa khô Ngoài ra đai rừng chắn gió còn tạo được điều kiện vi khí hậu ổn định cho côn trùng thụ phấn trong mùa hoa nở

Chọn cây làm đai rừng

Cây làm đai rừng phải thích nghi tốt với khí hậu địa phương, cành lá dai chắc, sinh trưởng khoẻ, ít làm ảnh hưởng đến cây trồng chính Nếu kết hợp được để thụ phấn cho cây trồng chính thì càng tốt, hoặc dùng làm phân xanh Các loại cây thường được dùng làm cây chắn gió gồm có: phi lao, bạch đàn, muồng xiêm, tre, mù

u, so đủa hoặc các loại cây ăn trái như xoài, mít, dừa

Hiệu quả chắn gió

Khoảng cách mà trong đó tốc độ gió giảm xuống tối đa thường bằng 15-20 lần chiều cao cây dùng làm đai rừng Đai rừng được trồng thành 2-3 hàng, khoảng cách cây thay đổi tùy theo yêu cầu chắn gió nhiều hay ít, trung bình từ 1-1,5m, khoảng cách hàng 2-2,5m

Hướng đai rừng

Đai rừng chính thường được bố trí thẳng góc với hướng gió có hại, nếu hướng gió không ổn định thì bố trí xiên góc 30 độ Nếu gió nhiều, thường xuyên thì trong các lô, líp trồng có thể bố trí thêm đai rừng phụ, hướng thẳng góc với đai rừng chính, song song với các hàng cây ăn trái và chỉ nên trồng 1-2 hàng

Ở ĐBSCL ít khi có gió bão lớn, nhưng thỉnh thoảng cũng có những cơn lốc thường xảy ra trong mùa mưa hay bị ảnh hưởng bởi những trận bão lớn thổi qua miền Trung và miền Bắc Do đó, tuy mức độ chắn gió không cần có qui mô là đai rừng chắn gió nhưng chung quanh vườn nên trồng những hàng cây lớn chắn gió bảo vệ cho vườn, hạn chế đổ ngã, giúp điều hòa nhiệt độ, ẩm độ trong khu vực vườn Cây chắn gió được trồng dọc trên bờ bao, thẳng góc với hướng gió, để vừa có tác dụng chắn gió vừa làm vững chắc thêm bờ bao

Ngày đăng: 21/01/2014, 12:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Lên líp theo kiểu thông thường của nông dân. - Tài liệu Giáo trình cây ăn trái - chương 1 docx
Hình 1. Lên líp theo kiểu thông thường của nông dân (Trang 9)
Bảng 2. Tỷ lệ vườn cây bị úng ngập của nông dân ở ĐBSCL. - Tài liệu Giáo trình cây ăn trái - chương 1 docx
Bảng 2. Tỷ lệ vườn cây bị úng ngập của nông dân ở ĐBSCL (Trang 10)
Bảng 1.  Kích thước líp vườn cây ăn trái của nông dân ở ĐBSCL. - Tài liệu Giáo trình cây ăn trái - chương 1 docx
Bảng 1. Kích thước líp vườn cây ăn trái của nông dân ở ĐBSCL (Trang 10)
Hình 2. Lên líp theo lối cuốn chiếu - Tài liệu Giáo trình cây ăn trái - chương 1 docx
Hình 2. Lên líp theo lối cuốn chiếu (Trang 13)
Hình 4. Lên líp theo lối đắp mô - Tài liệu Giáo trình cây ăn trái - chương 1 docx
Hình 4. Lên líp theo lối đắp mô (Trang 14)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm