Đối với chăn nuôi bò sữa trong điều kiện nhiệt đới như ở nước ta thì con giống càng đặc biệt quan trọng.. Cũng giống như bò Red Sindhi, bò Sahiwal được nhiều nước nhiệt đới dùng để cải t
Trang 1Chương 1 Những hiểu biết cần thiết về Giống và quản lý giống bò sữa
Trong chăn nuôi bò sữa cũng như các loại gia súc khác giống là tiền đề Đối với chăn nuôi bò sữa trong điều kiện nhiệt đới như ở nước ta thì con giống càng đặc biệt quan trọng Việt Nam vốn không có giống bò sữa bản địa nào Chúng ta có nên nuôi thuần chủng những giống bò sữa cao sản có nguồn gốc ôn
đới hay không? Liệu chúng ta có thể tự tạo ra những loại bò sữa phù hợp với hoàn cảnh của Việt Nam không? Con giống nào có thể đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất cho người nông dân? Nuôi 1 con bò cho 8000kg sữa/chu kỳ liệu có lợi hơn nuôi 2 con bò mỗi con cho 4000 kg sữa/chu kỳ hay không? Còn nhiều câu hỏi nữa liên quan đến con giống và quản lý giống
mà người chăn nuôi bò sữa muốn được trả lời Chương này nhằm giúp cho người chăn nuôi biết chọn con giống nào để nuôi và quản lý chúng cho phù hợp với hoàn cảnh của mình
5
Trang 2I Các giống bò sữa phổ biến
1 Bò sữa nhiệt đới
Bò Sin (Red Sinhi)
Bò Sin là một giống bò có nguồn gốc từ vùng Sindhi (Pakistan) Vùng này có nhiệt độ rất cao về mùa
hè, ban ngày có thể lên tới 40-50oC Bò Sin là một giống bò kiêm dụng sữa-thịt-lao tác, thường được nuôi theo phương thức chăn thả tự do
Bò Sin
Hình 1-1: Bò Sin (Red Sindhi)
Bò có màu lông đỏ cánh dán hay nâu thẫm Bò này có thân hình ngắn, chân cao, mình lép, tai to và rũ xuống, có yếm và nếp gấp da dưới rốn rất phát triển
Đây là một đặc điểm tốt giúp bò này thích nghi với
điều kiện khí hậu nóng nhờ tăng tỷ diện toả nhiệt Bò
đực có u vai rất cao, đầu to, trán gồ, rộng, sừng ngắn,
cổ ngắn, vạm vỡ, ngực sâu nhưng không nở Bò cái có
đầu và cổ nhỏ hơn, phần sau phát triển hơn phần
Trang 3trước, vú phát triển, núm vú to, dài, tĩnh mạch nổi rõ
Đặc biệt, da ở âm hộ có rất nhiều nếp nhăn
Khi trưởng thành bò đực có khối lượng 500kg, bò cái 350-380kg Sản lượng sữa trung bình khoảng 1400-2100kg/chu kỳ 270-290 ngày.Tỷ lệ mỡ sữa 5-5,5%
450-Kết quả lai giữa bò Sin và bò Vàng Việt Nam
đã tạo ra bò Lai Sin hiện nay là loại bò kiêm dụng lao tác-thịt-sữa Bò Lai Sin hiện nay có tỷ lệ máu Sin rất khác nhau do kết quả tạp giao không kiểm soát trong tám thập kỷ qua Ngoại hình, thể vóc và sức sản xuất thay đổi tuỳ theo tỷ lệ máu Sin Bò Lai Sin có ngoại hình trung gian giữa bò Sin và bò Vàng Việt Nam Bò Lai Sin càng có nhiều tỷ lệ máu bò Red Sindhi thì khả năng cho thịt càng tốt hơn, sức cày kéo khoẻ hơn và khả năng cho sữa cũng cao hơn Khối lượng trưởng thành của bò cái khoảng 250-320kg, bò đưc 450-500kg Khối lượng bê sơ sinh khoảng 18-25kg Năng suất sữa khoảng 800-1200kg/chu kỳ 8 tháng Cá biệt
có những con cho tới 2000 kg sữa/chu kỳ Tỷ lệ mỡ sữa rất cao (5,0-6,0%) Bò Lai Sin thích nghi tốt với
điều kiện khí hậu của nước ta, dễ nuôi, ít bệnh tật Đặc biệt bò cái Lai Sin có thể dùng làm bò nền để lai tạo
bò thịt và bò sữa rất tốt
7
Trang 4Bò Sahiwal
Bò Sahiwal là giống bò u cho sữa của Pakistan
Bò này cũng được nuôi nhiều tại các vùng Punjab, Biha, Una Pradesh của ấn Độ
Hình 1-2: Bò Sahiwal
Bò có màu lông đỏ vàng hay vàng thẫm Kết cấu ngoại hình tương tự như bò Red Sindhi nhưng bầu
vú phát triển hơn Khi trưởng thành, bò cái có khối lượng 360-380kg, bò đực 470-500kg Sản lượng sữa khoảng 2100-2300kg/ chu kỳ 9 tháng Tỷ lệ mỡ sữa 5-5,5%
Cũng giống như bò Red Sindhi, bò Sahiwal
được nhiều nước nhiệt đới dùng để cải tạo các giống
bò địa phương hoặc lai với các giống bò chuyên dụng sữa để tạo bò sữa nhiệt đới
Trang 5Bò lai Sahiwal có màu lông vàng Khối lượng trưởng thành của bò đực khoảng 420-470kg, bò cái 290-320kg Sản lượng sữa 1500-1600kg/260-270 ngày Tỷ lệ mỡ sữa 4,5-4,8%
Tóm lại, bò Sin và bò Sahiwal là những giống
bò nhiệt đới có sức sản xuất sữa cao hơn hẳn các loại
bò nhiệt đới khác Đây là những nguồn gen quý cần
được khai thác để cải tiến bò địa phương Những giống bò này có khả năng thích nghi tốt với các điều kiện nhiệt đới nên con lai của chúng với bò địa phương cũng thích nghi tốt
2 Bò sữa gốc ôn đới
Bò Hà Lan (Holstein Friesian)
Bò Holstein Friesian (HF) là giống bò chuyên sữa nổi tiếng thế giới được tạo ra từ thế kỷ thứ XIV ở tỉnh Fulixon của Hà Lan, là nơi có khí hậu ôn hoà, mùa hè kéo dài và đồng cỏ rất phát triển Bò HF không ngừng được cải thiện về phẩm chất, năng suất
và hiện nay được phân bố rộng rãi trên toàn thế giới nhờ có khả năng cho sữa cao và cải tạo các giống bò khác theo hướng sữa rất tốt Cũng chính vì vậy mà các nước thường dùng bò HF thuần để lai tạo với bò địa phương tạo ra giống bò sữa lang trắng đen của nước mình và mang những tên gọi khác nhau
9
Trang 6Hình 1-3: Bò sữa Hà Lan (HF)
Bò HF có 3 đạng màu lông chính: lang trắng
đen (chiếm ưu thế), lang trắng đỏ (ít), và toàn thân đen riêng đỉnh trán và chót đuôi trắng Các điểm trắng đặc trưng là: điểm trắng ở trán, vai có vệt trắng kéo xuống bụng, 4 chân và chót đuôi trắng Toàn thân có dạng hình nêm đặc trưng của bò sữa Đầu con cái dài, nhỏ, thanh; đầu con đực thô Sừng nhỏ, ngắn, chỉa về phía trước Trán phẳng hoặc hơi lõm Cổ thanh, dài vừa
phải, không có yếm Vai-lưng-hông-mông thẳng hàng
Bốn chân thẳng, đẹp, hai chân sau doãng Bầu vú rất phát triển; tĩnh mạch vú ngoằn ngoèo, nổi rõ
Tầm vóc bò HF khá lớn: khối lượng sơ sinh khoảng 35-45 kg, trưởng thành 450-750kg/cái, 750-1100kg/đực Bò này thành thục sớm, có thể phối giống
Trang 7lúc 15-20 tháng tuổi Khoảng cách lứa đẻ khoảng
12-13 tháng
Năng suất sữa trung bình khoảng 5000-8000 kg/chu kỳ (10 tháng) Tỷ lệ mỡ sữa thấp, bình quân khoảng 3,3-3,6 % Năng suất và chất lượng sữa biến
động nhiều tuỳ theo điều kiện nuôi dưỡng và thời tiết khí hậu, cũng như kết quả chọn lọc của từng nước
Bò HF chịu nóng và chịu đựng kham khổ kém,
dễ cảm nhiễm bệnh tật, đặc biệt là các bệnh ký sinh trùng đường máu và bệnh sản khoa Bò HF chỉ nuôi thích nghi tốt ở những nơi có khí hậu mát mẻ, nhiệt độ bình quân dưới 21oC
Bò Jersey
Bò Jersey là giống bò sữa của Anh, được tạo ra
từ gần ba trăm năm trước trên đảo Jersey là nơi có khí hậu ôn hoà, đồng cỏ phát triển tốt quanh năm thích hợp cho chăn nuôi bò chăn thả Nó là kết quả tạp giao giữa giống bò Bretagne (Pháp) với bò địa phương, về sau có thêm máu bò Normandie (Pháp) Từ năm 1970
nó đã trở thành giống bò sữa nổi tiếng Thế giới
11
Hình 1-4: Bò Jersey
Trang 8Bò Jersey có màu vàng sáng hoặc sẫm, có những con có đốm trắng ở bụng, chân và đầu Bò có kết cấu ngoại hình đẹp, đặc thù của bò hướng sữa Đầu nhẹ, mặt cong, mắt lồi, cổ thành dài và có yếm khá phát triển Vai cao và dài Ngực sâu, xương sườn dài Lưng dài, rộng Mông dài, rộng và phẳng Bụng to, tròn Bốn chân mảnh, khoảng cách giữa hai chân rộng
Đuôi nhỏ Bầu vú phát triển tốt cả về phía trước và phía sau, tĩnh mạch vú to và dài
Tầm vóc của bò Jersey tương đối bé: khối lượng sơ sinh 25-30kg, trưởng thành của bò cái là 300-400kg, của bò đực 450-550kg
Năng suất sữa bình quân đạt 3000-5000kg/chu
kỳ 305 ngày Đặc biệt bò Jersey có tỷ mỡ sữa rất cao (4,5-5,5%), mỡ sữa màu vàng, hạt to thích hợp cho việc chế biến bơ Vì thế bò này thường được dùng để lai cải tạo những giống bò sữa có tỷ lệ mỡ sữa thấp
Bò Jersey thành thục sớm, 16-18 tháng tuổi có thể phối giống lần đầu, có khả năng để 1 năm 1 lứa
Bò đực giống phát triển tốt có thể lấy tinh lúc 12 tháng tuổi
Do bò Jersey có tầm vóc bé (nhu cầu duy trì thấp) lại có yếm (thải nhiệt tốt) nên có thể có khả năng chịu nóng khá tốt Cũng chính vì thế mà nhiều nước
Trang 9đã dùng bò Jersey lai với bò địa phương nhằm tạo ra
bò lai hướng sữa thích nghi với khí hậu nhiệt đới Tuy nhiên, cũng như bò HF, trong điều kiện nhiệt đới năng suất sữa của bò Jersey nuôi thuần cũng bị giảm sút rõ rệt
3 Bò lai hướng sữa
Việc lai giữa bò nhiệt đới (thường là bò cái) với
bò sữa gốc ôn đới (thường là bò đực) đã từng được thực hiện trên một trăm năm nay ở các nước nhiệt đới khác nhau Nước ta cũng đã cho lai phổ biến giữa bò
đực HF với bò cái Lai Sin Ngoài ra bò Vàng VN, bò Sin hay Sahiwal cũng đã được dùng lai với bò đực HF
Bò lai hướng sữa hiện nay này có các mức máu HF khác nhau tuỳ theo thế hệ lai: F1 (1/2 HF), F2 (3/4 HF), F3 (7/8 HF) hay F2 (5/8 HF)
13
Hỡnh 1-5: Sơ dồ lai cấp tiến giữa bũ Holtein Frớeian (HF) với
bũ Lai Sin ở Việt Nam
Trang 10Bò lai F1 (1/2 HF) thường có màu lông đen
toàn thân, trừ đốm trắng ở trán và đuôi Một số ít có màu vàng sẫm hay vàng nhạt (thường là lúc mới sinh)
Bê F1 sơ sinh có khối lượng khoảng 20-25 kg Bò cái trưởng thành nặng 350-420kg, bò đực 450-600kg Năng suất sữa bình quân 2500-3500kg/chu kỳ Tỷ lệ
mỡ sữa 3,6-4,2% Thời gian chu kỳ sữa có thể trên 300 ngày Bò lai F1 chịu đựng tương đối tốt với điều kiện nóng nên ít bị bệnh tật
Hình 1-6: Bò lai F1 (1/2 HF)
Bò lai F2 (3/4 HF) thường có màu lông lang
trắng đen hay trắng đỏ, ngoại hình gần giống với bò
HF thuần, tuy mông vẫn hơi dốc Khối lượng sơ sinh 30-35kg, khi trưởng thành bò cái lai F2 tốt có thể đạt 400-450kg, bò đực 600-700kg Trong điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng tốt, bò lai F2 cho năng suất sữa cao hơn bò F1, có thể cho 3000-3800kg/chu kỳ hoặc cao
Trang 11hơn Tỷ lệ mỡ sữa 3,2-3,8% Tuy nhiên, trong điều kiện nóng và ẩm (trên 30oC) bò lai F2 tỏ ra kém chịu
đựng hơn bò F1
Hình 1-7: Bò lai F2 (3/4 HF)
Bò lai F3 (7/8 HF) là kết quả lai tạo giữa bò đực
Hà Lan thuần với bò cái lai F2 Do có tỷ lệ máu HF cao nên bò lai F3 chịu nóng kém, dễ cảm nhiễm bệnh tật Do vậy ở những vùng nóng ẩm và nuôi d−ỡng kém
bò này khó thích nghi Tuy nhiên, ở những vùng mát
mẻ và đ−ợc nuôi d−ỡng tốt thì bò này có thể cho nhiều sữa nhờ có tiềm năng cho sữa cao (nhiều máu HF)
Nhìn chung, thể vóc và sức sản xuất của các loại bò lai này không chỉ phụ thuộc vào tỷ lệ máu bò
HF mà còn phụ thuộc vào tỷ lệ máu Sin (từ bò mẹ) Tỷ
lệ máu Sin hay Sahiwal trong bò cái nền càng cao thì
15
Trang 12tầm vóc và năng suất sữa của con lai càng tốt Tỷ lệ máu bò HF càng cao thì tiềm năng cho sữa càng cao, nhưng khả năng thích nghi với khí hậu nhiệt đới càng kém
ii Một số điều cần biết trong quản lý giống bò sữa
1 ảnh hưởng của di truyền và ngoại cảnh
Năng suất và chất lượng sữa của bò chịu ảnh hưởng của bởi hai yếu tố có liên quan chặt chẽ với nhau là di truyền (do bố mẹ truyền lại) và điều kiện ngoại cảnh (khí hậu, thức ăn, chuồng nuôi, vệ sinh, vắt sữa, v.v) Do vậy, chọn bò sữa phải thận trọng nhằm
đảm bảo sao cho tiềm năng di truyền của con giống phù hợp với các điều kiện của môi trường sống Để lựa chọn con giống nào nuôi lấy sữa thì không phải chỉ nghĩ đến con giống “tốt” mà cần phải xem xét đến các
điều kiện khí hậu, thức ăn, dịch bệnh và các yếu tố kỹ thuật khác có phù hợp với con giống đó không
Trong chăn nuôi bò sữa khi quyết định nuôi loại
bò sữa nào cần chú ý: ở những nơi có điều kiện khí hậu, nuôi dưỡng và vệ sinh thú y tốt thì bò có nhiều máu bò sữa ôn đới sẽ phát huy được tiềm năng cho sữa tốt hơn; ngược lại, khi gặp điều kiện sống khó khăn thì
bò có nhiều máu ôn đới sẽ chịu ảnh hưởng (xấu) nhiều
Trang 13hơn Chính vì thế mà bò sữa thuần chủng gốc ôn đới
(như bò HF) nên nuôi ở những vùng cao có khí hậu
mát mẻ và phải được chăm sóc nuôi dưỡng tốt Bò lai
có 50-75% máu bò sữa ôn đới (HF) có thể nuôi ở nhiều vùng trong nước Một số nơi chăn nuôi bò sữa
có trình độ khá cao cũng đã cho thấy bò lai F3 (7/8 máu HF) có thể cho nhiều sữa hơn bò F2 (3/4 máu HF) Tuy nhiên, luôn luôn nhớ rằng tỷ lệ máu bò ôn
đới càng cao thì đòi hỏi các điều kiện chăm sóc nuôi dường phải càng tốt mới phát huy được tiềm năng cho sữa của chúng Những người mới khởi sự chăn nuôi bò sữa nên bắt đầu từ bò F1 và F2
2 Các chỉ tiêu đánh giá bò sữa
Để chăn nuôi bò sữa có hiệu quả kinh tế cao, cần theo dõi một số chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật về sinh sản, năng suất và chất lượng sữa Trên cơ sở các theo dõi này, chúng ta nhận xét, đánh giá, tìm ra các nguyên nhân ảnh hưởng để thực hiện các biện pháp nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và hiệu quả kinh tế của chăn nuôi Những chỉ tiêu quan trọng bao gồm:
a Các chỉ tiêu về sinh sản
+ Tuổi động dục lần đầu
Là thời gian tính từ lúc bê cái được sinh ra tới lúc nó có biểu hiện động dục đầu tiên (bỏ ăn, kêu rống
17
Trang 14lên, nhảy lên lưng con khác, âm hộ tiết dịch nhờn) Thông thường, bê hậu bị hướng sữa được nuôi dưỡng tốt có tuổi động dục lần đầu vào lúc 8-16 tháng tuổi
+ Tuổi phối giống lần đầu
Chỉ tiêu này chủ yếu do người chăn nuôi quyết
định Mặc dù bê hậu bị có tuổi động dục lần đầu sớm, nhưng không nên phối giống cho chúng quá sớm vì sẽ
ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng và năng suất về sau của bò Chỉ nên phối giống cho bê hậu bị khi chúng
đạt khoảng 70% khối lượng lúc trưởng thành Trong thực tế, nên phối giống lần đầu cho các bê hậu bị được nuôi dưỡng tốt khi chúng đạt khoảng 18 tháng tuổi
+ Tuổi đẻ lứa đầu
Thông thường, tuổi đẻ lứa đầu của bò sữa F1, F2, F3 vào khoảng 27-28 tháng tuổi Tuổi đẻ lứa đầu phụ thuộc vào quyết định phối giống lần đầu cho bê hậu bị của người chăn nuôi, vào việc phát hiện động
dục và kỹ thuật phối giống
+ Khoảng cách giữa 2 lứa đẻ
Là khoảng thời gian giữa lần đẻ trước và lần đẻ tiếp sau Thông thường chu kỳ khai thác sữa của bò sữa tính là 10 tháng, 2 tháng cạn sữa, do vậy khoảng cách giữa 2 lứa đẻ của bò sữa là 12 tháng Nói cách khác, bò sữa lý tưởng mỗi năm đẻ 1 lứa Tuy nhiên, trong thực tế, do nhiều nguyên nhân, khoảng cách lứa
Trang 15đẻ thường kéo dài hơn Không phát hiện kịp thời kỳ bò
động dục trở lại sau khi đẻ, chậm phối giống hoặc phối giống nhưng không thụ thai là những nguyên nhân chủ yếu làm kéo dài khoảng cách giữa 2 lứa đẻ
+ Thời gian có chửa lại sau khi đẻ
Muốn rút ngắn khoảng cách lứa đẻ cần phải tuân thủ và áp dụng những quy trình chăn nuôi hợp lý
để rút ngắn giai đoạn từ khi đẻ đến khi phối giống có chửa xuống, tốt nhất là còn khoảng 3 tháng Thời gian này phụ thuộc vào thời gian bò động dục lại sau khi
đẻ, khả năng phát hiện động hớn và phối giống lại, cũng như khả năng thụ thai của bò
+ Thời gian động dục trở lại sau khi đẻ
Trong điều kiện bình thường, khoảng 40-50 ngày sau khi đẻ thì bò cái động dục trở lại Khoảng thời gian này phụ thuộc vào quá trình hồi phục của buồng trứng Những bò cái được nuôi dưỡng kém trước và sau khi đẻ, hay cho con bú trực tiếp thường
động dục trở lại muộn hơn
+ Tỷ lệ phối giống thụ thai
Tỷ lệ phối giống thụ thai không chỉ phụ thuộc vào bản thân con vật, đặc biệt là sự hồi phục đường sinh dục và hoạt động chu kỳ sau khi đẻ, mà còn phụ thuộc nhiều vào kỹ thuật thụ tinh nhân tạo
19
Trang 16b Các chỉ tiêu về sức sản xuất sữa
+ Sản lượng sữa thực tế của chu kỳ tiết sữa
Sản lượng sữa thực tế của chu kỳ tiết sữa là tổng lượng sữa vắt được trong cả chu kỳ tiết sữa của bò cái (tính ra kg) kể từ sau khi đẻ đến khi cạn sữa
+ Sản lượng sữa 305 ngày
Do thời gian của một chu kỳ tiết sữa của các bò cái khác nhau nên để so sánh năng suất sữa trong cùng một khoảng thời gian người ta tính sản lượng sữa trong một chu kỳ tiết sữa quy chuẩn 305 ngày (10 tháng)
Đối với các bò sữa có thời gian vắt sữa trên 10 tháng thì chỉ tính tổng sản lượng sữa trong 10 tháng đầu của chu kỳ, không tính lượng sữa thu được sau 10 tháng
có tỷ lệ mỡ sữa cao, bò Hà Lan nuôi ở điều kiện nước
ta có tỷ lệ mỡ sữa thấp, bò F1 có tỷ lệ mỡ sữa cao hơn
bò F2, bò F2 có tỷ lệ mỡ sữa cao hơn bò F3
Tỷ lệ mỡ sữa còn phụ thuộc vào khẩu phần ăn của bò Cho bò ăn khẩu phần có nhiều thức ăn thô