1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Tài liệu Nâng cao các kỹ năng về di truyền, sinh sản và lai tạo giống bò thịt nhiệt đới- chương 31 pptx

7 367 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tình Hình Phát Triển Chăn Nuôi Và Công Tác Giống Bò Thịt Ở Việt Nam
Tác giả Đỗ Kim Tuyên
Trường học Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên
Chuyên ngành Chăn Nuôi
Thể loại bài báo
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 142,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình phát triển chăn nuôi và công tác giống bò thịt ở Việt Nam Đỗ Kim Tuyên Đặt vấn đề Dân số Việt Nam trên 80 triệu người, đời sống của nông dân ở các vùng nông thôn hầu hết dựa

Trang 1

Tình hình phát triển chăn nuôi và công tác giống bò thịt ở Việt Nam

Đỗ Kim Tuyên

Đặt vấn đề

Dân số Việt Nam trên 80 triệu người, đời sống

của nông dân ở các vùng nông thôn hầu hết

dựa vào lao động sản xuất các sản phẩm từ

nông nghiệp Chăn nuôi trâu bò gắn liền với

nghề trồng lúa nước và có vai trò quan trọng

đối với nền sản xuất nông nghiệp truyền thống

của nước ta Thu nhập từ chăn nuôi chiếm

khoảng 30% giá trị tổng sản phẩm nông

nghiệp, chăn nuôi bò không những cung cấp

sức kéo và phân bón cho cây trồng mà còn là

nguồn thức ăn giàu dinh dưỡng và nguồn đạm

quan trọng cho xã hội

Bò vàng Việt Nam là giống bò địa phương có

nhược điểm chính là tầm vóc bé và sản lượng

thịt thấp so với các giống bò trên thế giới Tuy

nhiên bò vàng đã thích nghi tốt với điều kiện

sống kham khổ và thời tiết khí hậu nóng ẩm

nhiệt đới Đối với nền nông nghiệp truyền

thống của Việt Nam thì trâu bò là những người

bạn thân không thể thiếu được của nông dân

ta, ngoài cung cấp sức kéo, thịt và phân bón ra

trâu bò có thể tận dụng một cách có hiệu quả

các sản phẩm phụ của nông nghiệp và sử dụng

hợp lý các lao động phụ như người già và trẻ

em trong gia đình nông dân ở nông thôn

Tổng đàn bò hiện nay của Việt Nam là 4,2

triệu con, trong dó có khoảng 1 triệu con

(chiếm khoảng 25% tổng đàn) là các loại bò

lai Zê bu và bò ngoại thuần như Red sindhi,

Sahiwal và Brahman Chiến lược về phát triển

bò thịt ở Việt Nam bao gồm khai thác tiềm

năng di truyền của cả các giống bò địa phương

và bò nhập ngoại từ các nước trên thế giới Để

khai thác tiềm năng di truyền và ưu thế lai của

các giống bò trong và ngoài nước, ngoài nhập

tinh đông lạnh ta đã nhập một số giống bò

nhiệt đới trên thế giới Các công thức lai tạo bò

thịt kể cả nhân giống thuần chủng đã tiến hành

và thử nghiệm trong khoảng thời gian hơn 30 năm qua Nhưng cho đến nay thì số lượng bò lai Zê bu và các giống bò ngoại thuần vẫn còn rất hạn chế, mới chiếm khoảng 1/4 tổng đàn bò của cả nước Do vậy việc lựa chọn mhững bò cái lai tốt, tiếp tục cho phối giống với tinh bò

đực ngoại là một trong những biện pháp tốt để khai thác nhanh chóng tiềm năng di truyền của các giống bò địa phương và các giống bò nhập ngoại góp phần tăng nhanh khả năng sản xuất thịt bò của Việt Nam

Kế hoạch cải tiến đàn bò và chọn lọc những bò cái tốt cho chương trình lai tạo đã từng bước nâng cao số lượng và năng suất đàn bò Vịêt Nam Ngoài các biện pháp về giống, tăng cường chế độ dinh dưỡng, chăm sóc và quản

lý, thì kỹ thuật thụ tinh nhân tạo hiện nay có vai trò rất quan trọng đối với công tác giống và lai tạo để đáp ứng nhu cầu của thị trường trong nước về thịt bò chất lượng cao trong những năm tới

Tình hình chăn nuôi bò thịt

Số lượng đàn bò

Bò địa phương của ta chủ yếu sử dụng cho sức kéo và phân bón vì thế khả năng cho thịt thấp Cơ cấu đàn bò của nhiều địa phương có khoảng 45% là sử dụng cày kéo, cả bò đực và

bò cái đều được sử dụng cho mục đích này Ngày nay, cơ khí nhỏ trong nông thôn đang dần dần thay thế cho sức kéo của trâu bò, vì vậy số lượng, cơ cấu đàn và mục đích sử dụng của đàn bò cũng sẽ thay đổi theo việc cơ giới hoá trong sản xuất nông nghiệp

Tốc độ tăng đàn hàng năm của trâu bò trong thời gian 1990-1995 là 2,84% đối với bò và 0,73% đối với trâu Tốc độ tăng đàn của bò

Trang 2

thay đổi một cách rõ rệt nhất là thời gian từ

1993 cho đến nay, thời gian mà sản lượng

lương thực của nước ta tăng trưởng nhanh,

ngoài đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong

nước, Việt Nam còn trở thành nước xuất khẩu

gạo lớn, đứng vào hàng thứ 2 trên thế giới

Khoảng 54,5% số lượng đàn bò được phân bố trên 5 vùng sinh thái khác nhau của đất nước,

là nguồn sức kéo chủ yếu của nông nghiệp cho các vùng trên

Bảng 1 Số lượng thống kê đàn trâu bò của cả nước trong những năm qua

Năm Đàn Trâu Đàn Bò Tổng số

Hiện nay, sản lượng thịt trâu bò hàng năm của

ta chỉ đạt khoảng trên 130 nghìn tấn trong tổng

số 1,7 triệu tấn thịt các loại gia súc gia cầm,

tổng sản lượng sữa tươi sản xuất trong năm

khoảng 60-70 nghìn tấn, đáp ứng 10% lượng

sữa tiêu dùng trong nước Nước ta, tổng số thịt

tiêu dùng bình quân đầu người trên năm

khoảng 22 kg thịt hơi, trong đó chỉ có khoảng

1,7 kg là thịt trâu bò và gia súc nhai lại nói

chung (dưới 10%), còn chủ yếu là thịt lợn và

gia cầm (trên 90%)

Phân bố tự nhiên của đàn bò

Phân bố tự nhiên của đàn bò nước ta được trình

bày ở bảng 2 Khoảng 45% tổng số đàn bò của

cả nước tập trung ở các tỉnh miền trung Việt

nam, đây là vùng cung cấp bò cày cho vùng

đồng bằng sông Cửu long và vùng đồng bằng

châu thổ Sông Hồng

Tây nguyên là vùng đất rộng lớn, có nhiều đất

đai và đồng cỏ phù hợp cho chăn nuôi bò nhưng tại đây số lượng bò chỉ chiếm khoảng 10,7% tổng số bò của cả nước

Bảng 2 Phân bố đàn bò theo vùng sinh thái

Vùng sinh thái Tỷ lệ đàn bò

(%)

1 Miền núi phía bắc 18,7

2 Đồng bằng Sông Hồng 8.7

3 Bắc khu bốn cũ 22.5

4 Duyên Hải miền Trung 23.0

6 Miền Đông Nam bộ 11,9

7 Đồng bằng Sông Cửu long 4,5

Trang 3

Các giống bò và một số chỉ tiêu sản xuất

Khoảng 75% tổng đàn bò của cả nước là bò

vàng địa phương có trọng lượng trưởng thành

rất hạn chế, trọng lượng trung bình con đực là

180-200 kg và bò cái từ 150-160 kg Bò nội có

tỷ lệ thịt xẻ thấp khoảng 40-44% so với trọng

lượng sống

Bò Zê bu và bò lai Zê bu chiếm khoảng

24-25% tổng số bò cái của cả nước, các giống bò

lai hiện nay chủ yếu là lai Sind, lai Sahiwal và Brahman bằng sử dụng bò đực ngoại có tên trên cho lai với bò cái địa phương Bò ngoại và

bò lai hướng thịt chiếm khoảng 1/4 tổng số

đàn bò, bò lai có tốc độ tăng trọng và sinh trưởng nhanh, có trọng lượng trưởng thành từ 250-300 kg và tỷ lệ thịt xẻ cao biến động từ 49-50%

Bảng 3 Một số chỉ tiêu sản xuất của bò vàng VN và bò lai Zê bu

Các chỉ tiêu Đơn vị Bò vàng Red Sinhi Sahiwal Brahman

Chương trình giống bò thịt của Việt

Nam

Nhiều nước nhiệt đới trên thế giới đã tăng

cường việc nhập bò từ nước ngoài về với mục

tiêu để nâng cao khả năng sản xuất của giống

bò địa phương và tăng cường sản lượng thịt bò

sản xuất trong nước Việt Nam cũng đã nhập

khẩu nhiều giống bò để lai tạo đàn bò thịt, bò

sữa, tìm công thức lai thích hợp có thể thích

nghi với điều kiện thời tiết và khí hậu nhiệt đới

của đất nước Cuối thập kỷ 60 và những năm

đầu của thập kỷ 70, nhiều giống bò của nước

ngoài đã được nhập vào Việt Nam, các giống

bò chủ yếu nhập vào nước ta những năm qua là

Red Sinhdi, Sahiwal, bò Brahman và một số

các giống bò sữa

Chiến lược về cải tiến công tác giống bò thịt

của nước ta được chia làm 2 giai đoạn chính:

Giai đoạn 1 là chương trình cải tiến dàn bò

vàng còn gọi là chương trình Sind hoá hay Zê

bu hoá đàn bò và giai đoạn 2 là chương trình phát triển bò thịt chất lượng cao

Giai đoạn 1: Chương trình cải tiến đàn bò

vàng Việt Nam

Chương trình lai cải tiến hay lai 2 máu: Sản xuất ra con lai có 50% máu bò ngoại Trong chương trình này, bò vàng Việt nam dược cải tiến bằng sử dụng các giống bò đực ngoại như Red Sindhi và bò Zê bu cho phối giống với bò cái địa phương để tạo ra con lai có năng suất cao hơn bò địa phương như khối lượng trưởng thành, tốc độ tăng trọng, sản lượng thịt và khả năng cho sữa

Các giống bò Zê bu đã được nhập vào nước ta trong thời gian qua trong chương trình cải tạo

đàn bò quốc gia như sau:

- Bò Red Sinhi nhập từ Pakistan năm 1987

Trang 4

- Bò Sahiwal nhập từ Pakistan năm 1987

- Bò Brahman dỏ và trắng nhập từ Cu ba

năm 1987 và Australia năm 2001, 2002

Các giống bò lai trong nước nói chung là phù

hợp với phương thức sản xuất đa canh của ta,

thích nghi tốt với điều kiện thời tiết nóng ẩm,

nghèo dinh dưỡng cũng như điều kiện chăm

sóc quản lý của Việt Nam, bò lai có tốc độ

sinh trưởng và phát triển tốt, ưu việt hơn hẳn

giống bò địa phương (Bảng 3)

Chương trình cải tiến đàn bò vàng của Việt

nam đã được nghiên cứu và thực hiện trong

hơn 40 năm qua, nhưng trở thành dự án Quốc

gia khoảng 30 năm từ thập kỷ 70 Cho đến nay

số lượng bò lai của ta vẫn còn hạn chế, mới

chiếm khoảng 1/4 tổng đàn đàn bò của cả

nước

Giai đoạn 2: Chương trình nhân giống bò

thịt chất lượng cao

Khi đã tạo được bò lai Zê bu, ta có thể sử

dụng chúng như là cái nền để tiếp tục lai tạo

với các giống bò thịt cao sản phù hợp với điều

kiện nhiệt đới tạo ra giống bò thịt chất lượng

cao cho Việt Nam

Lai 3 máu tạo ra các con lai có 75% máu bò

thịt ngoại trở lên, phù hợp với điều kiện khí

hậu và sinh thái của nước ta Bằng sử dụng bò

cái lai Zê bu cho lai với tinh bò thịt cao sản để

tạo ra giống bò thịt cao sản, hầu hết các công

thức lai trước đây chủ yếu tiến hành ở các Viện

nghiên cứu và hạn chế ở điều kiện sản xuất bởi

vì các giống bò thịt chất lượng cao cần chế độ

nuôi thâm canh và chế độ quản lý chặt chẽ

Một số bò thịt ôn đới như Charolais, Limousin,

Hereford, Santa Gertrudit, Shorthorn,

Droughmaster và Simmental là những giống bò

thịt cao sản với tốc độ tăng trọng ngày từ

1.000-1.200 gr/ngày và tỷ lệ thịt xẻ cao, có thể

đạt từ 60-65% Ví dụ: bò lai sử dụng công

thức như sau cái lai Red Sindhi cho lai với tinh

bò thịt Charolais, con lai có thể tăng trọng

500-800 gr/ngày, khi đạt 24 tháng tuổi trọng

lượng hơi có thể đạt 300 kg với tỷ lệ thịt xẻ khoảng 52-54%

Hệ thống thụ tinh nhân tạo bò

Công ty kỹ thuật truyền Giống gia súc được thành lập tháng 10 năm 2001 Công ty này trực thuộc Tổng công ty chăn nuôi Việt nam (Vinalinetsco) Chức năng chính của công ty này là: dịch vụ nhân giống bò, sản xuất tinh bò

đông lạnh và cung cấp dụng cụ TTNT cho cả nước Văn phòng chính của Công ty tại số 6 Nguyễn Công Trứ, Hà nội, trung tâm bò đực giống tại Ba Vì, Hà Tây và 4 trạm TTNT vùng tại Thanh Hoá, Nghệ An, Nha Trang và TP Hồ Chí Minh Nhìn chung cơ sở vật chất kỹ thuật của Công ty hiện nay còn nhiều hạn chế, công

ty cần được nâng cấp và đầu tư để các dịch vụ phối giống bò trong tương lai được tốt hơn

Cơ sở vật chất và hệ thống thụ tinh nhân tạo

Hệ thống dịch vụ nhân giống bò bao gồm:

- Trung tâm sản xuất tinh bò đông lạnh

Moncada, Ba Vì , Hà Tây

Nhiệm vụ của Trung tâm: Là một Xí nghiệp công ích của nhà nước, Trung tâm có nhiệm vụ nuôi các giống bò thịt và bò sữa cao sản, sản xuất tinh đông lạnh cung cấp cho chương trình giống bò thịt và bò sữa trong cả nước Hiện nay Trung Tâm có 60 bò đực giống, trong đó

20 bò đực giống sữa và 40 bò đục giống thịt Giống bò sữa chủ yếu là bò đực Holstein Friesian từ Cuba, Mỹ: bò đực Jersey từ Mỹ và

bò đực F2 3/4 máu HF được sản xuất tại Việt Nam Các giống bò thịt chủ yếu là Red Sindhi, Sahiwal, Brahman, Limousin, Chairolais và bò Simmental, hiện nay giống bò Droughmaster

đã được nhập vào Việt Nam

Hơn 30 năm qua, tinh đông lạnh của Trung Tâm Moncada đã dược sử dụng cho chương trình cải tiến đàn bò và chương trình phát triển

bò sữa của cảc nước Thông qua các dự án trong và ngoài nước, Trung tâm đã được nâng cấp về cơ sở hạ tầng, tăng cường chất lượng bò

đực giống và thiết bị kỹ thuật cho sản xuất và

Trang 5

chế biến tinh Hiện nay để phục vụ cho chương

trình bò thịt bò sữa ta có hai dạng tinh đông

lạnh chủ yếu do Trung tâm sản xuất đó là tinh

viên và tinh cọng rạ

Kỹ thuật sản xuất tinh viên được đưa vào nước

ta từ những năm 1970, do sự giúp đỡ về tài

chính và công nghệ của Cuba được xem hà

hiện đại nhất thời đó, nhưng sau 30 năm kỹ

thuật này hiện đã quá lạc hậu so với thế giới,

song do các địa phương chưa chuyển đổi kịp

về kỹ thuật cũng như dụng cụ cho TTNT nên ta

vẫn duy trì sản xuất tinh viên

Dây chuyền sản xuất tinh cọng rạ theo kỹ thuật

hiện đại, thiết bị của hãng Minitub, Đức; hệ

thống này được lắp đặt năm 1997 bởi kinh phí

của Tiểu phần khuyến nông chăn nuôi trong

Dự án Phục Hồi Nông nghiệp Cr 5261 VN do

Ngân Hàng Thế giới tài trợ, công suất của dây

truyền này từ 800 nghìn đến 1 triệu liều trên

năm nhưng ta chưa sử dụng hết 1/ 4 công

xuất

- Các xí nghiệp cung ứng vật tư kỹ thuật và

dịch vụ phối giống bò

+ Các xí nghiệp vùng: Các xí nghiệp

này có các nhiệm vụ như sau: 1) dịch vụ cung

cấp tinh đông lạnh và các vật tư phối giống cho

các trạm tỉnh, huyện và các cá nhân làm TTNT

bò, 2) tổ chức các lớp tập huấn về kỹ thuật

TTNT bò cho cấp tỉnh và huyện 3) dịch vụ và

hợp đồng phối giống bò bằng TTNT trong

phạm vi vùng

+ Các trạm TTNT tỉnh: Các trạm này

có các nhiệm vụ như sau: 1) dịch vụ cung cấp

tinh đông lạnh và các vật tư phối giống cho các

trạm huyện và các cá nhân làm TTNT bò, 2)

tổ chức các lớp tập huấn về kỹ thuật TTNT bò

cho cấp huyện, xã 3) chuyển giao các tiến bộ

kỹ thuật về chăn nuôi bò cho nông dân, 4) dịch

vụ phối giống bằng TTNT cho bò trong tỉnh

Chương trình thụ tinh nhân tạo bò ở Việt

nam

Từ những năm 1960 nước ta đã có chương

trình cải tiến để nâng cao năng xuất của đàn bò

địa phương bằng các giống bò Zêbu như bò Red Sindhi Vào những năm 70 ngoài các giống bò thịt nhiệt đới như bò Red Sindhi, Sahiwal và Brahman ra thì một số bò ôn đới như Limousin, Herefor, Simmental, Santagestrudit.v.v đã được đưa vào để tăng cường việc lai tạo và cải tiến đàn bò địa phương trên phạm vi và quy mô lớn hơn Tuy nhiên cho đến nay đàn bò lai của nước ta mới chiếm khoảng 25% tổng đàn bò của cả nước thông qua các chương trình và dự án trong nước, ngoài nước sau đây:

- Dự án bò thịt cho các tỉnh Duyên hải miền trung và Tây nguyên do FAO tài trợ năm 1988-1990 Dự án đã phối giống bằng TTNT

được 100.000 cái địa phương với tinh bò thịt Limousin, Herefor, Droughmaster, Simmental

và có 65.000 bê lai ra đời Dự án đã trang bị và tăng cường thiết bị kỹ thuật TTNT và thuốc thú

y cho các tỉnh tham gia dự án Một số cán bộ tham gia dự án đã được tham quan, thực tập và học tập tại nước ngoài về các khâu giống, dinh dưỡng, đồng cỏ, thú y và quản lý giống cũng như TTNT cho bò

- Dự án khuyến nông cải tạo đàn bò thuộc dự

án Phục hồi Nông nghiệp 1995-1998, do kinh phí của Ngân hàng Thế giới ( Cr 2561 VN), tổng kinh phí 10 triệu USD trong đó 7,7 triệu USD của Ngân hàng Thế giới và 2,3 triệu USD của đối tác Việt Nam Dự án hỗ trợ phối giống bò bằng TTNT và lai tạo bằng phối giống tự nhiên cho đàn bò địa phương trên 27 tỉnh của cả nước Để triển khai dự án, các lớp

đào tạo dẫn tinh viên và khuyến nông viên cấp Quốc gia đã được tiến hành để đào tạo hàng trăm tiểu giáo viên cho địa phương Các tiểu giáo viên đã được trang bị các kiến thức về giống, dinh dưỡng, vệ sinh thú y, kỹ thuật TTNT bò, vỗ béo bò cũng như kỹ năng khuyến nông và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật chăn nuôi bò thịt thâm canh và có hiệu quả kinh tế cho nông dân

Dự án đã triển khai trên 27 tỉnh và thành phố trên cả nước để tăng cường phát triển chăn nuôi và chương trình nhân giống bò thịt Trong

Trang 6

tổng số trên 490.000 bò cái địa phương được

phối giống với bò Zêbu thì 260.000 con được

phối giống bằng TTNT sử dụng tinh đông lạnh

còn lại 230.000 con bò địa phương được phối

giống trực tiếp với bò đực lai Zêbu Trong thời

gian tiến hành dự án đã có trên 300.000 bê lai

được ra đời trên địa bàn của cả nước

Để phục vụ cho dự án cải tạo đàn bò trong 4

năm các vật tư như: 405.000 liều tinh bò Zêbu

đông lạnh, 2.253 bò đực giống lai zêbu,

350.000 lit nitơ lỏng, 1.554 bình đựng nitơ các

loại và 400.000 bộ dụng cụ TTNT đã được

chuyển và hỗ trợ cho các địa phương tham gia

dự án Ngoài ra dự án cũng đã tổ chức được 18

lớp đào tạo dẫn tinh bò cấp Quốc gia để đào

tạo cho 330 dẫn tinh viên có trình độ tay nghề

cao Mặt khác dự án cũng đã hỗ trợ kinh phí

cho các tỉnh đã tham gia đào tạo được 2.035

dẫn tinh viên và 5.189 khuyến nông viên

Khó khăn và trở ngại chính

Trong thời gian qua ngành nông nghiệp có một

số khó khăn và trở ngại trong sản xuất và quản

lý nhân giống bò ở Việt Nam

1 Chăn nuôi không còn ngành dọc trong

quản lý và chỉ đạo sản xuất

Chăn nuôi không giống như thú y, chăn nuôi là

ngành không có hệ thống quản lý từ trên

xuống dưới (Trung ương và địa phương) Từ

năm 1993, Bộ nông nghiệp không có Cục chăn

nuôi để chỉ đạo và quản lý Cơ quan quản lý và

nhân giống bò ở Việt Nam trước đây là Vụ

chăn nuôi, tiền thân của phòng chăn nuôi

thuộc Cục khuyến nông và khuyến lâm hiện

nay Không có hệ thống ngành từ bộ Nông

nghiệp xuống tỉnh nên hơn 10 năm qua ngành

chăn nuôi gặp nhiều khó khăn về định hướng

phát triển, nhân giống và cung cấp con giống

cho nông dân và các doanh nghiệp

2 Thiếu trang thiết bị kỹ thuật

- Thiếu hạ tầng cơ sở cho các trung tâm giống,

trang thiết bị kỹ thuật, điều kiện làm việc cũng

như cán bộ kỹ thuật có kinh nghiệm để triển

khai công tác giống

- Thiếu kinh phí cũng như kỹ thuật trong kiểm tra cá thể và kiểm tra qua đời sau cho đực giống, do vậy thiếu đực giống tốt và các nguyên liệu di truyền cao cung cấp cho sản xuất

- Thiếu cơ quan quản lý chuyên ngành trong chương trình cải tiến, và quản lý giống, vì vậy thiếu thông tin trong chương trình đánh giá và chọn lọc đực giống

- Hệ thống TTNT yếu kém trong dịch vụ và cung ứng, các thiết bị vật tư kỹ thuật dùng để phối giống bò thịt chất lượng cao

Tóm tắt và kết luận

Chăn nuôi bò ở Việt nam có quan hệ mật thiết với sản xuất nông nghiệp và có vai trò quan trọng đối với việc nâng cao thu nhập cho nông dân ở nông thôn Trước đây, nông dân Việt Nam thường kết hợp chặt chẽ giữa chăn nuôi

và trồng trọt, trâu bò được nuôi để cung cấp sức kéo, phân bón và để tận dụng các sản phẩm phụ trong nông nghiệp để làm thức ăn cho bò mặt khác cũng tận dụng được các lao

động phụ trong chăn nuôi

Khoảng 75% đàn bò của ta hiện nay là bò địa phương, có đặc điểm là trọng lượng nhỏ và năng xuất thấp Có khoảng 25% tổng đàn bò là

bò Zêbu và bò lai Zêbu, mà chủ yếu là bò lai Sind Chiến lược tăng cường phát triển bò thịt của ta bao gồm khai thác tiềm năng của cả các giống bò nhập ngoại và cả bò địa phương Tổng đàn bò của Việt nam hiện nay là 4,2 triệu con, tốc độ tăng đàn hàng năm là 2,84% sản lượng thịt bò hàng năm ước tính khoảng 85.000 tấn trong tổng số 1.711.700 tấn thịt các loại

Chương trình giống bò Quốc gia của Viêt Nam

được chia làm 2 bước chính Đầu tiên là chương trình cải tiến đàn bò vàng bằng sử dụng bò đực Sind và Zêbu để lai tạo với bò cái địa phương nhằm nâng cao tầm vóc và khả năng cho thịt của bò lai 50% máu Zê bu Bước tiếp theo sau đó là chương trình bò thịt chất

Trang 7

lượng cao, sử dụng bò thịt ôn đới lai vời bò cái

lai zê bu để tạo ra bò lai 75% máu ngoại

Chương trình thụ tinh nhân tạo: Hiện nay thụ

tinh nhân tạo được tiến hành phần lớn trên bò

sữa, đối với bò thịt thì chỉ được TTNT với số

lượng hạn chế còn đa số là phối giống trực

tiếp Hiện nay tổng đàn bò sữa của cảc nước có

ta khoảng 45.000 con trong dó khoảng 22.000

là bò vắt sữa và khoảng 26.000 bò cái có khả

năng sinh sản Toàn bộ bò sữa được phối giống

bằng TTNT với tinh bò đông lạnh Hàng năm

lượng tinh bò sản xuất trong nước khoảng

130.000-150.000 liều và nhập khẩu từ nước

ngoài 60.000-70.000 liều Khoảng 200.000 bò

cái trên tổng số 1,7 triệu bò cái được TTNT với

tỷ lệ thụ thai khoảng 65-70%

Trong những năm tới, chương trình giống

Quốc gia và TTNT cần được tăng cường và đẩy

mạnh hơn nữa đáp ứng nhu cầu thị trường

trong nước ngày càng cao Thụ tinh nhân tạo là

biện pháp chủ đạo trong chương trình nhân

giống bò thịt chất lượng cao của ta trong thời

gian tới

Ngày đăng: 21/01/2014, 10:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Số lượng thống kê đàn trâu bò của cả nước trong những năm qua - Tài liệu Nâng cao các kỹ năng về di truyền, sinh sản và lai tạo giống bò thịt nhiệt đới- chương 31 pptx
Bảng 1. Số lượng thống kê đàn trâu bò của cả nước trong những năm qua (Trang 2)
Bảng 2. Phân bố đàn bò theo vùng sinh thái - Tài liệu Nâng cao các kỹ năng về di truyền, sinh sản và lai tạo giống bò thịt nhiệt đới- chương 31 pptx
Bảng 2. Phân bố đàn bò theo vùng sinh thái (Trang 2)
Bảng 3. Một số chỉ tiêu sản xuất của bò vàng VN và bò lai Zê bu - Tài liệu Nâng cao các kỹ năng về di truyền, sinh sản và lai tạo giống bò thịt nhiệt đới- chương 31 pptx
Bảng 3. Một số chỉ tiêu sản xuất của bò vàng VN và bò lai Zê bu (Trang 3)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w