Đề tài: Thực trạng và giải pháp phát triển tín dụng nhà nước ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay (2019 – 2021) Tín dụng Nhà nước là hoạt động tín dụng giữa Nhà nước với các chủ thể trong xã hội nhằm phục vụ cho mục đích quản lý vĩ mô của Nhà nước
Trang 1Đề tài: Thực trạng và giải pháp phát triển tín dụng nhà nước ở Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay (2019 – 2021)
Mục lục
A PHẦN MỞ ĐẦU 4
B Nội dung 5
I Khái quát về tín dụng Nhà nước 5
1 Khái niệm tín dụng Nhà nước 5
2 Đặc điểm, vai trò của tín dụng Nhà nước 5
3 Ảnh hưởng của tín dụng Nhà nước 7
II Thực trạng 7
1 Thực trạng giai đoạn 2019 – 2021 7
2 Hạn chế (2019 – 2021) 9
3 Nguyên nhân 11
III, Giải pháp 14
1 Về tín phiếu 14
2 Về trái phiếu 15
3 Về công trái 16
4 Về trái phiếu chính phủ quốc tế 17
5 Về trái phiếu đầu tư 18
6 Về cho vay tín dụng 19
7 Các giải pháp khác 20
C KẾT LUẬN 21
Trang 2A PHẦN MỞ ĐẦU
Tín dụng đã ra đời từ khi có sự phân công lao động xã hội, sản xuất và trao đổi hàng hóa Trong quá trình trao đổi hàng hóa đã hình thành sự vay nợ lẫn nhau để thanh toán Như vậy tín dụng là một mối quan hệ kinh tế giữa người đi vay và người cho vay, là sự vận động của quy luật giá trị Các hoạt động tín dụng rất đa dạng và phong phú Ta có thể phân loại tín dụng thành 6 loại đó là: tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng, tín dụng nhà nước, tín dụng tiêu dùng, tín dụng thuê mua và tín dụng quốc
tế Đây là các hình thức tín dụng tiêu biểu và được quan tâm trong nền kinh tế thị trường Và với phạm vi này nhóm chúng tôi xin phép được trình bày cụ thể về thực trạng của tín dụng nhà nước Việt Nam hiện nay và những giải pháp cần thiết cho những khó khăn, thách thức mà tín dụng nhà nước đang phải đối mặt.
Tín dụng nhà nước tồn tại và quy mô ngày càng mở rộng là hết sức cần thiết cho mọi quốc gia trên thế giới Nó là quan hệ tín dụng giữa nhà nước và các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế-xã hội và các các nhân Tín dụng nhà nước xuất hiện nhằm thỏa mãn các nhu cầu chi tiêu của ngân sách nhà nước trong điều kiện nguồn thu không đủ để đáp ứng, nó còn là công cụ để nhà nước hỗ trợ cho các ngành kinh tế yếu kém, ngành mũi nhọn và các khu vực kinh tế kém phát triển, và là công cụ quan trọng
để nhà nước quản lý, điều hành vĩ mô.
Tín dụng nhà nước đóng một vai trò cần thiết như một khoản chi của ngân sách nhà nước cho đầu tư phát triển, cho vay với lãi suất thấp (lãi suất ưu đãi) hơn mặt bằng lãi suất thị trường, theo kế hoạch hoặc mục tiêu, định hướng của nhà nước để khuyến
Trang 3khích các nhà đầu tư nhỏ bỏ một phần vốn của mình, cúng với phần vốn vay lãi suất
ưu đãi từ tín dụng nhà nước tham gia đầu tư hình thành nên tài sản cố định, cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội để phục vụ cho phát triển kinh tế-xã hội.
Sự tồn tại của tín dụng nhà nước là một đòi hỏi khách quan và đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của mỗi quốc gia trong từng giai đoạn lịch sử nhất định Đặc biệt, đối với các nền kinh tế đang phát triển, khi mà khu vực ngoài nước còn hạn chế về khả năng tích tụ vốn, khả năng thực hiện các dự án có quy mô lớn, thời gian thu hồi vốn lâu, phục vụ cho tiện ích của cộng đồng.
B Nội dung
I Khái quát về tín dụng Nhà nước
1 Khái niệm tín dụng Nhà nước
Tín dụng Nhà nước là hoạt động tín dụng giữa Nhà nước với các chủ thể trong xã hội nhằm phục vụ cho mục đích quản lý vĩ mô của Nhà nước
2 Đặc điểm, vai trò của tín dụng Nhà nước
* Đặc điểm:
- Nguồn vốn cho vay là vốn của Ngân sách Nhà nước được cân đối để cho vay đầu tư hoặc nguồn vốn huy động theo kế hoạch của Nhà nước để phục vụ đầu tư phát triển theo chủ trương của Nhà nước qua các hình thức như công trái, tín phiếu, trái phiếu Kho bạc, chứng chỉ đầu tư và các hiệp định vay nợ với nước ngoài Nguồn vốn của tín dụng Nhà nước là rất đa dạng, phạm vi của tín dụng Nhà nước không chỉ thực hiện ở trong nước mà còn ở nước ngoài
- Tổ chức tín dụng làm nhiệm vụ quản lý, huy động và cho vay là những đơn vị, cơ quan chuyên môn được thành lập theo quyết định của chính phủ
- Đối tượng cấp tín dụng là các dự án đầu tư theo các chương trình, mục tiêu, định hướng theo chủ trương của Nhà nước nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội Tín dụng Nhà nước cho đầu tư phát triển tập trung vốn mà ở đó hiệu quả kinh tế - xã hội là mục tiêu hàng đầu chứ không phải là hướng tới mục tiêu lợi nhuận Do vậy, việc sử dụng vốn tín dụng Nhà nước thường kết hợp với sự vận dụng giữa các nguyên tắc tín dụng và biện pháp của chính sách phát triển kinh tế - xã hội và chính sách tài chính của Nhà nước
- Hoạt động không vì mục đích lợi nhuận vì vậy lãi suất không phải là lãi suất thị trường
+ Lãi suất huy động thường thấp nhất trên thị trường tài chính do trái phiếu chính phủ là công cụ có độ an toàn cao nhất
Trang 4+ Lãi suất cho vay là lãi suất ưu đãi do Nhà nước điều tiết phù hợp với yêu cầu, đặc điểm, điều kiện cụ thể của Nhà nước và chủ trương khuyến khích đầu
tư phát triển kinh tế xã hội của Nhà nước trong từng thời kỳ
* Vai trò:
- Là công cụ sắc bén trong việc lành mạnh hóa nền tài chính – tiền tệ quốc gia
+ Đối với lĩnh vực tài chính: Tín dụng Nhà nước có vai trò quan trọng trong việc tạo lập và phân bổ nguồn vốn hiệu quả cho các hoạt động đầu tư thuộc trách nhiệm của tài chính quốc gia thông qua việc phát hành các công cụ
nợ của Nhà nước như: trái phiếu, tín phiếu, tập trung một lượng vốn nhanh chóng theo nhu cầu với thời hạn và chi phí không cao => thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, kéo theo sự cải thiện tiềm lực tài chính quốc gia
+ Đối với lĩnh vực tiền tệ: Tín dụng Nhà nước xóa bỏ cơ chế thâm hụt ngân sách Nhà nước góp phần duy trì ổn định giá trị đồng nội tệ, tách biệt hoạt động tín dụng thông thường, tránh rủi ro về tính thanh khoản của các TCTDTG
- Góp phần điều chỉnh cơ cấu kinh tế
+ Tín dụng Nhà nước là một biện pháp tài chính của Chính phủ hỗ trợ cho hoạt động của ngân sách Nhà nước và thúc đẩy phát triển nền kinh tế, giữ vai trò quan trọng trong việc tạo ra nguồn thu bổ sung cho ngân sách Nhà nước và các quỹ hỗ trợ đầu tư của Nhà nước
+ Tín dụng Nhà nước giải quyết các khuyết tật của nền kinh tế thị trường: khủng hoảng thừa, thiếu, phân hóa giàu nghèo, suy thoái kinh tế theo chu kỳ thông qua việc tập trung vào những ngành nghề lĩnh vực công nghệ mới nhằm cải thiện đời sống, rút ngắn khoảng cách giữa các nước, không tụt hậu, lệch hướng với xu thế phát triển chung
=> Bộ mặt nền kinh tế thay đổi, thúc đẩy tăng năng suất lao động xã hội, tăng thu nhập quốc dân,
- Góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư, xóa bao cấp về đầu tư
+ Các cơ chế, chính sách quản lý tín dụng được Nhà nước đưa ra rất chặt chẽ, nhằm kiểm tra, giám sát trước, trong khi cho vay một cách nghiêm ngặt => chủ đầu tư phải minh bạch công tác kế toán, chịu sự giám sát chặt chẽ của cơ quan quản lý nguồn vốn tín dụng Nhà nước về khả năng tạo ra nguồn thu nhập cao hơn chí phí đầu tư để không chỉ bù đắp được các khoản chi phí đã bỏ ra kà còn phải trả lãi của khoản tín dụng
+ Tín dụng Nhà nước tránh tình trạng bao cấp chi đầu tư, không ràng buộc nghĩa vụ trả nợ, cơ chế cấp phát => phải trả nợ gốc và lãi, tạo ra động cơ thực hiện việc đầu tư một cách hiệu quả Khả năng điều tiết của nền kinh tế sẽ tăng lên vì quy mô dành cho đầu tư ngày càng cải thiện khi các khoản vay được truy hoàn thay vì cấp phát không hoàn lại như trước đây
- Giúp doanh nghiệp mở rộng đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh
Trang 5Tín dụng Nhà nước duy trì sự liên tục và khả năng mở rộng đầu tư, phát triển sản xuất của các tổ chức kinh tế:
+ Thông qua việc trực tiếp nhận các khoản tín dụng Nhà nước hoặc sự bảo lãnh, bảo hiểm tín dụng hay hỗ trợ lãi suất của Nhà nước các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thuộc diện đầu tư, tín dụng của Nhà nước sẽ có động cơ mở rộng sản xuất kinh doanh dưới hình thức đầu tư mới hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, tăng quy mô
+ Hoạt động đầu tư của Nhà nước dẫn tới các thành phần kinh tế mở rộng sản xuất kinh doanh thông qua việc tạo ra cơ sở hạ tầng thiết yếu cho sản xuất hoặc phát triển chu trình sản xuất
3 Ảnh hưởng của tín dụng Nhà nước
- Do quy mô chi NSNN ngày càng mở rộng và tăng lên trong khi nguồn thu NSNN luôn bị hạn chế bởi những giới hạn nhất định như tốc độ tăng trưởng nền kinh tế, các định chế pháp lý dẫn đến nguồn vốn từ NSNN sẽ bị thiếu hụt không đủ khả năng để tài trợ Tín dụng Nhà nước là một giải pháp quan trọng để tại nguồn bù đắp thiếu hụt đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển của Nhà nước
- Tín dụng Nhà nước là công cụ hữu hiệu của Nhà nước nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế, chính trị, xã hội trong từng giai đoạn
- Xu thế toàn cầu hóa, tự do hóa các luồng vốn là cơ sở phát sinh các mối quan hệ tín dụng của Nhà nước giữa các quốc gia với nhau
=> Tín dụng Nhà nước có ảnh hưởng tới việc thực hiện chức năng điều tiết kinh tế vĩ mô của Nhà nước, là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế
II Thực trạng
1 Thực trạng giai đoạn 2019 – 2021
Giai đoạn năm 2019-2020: So với cùng kỳ 2 năm trước, tăng trưởng tín dụng năm nay thấp hơn nhiều Cụ thể, 5 tháng đầu năm 2019, tín dụng tăng 5,74% Trong khi năm 2018 cũng là 6,16% , còn cách rất xa so với mục tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2020 là 14%
Chiều 5/6/2019 tại Hà Nội, NHNN đã tổ chức buổi họp báo thông tin hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm
Theo số liệu công bố tại buổi họp báo, tính đến ngày 29/5/2020, tổng phương tiện thanh toán tăng 3,4% so với cuối năm 2019; thanh khoản của hệ thống tổ chức tín dụng (TCTD) thông suốt Trong điều hành lãi suất, từ đầu năm
2020 đến nay, NHNN đã điều chỉnh giảm 2 lần các mức lãi suất điều hành, với tổng mức giảm 1,0-1,5%/năm để hỗ trợ thanh khoản cho các ngân hàng, tạo điều kiện cho tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn chi phí thấp từ cơ quan quản lý
Trang 6Mức trần lãi suất tiền gửi các kỳ hạn dưới 6 tháng cũng đã được giảm 0,6-0,75%/năm; giảm 1%/năm trần lãi suất cho vay ngắn hạn đối với các lĩnh vực ưu tiên, hiện ở mức 5%/năm
NHNN điều chỉnh lãi suất điều hành dựa trên bối cảnh kinh tế chung, đặc biệt là lạm phát Vì thế, thời gian tới, nếu diễn biến thay đổi, có điều kiện thuận lợi thì NHNN có thể sẽ tiếp tục giảm lãi suất điều hành Nhưng nếu so với mức giảm của các ngân hàng trung ương trên thế giới, thì mức giảm lãi suất điều hành của NHNN đã khá sâu
Về điều hành tỷ giá, mặc dù thị trường quốc tế diễn biến phức tạp, nhưng
tỷ giá và thị trường ngoại tệ trong nước ổn định, thanh khoản thông suốt, tổ chức tín dụng mua ròng từ khách hàng, các nhu cầu ngoại tệ hợp pháp của nền kinh tế được đáp ứng đầy đủ, kịp thời Đến cuối tháng 5/2020, tỷ giá trung tâm tăng 0,46%, tỷ giá liên ngân hàng tăng 0,49% so với đầu năm Tuy nhiên, dưới tác động của dịch bệnh, cầu tín dụng tăng thấp, đến ngày 29/5/2020, tín dụng chỉ tăng 1,96% so với cuối năm 2019
Qua biểu đồ cho thấy sự tăng trưởng của tín dụng đang thụt giảm Tăng trưởng tín dụng được dự báo sẽ tăng thấp hơn so với giai đoạn 2016 - 2017 và tương đương năm 2018 – 2019(14%)
Trang 7Năm 2021: NHNN tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm kiểm soát lạm phát, duy trì ổn định vĩ mô, thị trường, hỗ trợ phục hồi nhanh kinh tế; đồng thời tiếp tục hỗ trợ tháo gỡ khó khăn cho người dân, doanh nghiệp, vừa chuẩn bị cho giai đoạn phục hồi kinh tế
Kỳ vọng tăng trưởng tín dụng của toàn hệ thống năm 2021 trong khoảng
từ 13% - 14%.2021, các TCTD đã miễn, giảm, hạ lãi suất cho trên 1,13 triệu khách hàng với dư nợ trên 1,58 triệu tỷ đồng; cho vay mới lãi suất thấp hơn so với trước dịch Trong 6 tháng đầu năm 2021, tình hình dịch bệnh COVID-19 tiếp tục có diễn biến rất phức tạp, gây ảnh hưởng tiêu cực đến toàn bộ nền kinh
tế Tổng nguồn vốn tín dụng chính sách đạt 247.340 tỷ đồng, tăng 13.914 tỷ đồng so với năm 2020 Trong đó, nguồn vốn nhận ủy thác từ địa phương đạt 23.467 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 9,3% tổng nguồn vốn, tăng 3.152 tỷ đồng, hoàn thành 105% kế hoạch năm 2021
2 Hạn chế (2019 – 2021)
Theo thời gian, lãi suất tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước ngày càng giảm dần mức độ ưu đãi và tiến gần hơn tới mặt bằng lãi suất trên thị trường vốn Cùng với
đó, lãi suất cho vay đối với mỗi dự án cũng không được giữ cố định ở một mức duy nhất trong suốt thời hạn cho vay như trước đây mà có sự điều chỉnh từng bước, từ việc
áp dụng các mức lãi suất khác nhau đối với số vốn vay được giải ngân ở các lần khác nhau.
Từ đầu năm 2020 trở lại đây, các dự án vay vốn tín dụng Nhà nước cũng gặp nhiều khó khăn trong sản xuất, kinh doanh do tác động của đại dịch Covid-19 Điều này dẫn đến tình trạng nhiều dự án phải chịu áp lực rất lớn trong việc thu xếp nguồn vốn để trả nợ vay Thậm chí, có những dự án đã bắt đầu phát sinh nợ quá hạn hoặc kéo dài tình trạng chậm thanh toán nợ gốc và lãi đã quá hạn từ trước đó Có thể thấy rằng, mặc dù gặp nhiều khó khăn trong việc trả nợ do tác động tiêu cực của đại dịch Covid
-19, song, các dự án vay vốn tín dụng Nhà nước chưa được áp dụng cơ chế đặc thù nào nhằm hỗ trợ chủ dự án giảm gánh nặng tài chính.
Tín dụng Nhà nước Việt Nam tiềm tàng nhiều rủi ro là vỡ nợ của nhà nước, do tính toán kỹ nhu cầu vay và sử dụng vốn vay không hiệu quả.
Đáng chú ý, đến cuối tháng 9/2021 các TCTD đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho 278.000 khách hàng với dư nợ 238.000 tỷ đồng, lũy kế giá trị nợ đã cơ cấu lại thời hạn
Trang 8trả nợ giữ nguyên nhóm nợ cho khách hàng từ 23/01/2020 1 khoảng 531.000 tỷ đồng Tuy nhiên do tác động của dịch COVID -19, tỷ lệ nợ xấu nội bảng có xu hướng tăng.
Về tín phiếu:
+ Chất lượng tín dụng chưa được cải thiện, nợ xấu và nợ tiềm ẩn thành nợ xấu vẫn còn lớn
+ Tính thanh khoản vẫn còn yếu kém
+ Hạn chế sự tham gia của các thành viên đấu thầu có nhu cầu không phải là các tổ chức tín dụng
+ Hạn chế trong việc lưu kí nên chuyển nhượng giữa các nhà đầu tư tín phiếu tại Việt Nam vẫn chưa được thực hiện được như thông lệ tại các nước trên thế giới điều này đã dẫn tới tình trạng thị trường tín phiếu thứ cấp chưa phát triển, tính thanh khoản bị hạn chế Đây là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng rất lớn tới
sự phát triển của thị trường thứ cấp tín phiếu
Về trái phiếu:
+ Thị trường trái phiếu còn kém phát triển
+ Tính theo tiêu chí tổng dư nợ/ GDP thì quy mô thị trường vẫn còn thấp so với các quốc gia có trình độ phát triển như Thái Lan, Malaisia,
+ Tỷ lệ trái phiếu chính phủ và trái phiếu doanh nghiệp chênh lệch khá rõ ràng phản ánh sự chi phối trên thị trường đến từ phân khúc trái phiếu chính phủ
+ Cơ sở đầu tư còn thiếu khi nhà đầu tư chủ yếu trên thị trường hiện nay là các ngân hàng thương mại
+ Thực tế ở Việt Nam hiện nay cho thấy thị trường trái phiếu chưa thực sự là kênh huy động vốn dài hạn cho nền kinh tế mà chủ yếu vẫn là các kì hạn ngắn
Công trái
+ Khối lượng huy động vốn qua phát hành công trái đang còn thấp so với nhu cầu
phát triển của xã hội
+ Lãi suất chưa hấp dẫn, kỳ hạn chưa đa dạng
+ Chưa khai thác hết tiềm năng của phát hành công trái
+ Hệ thống pháp luật chưa đồng bộ, chưa đáp ứng được nhu cầu thực tiễn, không nhất quán về quy định phát hành công trái
Trái phiếu chính phủ quốc tế
+ Phải tuân thủ các thủ tục pháp lý phức tạp
+ Rủi ro tỷ giá
+ Không có cơ hội để đàm phán và giãn nợ
Trang 9+ Việc phát hành lần đầu thường phải chịu chi phí lớn gây nên gánh nặng nợ nần và rủi ro nhà phát hành nếu sử dụng vốn huy động không hiệu quả
Trái phiếu đầu tư
+ Nhiều công trình chưa cần thiết, chưa cần triển khai phục vụ phát triển nhưng cũng được phát hành trái phiếu để thực hiện
+ Các công trình thường hay rơi vào tình trạng thiếu vốn thực hiện tiếp do nguồn vốn cũng như dự toán có nhiều sai lệch
Cho vay đầu tư
+ Hiệu lực của công cụ này đến thị trường chưa cao và mối liên hệ với tổng thanh
toán chưa rõ ràng
+ Thời gian hoàn thành một đề nghị cho vay đầu tư của ngân hàng Nhà nước còn dài làm giảm tính chất hỗ trợ khẩn cấp của công cụ cho vay đầu tư để bổ sung vốn cho đơn vị đi vay
+ Sự quan tâm và hiểu biết của hệ thống Nhà nước đối với các nghiệp vụ cho vay đầu tư không đồng đều, nhìn chung chưa cao
+ Về cơ bản không có sự khác biệt nhiều giữa hình thức chiết khấu có thời hạn và hình thức cầm cố giấy tờ có giá có thời hạn Tuy nhiên lãi suất áp dụng lại khác nhau Điều này dẫn tới sự khác biệt không cần thiết trong việc tiếp cận các công cụ của ngân hàng Nhà nước
3 Nguyên nhân
Về tín phiếu
Do không linh hoạt việc kết nạp thành viên quỹ tín dụng , đẩy mạnh tập huấn nghiệp vụ nhằm nâng cao năng lực chuyên môn trong lãnh đạo và hoạt động chuyên môn của quỹ không quan tâm tháo gỡ khó khăn trong giải quyết nợ xấu , cần phải phối hợp chặt chẽ giữa các Đảng ủy , UBND
Do nhu cầu vay vốn tiêu dùng cấp bách thường khó chứng minh mục đích
sử dụng vốn và khả năng trả nợ; quá trình thẩm định cấp tín dụng khó khăn do nguồn thông tin không đầy đủ, độ chính xác không bảo đảm Thời gian qua, hoạt động cho vay tiêu dùng, đặc biệt tại các công ty tài chính bộc lộ một số rủi ro tiềm ẩn về nợ xấu
Do dịch bệnh covid 19 , gặp nhiều khó khăn ảnh hưởng đến các dự án dẫn đến nợ xấu tăng
Về trái phiếu
Trang 10Do các thông lệ và chuẩn mực ở Việt Nam đang áp dụng còn độ lệch lớn
so với thế giới ,thông tin không được trình bày theo chuẩn báo cáo tài chính quốc tế IFRS sẽ khiến các nhà đầu tư rất quan ngại
Về công trái
Quỹ tín dụng nhà nước trong hoạt động xác minh các vấn đề liên đến tài sản thế chấp và con người vay vốn; nâng cao tinh thần đoàn kết của Quỹ, đội ngũ cán bộ của quỹ cần nâng cao trình độ chuyên môn và có đội ngũ kế thừa trong công tác tạo nguồn; thường xuyên đào tạo cán bộ trẻ về ứng dụng công nghệ thông tin; làm tốt công tác tuyên truyền để nhân dân tin tưởng gửi tiền và vay vốn nhằm giảm tình trạng tín dụng đen (cho vay bất hợp pháp, lãi suất bất hợp pháp và thu hồi nợ bất hợp pháp) không những không suy giảm, mà còn gia tăng một cách càng ngày ngày trầm trọng, với lãi suất thực tế lên đến hàng trăm
% mỗi năm Một bộ phận người dân, đặc biệt là người dân tại các vùng sâu, vùng xa, do chưa có nhiều thông tin về tín dụng ngân hàng nên bị các kênh cho vay không chính thức tiếp cận cho vay với lãi suất cao Tài chính tiêu dùng phát triển rất mạnh, nhưng hành lang pháp lý không theo theo kịp, thậm chí không thay đổi nhiều, nên đã trở thành một trong những nguyên nhân cản trở hoạt động này
Do hình thức huy động vốn chưa được đa dạng , phong phú , linh hoạt Mức độ đa dạng các hình thức huy động càng cao thì dễ dàng đáp ứng tối đa nhu cầu của cư dân , vì họ đều tìm cho mình gửi tiền 1 cách phù hợp mà lại an toàn Một phần nguyên nhân dẫn đến vốn huy động chậm và có sự phân hóa do việc
sử dụng tiền bạc không hiệu quả , chịu ảnh hưởng từ dịch covid19
Trái phiếu chính phủ quốc tế:
+ Môi trường kinh tế vĩ mô vẫn chưa thuận lợi cho thị trường TPCP phát triển, + Mô hình tổ chức thị trường TPCP chưa phù hợp,
+ Sự phối hợp của các cơ quan quản lý còn nhiều bất cập,
+ Thiếu nhà tạo lập thị trường, nhà đầu tư kinh doanh trái phiếu chuyên nghiệp,