Nuôi dưỡng đàn bò thịt Một số hệ thống chăn thả khác nhau đang được sử dụng để nuôi bò, đồng cỏ chăn thả có thể là đồng cỏ đơn hoặc kết hợp.. Thảm cỏ gồm cỏ tự nhiên là chính, cây họ đậ
Trang 1Hệ thống đồng cỏ nhiệt đới nuôi bò thịt ở
Queensland
C.H Middleton, K.J Murphy
Giới thiệu
Ngành bò thịt
Queensland, với 10,4 triệu bò thịt, là bang nuôi
bò thịt chính ở Australia Hầu hết bò được nhân
giống và chăn thả trong các hệ thống chăn nuôi
quảng canh ở đó cả cỏ bản địa và cỏ nhập nội
đều được sử dụng
Quy mô đàn thay đổi từ 300 tới hàng chục nghìn
con và diện tích trang trại từ 500 ha đến 100.000
ha
Trong khi có 40 giống bò ở Queensland, bò ở
miền Trung và miền Nam của bang phần lớn có
nguồn gốc Bos indicus (chịu nóng và kháng ve)
Phần lớn giống Bos taurus xuất hiện ở vùng khí
hậu lạnh ở mền Nam Queensland
Hầu hết thịt bò được xuất khẩu (kim ngạch 1,5 tỷ
Đôla úc), 85% thịt chế biến và phần còn lại là bò
sống Thị trường chính là Nhật Bản, Hàn Quốc
và Đông Nam á (thịt bò) và Đông Nam á (bò
sống)
Môi trường
Queensland nằm ở 50 đến 100 vĩ độ nam và 1370
đến 1530 độ kinh đông
Khí hậu ở đây là nhiệt đới và á nhiệt đới Mưa
tập trung vào mùa hè với lượng mưa hàng năm từ
400 mm tới 2000mm ở những vùng nuôi bò thịt,
60 - 70% lượng mưa tập trung ở các tháng có
nhiệt độ cao từ tháng 10 đến tháng 3 Lượng mưa
lớn nhất (800-2000mm) ở vùng bờ biển phía
đông của dãy núi Great Dividing Lượng mưa
giảm xuống nhanh chóng ở trong nội địa phía tây
của dãy Great Dividing ở phía Bắc của Bang
mùa khô kéo dài từ 7-9 tháng và rơi vào những
tháng lạnh hơn Mùa khô ở phía Nam ngắn hơn,
đôi khi trong mùa đông có mưa Vào mùa đông
sương mù xuất hiện ở miền Nam Queensland và
ở những vùng núi cao thuộc miền Trung và miền
Bắc Queensland Mùa hè nhiệt độ trung bình
vượt quá 350C
Độ màu mỡ của đất đai thay đổi theo vùng Đất cận duyên hải và đất duyên hải sử dụng để nuôi
bò nhìn chung có độ màu mỡ thấp và hơi chua Vùng đất sét nội địa là những vùng có cỏ Brigalow, cỏ hòa thảo, cỏ Mitchell, nhìn chung vùng này đất đai màu mỡ
Nuôi dưỡng đàn bò thịt
Một số hệ thống chăn thả khác nhau đang được
sử dụng để nuôi bò, đồng cỏ chăn thả có thể là
đồng cỏ đơn hoặc kết hợp Thảm cỏ gồm cỏ tự nhiên là chính, cây họ đậu nhập nội trồng trên
đồng cỏ tự nhiên, cỏ nhập nội hoặc cỏ tự nhiên/cây họ đậu trồng từ hạt ở vùng có mưa nhiều hoặc đất tốt hơn, đồng cỏ keo dậu/hoà thảo, đồng cỏ đặc biệt (đồng cỏ có tưới nước và bón phân nitơ) và cỏ thu cắt Ngoài ra một loạt các thức ăn bổ sung (không giới thiệu trong bài này) cũng được sử dụng vào những mục đích cụ thể như nuôi dưỡng bò trong mùa hạn hán, nuôi
bò sinh sản và nuôi bò vỗ béo Năng suất của gia súc nuôi trên một số loại đồng cỏ thông dụng
được trình bày ở Bảng 1
Tất cả các loại cỏ đều được cho chăn thả tại chỗ, không cắt và đưa về cho bò như ở Việt Nam
Đồng cỏ tự nhiên
Ngành chăn nuôi bò thịt ở Queensland dựa chủ yếu vào 150 triệu ha đồng cỏ tự nhiên Phần lớn
đồng cỏ tự nhiên được sử dụng cho bò thịt nằm ở vùng duyên hải và vùng cận duyên hải là cỏ black speagrass và trong vùng đất nội địa là aritida/bothriochloa (xem hình 1) Cả hai loại cỏ này được kết hợp với bạch đàn lấy gỗ, nhìn chung là ở vùng đất nghèo dinh dưỡng Trong vùng nội địa có đất đai màu mỡ hơn người ta đã
sử dụng trồng hoa màu hoặc trồng cỏ nhập nội cao sản Vùng phía đông của đồng cỏ Mitchel (lượng mưa 400- 500mm) chăn nuôi chủ yếu là
bò và cừu trên đồng cỏ tự nhiên có chất lượng cao
Thị trường đòi hỏi ngày càng nhiều gia súc non
có nghĩa là chúng ta cần mức dinh dưỡng cao hơn cho tất cả các loại bò (từ bò giống tới bò đực
Trang 2thiến) nhằm mục tiêu đạt được khối lượng một
cách có hiệu quả Đồng cỏ tự nhiên với
speargrass và aritida/bothriochloa có những hạn
chế của đồng cỏ số lượng và chất lượng thấp,
chất khô của đồng cỏ biến động theo mùa Cỏ
thành thục sớm, nắng hạn và sương mù làm cho
xơ tăng cao, làm giảm thấp prôtêin, năng lượng
và khoáng, điều này thường xảy ra trong suốt
mùa trừ một giai đoạn ngắn sau khi chuyển mùa
Chính sự thiếu hụt đó làm cho bò ăn vào không
đủ vật chất khô tiêu hóa để phát huy hết tiềm
năng của chúng
Cỏ tự nhiên được dùng nhiều cho bò sinh sản và
bò non vỗ béo cho thị trường trong nước và cho
thị trường xuất khẩu bò sống
Đồng cỏ tự nhiên trồng xen cỏ họ đậu
Để cải tiến chất lượng của đồng cỏ tự nhiên cách
đơn giản và rẻ nhất là trồng thêm cây họ đậu đã
thích nghi Khoảng 1 triệu ha cỏ stylo (hầu hết là
Seca và Verano) đã được trồng trên đồng cỏ tự
nhiên trong vòng 20 năm qua, hầu hết cỏ này
được gieo bằng máy bay
Đặc điểm làm cho việc trồng cỏ stylo thành công
là dùng phương pháp thiết lập đồng cỏ đơn giản,
giá thành thấp (gieo hạt giống vào đồng cỏ đã
đốt với giá 30-35 Đô la úc/ha) và chờ chúng
phát triển, thích nghi ở vùng đất nhẹ có độ màu
mỡ từ trung bình đến rất thấp Với đồng cỏ này
cần chăn thả có chọn lựa vào thời điểm trong
năm khi nhu cầu là lớn nhất, cuối mùa hè tới hết
mùa đông
Lợi ích từ việc đưa cỏ stylo vào đồng cỏ tự nhiên
cho chăn nuôi bê cai sữa hoặc bò 1 năm tuổi là
cung cấp dinh dưỡng cao hơn cho bò sinh sản,
nâng cao tỷ lệ thụ thai, tỷ lệ đẻ, giảm chi phí
thức ăn bổ sung và tăng năng suất cho bê cai sữa
và bê 1 năm tuổi Đối với bò sinh trưởng, sử
dụng cây họ dậu dẫn đến khối lượng cao hơn và
giảm khối lượng bị mất trong mùa khô Với đất
có hàm lượng phôtpho thấp bò sẽ có đáp ứng tốt
với thức ăn bổ sung photpho trong mùa mưa
Đối với bò vỗ béo trồng xen cỏ họ đậu đã làm
tăng trọng từ 30-50 kg/con trong một năm tuỳ
thuộc vào đất, mùa vụ so với đồng cỏ tự nhiên
ở miền trung Queensland nơi áp dụng mật độ
chăn thả truyền thống khi cần cũng bổ sung vi
khoáng có thể nuôi được bò đạt khối lượng 600
kg lúc 3,5 tuổi trên đồng cỏ kết hợp Stylo/đồng
cỏ tự nhiên
Đồng cỏ hòa thảo/họ đậu
Cỏ hoà thảo hoặc hoà thảo/họ đậu được trồng ở vùng duyên hải, nơi có lượng mưa cao hơn và phân bón được sử dụng hoặc ở các vùng đất nội
địa và vùng đồi núi phì nhiêu Hầu hết loại cỏ
trên vùng đất sét Brigalow là cỏ sả (Panicum
Maximum), cỏ Rhodes (Cloris gayana) và cỏ
Buffel (Cenchrus ciliarus) Có vài triệu ha đồng
cỏ trên đất này Vì đất không có cây (lớn) che phủ nên độ màu đã giảm do vậy một số cỏ họ
đậu như keo dậu (Keo dậu leucocephlata), cây
đậu hòa lan (Clittoria ternatea), Demanthus (Desmanthus virgatus) Caatinga stylo (Stylosanthes seabrana) đã được trồng cùng cỏ
hoà thảo khi nitơ trong đất giảm xuống
ở những vùng núi lạnh hơn, cỏ kikuyu
(Pennisetum clandestinum) được trồng trên vùng
đất màu mỡ (Eungella, Atherton Tableland) hoặc
một mình hoặc kết hợp với đậu glicine (Glycine
wightii) ở vùng duyên hải có lượng mưa cao các
loại cỏ đáng chú ý như cỏ signal (Brachiaria
decumbens), cỏ sả (Panicum maximum), cỏ
Koronivia (Brachiaria humidicola), cỏ pangola (Digitaria decumbens) được sử dụng, đôi khi cùng với cỏ centro (Centrosema pubescens)
Đồng cỏ keo dậu/hòa thảo
Keo dậu cho đến nay là cây họ đậu nhiệt đới có hàm lượng dinh dưỡng cao nhất với chất lượng thức ăn ngang bằng cỏ linh lăng Keo dậu có hàm lượng prôtêin rất cao (> 25% ở lá non) và khoáng cũng cao (ngoại trừ Natri và Iôt) lại rất ngon miệng, dễ tiêu hóa Keo dậu chứa mimosine là một chất có thể ảnh hưởng tới năng suất của gia súc Điều này dễ dàng được xử lý bằng cách cho một phần của đàn gia súc, chỉ một lần, uống dịch dạ cỏ từ gia súc chứa vi khuẩn giải độc mimosine
Keo dậu thường được trồng thành hàng cách nhau 5 - 8m giữa các luống cỏ hoà thảo Chi phí thiết lập có thể cao so với các loại cỏ khác chủ yếu là do phải có chương trình chống cỏ dại kéo dài
Keo dậu có thể được sử dụng cho nhiều loại bò Một trang trại lớn ở trung Queensland đã nuôi bò giống và vỗ béo bò chỉ dùng đồng cỏ keo dậu/buffel Bò đực thiến được giết thịt lúc 2-4 răng với khối lượng thịt xẻ khoảng 330 kg Nếu
có nhiều keo dậu cho bò trong suốt một thời gian
Trang 3dài bò có thể đạt tăng trọng 0,8kg/con/ngày
trong mùa hè, 0,5 –0,6 trong mùa đông, hoặc
250-280 kg/bò đực thiến/năm
loại cây như cao lương hay cây đậu lablab
(Lablab purpureus) thường được sử dụng
Hạn chế của các cây trồng này là thời gian sống ngắn và phải trồng mới hàng năm
Đồng cỏ keo dậu/hòa thảo tốt cho phép người
sản xuất hướng tới bất cứ thị trường nào họ chọn
áp dụng hệ thống cây thức ăn gia súc của Australia vào Việt Nam
Hiện nay có khoảng 50.000 ha keo dậu trồng
nhưng chỉ có một số lượng ít các trang trại có
diện tích lớn (>400 ha) Keo dậu còn có tiềm
năng lớn cho việc trồng mở rộng, đặc biệt là nhờ
công nghệ thiết lập đáng tin cậy hiện nay Chăn nuôi bò thịt ở Australia không có những vấn đề khó khăn liên quan đến đất chật, người
đông và thiếu vốn Các hệ thống sản xuất dựa vào trang trại lớn, đàn lớn và một hệ thống chăn thả tự do liên tục trên đồng cỏ ở Việt Nam phần lớn bò được nuôi nhốt bởi các tiểu nông và cỏ
được cắt cho gia súc ăn Bò có thể chăn thả trên một số đất công ở một số vùng cao nơi hạn chế
về nước tưới cho các loại cây trồng có thể phát triển đồng cỏ chăn thả quảng canh Đối với chăn nuôi nông hộ thâm canh hơn, Việt Nam có thể xem xét đến một số cây cỏ (đặc biệt là cây họ
đậu) có thể hữu ích trong việc cung cấp một nguồn dinh dưỡng có số lượng và chất lượng cao
và bảo vệ đất không bị xói mòn
Đồng cỏ trồng keo dậu thường được chăn thả
luân phiên Thỉnh thoảng được cắt để phục tráng
Ngoài giá trị thức ăn keo dậu còn có lợi trong
việc phục hồi nitơ có trong đồng cỏ hoà thảo và
ngăn chăn nhiễm mặn ở vùng đất nhờ nâng cao
mức nước trong đất
Đồng cỏ đặc dụng
Nơi nào có nước, có thể phát triển một vùng nhỏ
đồng cỏ trồng được tưới nước ở vùng nhiệt đới
loại cỏ chủ lực được sử dụng là cỏ mật hoặc cỏ
pangola
Tại những vùng ôn hoà hơn của miền Nam
Queensland, các loại cỏ hòa thảo và cây cỏ họ
đậu ôn đới có thể cùng trồng trên đồng cỏ có tưới
nước như là một kiểu đồng cỏ “vĩnh cửu” hay
như là đồng cỏ đông-xuân (cây họ đậu ôn đới)
bổ sung cho đồng cỏ
Tài liệu đọc thêm
Sown pastures for the seasonally dry tropics Ed
Ian Partridge and Joe Miller DPI Conference and Workshop Series QC91002, DPI Brisbane 1991
ở vùng duyên hải có lượng mưa hàng năm cao
(>1200mm), phân đạm có thể được sử dụng (khi
giá bò thịt cao) để bón cho các loại cỏ như
pangola và cỏ signal để vỗ béo bò ở mật độ chăn
thả tương đối cao
Stylos for better beef Ian Partridge, Col Middleton
and Kev Shaw DPI Information Series QI96010, DPI Brisbane 1996
Sown pasture Notes - Central Queensland Ed
George Lambert and Gavin Graham DPI Rockhampton 1996
Cây thức ăn hàng năm
Cây thức ăn trồng hàng năm thường được sử
dụng nuôi vỗ béo và là cỏ có chất lượng và năng
suất cao Các loại cây thức ăn này được trồng
trên đất tốt Các cây trồng phổ biến là yến mạch
và đại mạch trong vụ đông-xuân ở các vùng phía
nam có mưa trong mùa đông Vào mùa hè các
Developing forage technologies with smallholder farmers - Peter M Horne and Werner W Stur ACIAR Monograph No 62 ACIAR Canberra
Bảng 1 Năng suất trung bình của bò đực thiến được nuôi trên một số loại đồng cỏ
Tăng trọng/năm
Tuổi (tháng) lúc
đạt 600 kg
Trang 4H×nh 1: §ång cá tù nhiªn ë Queensland