Phân tích căn cứ và hậu quả pháp lý của tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Khái quát chung về tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Căn cứ tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Căn cứ tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự tại cấp sơ thẩm. Căn cứ tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự tại cấp phúc thẩm. Hậu quả pháp lý của việc tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Mở rộng một số vấn đề: Những bất cập, hạn chế trong việc áp dụng pháp luật tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự; Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về tạm đình chỉ vụ án dân sự
Trang 1- -
MÔN: LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ
Đề số 19:
PHÂN TÍCH CĂN CỨ VÀ HẬU QUẢ PHÁP LÝ CỦA TẠM ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ THEO QUY ĐỊNH CỦA BLTTDS NĂM 2015
Hà Nội - 2020
Trang 2MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU 1
B NỘI DUNG 2
I Một số vấn đề lý luận 2
1 Khái niệm và đặc điểm của tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự 2
2 Ý nghĩa của việc tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự 3
II Căn cứ tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự 4
1 Căn cứ tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự tại cấp sơ thẩm 4
2 Căn cứ tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự tại cấp phúc thẩm 10
III.Hậu quả pháp lý của việc tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự 11
IV.Mở rộng một số vấn đề liên quan 12
1 Những bất cập, hạn chế trong việc áp dụng pháp luật tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự 12
2 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về tạm đình chỉ vụ án dân sự 15 C KẾT LUẬN 16
Trang 3A MỞ ĐẦU Trong lĩnh vực Tố tụng dân sự, việc Tòa án giải quyết vụ án dân sự là nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Trong nhiều trường hợp, việc tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự có ý nghĩa vô cùng quan trọng cho việc xét xử nói riêng và cả quá trình tố tụng nói chung Đây cũng là cơ sở
để Tòa án giải quyết vụ án dân sự được đúng đắn và khách quan hơn nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Đối với việc đưa ra quyết định tạm đình chỉ một vụ án, Tòa án phải có đủ những lý do, căn cứ nhất định Đó có thể là khi đã thụ lý vụ án nhưng do xuất hiện những căn cứ luật định hay trong quá trình giải quyết vụ án dân sự xuất hiện những lý do làm cho Tòa án không thể tiếp tục tiến hành tố tụng Tuy nhiên, việc áp dụng tạm định chỉ giải quyết vụ án dân sự phải tuân theo các quy định của pháp luật về căn cứ, trình tự thủ tục, thẩm quyền Như vậy mới đảm bảo được thực hiện đúng mục đích của tạm đình chỉ vụ án dân sự là góp phần giải quyết đúng đắn
và đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (sau đây viết tắt là BLTTDS 2015) ra đời,
có thể coi đây là một bước đổi mới quan trọng trong tố tụng, nó đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc hơn, hướng dẫn cụ thể hơn việc tạm đình chỉ vụ án dân sự của Tòa án Trên cơ sở kế thừa bộ luật cũ, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đã
bổ sung, sửa đổi những thiếu sót, hạn chế của Bộ luật tố tụng dân sự năm
2004 Và để nghiên cứu sâu hơn về vấn đề này, trong nội dung bài tiểu luận dưới đây, tôi đã chọn đề tài “Phân tích căn cứ và hậu quả pháp lý của tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo quy định của BLTTDS năm 2015”, thông qua đó làm rõ các khía cạnh trọng tâm như: lý do, căn cứ, thẩm quyền cũng như hậu quả pháp lý của việc tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự Theo
đó, nêu lên những nhận xét, đánh giá của mình về thực tiễn áp dụng việc tạm đình chỉ ra sao và đưa ra giải pháp để góp phần làm toàn diện hơn vấn đề này
Trang 4B NỘI DUNG
I Một số vấn đề lý luận
1 Khái niệm và đặc điểm của tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là việc Tòa án tạm ngừng việc giải quyết vụ án dân sự khi có những căn cứ làm cho việc tiếp tục các thủ tục để giải quyết vụ án có thể ảnh hưởng tới việc tham gia của đương sự hoặc ảnh hưởng tới việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của đương sự hoặc việc giải quyết vụ án có thể không được toàn diện Vì vậy, khi lí do của việc tạm đình chỉ không còn nữa thì Tòa án sẽ tiếp tục giải quyết vụ án
Từ định nghĩa trên ta thấy tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự có một số đặc điểm sau:
Thứ nhất, việc tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự phải dựa trên những căn cứ pháp luật mà pháp luật có quy định trước, trên cơ sở đảm bảo các quyền của đương sự, tính chính xác và đúng đắn trong việc giải quyết các vụ
án dân sự và việc phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức trong việc giải quyết vụ
án dân sự
Thứ hai, tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là việc Tòa án tạm ngừng giải quyết vụ án dân sự đã được thụ lý chứ không phải cho ngừng hẳn việc giải quyết vụ án dân sự Tạm đình chỉ vụ án dân sự không phải là quyết định chấm dứt việc giải quyết về nội dung vụ án dân sự mà nó chỉ làm gián đoạn tạm thời tiến trình tố tụng đang được tiến hành do xuất hiện những tình tiết,
sự kiện nhất định
Thứ ba, tính chất gián đoạn, tạm thời của việc đình chỉ vụ án dân sự đem lại sẽ được khắc phục, mọi hoạt động tố tụng sẽ được khôi phục khi nguyên nhân của việc tạm đình chỉ không còn nữa
Thứ tư, thông thường tạm đình chỉ vụ án dân sự có thể được tiến hành ở cấp sơ thẩm, phúc thẩm
Để hiểu rõ hơn về tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thì cần phân biệt tạm đình chỉ với một số quyết định khác của Tòa án:
Trang 5 Phân biệt tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự với việc hoãn phiên tòa: Việc hoãn phiên tòa về bản chất là việc Tòa án quyết định không tiến hành phiên tòa theo thời gian đã dự kiến và ấn định từ trước do đương sự vắng mặt; Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, người giám định, người phiên dịch vắng mặt hoặc không thể tham gia tố tụng mà không có người thay thế ngay Trong khi đó, việc tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là do chưa có chủ thể
kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng, chưa xác định được người đại diện hoặc cần đợi kết quả giải quyết của một vụ việc dân sự khác
Phân biệt tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự với việc tạm ngừng phiên tòa:
Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự được phân biệt với tạm ngừng phiên tòa ở chỗ tạm ngừng phiên tòa được quyết đình khi Tòa án đang tiến hành phiên tòa, trong khi đó tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thường được Tòa án quyết định trong giai đoạn chuẩn bị xét xử Việc tạm ngừng phiên tòa chỉ được tiến hành trong một khoảng thời gian ngắn do Tòa án ấn định, trong khi đó thời gian tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thường tương đối dài và không mang tính xác định (cho tới khi lý do của việc tạm đình chỉ không còn) Lý do của việc tạm ngừng phiên tòa là Tòa án cần có thêm thời gian để làm rõ các tình tiết, sự kiện của vụ việc để có thể có quyết định đúng đắn cho việc giải quyết như Tòa án cần xem xét thêm về chứng cứ, tài liệu để có cơ sở chắc chắn cho kết luận về vụ án Trong khi đó, tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là do xuất hiện những tình tiết, sự kiện mà việc tiến hành giải quyết vụ việc sẽ không bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự hoặc không bảo đảm tính đúng đắn của việc giải quyết hoặc không bảo đảm
sự phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức trong việc giải quyết vụ việc
2 Ý nghĩa của việc tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
Thứ nhất, việc Tòa án ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự đúng đắn, kịp thời sẽ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Khi xuất hiện những căn cứ làm cho quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể
Trang 6tham gia tố tụng không được đảm bảo nếu quá trình giải quyết vụ việc vẫn được tiếp tục thì quyết định tạm đình chỉ là cần thiết
Thứ hai, quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự không chỉ có ý nghĩa đối với Tòa án trong quá trình xét xử vụ án dân sự Vì hoạt động giải quyết vụ án tạm ngừng lại nên Tòa án có thêm thời gian thu thập chứng cứ, tài liệu, triệu tập đương sự, để chuẩn bị tốt hơn cho phiên tòa xét xử
Thứ ba, việc tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự có tác dụng thôi thúc các bên có liên quan nhanh chóng đáp ứng đủ điều kiện cần thiết để quá trình
tố tụng được tiếp tục tiến hành
Thứ tư, việc ra quyết định tạm đình chỉ đúng cho thấy Tòa án có trách nhiệm rất cao trong việc giải quyết vụ việc dân sự Từ đó thể hiện ý thức của những người tiến hành tố tụng, tôn trọng việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, qua đó củng cố niềm tin của người dân đối với Tòa án, đối với pháp luật
Thứ năm, tạm đình chỉ vụ án dân sự góp phần đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa, đảm bảo tính khách quan, chính xác trong hoạt động xét xử của Tòa án Chỉ khi xuất hiện các nguyên nhân làm cho việc tố tụng bị gián đoạn tạm thời và có thể khắc phục được, pháp luật cho phép tạm đình chỉ giải quyết
vụ án dân sự Nó sẽ hạn chế được tư tưởng không đúng của một số thẩm phán
là phải giải quyết nhanh chóng bằng mọi cách
II Căn cứ tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
1 Căn cứ tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự tại cấp sơ thẩm
Theo quy định tại Điều 214 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, các căn
cứ tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự gồm:
a) Đương sự là cá nhân đã chết, cơ quan, tổ chức đã hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể mà chưa có cơ quan, tổ chức, cá nhân kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức, cá nhân đó
Theo quy định tại khoản 1 Điều 74 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, khi đương sự là cá nhân chết mà quyền, nghĩa vụ về tài sản của họ được thừa kế thì người thừa kế tham gia tố tụng Nhưng trường hợp chưa có hoặc chưa xác
Trang 7định được người thừa kế, chưa xác định được đầy đủ người thừa kế hoặc người thừa kế vì một lý do nào đó chưa thể tham gia tố tụng ngay thì Tòa án cần ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự để xác định chủ thể kế thừa tham gia tố tụng Đối với trường hợp đương sự chết mà đã xác định được
là không có người thừa kế thì theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 (BLDS 2015), tài sản này thuộc về Nhà nước Do vậy, nếu cá nhân là đương sự trong một vụ án dân sự mà chết nhưng chưa có chủ thể thừa kế quyền và nghĩa vụ của họ hoặc người thừa kế chưa sẵn sàng tham gia tố tụng thì Tòa án phải ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự để đảm bảo quyền tham gia tố tụng, quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của chủ thể này
Ngoài ra, theo hướng dẫn tại nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP thì trường hợp cơ quan, tổ chức đã sáp nhập, chia, tách mà chưa có cơ quan, tổ chức kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức đó là trường hợp đã có quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền về việc sáp nhập, chia, tách cơ quan, tổ chức đó, nhưng cơ quan, tổ chức mới chưa được thành lập hoặc đã được thành lập nhưng chưa đủ điều kiện để hoạt động theo quy định của pháp luật; trường hợp cơ quan, tổ chức đã giải thể mà là trường hợp chưa xác định được cá nhân, cơ quan, tổ chức kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng, thì cũng phải tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
b) Đương sự là cá nhân mất năng lực hành vi dân sự, người chưa thành niên mà chưa xác định được người đại diện theo pháp luật1
Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần (Điều 22 BLDS 2015) Trong trường hợp đương sự là người mất năng lực hành vi dân sự thì cũng sẽ mất năng lực hành vi tố tụng, họ không thể tự khởi kiện hoặc yêu cầu toà án, không thể tự mình đứng ra bảo vệ
1 Theo quy định tại Điều 85 BLTTDS 2015 thì người đại diện theo pháp luật được quy định trong Bộ luật dân
sự là người đại diện theo pháp luật tố tụng dân sự, trừ trường hợp bị hạn chế
Trang 8quyền và lợi ích hợp pháp của mình mà phải có người đại diện theo pháp luật tham gia tố tụng (người có năng lực hành vi tố tụng dân sự) để bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của người đó Như vậy, trong trường hợp một bên đương
sự mất năng lực hành vi dân sự mà chưa xác định được người đại diện tham gia tố tụng thì Tòa án sẽ ra quyết định tạm đình chỉ vụ án dân sự đó
Theo quy định tại Điều 21 BLDS 2015 thì người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi Theo đó, căn cứ vào nhiều yếu tố dựa trên sự phát triển tâm sinh lý, khả năng nhận thức và làm chủ hành vi thể hiện qua độ tuổi mà người chưa thành niên chưa đủ ý chí cũng như lí trí để hiểu được hành vi và hậu quả khi tham gia tố tụng, vì thế cần có người đại diện tham gia
tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người đó Tóm lại, nếu chưa xác định được người đại diện theo pháp luật thay đương sự là người chưa thành niên tham gia tố tụng thì Tòa án phải tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án dân sự để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp
c) Chấm dứt đại diện hợp pháp của đương sự mà chưa có người thay thế
Để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình khi tham gia tố tụng, đương
sự có thể tự mình hoặc thông qua người đại diện của mình tham gia tố tụng Người đại diện hợp pháp của đương sự bao gồm người đại diện theo pháp luật
và người đại diện theo ủy quyền (Điều 85 BLTTDS 2015) Quan hệ đại diện này có thể bị chấm dứt, thay thế khi có những sự kiện pháp lý nhất định Khi quan hệ đại diện chấm dứt, người đại diện sẽ không có quyền tham gia tố tụng thay cho người được đại diện với tư cách là người đại diện nữa Vì vậy, nếu không có người đại diện của đương sự thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng thì việc giải quyết vụ án không thể tiếp tục được Tùy thuộc vào tính chất của mỗi loại đại diện mà có những căn cứ chấm dứt khác nhau, tuy nhiên, việc chấm dứt đại diện đều có một hậu quả pháp lý chung đó là kết thúc quan
hệ pháp luật giữa người đại diện và người được đại diện Do đó, Tòa án phải quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự cho đến khi có người thay thế
Trang 9d) Cần đợi kết quả giải quyết vụ án khác có liên quan hoặc sự việc được pháp luật quy định là phải do cơ quan, tổ chức khác giải quyết trước mới giải quyết được vụ án
Lý do phải tạm ngừng các hoạt động tố tụng khi có các căn cứ này là vì kết quả giải quyết của vụ án trước hoặc kết quả do cơ quan quản lý nhà nước giải quyết ở giai đoạn tiền tố tụng có mối liên hệ trực tiếp tới nội dung của vụ
án được thụ lý sau này
Trường hợp Tòa án cần đợi kết quả giải quyết vụ án khác có liên quan là trường hợp vụ án mà Tòa án đang giải quyết có liên quan đến vụ án hình sự, hành chính, dân sự, kinh doanh thương mại, lao động hay hôn nhân gia đình khác Tòa án muốn giải quyết được vụ án đang thụ lý thì phải dựa vào kết quả giải quyết các vụ việc trước đó vì khi chưa có kết quả giải quyết những vụ việc có liên quan đó thì Tòa án không có đủ căn cứ để giải quyết vụ án dân sự này Do vậy, để giải quyết vụ án được chính xác, khách quan, đảm bảo quyền
và lợi ích hợp pháp của đương sự thì Tòa án phải quyết định tạm đình chỉ vụ
án để chờ đợi kết quả giải quyết của các vụ án trên
Trường hợp sự việc được pháp luật quy định là phải do cơ quan, tổ chức khác giải quyết trước mới giải quyết được vụ án là trường hợp Tòa án đã thụ
lý giải quyết vụ án thì phát hiện được sự việc mà đương sự yêu cầu phải do cơ quan, tổ chức khác có thẩm quyền giải quyết trước mà đương sự chưa yêu cầu hoặc yêu cầu nhưng chưa có kết quả giải quyết sự việc đó Các trường hợp cần phải yêu cầu cơ quan, tổ chức khác giải quyết là để giảm bớt công việc của ngành Tòa án, đề cao việc giải quyết vụ việc thông qua hòa giải, thương lượng nên trong một số trường hợp pháp luật quy định Tòa án chỉ tiến hành thụ lý giải quyết sau khi tranh chấp đã được cơ quan, tổ chức khác giải quyết trước Hơn nữa sự việc được pháp luật quy định phải là sự việc có ảnh hưởng trực tiếp đến việc giải quyết vụ án, nếu không được cơ quan, tổ chức khác giải quyết trước thì việc giải quyết của Tòa án là vi phạm pháp luật Vì vậy, trong trường hợp này Tòa án sẽ ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
Trang 10Như vậy, các quy định trên là nhằm đảm bảo cho kết quả giải quyết vụ
án của Tòa án được chính xác, khách quan Đồng thời khuyến khích các bên thương lượng, hòa giải trước khi khởi kiện vụ án ra Tòa
đ) Cần đợi kết quả thực hiện ủy thác tư pháp, ủy thác thu thập chứng cứ hoặc đợi cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa
án mới giải quyết được vụ án
Đây là trường hợp Tòa án cần tạm đình chỉ giải quyết vụ án nhằm đảm bảo tính chính xác và đúng đắn trong việc giải quyết vụ án dân sự Có thể thấy rằng, việc giải quyết vụ án dân sự của Tòa án muốn phù hợp với tình tiết khách quan và chính xác thì Tòa án cần có đủ những chứng cứ, tài liệu cần thiết Trong nhiều trường hợp, Tòa án muốn giải quyết được vụ án thì cần phải yêu cầu Tòa án nước ngoài, cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài thực hiện ủy thác tư pháp như tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu cho đương sự đang ở nước ngoài; triệu tập người làm chứng; thu thập chứng cứ, tài liệu ở nước ngoài2; ủy thác cho Tòa án khác ở trong nước tiến hành thu thập chứng
cứ, tài liệu; yêu cầu cơ quan, tổ chức ở trong nước cung cấp chứng cứ, tài liệu cần thiết cho việc giải quyết vụ án Nếu đã hết thời hạn chuẩn bị xét xử mà chưa có kết quả thực hiện ủy thác tư pháp, ủy thác thu thập chứng cứ hoặc cơ quan, tổ chức chưa cung cấp được tài liệu, chứng cứ cần thiết cho việc giải quyết vụ án thì Tòa án cần ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án3
e) Cần đợi kết quả xử lý văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên mà Tòa án đã có văn bản kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ Quy định này phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân theo quy định của khoản 7 Điều 2 Luật tổ chức Tòa án nhân dân
2 Xem thêm tại Điều 13 Luật tương trợ tư pháp năm 2007