1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đề tài: GIÁO DỤC TRẺ KHUYẾT TẬT HỌC HÒA NHẬP Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC

12 75 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 65,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trẻ em là mối quan tâm hàng đầu của gia đình, cộng đồng và xã hội, trẻ em là mầm non của đất nước. Vì vậy trẻ cần được hưởng thụ giáo dục dạy dôc chu đáo của mọi người từ gia đình đến xã hội. Đặc biệt là trẻ khuyết tật. Do đó giáo dục trẻ khuyết tật là một nhiệm vụ quan trọng và đầy tính nhân văn của toàn xã hội nói chung của ngành giáo dục nói riêng. Uớc tính có khoảng nữa triệu trẻ em khuyết tật sống ở Việt Nam. Những trẻ em này đang đối mặt với những thách thức đáng kể trong cuộc sống hàng của các em và có nhiều hình thức đối xử, dẫn tới bị loại trừ khỏi xã hội và trường học. trong khi đó mọi trẻ em đều có quyền được giáo dục, thái độ đối xử với các em trẻ khuyết tật cũng như thiếu hiểu biết về nhu cầu của các em sẽ kết hợp những thách thức mà các em phải đối mặt khi đòi hỏi quyền này.Với việc tiếp cận với những trường học một vấn đề chính ,mối quan tâm bình đẳng là chưa đáp ứng đầu đủ của hệ thống giáo dục để đảm bảo chất lượng giáo dục cho trẻ khuyết tật.Hiện nay, những trẻ em này vẫn phải đối mặt với một số rào cản để giáo dục hòa nhập xa tầm với, đặc biệt là thiếu cơ sở vật chất, trường chuyên biệt, chuyên ngành và đào tạo cho giáo viên và có nhiều khác biệt của định nghĩa về trẻ khuyết tật trong các lĩnh vực khác nhau.Tất cả các lí do nêu trên đã đưa ra một hệ quả là còn quá nhiều trẻ em khuyết tật không được tới lớp học, không hoàn thành trường Tiểu học hoặc Trung học và không được đòi quyền lợi cơ bản của các em là được tiếp cận một nền giáo dục có ý nghĩa. Luật bảo vệ, chăm sóc trẻ em năm 1991 và sửa đổi ghi cụ thể điều 34, 35 ,39 đã đề cập đến việc nhà nước và xã hội tạo điều kiện để trẻ có hoàn cảnh khó khăn và trẻ khuyết tật được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục.Đất nước ta trãi qua nhiều cuộc chiến tranh rất khốc liệt, trong đó cuộc chiến tranh chống Mĩ là khốc liệt nhất. Vì đế quốc Mĩ đã gieo gắc trên đất nước ta không biết là bao nhiêu tấn chất độc hóa học. Hậu quả rất nặng nề, nhất là bị ảnh hưởng chất độc màu da cam. Qua hai ba thế hệ đén nay vẫn còn. Nhiều trẻ khuyết tật khác nhau, bị tật suốt đời. Đã có nhiều trẻ khuyết tật ở Việt Nam nói chung và ở huyện Xxxxnói riêng. Chỉ nói riêng ở trường Tiểu học Xxxx 2 nơi tôi đang công tác có khoảng 9 em bị khuyết tật tính từ lớp 1 đến lớp 5. Các em bị vào 2 dạng khuyết tật như : + Dạng khuyết tật chậm phát triển trí tuệ.+ Dạng khuyết tật về ngôn ngữ .Dạng chậm phát triển trí tuệ là do suy giảm nhiều hay ít về năng lực hoạt động nhận thức dẫn đến không thích ứng với xã hội, có mức thông minh thấp hơn mức bình thường, các em không có khả năng phát triển cao hơn nữa, chỉ đạt ở mức độ nhất định, mức độ phát triển tùy thuộc vào phát triển thể chất, không có khả năng chữa trị. Nhưng trẻ thuộc loại này thường gặp rất nhiều khó khăn trong học tập và nhận thức về thế giới xung quanh.Còn trẻ khuyết tật về ngôn ngữ, biểu hiện của trẻ là nói ngọng, nói lắp dẫn tới trẻ gặp khó khó khăn về giao tiếp và gặp khó khăn trong học tập.Ở huyện Xxxxchưa có trường, lớp nào dành riêng cho trẻ khuyết tật. Chính vì thế, giáo dục hòa nhập chính là phương thức giáo dục cho trẻ cùng học với trẻ bình thường trong trường phổ thông ở nơi gia đình bé đang sinh sống.

Trang 1

KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC – MẦM NON

BÀI THU HOẠCH

HỌC PHẦN GIÁO DỤC HÒA NHẬP

TÊN ĐỀ TÀI:

(GIÁO DỤC TRẺ KHUYẾT TẬT HỌC HÒA NHẬP

Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC)

ĐỒNG THÁP, NĂM 2021

Trang 2

MỤC LỤC

A PHÂN MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề.

1.1 Lí do chọn đề tài

Trẻ em là mối quan tâm hàng đầu của gia đình, cộng đồng và xã hội, trẻ em

là mầm non của đất nước Vì vậy trẻ cần được hưởng thụ giáo dục dạy dôc chu đáo của mọi người từ gia đình đến xã hội Đặc biệt là trẻ khuyết tật Do đó giáo dục trẻ khuyết tật là một nhiệm vụ quan trọng và đầy tính nhân văn của toàn xã hội nói chung của ngành giáo dục nói riêng

Uớc tính có khoảng nữa triệu trẻ em khuyết tật sống ở Việt Nam Những trẻ

em này đang đối mặt với những thách thức đáng kể trong cuộc sống hàng của các

em và có nhiều hình thức đối xử, dẫn tới bị loại trừ khỏi xã hội và trường học trong khi đó mọi trẻ em đều có quyền được giáo dục, thái độ đối xử với các em trẻ khuyết tật cũng như thiếu hiểu biết về nhu cầu của các em sẽ kết hợp những thách thức mà các em phải đối mặt khi đòi hỏi quyền này.Với việc tiếp cận với những trường học một vấn đề chính ,mối quan tâm bình đẳng là chưa đáp ứng đầu đủ của hệ thống giáo dục để đảm bảo chất lượng giáo dục cho trẻ khuyết tật

Hiện nay, những trẻ em này vẫn phải đối mặt với một số rào cản để giáo dục hòa nhập xa tầm với, đặc biệt là thiếu cơ sở vật chất, trường chuyên biệt, chuyên ngành và đào tạo cho giáo viên và có nhiều khác biệt của định nghĩa về trẻ khuyết tật trong các lĩnh vực khác nhau.Tất cả các lí do nêu trên đã đưa ra một hệ quả là còn quá nhiều trẻ em khuyết tật không được tới lớp học, không hoàn thành trường Tiểu học hoặc Trung học và không được đòi quyền lợi cơ bản của các em là được tiếp cận một nền giáo dục có ý nghĩa

Luật bảo vệ, chăm sóc trẻ em năm 1991 và sửa đổi ghi cụ thể điều 34, 35 ,39

đã đề cập đến việc nhà nước và xã hội tạo điều kiện để trẻ có hoàn cảnh khó khăn

và trẻ khuyết tật được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục

Đất nước ta trãi qua nhiều cuộc chiến tranh rất khốc liệt, trong đó cuộc chiến tranh chống Mĩ là khốc liệt nhất Vì đế quốc Mĩ đã gieo gắc trên đất nước ta không

Trang 3

biết là bao nhiêu tấn chất độc hóa học Hậu quả rất nặng nề, nhất là bị ảnh hưởng chất độc màu da cam Qua hai ba thế hệ đén nay vẫn còn Nhiều trẻ khuyết tật khác nhau, bị tật suốt đời Đã có nhiều trẻ khuyết tật ở Việt Nam nói chung và ở huyện

Vị Thủy nói riêng Chỉ nói riêng ở trường Tiểu học Vị Thanh 2 nơi tôi đang công tác có khoảng 9 em bị khuyết tật tính từ lớp 1 đến lớp 5 Các em bị vào 2 dạng khuyết tật như :

+ Dạng khuyết tật chậm phát triển trí tuệ

+ Dạng khuyết tật về ngôn ngữ

Dạng chậm phát triển trí tuệ là do suy giảm nhiều hay ít về năng lực hoạt động nhận thức dẫn đến không thích ứng với xã hội, có mức thông minh thấp hơn mức bình thường, các em không có khả năng phát triển cao hơn nữa, chỉ đạt ở mức

độ nhất định, mức độ phát triển tùy thuộc vào phát triển thể chất, không có khả năng chữa trị Nhưng trẻ thuộc loại này thường gặp rất nhiều khó khăn trong học tập và nhận thức về thế giới xung quanh

Còn trẻ khuyết tật về ngôn ngữ, biểu hiện của trẻ là nói ngọng, nói lắp dẫn tới trẻ gặp khó khó khăn về giao tiếp và gặp khó khăn trong học tập

Ở huyện Vị Thủy chưa có trường, lớp nào dành riêng cho trẻ khuyết tật Chính vì thế, giáo dục hòa nhập chính là phương thức giáo dục cho trẻ cùng học với trẻ bình thường trong trường phổ thông ở nơi gia đình bé đang sinh sống

1.2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu một sốvấn đề về lí thuyết trong vấn đề giáo dục trẻ khuyết tật từ

đó có định hướng và thực hiện bằng các hoạt động với phương tiện và điều kiện vật

chất phù hợp để giúp các nhà giáo dục đánh giá chính xác sự phát triển của trẻ Hệ

thống những vấn đề có liên quan đến đề tài này đồng thời mô tả được thực trạng quá trình giáo dục trẻ Đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện tình trạng giảm sút chức năng do tật ,phát huy tối đa những năng lực còn lại Rèn luyện thói quen kĩ năng tự phục vụ

1.3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu :

- Phạm vi : Nghiên cứu những biểu hiện về kiến thức văn hóa , những kĩ

năng xã hội , mục tiêu của trẻ khuyết tật tại trường Tiểu học Vị Thanh 2,Trường Tiểu học Vị Đông 3,

- Đối tượng từ khối 1 đến khối 5

Trang 4

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp quan sát điều tra

Phương pháp nghiên cứu tài liệu sách, các văn bản có liên quan đề tài

Phương pháp thực nghiệm

1.5 kế hoạch và thời gian thực hiện:

Từ 01/8/2021 đến 05/9/2021.Tiến hành điều tra trẻ em khuyết tật

Từ ngày 10/9/2021 đến ngày 10/10/2021 nghiên cứu các văn bản có liên quan tới nội dung đề tài

Từ 15/10/2021 đến 31/12/2021 trực tiếp giảng dạy, dự giờ thu thập số liệu tại trường hoàn thành đề cương sỏ lược

Từ 01/01/ 2022 đến 30/01/2022 Hoàn thành đề cương chi tiết

Từ 02/ 03/ 2022 đến 25/5/2022 Hoàn chỉnh đề tài

B PHẤN NỘI DUNG

1 Một số khái niệm có liên quan đến nội dung nghiên cứu

1.1 Khái niệm khuyết tật trí tuệ

Khuyết tật trí tuệ là một trong những khuyết tật phổ biến trên thế giới và ở Việt Nam Hiện nay khái niệm khuyết tật trí tuệ (intelectual dísability) được các nhà khoa học ,các nhà giáo dục sử dụng rộng rãi nhất là theo bảng phân loại của DSM-IV (Sổ tay chuẩn đoán và thống kê các rối nhiễu tâm thần IV) với 3 tiêu chí gồm

a Chức năng trí tuệ dưới mức độ trung bình : chỉ số thông minh đạt gần 70 hoặc thấp hơn 70 trên một lần thực hiện trắc nghiệm cá nhân (Đối với học sinh nhỏ ,người ta dựa vào các đánh giá lâm sàng để xác định )

b Bị thiếu hụt hoặc khiếm khuyết ít nhất hai trong số những hành vi thích ứng sau: giao tiếp, tự chăm sóc, sống tại gia đình, kỹ năng xã hội/liên cá nhân, sử dụng các tiện ích trong cộng đồng, tự định hướng, kỹ năng học đường chức năng làm việc, giải trí, sức khỏe và an toàn

c Khuyết tật trí tuệ xuất hiện trước 18 tuổi

Bảng phân loại DSM-IV sử dụng trí thông minh làm tiêu chí để phân loại mức độ khuyết tật trí tuệ và chia làm 4 mức độ sau:

+Khuyết tật trí tuệ mức độ nhẹ: Có chỉ số thông minh từ 50-55 đến gần 70 +Khuyết tật mức độ trung bình: Có chỉ số thong minh từ 35-40 đến 50 – 55

Trang 5

+Khuyết tật trí tuệ mức độ nặng: Chỉ số thông minh từ 20 – 25 đến 35 – 40 +Khuyết tật trí tuệ mức độ rất nặng: Có chỉ số thông minh dưới 20 hoặc 25

1 2 Khái niệm học sinh khuyết tật ngôn ngữ.

Học sinh khuyết tật ngôn ngữ là những trẻ em có khả năng đáng kể về nói hoặc về đọc viết, làm ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình giao tiếp và học tập Một số biểu hiện khuyết tật ngôn ngữ thường gặp ở học sinh gồm: nói ngọng nói lắp, nói khó, nói gọng mũi, mất khả năng nói, không nói được

1.3 Các nguyên nhân gây khuyết tật.

+ Nguyên nhân gây khuyết tật ở trẻ em có thể chia ra theo hai giai đoạn: nguyên nhân xảy ra trước khi sinh, trong khi sinh và sau khi sinh

- Nguyên nhân trước khi sinh

+ Di truyền: Lỗi nhiễm sắc thể, lỗi gen gây dị tật bẩm sinh (hội chứng Down, hội chứng Relt liên quan đến nhiễm sắc thể giới tính, hội chứng Willams Nenren là dạng cặp NST số 7 bị mất một đoạn) hoặc do rối loạn nhiều yếu tố: Nứt đốt sống, thiếu một phần não

+ Do các yếu tố ngoại sinh như lây nhiễm rubella, giang mai, HIV, nhiễm độc thực phẩm của người mẹ dùng, tuổi và dinh dưỡng của người mẹ hoặc thiếu

i-ốt trong thức ăn

- Một số nguyên nhân sau khi sinh như: thiếu oxy, thời gian sinh quá lâu, học sinh bị tổn thương trong khi sinh, lây nhiễm hoặc nhiễm trùng trong sinh và đẻ non

- Nguyên nhân sau khi sinh : Chấn thương, tai nạn, mắc bệnh sau khi sinh và các yếu tố môi trường khác

- Những nguyên nhân thuộc về môi trường sống như: Nghèo đói, suy dinh dưỡng, bệnh tật không được phát hiện kịp thời, ô nhiễm môi trường, nhiễm độc, hoàn cảnh sống

- Những nguyên nhân thuộc về xã hội như: căng thẳng và áp lực trong cuộc sống, thiếu hiểu biết, kết hôn trực hệ (cùng huyết thống)

1.4 Các dạng khuyết tật của HS Tiểu học.

Trong thực tế giáo dục ở Việt Nam hiện nay, học sinh thường dược chia theo các nhóm sau:

(1) Khiếm thị (2) Khiếm thính

Trang 6

(3) Khiếm tật trí tuệ (4).Khuyết tật ngôn ngữ (5) Khuyết tật vận động (6) Rối loạn phổ tự kỉ (7) Khuyết tật học tập (8) Khuyết tật khác

1.5 Các mức độ khuyết tật

Căn cứ theo các dạng tật, mức độ mất hoặc suy giảm khả năng tự thực hiện các hoạt động sinh hoạt hàng ngày mà pháp luật chia thành 03 loại mức độ theo quy định tại Điều 03 của Nghị Định 28/2012 / NĐ- CP (Điều 03: Mức độ khuyết tật)

-Người khuyết tật đặc biệt nặng là những người do khuyết tật dẫn đến mất

hoàn toàn chức năng, không tự kiễm soát hoặc không tự thực hiện được các hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác, phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày mà cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc hoàn toàn

-Người khuyết tật nặng: là những người do khuyết tật dẫn đến một phần

hoặc suy giảm chức năng này, không tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện được một số hoạt động đi lại được, một số hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân

và những việc khác phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày mà có người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc

-Người khuyết tật nhẹ :là người không thuộc trường hợp qui định tại khoản

1 và khoản 2 Điều này Như vậy có 03 loại mức độ khuyết tật: đặc biệt nặng, nặng

và nhẹ Việc xác nhận mức độ khuyết tật thuộc về trách nhiệm của Hội đồng xác định mức độ khuyết tật hoặc Hội đồng giám định y khoa thực hiện

2 Thực trạng về trẻ khuyết tật ở trường Tiểu học.

2.1 Các dạng khuyết tật trong Trường Tiểu học Vị Đông 3.

Để cho việc thu thập minh chứng về tình trạng trẻ khuyết tật trong địa bàn các trường trong dự án nhằm nắm lại số lượng trẻ khuyết tật và gồm có những dạng khuyết tật nào cần có thể đưa vào kết hợp giáo dục hòa nhập tại đơn vị được tốt hơn Giáo viên chủ nhiệm kết hợp cùng Ban giám hiệu trường và chính quyền địa phương đến gia đình trẻ khuyết tật để vận động và thu thập thông tin chính xác

Trang 7

Qua khảo sát đơn vị đã thu thập được các số liệu trên địa bàn trường tiểu học trong nhóm có số lượng trẻ KT các dạng như sau:

-Khuyết tật ngôn ngữ

-Khuyết tật trí tuệ

-Khuyết tật rối loạn tự phổ

Tuy nhiên ở đây trẻ khuyết tật trí tuệ và khiếm thị chiếm phần nhiều trên tổng số trẻ khuyết tật trên địa bàn trường

+ Khuyết tật trí tuệ: có 19/971 trẻ Chiếm 1.8%

+ Khuyết tật ngôn ngữ: có 14/791 trẻ Chiếm 2.4%

+ Khuyết tật rối loạn tự phổ: có 21/791 trẻ Chiếm 2.7%

Trải khắp cả các khối lớp cụ thể như sau:

%

K2 TL

%

K3 TL

%

K4 TL

%

%

G.chú

Kt ngôn

ngữ

KT rối loạn

tự phổ

2.2 Những khó khăn của của Khuyết tật ảnh hưởng trực tiếp đến trẻ

Học sinh khiếm thính là bị suy giảm sức nghe ở các mức độ khác nhau dẫn tới khó khăn trong tri giác âm thanh và âm thanh lời nói, làm hạn chế khả năng giao tiếp và ảnh hưởng đến quá trình phát triển ngôn ngữ và nhận thức của học sinh Ảnh hưởng của tật khiếm thính đến sự phát triển của học sinh: thể chất; ngôn ngữ

và giao tiếp; nhận thức; tình cảm xã hội Học sinh khiếm thị có sự suy giảm hay mất khả năng nhìn (mù hay nhìn kém)

Học sinh khuyết tật trí tuệ có nhiều hành vi khác thường như ngơ ngác, chậm hiểu….Ảnh hưởng của tật: Phát triển thể chất; phát triển ngôn ngữ và giao tiếp; phát triển nhận thức; phát triển tình cảm xã hội…

Học sinh KT rối loạn tự phổ có dạng không thích chơi đùa hoặc không biết chơi với người khác, không quan tâm đến những người chung quanh Thích làm việc tự do và chỉ thích một số công việc Có hành động bộc phát

3 Các biện pháp khắc phục gây ra tật cho học sinh:

3.1. Các biện pháp từ gia đình:

Trang 8

Các nghiên cứu gần đây ở Việt Nam cho thấy, bất kỳ một cộng đồng nào cũng có một bộ phận HS có khó khăn trong học tập, bao gồm nhiều nguyên nhân, như: Môi trường GD, hoàn cảnh gia đình, đặc thù địa lý…, bị các dạng khuyết tật (như: Khiếm thị, khiếm thính, trí tuệ, rối loạn cảm xúc ) Những em thuộc nhóm đối tượng này có khó khăn đặc thù chủ yếu là nghe, nói, đọc, viết, tính toán…; được đưa vào dạng “khuyết tật học tập”

Trong Công ước về quyền của người khuyết tật đã nêu rõ, những người khuyết tật và gia đình họ cần phải được bảo vệ, giúp đỡ, để gia đình giúp những người khuyết tật được hưởng một cách đầy đủ các quyền của mình Trong trường hợp những người gần gũi nhất trong gia đình không có khả năng trông nom, chăm sóc người khuyết tật, thì được đưa đến chăm sóc, bảo vệ trong cộng đồng được tổ chức như gia đình Do đó để tăng cường nhận thức về những vấn đề liên quan đến gia đình, cũng như nhằm động viên và đề cao vai trò của gia đình đối với việc chăm sóc, bảo vệ, nuôi dưỡng người khuyết tật

Gia đình đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định đến quá trình phát triển của trẻ khi học hoà nhập:

+ Phát hiện sớm để tiến hành giáo dục;

+ Quan tâm, chăm sóc, nuôi nấng và giúp trẻ phát triển khả năng nhận thức, giao tiếp xã hội bằng việc tạo điều kiện để các em học tập, vui chơi,

+ Hướng dẫn hình thành cho trẻ biết cách làm các công việc vệ sinh cá nhân,

ăn, uống … giúp đỡ gia đình những việc phù hợp và vừa sức, vừa với khả năng của mình;

+ Chủ động trong việc phối hợp với các giáo viên có liên quan đến việc giáo dục con em mình để trao đổi tình hình trẻ, tìm biện pháp giúp đỡ, hỗ trợ hiệu quả

3.2. Các biện pháp từ học sinh:

Các em cần được hoạt động thực sự thật sự chiếm lĩnh tri thức phải gắn kết với hoạt động của giáo viên để đưa mình từ tư duy trừu tượng về giới thực tế, thế nhớ những hình ảnh vật dụng Mô hình gắn liền với thế giới xung quanh, phát huy tối đa trí tưởng tượng sáng tạo tìm tòi và đặc biệt là các em phải được học tập thực hành và luyện tập thật nhiều Nghiêm túc trong học tập đảm bảo chuyên cần và đặc biệt là phải đặt mục tiêu học tập lên trên hết cần trang bị đầy đủ đồ đồ dùng theo quy định

Trang 9

Các em tập thói quen làm theo những việc đơn giản và rèn luyện những kỹ năng học tập, vui chơi, lao động,…:

- Các em biết cách làm các công việc vệ sinh cá nhân, ăn, uống … giúp đỡ gia đình những việc phù hợp và vừa sức, vừa với khả năng của mình, thường xuyên

có thói quen luyện tập thể dục thể thao

- Sắp xếp tập, sách ngăn nắp, gọn gàng,…

- Biết tự chuẩn bị cặp, sách đi học

3.3. Các biện pháp từ nhà trường, bạn bè, giáo viên dạy lớp:

*Biện pháp từ nhà trường:

- Nhà rường có nhiệm vụ tổ chức, triển khai bộ máy điều hành nhân lực cho phù hợp để giúp trẻ khuyết tật phát triển khả năng nhận thức, giao tiếp và những kỹ năng xã hội khác để hoà nhập cộng đồng Nắm vững qui trình triển khai kế hoạch, nội dung, phương pháp cũng như cách tổng kết, đánh giá

Có kế hoạch bồi dưỡng tạo điều kiện cho giáo viên trường được bồi dưỡng dạy hòa nhập trẻ khuyết tật, tổ chức các buổi thảo luận chuyên đề giáo dục có điều kiện giao lưu học hỏi lẫn nhau nhiều phát triển năng lực của chính mình

*Biện pháp từ bạn bè:

Hoạt động vui chơi học tập giúp học sinh phát triển khả năng tư duy sáng tạo

là một yêu cầu hết sức quan trọng Để thực hiện được vấn đề này đòi hỏi người giáo viên phải có kiến thức sâu sắc về cơ sở khoa học và phương pháp giáo dục Giáo viên phải linh hoạt, nhạy bén, sáng tạo, để phát huy những khả năng tiềm ẩn

và đáp ứng kịp thời những nhu cầu của học sinh Tạo cho học sinh sự tự tin, mạnh dạn hòa nhập tham gia với các bạn

Học sinh chung trường, chung lớp biết yêu thương, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong học tập, vui chơi, lao động,… Thông qua các hoạt động tập thể học cảm thấy mạnh dạn tự tin hơn Trong khi vui chơi cùng bạn bè rất tốt cho trẻ khuyết tật hòa nhập Trẻ được sống và học tập trong môi trường tập thể là cơ hội tốt nhất giúp trẻ hoàn thiện các khiếm khuyết

*Biện pháp từ giáo viên dạy lớp:

Trong quá trình giảng dạy giáo viên cần làm tốt vai trò chủ đạo của mình để giúp học sinh chiếm lĩnh tri thức, có được thông tin phản hồi một cách tốt nhất, từ

đó lên kế hoạch phù hợp cho việc giảng dạy phụ đạo bồi dưỡng cho học sinh

Trang 10

Nghiên cứu đối tượng dạy học bao gồm đối tượng người học, đối tượng kiến thức, điều kiện trang thiết bị dạy học, lập kế hoạch cho mỗi phần, mỗi chương mỗi bài và đặc biệt là quá trình hoạt động cụ thể Đây là vấn đề mà người dạy phải làm thường xuyên liên tục và đầy trách nhiệm Sau mỗi đơn vị kiến thức mỗi bài mẫu chương mỗi phần giáo viên cần dành thời gian để hệ thống kiến thức giúp học sinh ghi nhớ sau các yêu cầu cần đạt Tổ chức tốt các hoạt động đánh giá tự đánh giá tạo cho học sinh có điều kiện đánh giá lẫn nhau và tự đánh giá chính mình từ đó các

em dễ dàng nhận thấy khuyết điểm của mình để khắc phục Trong quá trình giao tiếp với trẻ khuyết tật, giáo viên cần phải hết sức tôn trọng trẻ thông qua việc luôn tin tưởng vào khả năng giao tiếp của trẻ, điều chỉnh trình độ giao tiếp của giáo viên phù hợp với khả năng giao tiếp của trẻ,… Đồng thời, giáo viên cần phải quan sát và ghi chép thường xuyên những biểu hiện hành vi trong giao tiếp của trẻ để có thể có

kế hoạch hướng dẫn tiếp theo cho các em Giáo viên trực tiếp giảng dạy các em phải có lòng nhiệt tình tình, quan tâm hết mực bằng tình thương và trách nhiệm của một nhà giáo Huy động sức mạnh tổng hợp cùng tham gia giáo dục trẻ khuyết tật Phối hợp giữa gia đình nhà trường và xã hội Cần theo dõi quá thiện khả năng học sinh, khuyết tật vốn có nhằm để khắc phục những hạn chế mà các em không may mắn gặp phải để có kết quả giáo dục tốt nhất

C PHẦN KẾT LUẬN

Trong công tác giáo dục hòa nhập học sinh khuyết tật, điều đầu tiên cần đến

đó là tình thương một cách thật sự đến trẻ chứ không phải sự ban ơn, dạy được đến đâu hay đến đó Việc hướng dẫn cho trẻ khuyết tật trí tuệ cần phải kiên trì, từng li từng tí Vận dụng triệt để phương pháp làm mẫu và thực hành luyện tập Thường xuyên động viên, khích lệ để trẻ tự tin, phấn khởi.Tránh nói to, càng không được quát mắng trẻ khiến trẻ dễ bị hẫng hụt về tâm lí

Tạo cho trẻ sự tin cậy đối với thầy, cô giáo, với bạn bè Ở đó trẻ tìm được sự

an toàn, sự an ủi và động viên kịp thời, giúp cho tinh thần của trẻ vững vàng Trẻ khuyết tật về ngôn ngữ thường hay nói mà càng nói càng ngọng, càng sai Vì vậy càng giúp trẻ nói chuyện chậm lại và hướng dẫn trẻ tập nói một mình trước Trẻ khuyết tật ngôn ngữ, nên cần sử dụng các hành động phi ngôn ngữ và hiểu được ánh mắt trẻ muốn nói gì Muốn thế giáo viên phải gần gũi trẻ nhiều hơn, phải hiểu

Ngày đăng: 28/11/2021, 13:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w