Tình hình phát triển chăn nuôi và công tác giống bò thịt ở Việt Nam Đỗ Kim Tuyên Đặt vấn đề Dân số Việt Nam trên 80 triệu người, đời sống của nông dân ở các vùng nông thôn hầu hết dựa
Trang 1Tình hình phát triển chăn nuôi và công tác giống bò thịt ở Việt Nam
Đỗ Kim Tuyên
Đặt vấn đề
Dân số Việt Nam trên 80 triệu người, đời sống
của nông dân ở các vùng nông thôn hầu hết
dựa vào lao động sản xuất các sản phẩm từ
nông nghiệp Chăn nuôi trâu bò gắn liền với
nghề trồng lúa nước và có vai trò quan trọng
đối với nền sản xuất nông nghiệp truyền thống
của nước ta Thu nhập từ chăn nuôi chiếm
khoảng 30% giá trị tổng sản phẩm nông
nghiệp, chăn nuôi bò không những cung cấp
sức kéo và phân bón cho cây trồng mà còn là
nguồn thức ăn giàu dinh dưỡng và nguồn đạm
quan trọng cho xã hội
Bò vàng Việt Nam là giống bò địa phương có
nhược điểm chính là tầm vóc bé và sản lượng
thịt thấp so với các giống bò trên thế giới Tuy
nhiên bò vàng đã thích nghi tốt với điều kiện
sống kham khổ và thời tiết khí hậu nóng ẩm
nhiệt đới Đối với nền nông nghiệp truyền
thống của Việt Nam thì trâu bò là những người
bạn thân không thể thiếu được của nông dân
ta, ngoài cung cấp sức kéo, thịt và phân bón ra
trâu bò có thể tận dụng một cách có hiệu quả
các sản phẩm phụ của nông nghiệp và sử dụng
hợp lý các lao động phụ như người già và trẻ
em trong gia đình nông dân ở nông thôn
Tổng đàn bò hiện nay của Việt Nam là 4,2
triệu con, trong dó có khoảng 1 triệu con
(chiếm khoảng 25% tổng đàn) là các loại bò
lai Zê bu và bò ngoại thuần như Red sindhi,
Sahiwal và Brahman Chiến lược về phát triển
bò thịt ở Việt Nam bao gồm khai thác tiềm
năng di truyền của cả các giống bò địa phương
và bò nhập ngoại từ các nước trên thế giới Để
khai thác tiềm năng di truyền và ưu thế lai của
các giống bò trong và ngoài nước, ngoài nhập
tinh đông lạnh ta đã nhập một số giống bò
nhiệt đới trên thế giới Các công thức lai tạo bò
thịt kể cả nhân giống thuần chủng đã tiến hành
và thử nghiệm trong khoảng thời gian hơn 30 năm qua Nhưng cho đến nay thì số lượng bò lai Zê bu và các giống bò ngoại thuần vẫn còn rất hạn chế, mới chiếm khoảng 1/4 tổng đàn bò của cả nước Do vậy việc lựa chọn mhững bò cái lai tốt, tiếp tục cho phối giống với tinh bò
đực ngoại là một trong những biện pháp tốt để khai thác nhanh chóng tiềm năng di truyền của các giống bò địa phương và các giống bò nhập ngoại góp phần tăng nhanh khả năng sản xuất thịt bò của Việt Nam
Kế hoạch cải tiến đàn bò và chọn lọc những bò cái tốt cho chương trình lai tạo đã từng bước nâng cao số lượng và năng suất đàn bò Vịêt Nam Ngoài các biện pháp về giống, tăng cường chế độ dinh dưỡng, chăm sóc và quản
lý, thì kỹ thuật thụ tinh nhân tạo hiện nay có vai trò rất quan trọng đối với công tác giống và lai tạo để đáp ứng nhu cầu của thị trường trong nước về thịt bò chất lượng cao trong những năm tới
Tình hình chăn nuôi bò thịt
Số lượng đàn bò
Bò địa phương của ta chủ yếu sử dụng cho sức kéo và phân bón vì thế khả năng cho thịt thấp Cơ cấu đàn bò của nhiều địa phương có khoảng 45% là sử dụng cày kéo, cả bò đực và
bò cái đều được sử dụng cho mục đích này Ngày nay, cơ khí nhỏ trong nông thôn đang dần dần thay thế cho sức kéo của trâu bò, vì vậy số lượng, cơ cấu đàn và mục đích sử dụng của đàn bò cũng sẽ thay đổi theo việc cơ giới hoá trong sản xuất nông nghiệp
Tốc độ tăng đàn hàng năm của trâu bò trong thời gian 1990-1995 là 2,84% đối với bò và 0,73% đối với trâu Tốc độ tăng đàn của bò
Trang 2thay đổi một cách rõ rệt nhất là thời gian từ
1993 cho đến nay, thời gian mà sản lượng
lương thực của nước ta tăng trưởng nhanh,
ngoài đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong
nước, Việt Nam còn trở thành nước xuất khẩu
gạo lớn, đứng vào hàng thứ 2 trên thế giới
Khoảng 54,5% số lượng đàn bò được phân bố trên 5 vùng sinh thái khác nhau của đất nước,
là nguồn sức kéo chủ yếu của nông nghiệp cho các vùng trên
Bảng 1 Số lượng thống kê đàn trâu bò của cả nước trong những năm qua
Năm Đàn Trâu Đàn Bò Tổng số
Hiện nay, sản lượng thịt trâu bò hàng năm của
ta chỉ đạt khoảng trên 130 nghìn tấn trong tổng
số 1,7 triệu tấn thịt các loại gia súc gia cầm,
tổng sản lượng sữa tươi sản xuất trong năm
khoảng 60-70 nghìn tấn, đáp ứng 10% lượng
sữa tiêu dùng trong nước Nước ta, tổng số thịt
tiêu dùng bình quân đầu người trên năm
khoảng 22 kg thịt hơi, trong đó chỉ có khoảng
1,7 kg là thịt trâu bò và gia súc nhai lại nói
chung (dưới 10%), còn chủ yếu là thịt lợn và
gia cầm (trên 90%)
Phân bố tự nhiên của đàn bò
Phân bố tự nhiên của đàn bò nước ta được trình
bày ở bảng 2 Khoảng 45% tổng số đàn bò của
cả nước tập trung ở các tỉnh miền trung Việt
nam, đây là vùng cung cấp bò cày cho vùng
đồng bằng sông Cửu long và vùng đồng bằng
châu thổ Sông Hồng
Tây nguyên là vùng đất rộng lớn, có nhiều đất
đai và đồng cỏ phù hợp cho chăn nuôi bò nhưng tại đây số lượng bò chỉ chiếm khoảng 10,7% tổng số bò của cả nước
Bảng 2 Phân bố đàn bò theo vùng sinh thái
Vùng sinh thái Tỷ lệ đàn bò
(%)
1 Miền núi phía bắc 18,7
2 Đồng bằng Sông Hồng 8.7
3 Bắc khu bốn cũ 22.5
4 Duyên Hải miền Trung 23.0
6 Miền Đông Nam bộ 11,9
7 Đồng bằng Sông Cửu long 4,5
Trang 3Các giống bò và một số chỉ tiêu sản xuất
Khoảng 75% tổng đàn bò của cả nước là bò
vàng địa phương có trọng lượng trưởng thành
rất hạn chế, trọng lượng trung bình con đực là
180-200 kg và bò cái từ 150-160 kg Bò nội có
tỷ lệ thịt xẻ thấp khoảng 40-44% so với trọng
lượng sống
Bò Zê bu và bò lai Zê bu chiếm khoảng
24-25% tổng số bò cái của cả nước, các giống bò
lai hiện nay chủ yếu là lai Sind, lai Sahiwal và Brahman bằng sử dụng bò đực ngoại có tên trên cho lai với bò cái địa phương Bò ngoại và
bò lai hướng thịt chiếm khoảng 1/4 tổng số
đàn bò, bò lai có tốc độ tăng trọng và sinh trưởng nhanh, có trọng lượng trưởng thành từ 250-300 kg và tỷ lệ thịt xẻ cao biến động từ 49-50%
Bảng 3 Một số chỉ tiêu sản xuất của bò vàng VN và bò lai Zê bu
Các chỉ tiêu Đơn vị Bò vàng Red Sinhi Sahiwal Brahman
Chương trình giống bò thịt của Việt
Nam
Nhiều nước nhiệt đới trên thế giới đã tăng
cường việc nhập bò từ nước ngoài về với mục
tiêu để nâng cao khả năng sản xuất của giống
bò địa phương và tăng cường sản lượng thịt bò
sản xuất trong nước Việt Nam cũng đã nhập
khẩu nhiều giống bò để lai tạo đàn bò thịt, bò
sữa, tìm công thức lai thích hợp có thể thích
nghi với điều kiện thời tiết và khí hậu nhiệt đới
của đất nước Cuối thập kỷ 60 và những năm
đầu của thập kỷ 70, nhiều giống bò của nước
ngoài đã được nhập vào Việt Nam, các giống
bò chủ yếu nhập vào nước ta những năm qua là
Red Sinhdi, Sahiwal, bò Brahman và một số
các giống bò sữa
Chiến lược về cải tiến công tác giống bò thịt
của nước ta được chia làm 2 giai đoạn chính:
Giai đoạn 1 là chương trình cải tiến dàn bò
vàng còn gọi là chương trình Sind hoá hay Zê
bu hoá đàn bò và giai đoạn 2 là chương trình phát triển bò thịt chất lượng cao
Giai đoạn 1: Chương trình cải tiến đàn bò
vàng Việt Nam
Chương trình lai cải tiến hay lai 2 máu: Sản xuất ra con lai có 50% máu bò ngoại Trong chương trình này, bò vàng Việt nam dược cải tiến bằng sử dụng các giống bò đực ngoại như Red Sindhi và bò Zê bu cho phối giống với bò cái địa phương để tạo ra con lai có năng suất cao hơn bò địa phương như khối lượng trưởng thành, tốc độ tăng trọng, sản lượng thịt và khả năng cho sữa
Các giống bò Zê bu đã được nhập vào nước ta trong thời gian qua trong chương trình cải tạo
đàn bò quốc gia như sau:
- Bò Red Sinhi nhập từ Pakistan năm 1987
Trang 4- Bò Sahiwal nhập từ Pakistan năm 1987
- Bò Brahman dỏ và trắng nhập từ Cu ba
năm 1987 và Australia năm 2001, 2002
Các giống bò lai trong nước nói chung là phù
hợp với phương thức sản xuất đa canh của ta,
thích nghi tốt với điều kiện thời tiết nóng ẩm,
nghèo dinh dưỡng cũng như điều kiện chăm
sóc quản lý của Việt Nam, bò lai có tốc độ
sinh trưởng và phát triển tốt, ưu việt hơn hẳn
giống bò địa phương (Bảng 3)
Chương trình cải tiến đàn bò vàng của Việt
nam đã được nghiên cứu và thực hiện trong
hơn 40 năm qua, nhưng trở thành dự án Quốc
gia khoảng 30 năm từ thập kỷ 70 Cho đến nay
số lượng bò lai của ta vẫn còn hạn chế, mới
chiếm khoảng 1/4 tổng đàn đàn bò của cả
nước
Giai đoạn 2: Chương trình nhân giống bò
thịt chất lượng cao
Khi đã tạo được bò lai Zê bu, ta có thể sử
dụng chúng như là cái nền để tiếp tục lai tạo
với các giống bò thịt cao sản phù hợp với điều
kiện nhiệt đới tạo ra giống bò thịt chất lượng
cao cho Việt Nam
Lai 3 máu tạo ra các con lai có 75% máu bò
thịt ngoại trở lên, phù hợp với điều kiện khí
hậu và sinh thái của nước ta Bằng sử dụng bò
cái lai Zê bu cho lai với tinh bò thịt cao sản để
tạo ra giống bò thịt cao sản, hầu hết các công
thức lai trước đây chủ yếu tiến hành ở các Viện
nghiên cứu và hạn chế ở điều kiện sản xuất bởi
vì các giống bò thịt chất lượng cao cần chế độ
nuôi thâm canh và chế độ quản lý chặt chẽ
Một số bò thịt ôn đới như Charolais, Limousin,
Hereford, Santa Gertrudit, Shorthorn,
Droughmaster và Simmental là những giống bò
thịt cao sản với tốc độ tăng trọng ngày từ
1.000-1.200 gr/ngày và tỷ lệ thịt xẻ cao, có thể
đạt từ 60-65% Ví dụ: bò lai sử dụng công
thức như sau cái lai Red Sindhi cho lai với tinh
bò thịt Charolais, con lai có thể tăng trọng
500-800 gr/ngày, khi đạt 24 tháng tuổi trọng
lượng hơi có thể đạt 300 kg với tỷ lệ thịt xẻ khoảng 52-54%
Hệ thống thụ tinh nhân tạo bò
Công ty kỹ thuật truyền Giống gia súc được thành lập tháng 10 năm 2001 Công ty này trực thuộc Tổng công ty chăn nuôi Việt nam (Vinalinetsco) Chức năng chính của công ty này là: dịch vụ nhân giống bò, sản xuất tinh bò
đông lạnh và cung cấp dụng cụ TTNT cho cả nước Văn phòng chính của Công ty tại số 6 Nguyễn Công Trứ, Hà nội, trung tâm bò đực giống tại Ba Vì, Hà Tây và 4 trạm TTNT vùng tại Thanh Hoá, Nghệ An, Nha Trang và TP Hồ Chí Minh Nhìn chung cơ sở vật chất kỹ thuật của Công ty hiện nay còn nhiều hạn chế, công
ty cần được nâng cấp và đầu tư để các dịch vụ phối giống bò trong tương lai được tốt hơn
Cơ sở vật chất và hệ thống thụ tinh nhân tạo
Hệ thống dịch vụ nhân giống bò bao gồm:
- Trung tâm sản xuất tinh bò đông lạnh
Moncada, Ba Vì , Hà Tây
Nhiệm vụ của Trung tâm: Là một Xí nghiệp công ích của nhà nước, Trung tâm có nhiệm vụ nuôi các giống bò thịt và bò sữa cao sản, sản xuất tinh đông lạnh cung cấp cho chương trình giống bò thịt và bò sữa trong cả nước Hiện nay Trung Tâm có 60 bò đực giống, trong đó
20 bò đực giống sữa và 40 bò đục giống thịt Giống bò sữa chủ yếu là bò đực Holstein Friesian từ Cuba, Mỹ: bò đực Jersey từ Mỹ và
bò đực F2 3/4 máu HF được sản xuất tại Việt Nam Các giống bò thịt chủ yếu là Red Sindhi, Sahiwal, Brahman, Limousin, Chairolais và bò Simmental, hiện nay giống bò Droughmaster
đã được nhập vào Việt Nam
Hơn 30 năm qua, tinh đông lạnh của Trung Tâm Moncada đã dược sử dụng cho chương trình cải tiến đàn bò và chương trình phát triển
bò sữa của cảc nước Thông qua các dự án trong và ngoài nước, Trung tâm đã được nâng cấp về cơ sở hạ tầng, tăng cường chất lượng bò
đực giống và thiết bị kỹ thuật cho sản xuất và
Trang 5chế biến tinh Hiện nay để phục vụ cho chương
trình bò thịt bò sữa ta có hai dạng tinh đông
lạnh chủ yếu do Trung tâm sản xuất đó là tinh
viên và tinh cọng rạ
Kỹ thuật sản xuất tinh viên được đưa vào nước
ta từ những năm 1970, do sự giúp đỡ về tài
chính và công nghệ của Cuba được xem hà
hiện đại nhất thời đó, nhưng sau 30 năm kỹ
thuật này hiện đã quá lạc hậu so với thế giới,
song do các địa phương chưa chuyển đổi kịp
về kỹ thuật cũng như dụng cụ cho TTNT nên ta
vẫn duy trì sản xuất tinh viên
Dây chuyền sản xuất tinh cọng rạ theo kỹ thuật
hiện đại, thiết bị của hãng Minitub, Đức; hệ
thống này được lắp đặt năm 1997 bởi kinh phí
của Tiểu phần khuyến nông chăn nuôi trong
Dự án Phục Hồi Nông nghiệp Cr 5261 VN do
Ngân Hàng Thế giới tài trợ, công suất của dây
truyền này từ 800 nghìn đến 1 triệu liều trên
năm nhưng ta chưa sử dụng hết 1/ 4 công
xuất
- Các xí nghiệp cung ứng vật tư kỹ thuật và
dịch vụ phối giống bò
+ Các xí nghiệp vùng: Các xí nghiệp
này có các nhiệm vụ như sau: 1) dịch vụ cung
cấp tinh đông lạnh và các vật tư phối giống cho
các trạm tỉnh, huyện và các cá nhân làm TTNT
bò, 2) tổ chức các lớp tập huấn về kỹ thuật
TTNT bò cho cấp tỉnh và huyện 3) dịch vụ và
hợp đồng phối giống bò bằng TTNT trong
phạm vi vùng
+ Các trạm TTNT tỉnh: Các trạm này
có các nhiệm vụ như sau: 1) dịch vụ cung cấp
tinh đông lạnh và các vật tư phối giống cho các
trạm huyện và các cá nhân làm TTNT bò, 2)
tổ chức các lớp tập huấn về kỹ thuật TTNT bò
cho cấp huyện, xã 3) chuyển giao các tiến bộ
kỹ thuật về chăn nuôi bò cho nông dân, 4) dịch
vụ phối giống bằng TTNT cho bò trong tỉnh
Chương trình thụ tinh nhân tạo bò ở Việt
nam
Từ những năm 1960 nước ta đã có chương
trình cải tiến để nâng cao năng xuất của đàn bò
địa phương bằng các giống bò Zêbu như bò Red Sindhi Vào những năm 70 ngoài các giống bò thịt nhiệt đới như bò Red Sindhi, Sahiwal và Brahman ra thì một số bò ôn đới như Limousin, Herefor, Simmental, Santagestrudit.v.v đã được đưa vào để tăng cường việc lai tạo và cải tiến đàn bò địa phương trên phạm vi và quy mô lớn hơn Tuy nhiên cho đến nay đàn bò lai của nước ta mới chiếm khoảng 25% tổng đàn bò của cả nước thông qua các chương trình và dự án trong nước, ngoài nước sau đây:
- Dự án bò thịt cho các tỉnh Duyên hải miền trung và Tây nguyên do FAO tài trợ năm 1988-1990 Dự án đã phối giống bằng TTNT
được 100.000 cái địa phương với tinh bò thịt Limousin, Herefor, Droughmaster, Simmental
và có 65.000 bê lai ra đời Dự án đã trang bị và tăng cường thiết bị kỹ thuật TTNT và thuốc thú
y cho các tỉnh tham gia dự án Một số cán bộ tham gia dự án đã được tham quan, thực tập và học tập tại nước ngoài về các khâu giống, dinh dưỡng, đồng cỏ, thú y và quản lý giống cũng như TTNT cho bò
- Dự án khuyến nông cải tạo đàn bò thuộc dự
án Phục hồi Nông nghiệp 1995-1998, do kinh phí của Ngân hàng Thế giới ( Cr 2561 VN), tổng kinh phí 10 triệu USD trong đó 7,7 triệu USD của Ngân hàng Thế giới và 2,3 triệu USD của đối tác Việt Nam Dự án hỗ trợ phối giống bò bằng TTNT và lai tạo bằng phối giống tự nhiên cho đàn bò địa phương trên 27 tỉnh của cả nước Để triển khai dự án, các lớp
đào tạo dẫn tinh viên và khuyến nông viên cấp Quốc gia đã được tiến hành để đào tạo hàng trăm tiểu giáo viên cho địa phương Các tiểu giáo viên đã được trang bị các kiến thức về giống, dinh dưỡng, vệ sinh thú y, kỹ thuật TTNT bò, vỗ béo bò cũng như kỹ năng khuyến nông và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật chăn nuôi bò thịt thâm canh và có hiệu quả kinh tế cho nông dân
Dự án đã triển khai trên 27 tỉnh và thành phố trên cả nước để tăng cường phát triển chăn nuôi và chương trình nhân giống bò thịt Trong
Trang 6tổng số trên 490.000 bò cái địa phương được
phối giống với bò Zêbu thì 260.000 con được
phối giống bằng TTNT sử dụng tinh đông lạnh
còn lại 230.000 con bò địa phương được phối
giống trực tiếp với bò đực lai Zêbu Trong thời
gian tiến hành dự án đã có trên 300.000 bê lai
được ra đời trên địa bàn của cả nước
Để phục vụ cho dự án cải tạo đàn bò trong 4
năm các vật tư như: 405.000 liều tinh bò Zêbu
đông lạnh, 2.253 bò đực giống lai zêbu,
350.000 lit nitơ lỏng, 1.554 bình đựng nitơ các
loại và 400.000 bộ dụng cụ TTNT đã được
chuyển và hỗ trợ cho các địa phương tham gia
dự án Ngoài ra dự án cũng đã tổ chức được 18
lớp đào tạo dẫn tinh bò cấp Quốc gia để đào
tạo cho 330 dẫn tinh viên có trình độ tay nghề
cao Mặt khác dự án cũng đã hỗ trợ kinh phí
cho các tỉnh đã tham gia đào tạo được 2.035
dẫn tinh viên và 5.189 khuyến nông viên
Khó khăn và trở ngại chính
Trong thời gian qua ngành nông nghiệp có một
số khó khăn và trở ngại trong sản xuất và quản
lý nhân giống bò ở Việt Nam
1 Chăn nuôi không còn ngành dọc trong
quản lý và chỉ đạo sản xuất
Chăn nuôi không giống như thú y, chăn nuôi là
ngành không có hệ thống quản lý từ trên
xuống dưới (Trung ương và địa phương) Từ
năm 1993, Bộ nông nghiệp không có Cục chăn
nuôi để chỉ đạo và quản lý Cơ quan quản lý và
nhân giống bò ở Việt Nam trước đây là Vụ
chăn nuôi, tiền thân của phòng chăn nuôi
thuộc Cục khuyến nông và khuyến lâm hiện
nay Không có hệ thống ngành từ bộ Nông
nghiệp xuống tỉnh nên hơn 10 năm qua ngành
chăn nuôi gặp nhiều khó khăn về định hướng
phát triển, nhân giống và cung cấp con giống
cho nông dân và các doanh nghiệp
2 Thiếu trang thiết bị kỹ thuật
- Thiếu hạ tầng cơ sở cho các trung tâm giống,
trang thiết bị kỹ thuật, điều kiện làm việc cũng
như cán bộ kỹ thuật có kinh nghiệm để triển
khai công tác giống
- Thiếu kinh phí cũng như kỹ thuật trong kiểm tra cá thể và kiểm tra qua đời sau cho đực giống, do vậy thiếu đực giống tốt và các nguyên liệu di truyền cao cung cấp cho sản xuất
- Thiếu cơ quan quản lý chuyên ngành trong chương trình cải tiến, và quản lý giống, vì vậy thiếu thông tin trong chương trình đánh giá và chọn lọc đực giống
- Hệ thống TTNT yếu kém trong dịch vụ và cung ứng, các thiết bị vật tư kỹ thuật dùng để phối giống bò thịt chất lượng cao
Tóm tắt và kết luận
Chăn nuôi bò ở Việt nam có quan hệ mật thiết với sản xuất nông nghiệp và có vai trò quan trọng đối với việc nâng cao thu nhập cho nông dân ở nông thôn Trước đây, nông dân Việt Nam thường kết hợp chặt chẽ giữa chăn nuôi
và trồng trọt, trâu bò được nuôi để cung cấp sức kéo, phân bón và để tận dụng các sản phẩm phụ trong nông nghiệp để làm thức ăn cho bò mặt khác cũng tận dụng được các lao
động phụ trong chăn nuôi
Khoảng 75% đàn bò của ta hiện nay là bò địa phương, có đặc điểm là trọng lượng nhỏ và năng xuất thấp Có khoảng 25% tổng đàn bò là
bò Zêbu và bò lai Zêbu, mà chủ yếu là bò lai Sind Chiến lược tăng cường phát triển bò thịt của ta bao gồm khai thác tiềm năng của cả các giống bò nhập ngoại và cả bò địa phương Tổng đàn bò của Việt nam hiện nay là 4,2 triệu con, tốc độ tăng đàn hàng năm là 2,84% sản lượng thịt bò hàng năm ước tính khoảng 85.000 tấn trong tổng số 1.711.700 tấn thịt các loại
Chương trình giống bò Quốc gia của Viêt Nam
được chia làm 2 bước chính Đầu tiên là chương trình cải tiến đàn bò vàng bằng sử dụng bò đực Sind và Zêbu để lai tạo với bò cái địa phương nhằm nâng cao tầm vóc và khả năng cho thịt của bò lai 50% máu Zê bu Bước tiếp theo sau đó là chương trình bò thịt chất
Trang 7lượng cao, sử dụng bò thịt ôn đới lai vời bò cái
lai zê bu để tạo ra bò lai 75% máu ngoại
Chương trình thụ tinh nhân tạo: Hiện nay thụ
tinh nhân tạo được tiến hành phần lớn trên bò
sữa, đối với bò thịt thì chỉ được TTNT với số
lượng hạn chế còn đa số là phối giống trực
tiếp Hiện nay tổng đàn bò sữa của cảc nước có
ta khoảng 45.000 con trong dó khoảng 22.000
là bò vắt sữa và khoảng 26.000 bò cái có khả
năng sinh sản Toàn bộ bò sữa được phối giống
bằng TTNT với tinh bò đông lạnh Hàng năm
lượng tinh bò sản xuất trong nước khoảng
130.000-150.000 liều và nhập khẩu từ nước
ngoài 60.000-70.000 liều Khoảng 200.000 bò
cái trên tổng số 1,7 triệu bò cái được TTNT với
tỷ lệ thụ thai khoảng 65-70%
Trong những năm tới, chương trình giống
Quốc gia và TTNT cần được tăng cường và đẩy
mạnh hơn nữa đáp ứng nhu cầu thị trường
trong nước ngày càng cao Thụ tinh nhân tạo là
biện pháp chủ đạo trong chương trình nhân
giống bò thịt chất lượng cao của ta trong thời
gian tới