Những bò đực có trương lực dịch hoàn nhão hoặc rắn một cách không bình thường, cần được kiểm tra tiếp về chất lượng tinh dịch.. • Một số bò đực Bos indicus có hiện tượng trục của dịch ho
Trang 1Khả năng sinh sản và đánh giá bò đực
R.G Holroyd, J.D Bertram
Khả năng sinh sản của bò đực
Một bò đực được xem là có khả năng sinh sản
tốt khi nó có thể sản sinh được nhiều bê con
Hội các nhà Thú y bò ở úc định nghĩa về khả
năng sinh sản đối với bò đực như sau:
• Trong phối giống đơn, một con bò đực bình
thường có khả năng sinh sản có thể phối có
chửa 90% trong 50 bò cái bình thường có chu
kỳ và không bệnh tật trong vòng 9 tuần phối
giống và 60% có chửa trong 3 tuần đầu của
thời kỳ phối giống
• Tinh dịch của những bò đực có khả năng sinh
sản cao sẽ có tỉ lệ bò cái không động dục lại ít
nhất là 65% đối với lần dẫn tinh đầu
• Cách định nghĩa khả năng sinh sản thực tế khi
cho nhiều bò đực phối giống trong những đàn
nuôi quảng canh (bò đực được thả chung với
bò cái quanh năm) là 90% bò cái có chửa
trong thời gian tiếp xúc tối ưu, tức là 3-4
tháng liền ngay sau mùa mưa
Tầm quan trọng của khả năng sinh sản và mức
độ hoàn hảo của bò đực
Bò đực đại diện cho 1/2 đơn vị giống, thế nhưng
trong nhiều đàn, việc quản lý bò đực thường bị
lãng quên Trong nhiều đàn, có quá nhiều bò
đực giao phối, lý do là nếu có một bò đực nào
đó không giao phối thì những con khác sẽ làm
thay cho nó
Việc thay thế bò đực trong đàn là chi phí chủ
yếu cho những người nuôi bò giống Về mặt
kinh tế quản lý bò đực phụ thuộc 2 vấn đề Thứ
nhất là chi phí về vốn cho mỗi con bê được xuất
bán, có liên quan đến con bò đực Đây là một
hàm số của giá tậu bò đực, chi phí quản lý nó,
giá trị mổ thịt và số lượng bê do nó sản sinh ra
Ví dụ, một con bò đực giá 2.000 $, có thời gian
sử dụng 5 năm và được phối giống với tỉ lệ bò
đực : bò cái là 5%, chi phí về bò đực cho mỗi bê
từ 30$/ bê (với tỉ lệ 50% bê được xuất bán)
xuống 19$ (với tỉ lệ 80% bê được xuất bán)
Thứ hai là việc quản lý bò đực liên quan đến
tính di truyền do bò đực mang lại Lợi nhuận
chính thu được thông qua sử dụng những bò
đực mà đời sau của chúng có năng suất cao hơn
thông qua khả năng sinh sản, sinh trưởng, khí
chất, sức sống và đặc điểm thân thịt đã được cải
thiện
Trung bình thời gian sử dụng một bò đực quãng
3 năm Do đó trong thời gian này chúng ta cần nhận được càng nhiều bê (từ chính con bò đực ấy) càng tốt Khi nhiều bò đực cùng phối giống, chúng ta biết rằng chỉ một số ít bò đực sản sinh
ra phần lớn bê
Những bò đực già nói chung có những vấn đề
về quản lý, có xu hướng thụ tinh kém, dễ bị chấn thương và bệnh tật hơn Hơn nữa, bò già thường khó cầm cột cả trong chuồng cũng như
ngoài bãi chăn
Vì vậy, việc kiểm tra bò đực về mức độ hoàn hảo về giống một cách có hệ thống là rất quan trọng nhằm thu được tối đa năng suất từ một bò
đực
Mục đích của chọn giống bò đực là:
• Đảm bảo rằng con vật có sinh lý bình thường
và khoẻ mạnh,
• Có khí chất tốt,
• Giá trị di truyền cao thoả mãn được mục tiêu giống,
• Tinh dịch có chất lượng đảm bảo, và
• Có tính hăng, có năng lực giao phối tốt
Kiểm tra mức độ hoàn hảo về giống đối với bò
đực nên gồm những nội dung sau:
• Kiểm tra sức khoẻ nói chung, kể cả dáng đi,
• Kiểm tra đường sinh dục,
• Lấy tinh và đánh giá tinh dịch,
• Kiểm tra tập tính giao phối
Kiểm tra sức khoẻ bò đực
Việc kiểm tra cần chi tiết để xác định rằng bò
đực có sức khoẻ và thể trạng tốt Nói chung việc này được tiến hành bằng quan sát Bò đực không được quá gầy hoặc quá béo
Bò đực nên được kiểm tra một cách có hệ thống cả quan sát lẫn sờ khám từ mõm đến hàm và mắt, chi trước, ngực và bụng, vùng lưng, mông
và chân sau
Mắt
Với bò đực cần kiểm tra những vấn đề về mắt hiện có cũng như những vấn đề có thể phát triển trong thời gian tới Trong những vùng
nhiệt đới, bò đực Bos taurus thường có nhiều bệnh về mắt hơn là bò Bos indicus Cần kiểm
tra những tổn thương gây nên suy giảm thị lực, như loét giác mạc nặng và sẹo kết hợp với
Trang 2“mắt đỏ” (viêm tiếp hợp hoá sừng nhiễm
trùng ở bò)
Virut, tuổi tác của bò, di truyền, tia cực tím và
ánh nắng mặt trời có thể gây tổn thương cho
mắt Bò Bos taurus có tỉ lệ cao về khối u tế
bào vảy trong những khu vực không có sắc tố
(hoặc có một phần sắc tố) chung quanh mắt
H ì n h 1 C ấ u h ì n h m ắ t : a ) m ắ t c ó g ờ c a o
c h e ; b ) m ắ t l ồ i
Cần kiểm tra cả 2 mí mắt và sắc tố Quan sát
thực tế cho thấy mắt có gờ cao che (Hình 1a)
chẳng những bảo vệ tốt cho mắt mà còn làm
giảm bớt ánh sáng chói, chắn bớt tia cực tím
và hạn chế ruồi bâu
Mắt lồi (Hình 1b) có thể làm cho bò đực ung
thư mắt hoặc tổn thương mắt
Răng và hàm
Răng phải cắm sát vào lợi Nếu không biết
tuổi bò đực, có thể đoán tuổi qua kiểm tra
răng cửa Không nên sử dụng những bò đực
có xương hàm nhô ra hoặc thụt vào quá mức
Cần chú ý trạng thái mở của các lỗ mũi, hơi
thở có mùi có thể là dấu hiệu có vấn đề về
đường hô hấp
Hệ thống cơ-xương
Sưng khớp có thể gây nên những vấn đề về
vận động và phản xạ, nhất là trong mùa phối
giống Nếu các khớp đầy dịch, nhất là khớp
kheo, nhưng không đi khập khiễng hoặc đau,
những trường hợp nhẹ này bò có thể chịu
đựng được
Hình dáng của chân và bàn chân
Hai chân sau vững chắc là lý tưởng đối với
khả năng phối giống của bò đực vì trong khi
giao phối, phần lớn sức nặng của bò đực được
2 chân sau chống đỡ Một con bò đực có
khiếm khuyết chân sau cũng có thể bị đau lúc
di chuyển hoặc khi giao phối và như vậy có
thể hạn chế sự ham muốn giao phối của nó
Những con bò đực có sai sót về hình dáng,
khi lớn tuổi, các khuyết tật lộ rõ hơn và có xu
hướng cản trở nhiều hơn đối với năng lực giao
phối
Bò đực non thường có hình dạng chân và bàn chân kém Thường có những vấn đề về chân như sau:
• kheo chân sau cong hình lưỡi liềm và chân
sau thẳng đứng như cột nhà (Hình 2b và 2c)
• chân vòng kiềng (Hình 3b)
• kheo chân sau gần chạm nhau (Hình 3c)
Các chân sau thẳng đứng như cột nhà là do sưng khớp kheo, viêm khớp háng Những bò
đực có kheo chân sau cong hình lưỡi liềm sẽ vụng về, nhất là khi giao phối và lúc tụt xuống sau khi nhảy xong Mỗi trường hợp
đều có thể tác động xấu đến năng lực giao phối của bò đực về lâu dài Mặt khác, bò đực
sẽ suy nhược sớm hơn nếu có các chân sau thẳng đứng như cột nhà hoặc kheo chân sau cong hình lưỡi liềm như đã nêu
H ì n h 2 : H ì n h d á n g c h i s a u : a ) B ì n h
t h ư ờ n g ; b ) K h e o c h â n s a u c o n g h ì n h l ư ỡ i
l i ề m ; c ) c h â n s a u t h ẳ n g đ ứ n g c ộ t n h à ; d )
c h â n s ư n g
H ì n h 3 : H ì n h d á n g c h i s a u : a ) B ì n h t h ư ờ n g ;
b ) c h â n v ò n g k i ề n g ; c ) k h e o c h â n s a u g ầ n
c h ạ m n h a u
Trong nhiều trường hợp, những khuyết tật này
có thể di truyền và gây nên những stress nặng
nề lên các chi sau trong lúc giao phối Những
bò đực với những khuyết tật cơ thể như vậy thường đau đớn trong các khớp, dẫn đến viêm khớp, nhất là ở những bò đực già
Những vấn đề phổ biến về móng gồm:
• Cả 2 móng không đối xứng về kích cỡ và
hình dáng (Hình 5)
Trang 3• Móng ngắn, mòn ở đầu móng, thường kết
hợp với cẳng chân sau thẳng đứng như cột
nhà (Hình 4c, 5c)
• Các móng dài, hẹp với gót chân nông, thường
kết hợp với khoeo và cườm chân yếu (Hình 4b,
5b) và đôi khi tạo nên móng hình kéo (Hình
5d).
H ì n h 4 G ó c c ư ờ m c ẳ n g c h â n t r ư ớ c v à c ẳ n g
c h â n s a u k ế t h ợ p v ớ i m ó n g n h ọ n : a ) C ấ u
t r ú c đ ú n g ; b ) cư ờ m c h â n y ế u ; c ) q u á t h ẳ n g
đ ứ n g
Cần tránh những con đực có móng phát triển
quá mức thành hình kéo hoặc móng nhọn cong
Móng nhọn cong có thể là do đất mềm (ví dụ:
đất đen) hoặc ăn quá mức Tuy nhiên, móng
nhọn phát triển quá mức thường chứng tỏ cấu
trúc của chi yếu hoặc có những dấu hiệu đầu
tiên của viêm khớp háng
H ì n h 5 B à n c h â n v à c á c k i ể u m ó n g a ) C ấ u
t r ú c đ ú n g ; b ) G ó c q u á r ộ n g ; c ) Q u á t h ẳ n g
đ ứ n g
Dáng đi hay khả năng đi lại
Khi đi lại, toàn bộ sức nặng của cơ thể cần
được phân bố trực tiếp đối xứng xuống các chi
Sự phân bố của sức nặng này cần giảm đến mức
tối thiểu hiện tượng làm nứt xương, khớp và
móng và do đó giảm nguy cơ đi khập khiễng
Cần kiểm tra dáng đi lại của bò đực từ hai bên
và từ phía sau Bình thường, khi đi lại, bò đực
cần đặt bàn chân sau trùng vào dấu bàn chân
trước và hàng dấu chân phải thẳng khi đi tự do
ngoài trời Khi nhìn từ phía sau bò đực, những
cẳng chân phải thẳng - từ trên xuống dưới - và
không quá vòng kiềng (Hình 3b) Hiện tượng
bước chân sau dài hơn hoặc ngắn hơn bước
chân trước có liên quan đến năng lực giao phối
của bò đực Bò đực có bước chân sau ngắn hơn
bước chân trước thường có chân sau thẳng đứng
như cột nhà và khó cho dương vật vào âm đạo
hoặc có khó khăn khi thúc tới trước để xuất
tinh Những khuyết tật kéo dài sẽ gây nên viêm
khớp và thiếu năng lực giao phối Móng bị vẹt,
chứng tỏ bò kéo lê móng, thể hiện các chân sau
thẳng đứng như cột nhà (Hình 5c) Những ngón
chân khấp khểnh có thể do viêm khớp háng hoặc khớp khác
Kiểm tra dương vật và bao qui đầu
Kiểm tra túi bọc dương vật và bao qui đầu của
bò đực phải tiến hành trong cũi (chắn phía sau
bò đực đề phòng nó lùi) Có thể sờ khám toàn
bộ túi bọc dương vật và bao qui đầu Chú ý kích
cỡ bất bình thường về độ sâu túi bọc dương vật,
độ dày dây rốn và hiện tượng lộn bít tất của bao qui đầu Những hiện tượng này có thể cản trở việc giao phối hoặc làm cho bò đực có thể bị thương
Nếu bao qui đầu bị lộn bít tất (Hình 7c) và lủng lẳng (Hình 7b) là những điều kiện làm cho bò
đực dễ bị tổn thương vật lý Hình dáng và giải phẫu học của bao qui đầu có thể di truyền, việc chọn giống để loại trừ cấu trúc kém của bao qui
đầu đều có lợi (trước mắt và lâu dài) vì làm giảm nguy cơ gây thương tổn cho bao qui đầu
(a ) Dạng mong muốn;
(b)
(b) Dạng không mong muốn
(c) Bao quy đầu lộn bít tất dễ bị tổn thương
H ì n h 7 C á c v í d ụ v ề c ấ u t r ú c b a o q u i đ ầ u
b ò đ ự c B o s i n d i c u s
Có thể sờ khám dương vật qua lớp da bao quy đầu Phần lớn bò đực thò dương vật ra nếu người phụ việc cho một tay có đeo găng vào trực tràng Nói chung cơ co dương vật
Trang 4dãn ra và như vậy cho phép người thao tác
nắm nhẹ nhàng dương vật từ phía sau các
tuyến dương vật qua lớp vải gạc để đề phòng
nắm trượt Có thể dùng dụng cụ kích thích
xuất tinh bằng điện và làm dương vật thò ra
(nhưng không thường xuyên)
Có thể phát hiện phần lớn những thương tổn
của dương vật và bao qui đầu bằng cách này,
trừ trường hợp như lệch xoắn chưa thành thục
của dương vật Hiện tượng này chỉ có thể
phát hiện trong khi kiểm tra giao phối trực
tiếp (xem phần sau)
Kiểm tra bìu dái và những bộ
phận bên trong
Sờ khám cẩn thận bìu dái và những bộ phận
bên trong bằng cách đứng sau bò đực đã
được cố định và có vài chỗ thoát hiểm cho
người thao tác Cần chú ý đến kích thước,
ngoại hình và các dịch hoàn phải chuyển
động tự do trong túi bìu dái Như là một qui
luật phổ biến, khi sờ khám bìu dái, bên trái
và bên phải phải bằng nhau về kích thước,
hình dáng và trương lực
Cách sờ khám bìu dái
1 Sờ khám cổ bìu dái Cổ bìu dái phải hẹp
hơn các dịch hoàn Nếu có mỡ đọng trong
cổ bìu dái chứng tỏ bò đực quá béo Tìm
xem liệu trong cổ bìu dái có hiện tượng sa
ruột và hiện tượng phình đại của đám tĩnh
mạch (Pampiniform plexus) hay không
2 Các dịch hoàn phải chuyển động tự do bên
trong bìu dái Dùng ngón cái và ngón trỏ
của cả 2 bàn tay để sờ khám từng dịch
hoàn về trương lực và độ đồng đêù Trương
lực dịch hoàn thể hiện mức độ dày đặc của
các ống sinh tinh Trương lực tốt là khi ấn
vào một vị trí nào đó, cảm nhận tại đó có
một phản lực và mỗi dịch hoàn đều khôi
phục lại hình dạng ban đầu ngay sau khi
được ấn Trương lực kém khi các dịch hoàn
nhão hoặc cứng như đá Những bò đực có
trương lực dịch hoàn nhão hoặc rắn một
cách không bình thường, cần được kiểm tra
tiếp về chất lượng tinh dịch
3 Sờ khám đầu, thân và đuôi dịch hoàn phụ
4 Những tổn thương ở da chứng tỏ có chấn
thương hoặc bị viêm
Sốt hoặc ngộ độc do ăn cây cỏ có thể tạm thời
gây nên trương lực bất thường và không nên
loại thải những con bò đực có giá trị di truyền
cao nếu có trường hợp này xảy ra Những bò
đực khoẻ mạnh có trương lực dịch hoàn tốt, nói
chung có tinh dịch chất lượng tốt, nhưng thường là hiếm
Dịch hoàn và dịch hoàn phụ bên phải của bò đực 3 năm tuổi, nhìn từ phía sau (a) Đầu dịch hoàn phụ; (b) Thân dịch hoàn phụ; (c) Đuôi dịch hoàn phụ; (d) ống dẫn tinh ra; (e) Dây chằng của dịch hoàn phụ (cắt); (f) Mạc treo dịch hoàn (cắt); (g) Bao dịch hoàn (Theo Blom, E., Christensen
N.O., Skandinavisk
Verinatidskrift, 1947, p 1-45)
H ì n h 8 L á t c ắ t d ị c h h o à n v à c á c t u y ế n
p h ụ s i n h d ụ c
Hình dạng của bìu dái
Có sự khác nhau lớn về hình dạng của bìu dái
và phần bên trong (Hình 9)
• Bìu dái và các bộ phận bên trong ở bò đực
Bos indicus dài và hẹp hơn (Hình 9a) so với
bò Bos taurus (Hình 9b)
• Một số bò đực Bos indicus có hiện tượng trục của dịch hoàn xoay sang bên (Hình 9c, các dịch hoàn xoay theo trục bắc-nam), điều này
có thể không ảnh hưởng đến chức năng sinh dục
• Hiện tượng tách rời không hoàn toàn của
vách bìu dái (Hình 9d) cũng thỉnh thoảng
nhìn thấy và nó làm hỏng vẻ đẹp hơn là
ảnh hưởng đến chức phận sinh dục
H ì n h 9 H ì n h d á n g b ì u d á i : ( a ) b ì n h
t h ư ờ n g ( k é o d à i ) ; ( b ) b ì n h t h ư ờ n g ( t r ò n ) ; ( c ) t á c h b ì u h ư ớ n g b ắ c - n a m ; ( d ) t á c h b ì u
h ì n h c h ữ Y ; ( e ) s a đ ì ; ( f ) b ì u d á i k é m
p h á t t r i ể n m ộ t b ê n
• Những bò đực có các dịch hoàn co lên sát với cơ thể cần được tiếp tục kiểm tra khả năng sinh sản về sau Dịch hoàn bé thường kèm theo chất lượng tinh dịch kém và khả năng sinh sản thấp, điều đó có thể phản ánh khả năng điều hoà nhiệt độ dịch hoàn bị suy yếu
Trang 5• Thường về mùa lạnh, với một số bò đực mẫn
cảm, bìu dái thường co lên như là một cơ
chế để bảo vệ
• “Bìu dái thắt”, tức là bìu dái bị treo nằm
ngang sát cơ thể Những bò đực như vậy vẫn
giao phối bình thường nhưng cần được cán
bộ thú y kiểm tra
• Những bò đực có cuống bìu dái rất dài, có
thể sa xuống tận cẳng chân, rất dễ bị thương
tổn cho dịch hoàn, chúng cần được loại thải
• Bìu dái ngắn, thắt, hay quá dài có thể là
những khuyết tật di truyền
• Một bên dịch hoàn bé (bìu dái suy thoái một
bên, Hình 9f) hoặc cả hai bên dịch hoàn bé
(bìu dái suy thoái hai bên) là 2 trường hợp
bất bình thường phổ biến ở bò đực Bos
indicus non Hội chứng này có thể di truyền
kết hợp với khả năng sản xuất tinh trùng
giảm sút và do đó làm giảm khả năng sinh
sản Dái ẩn một phần hoặc dái ẩn hoàn toàn
là hiếm thấy khi kiểm tra Những trường hợp
dái ẩn hoàn toàn có thể di truyền và không
nên dùng chúng để phối giống
• Sa đì bìu dái (Hình 9c) tuy không phổ biến
nhưng tương đối dễ chẩn đoán
Đo kích thước bìu dái
Dùng bàn tay giữ bìu dái và dùng thước dây đo
chu vi bìu dái ở đoạn có chu vi rộng nhất
Không kéo bìu dái xuống phía dưới để tránh
hiện tượng làm méo mó hình dạng (Hình 10)
H ì n h 1 0 K ỹ t h u ậ t đ ú n g đ ể g i ữ c ổ b ì u d á i
l ú c đ o k í c h t h ư ớ c b ì u d á i
Đo chu vi bìu dái tại điểm rộng nhất
Phương pháp đúng để đo chu vi bìu dái
Dùng một bàn tay dồn chặt 2 dịch hoàn xuống
phần thấp của bìu dái như hình A Dùng thước
dây đo chu vi bìu dái tại vị trí có đường kính
lớn nhất Ngón cái và ngón trỏ nên đặt hai bên
bìu dái chứ không đặt giữa hai dịch hoàn như hình B để đề phòng trường hợp làm tách rời hai dịch hoàn và đo không chính xác
Một số điểm quan trọng cần nhớ khi đo bìu dái:
• Kích thước bìu dái có liên quan chặt chẽ với
sự sản sinh tối đa tinh trùng hằng ngày Bìu dái có chu vi bé thể hiện khả năng sản xuất tinh trùng thấp
• Tốt nhất nên xác định những tiêu chuẩn tối thiểu có thể chấp nhận đối với chu vi bìu dái cho các lứa tuổi của bò đực Ví dụ,
o 32 cm là chu vi tối thiểu đối với những bò
đực Bos taurus 2 năm tuổi;
o 30 cm là chu vi tối thiểu đối với những bò
đực Bos indicus 2 năm tuổi nuôi chăn thả
Có tương quan di truyền giữa chu vi bìu dái bò
đực và tuổi thành thục tính dục ở con gái của chúng Tuy nhiên, chu vi bìu dái có thể chênh lệch đến 4 cm tuỳ theo thể trạng ở những bò
đực non có thể dịch hoàn tăng trưởng bột phát trong giai đoạn 8-10 tháng tuổi cho đến 18-24 tháng tuổi, do đó trong thời kỳ này nên tăng mức nuôi dưỡng
• Để tăng nhanh kích thước bìu dái và chóng
đạt tuổi thành thục ở con gái, cần chọn lọc
bò đực thông qua giá trị giống ước tính (EBV) về kích thước bìu dái Con bố có EBV kích thước bìu dái càng lớn thì con gái càng sớm thành thục tính dục Trong thực tiễn, việc đo kích thước bìu dái có thể chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố làm thay đổi kích thước bìu dái và không phản ánh trung thực tiềm năng di truyền của bò đực
• Chu vi bìu dái có thể di truyền ở mức trung bình Nó có liên quan với thể trọng, tức là ở cùng lứa tuổi, những bò đực nặng cân hơn có
xu hướng cho chu vi bìu dái lớn hơn
• Bò đực Bos indicus trẻ có chu vi bìu dái nhỏ hơn so với Bos taurus cùng 2 năm tuổi vì
tuổi thành thục của chúng muộn
• Thông thường, khi sờ khám bìu dái, dịch hoàn trái và dịch hoàn phải tương đương nhau về kích thước, hình dáng và trương lực
Sờ khám cơ quan sinh dục bên trong
Khám qua trực tràng có thể phát hiện một số trường hợp bất bình thường như:
• viêm tinh nang;
• có khối u; và
Trang 6• đường sinh dục nhỏ bé một cách bất
thường hoặc thiếu một bộ phận
Bò cảm thấy đau khi sờ khám chứng tỏ có bộ
phận nào đó trục trặc và thường do viêm
Lấy tinh và đánh giá tinh dịch
Có 3 cách lấy tinh:
• dùng âm đạo giả
• dùng dụng cụ lấy tinh bằng kích thích
điện
• matxa phồng ống tinh (tinh nang)
Chọn lựa cách lấy tinh nào là tuỳ thuộc hoàn
cảnh lâm sàng và mức độ quen tay của cán
bộ kỹ thuật và mức độ tin cậy của phương
pháp Kích thích tính dục bò đực khi có mặt
một con bò cái động dục sẽ làm dễ dàng việc
lấy mẫu tinh dịch bằng phương pháp nhân
tạo
âm đạo giả
âm đạo giả được dùng bất cứ khi nào có thể
vì nó cho phép đánh giá một lần xuất tinh tự
nhiên và cũng có lợi ích nữa là cho phép
đánh giá khả năng giao phối Chỉ cần có một
cái trụ để buộc một con bò cái (tốt nhất là
đang chịu đực) có thể dễ dàng dùng âm đạo
giả để lấy tinh nhiều bò đực Bos taurus Đây
là trường hợp đặc biệt, nhưng trước hết cần
kích thích tính dục cho bò đực Tuy nhiên,
người ta thấy rằng đối với nhiều trường hợp
bò đực hướng thịt và bò đực hướng sữa dùng
phối giống tự nhiên thì việc lấy tinh chỉ có
thể thực hiện được nhờ matxa hoặc dùng
dụng cụ lấy tinh kích thích bằng điện Kết
quả lấy tinh bằng kích thích điện cần được
xem xét cẩn thận Khi một bò đực nào cho
một mẫu tinh dịch chất lượng tốt, như vậy có
thể chấp nhận như là mẫu đại diện của bò
đực đó Khi mẫu tinh dịch có chất lượng
không đạt yêu cầu, cần lấy tiếp những lần
sau để đảm bảo có mẫu tinh đại diện cho con
bò tại thời điểm đó Việc này thường có liên
quan đến những lần lấy tinh tiếp ngay sau đó
Ban đầu việc đánh giá tinh dịch nên gồm
đánh giá lượng xuất tinh, nồng độ tinh trùng,
hoạt lực tổng thể và tỉ lệ tinh trùng có hoạt
động tiến thẳng
Việc đánh giá chính xác nồng độ tinh trùng
và tổng số tinh trùng trong một lần xuất tinh
của bò chỉ có thể thực hiện được thông qua
lấy tinh bằng âm đạo giả Lấy tinh bò thông
qua dụng cụ lấy tinh kích thích bằng điện
hoặc matxa sẽ làm biến động rõ rệt nồng độ tinh trùng và tổng số tinh trùng do tính đáp ứng khác nhau cuả mỗi cá thể và những sai khác trong kỹ thuật lấy tinh Khi một mẫu tinh dịch được lấy tinh bằng những phương pháp này có sức hoạt động tốt không kể đến lượng xuất tinh, nồng độ và độ vẩn, chứng tỏ rằng chức năng của dịch hoàn và của hệ thống đường sinh dục hoạt động tốt
Lấy tinh bằng kích thích điện
Việc lấy tinh và đánh giá tinh dịch của những bò đực hướng thịt cho thấy rằng dụng
cụ lấy tinh kích thích bằng điện, nếu sử dụng
đúng cách, là một phương pháp có hiệu quả
và đơn giản để có được mẫu tinh dịch dùng kiểm tra qua kính hiển vi
Vì những mẫu tinh dịch kém có thể do kỹ thuật lấy tinh kém, không có hoạt động tính dục hoặc bị nhiễm bẩn (đặc biệt là nước tiểu), ít nhất phải có 3 lần xuất tinh có chất lượng kém được kiểm tra trước khi xếp con
bò đực đó vào loại không thích hợp cho làm giống Có thể lấy tinh dịch cách nhau 5 đến
10 phút bằng dụng cụ lấy tinh kích thích bằng điện
Cần cố định bò cẩn thận khi dùng dụng cụ lấy tinh kích thích bằng điện Bò đực cần
được cố định sao cho nó không thể cử động qua lại hay tới lui được Cần chú ý khi cố
định bò đực trong róng cần có bộ phận khống chế đầu Thường có thể cố định bò
đực được ngay lập tức ở trong róng bằng cách đặt đằng sau bò một chấn song chắc để ghìm chặt bò lại nhưng chú ý kẻo bò đá bật chấn song Mặc dù đã có những cải tiến rõ rệt trong thiết kế mẫu dụng cụ lấy tinh bằng kích thích điện, nhưng trong khi sử dụng, thường có hiện tượng kích thích đối với thần kinh vận động các chi sau, làm cho chi sau duỗi ra Do đó cần có mặt nền tốt hoặc nền
có khía chống trượt
Để đạt kết quả tốt nhất, nên dùng dụng cụ lấy tinh kích thích bằng điện với loại ống cắm trực tràng cỡ lớn nhất để cho bò đực cảm thấy thoải mái (thường dùng loại có
đường kính 75 đến 90 mm)
Mỗi cá thể bò đực có phản ứng khác nhau
đối với dụng cụ lấy tinh kích thích bằng điện Tuy nhiên, xin nêu cách tiến hành như sau:
• Bắt đầu kích thích với dòng điện thấp nhất
Trang 7• Nên kích thích theo nhịp điệu Nói
chung, với bò đực nên kích thích 2-3
giây, sau đó ngừng quãng 1 giây
• Tăng dòng điện từ từ cho đến khi bò
đực thò dương vật ra và tiết ra tinh
thanh Sau đó có thể tăng dòng điện
nhanh hơn đến điểm xuất tinh
• Nếu bò đực bắt đầu bị kích động,
ngừng kích thích và sau đó tăng dòng
điện chậm hơn so với trước
• Nếu không lấy được mẫu tinh dịch đại
diện, hãy nghỉ 5-10 phút, sau đó lấy
lại
Nên hứng tinh dịch vào trong ống thuỷ tinh
(hoặc ống nhựa) được ủ ấm sẵn (370C) Chỉ
lấy tinh của pha xuất tinh đậm đặc Điều
quan trọng nhất là phải đề phòng tinh dịch bị
choáng lạnh Khi lấy tinh, cần bọc ống hứng
tinh bằng giấy nhôm hoặc bằng chất xốp giữ
nhiệt Có thể giữ ấm ống hứng tinh ở 370C
bằng cách bọc túi nilon chứa đầy nước ấm
Matxa phồng ống tinh
Những mô tả của sách giáo khoa về kỹ thuật
matxa qua trực tràng để lấy tinh, nhấn mạnh
matxa phồng ống tinh cùng với ống tinh và
niệu quản vùng xương chậu (Hình 11) Kinh
nghiệm chung với bò đực Bos indicus là trừ
phi bạn muốn lấy tinh không có tinh thanh,
còn thì không nên matxa phồng ống tinh
Cách matxa qua trực tràng:
• Xác định trí vị niệu quản vùng xương
chậu trên mặt xương chậu và di chuyển
đầu các ngón tay về phía trước để sờ
khám phần nằm ngang (rìa xa) của
tuyến tiền liệt Đây là điểm quy chiếu
của sờ khám
• Xác định vị trí phồng ống tinh bằng
cách di chuyển các ngón tay về phía
trước tuyến tiền liệt 5-8 cm Phồng ống
tinh có đường kính 0,1 cm, dài
5-8cm và không chia thùy như túi tinh
H ì n h 1 1 - C ấ u t r ú c v ù n g x ư ơ n g c h ậ u c ủ a
b ò đ ự c n h ì n t ừ t r ê n x u ố n g ( a ) Đ ô i p h ồ n g
ố n g t i n h ; ( b ) C á c t u y ế n t i n h n a n g ; ( c )
T u y ế n t i ề n l i ệ t ; ( d ) T u y ế n c ầ u n i ệ u đ ạ o
• Những sai lầm phổ biến khi xác định vị
trí phồng ống tinh: thứ nhất, không xác
định được phần nằm ngang của tuyến
tiền liệt, và thứ hai, sờ khám quá sâu
Với bò đực trưởng thành, phần nằm ngang của tuyến tiền liệt thường nằm xa hơn một cổ tay trong trực tràng
• Matxa hoặc vuốt phồng ống tinh, sẽ tạo nên cử động theo nhịp được vuốt của phồng ống tinh và niệu quản vùng chậu, tránh sờ tinh nang (đặc biệt đối với bò
đực Bos indicus)
• Tiếp tục matxa bên trong kết hợp với matxa bên ngoài ở gốc dương vật vùng
đáy chậu phía trên đoạn cong chữ S cho
đến khi lấy được tinh dịch Nếu chưa lấy
được tinh dịch, có thể lặp lại các công
đoạn trên vài lần nếu cần
• Sau khi lấy được tinh dịch, hãy matxa tinh nang để cho bò có được trạng thái bình thường Các tuyến này nằm ở phía trước phần nằm ngang của tuyến tiền liệt, cách đường giữa một góc quãng 200 Chúng là những tuyến có thuỳ đặc biệt, ở
bò đực non 1-2 năm tuổi tuyến này dài
6-8 cm, rộng 1,5-3 cm và dày 2-3 cm Phần lớn bò đực, khi được matxa sẽ thò dương vật ra Trong khi tay của người thao tác còn nằm trong trực tràng của bò đực, người phụ tá
có thể cầm dương vật của bò và cho thò ra từng phần để kiểm tra mà không gặp phản ứng nào của bò
Trong trường hợp matxa mà không lấy được tinh, hãy cho bò đực nghỉ vài phút để giảm
Trang 8hiện tượng nổi các bóng khí trong trực tràng,
hoặc đuổi khí ra khỏi trực tràng bằng cách cầm
một nếp gấp của vách trực tràng, trong khi đó
ép nhẹ về phía sau để kích thích sóng nhu
động Đưa ngay dụng cụ kích thích lấy tinh vào
trực tràng có bóng khí thường gây nên sự kích
thích không liên tục và đôi khi kích thích
nghiêm trọng đối với bò đực
Kỹ thuật này đang được áp dụng thành công
cho bò đực Brahman và những bò đực có
nguồn gốc Bos indicus và bò đực Bos taurus
cũng có thể phối hợp matxa phồng ống tinh rồi
dùng dụng cụ lấy tinh kích thích bằng điện
Kiểm tra tinh dịch
Kiểm tra nồng độ
Khi kiểm tra nồng độ có thể đối chiếu theo
bảng sau đây:
B ả n g 1 : B ả n g đ ố i c h i ế u n ồ n g đ ộ t i n h
t r ù n g b ò
Thang
Nồng độ tinh trùng (triệu/ml)
0 Trong đến vẩn mây 0 đến 200
1 Vẩn mây đến trắng sữa 200-400
3 Trắng sữa đặc 800-1200
5 Màu kem đặc 1800 trở lên
Kiểm tra hoạt lực
Cần có những thứ sau đây đã được sưởi ấm ở
370C từ trước: phiến kính, lá kính, ống hút thuỷ
tinh hoặc ống hút nhựa dùng 1 lần và một lọ
dung dịch đệm phôtphat Nếu mẫu tinh dịch bị
hạ nhiệt độ đột ngột (choáng lạnh) sẽ làm giảm
sức hoạt động rõ rệt Cần dùng một kính hiển
vi 2 thị kính có chất lượng tốt (kính phản pha
càng tốt) Dùng kính hiển vi lưu động có bộ
phận sưởi ấm được điều hoà nhiệt độ sẽ làm
giảm nguy cơ choáng lạnh rất nhiều Bị lẫn
nước tiểu cũng sẽ làm giảm sức hoạt động của
tinh trùng rõ rệt
Xác định hoạt lực tổng thể hoặc chuyển động
sóng bằng cách đặt một giọt tinh dịch lên một
phiến kính ấm và kiểm tra ở rìa giọt tinh (với
độ phóng đại x 40 hoặc x 100) Xem cách đánh
giá ở bảng 2 Tinh nguyên đạt yêu cầu có hoạt
lực tổng thể đạt điểm 3 Nhưng có những mẫu
tinh dịch quá loãng nên không thấy được cuộn
sóng do cách lấy tinh chưa tốt Những mẫu như
vậy không thích hợp cho sản xuất tinh cọng rạ
để dẫn tinh nhưng vẫn có thể dùng để xác định hình thái học tinh trùng
B ả n g 2 Đ á n h g i á h o ạ t l ự c t ổ n g t h ể t i n h
d ị c h b ò
Điểm Biểu hiện qua kính hiển vi
0 Không cuộn sóng - Không có hoặc lác đác có tinh trùng dao động
1 Không cuộn sóng - chỉ có dao động cá thể tinh trùng nói chung
2 Có cuộn sóng rất thấp
3 Cuộn sóng thấp
4 Cuộn sóng nhanh vừa phải
5 Cuộn sóng nhanh - biểu hiện của tinh dịch có chất lượng tốt
Tỉ lệ tinh trùng hoạt động được xác định bằng cách kiểm tra một giọt nhỏ tinh dịch được đậy lá kính Với tinh dịch đặc, có thể pha loãng bằng cách hỗn hợp một giọt nhỏ tinh dịch với một giọt nhỏ nước muối hoặc dung dịch pha loãng xitrat natri 2,9% có đệm phốt phát được làm ấm trước đó trên lá kính rồi đậy lá kính Cách kiểm tra tốt nhất là dùng kính hiển vi phản pha (độ phóng đại x 400), nhưng cũng có thể dùng kính hiển vi quang học chất lượng tốt (hạ tụ quang kính xuống và giảm bớt ánh sáng) Tinh nguyên đạt yêu cầu về chất lượng phải có tỉ lệ tinh trùng tiến thẳng ít nhất là 50%
Một số hướng dẫn sau đây giúp cho việc giải thích kết quả kiểm tra các mẫu tinh dịch:
• Một bò đực có dịch hoàn phát triển tốt và
có trương lực dịch hoàn tốt thường sản xuất tinh dịch có chất lượng đạt yêu cầu Nếu không lấy được mẫu tinh dịch đạt yêu cầu chứng tỏ kỹ thuật lấy tinh không
đúng Rất ít bò đực “không có tinh trùng”
• Nếu tinh dịch có nồng độ đặc, cuộn sóng
và chuyển động tiến thắng lúc mới kiểm tra, và không có mủ, mẫu đại diện được chấp nhận và con bò đực đó có khả năng cho tinh dịch với chất lượng tốt Những phát hiện này phản ánh chức năng dịch hoàn bình thường
• Nếu mẫu tinh dịch được lấy bằng matxa hoặc dụng cụ lấy tinh được kích thích bằng điện có nồng độ tinh trùng thấp nhưng có sức chuyền động tiến thẳng cao, như vậy cũng chứng tỏ các cơ quan sinh dục có chức năng bình thường Tuy
Trang 9nhiên, việc sử dụng kỹ thuật đã dẫn đến
không lấy được mẫu tinh dịch với số tinh
trùng tương ứng Chu vi bìu dái cung cấp
thông tin về số lượng tinh sinh ra của các
dịch hoàn
• Nếu mẫu tinh dịch có nồng độ thấp và
sức hoạt động tiến thẳng thấp thì việc
xem xét khó khăn hơn Cần lấy ngay
mẫu khác để xem liệu sức hoạt động tiến
thẳng có nâng lên không Cần tránh
choáng lạnh và chú ý khi thao tác với
mẫu Với 50% tinh trùng có sức hoạt
động tiến thẳng, nói chung xem như
phản ánh chức năng của dịch hoàn và
của dịch hoàn phụ là bình thường Nếu
không lấy được một mẫu tinh dịch có
50% tinh trùng tiến thẳng hoặc hơn, như
vậy các kết quả cần phải được xem xét
theo các khía cạnh: khó khăn của việc
lấy mẫu, hình thái học của tinh trùng,
kích thước và trương lực các dịch hoàn,
tình trạng các đuôi dịch hoàn phụ, và
lịch sử, tuổi tác, thể trạng và sức khoẻ bò
đực
Kiểm tra hình thái tinh trùng
trong phòng thí nghiệm
Hình thái của từng con tinh trùng được xác
định bằng cách: phiết kính một tiêu bản tinh
trùng và nhuộm eosin-nigrosin (hoặc thuốc
nhuộm khác) rồi kiểm tra dưới vật kính dầu,
hoặc là dùng kính hiển vi phản pha (với độ
phóng đại x 400), chuẩn bị một lá kính mỏng
đậy lên tiêu bản đã được bảo tồn bằng dung
dịch 02% đệm glutaraldehyde hoặc đệm
formol saline Dùng đệm formol saline có ưu
điểm là dễ phát hiện những bất bình thường
của acrosom và những không bào của nhân
Cần có một kính hiển vi chất lượng tốt để
nghiên cứu hình thái học tinh trùng
Cách chuẩn bị một tiêu bản tinh dịch để nhuộm
eosin-nigrosin như sau:
• Đặt một giọt 4-5 mm thuốc nhuộm ấm
lên đầu một phiến kính ấm
• Đặt giọt tinh dịch cạnh giọt thuốc
nhuộm Trộn 2 giọt này với nhau bằng
một ống hút Pastơ hoặc một phiến kính
khác Tuỳ theo nồng độ tinh trùng đặc
loãng mà lấy giọt tinh dịch to nhỏ Nếu
tinh dịch đậm đặc nhiều, dùng một giọt
có đường kính 2 mm Nếu tinh dịch
loãng, lấy giọt lớn hơn, có thể đến 6 mm
• Để phiết kính, dùng một phiến kính thứ
hai đặt chếch một góc 30-400 vào giọt
tinh dịch nhuộm và kéo nhẹ dọc theo phiến kính
H ì n h 1 2 - P h ế t k í n h m ộ t g i ọ t t i n h d ị c h đ ã
n h u ộ m e o s i n - n i g r o s i n
Khi dùng thuốc nhuộm eosin-nigrosin, nên hâm nóng thuốc nhuộm trước khi nhuộm tiêu bản, nhanh chóng hong khô tiêu bản đã nhuộm (để cố định tinh trùng), tốt nhất ở nhiệt độ như nhiệt độ sưởi ấm tiêu bản hoặc nhiệt độ của mâm sưởi ấm trên kính hiển vi
Hình 13 minh hoạ những dạng tinh trùng kỳ hình thường thấy ở tinh dịch bò Thường đếm
200 tinh trùng và ghi tỉ lệ tinh trùng có hình thái bình thường Thông thường, tinh trùng kỳ hình đã được tiêu chuẩn hoá và tỉ lệ kỳ hình
được xác định bằng cách dùng máy đếm máu tiêu chuẩn Về mô tả chi tiết tinh trùng kỳ
hình, tham khảo tài liệu Hình thái học bất bình
thường của tinh trùng bò của A.D Barth và
R.J Oko
Tinh dịch có chất lượng đạt yêu cầu có ít nhất 70% tinh trùng có hình thái bình thường Tỉ lệ kỳ hình tăng chứng tỏ có những biến đổi thoái hoá hoặc sự suy sản của dịch hoàn và (hoặc) dịch hoàn phụ Thường thường, sau khi kiểm tra một mẫu tinh dịch riêng lẻ, khó xác định liệu tỉ lệ kỳ hình tăng lên là biểu hiện thường xuyên hay nhất thời của sự mất chức năng của dịch hoàn/dịch hoàn phụ Quá trình sản sinh tinh trùng cần quãng 59-61 ngày cộng thêm 6 đến 14 ngày
để tinh trùng đi qua dịch hoàn phụ
Trang 10A Acrosom lồi (dạng phổ biến) I Phản xạ xa tâm
B Acrosom lồi (dạng hạt) J Đuôi gập đôi (đoạn giữa bị gãy)
C Đầu quả lê (nghiêm trọng) K Đuôi gập đôi (đoạn giữa uốn cong mạnh )
D Đầu quả lê (vừa phải) L Giọt bào tương gần tâm
E Đầu quả lê (nhẹ) M Giọt bào tương xa tâm
F Không bào nhân N Dạng quái lạ (nghiêm trọng)
G Khiếm khuyết vòng miện O Dạng quái lạ (vừa phải)
H Đầu tách rời P Tinh trùng bình thường
H ì n h 1 3 : C á c d ạ n g k ỳ h ì n h p h ổ b i ế n c ủ a t i n h t r ù n g
Những chi tiết của việc đánh giá hình thái học
tinh trùng (spermiogram) có thể dùng làm căn
cứ cho việc đánh giá hoạt động chức năng
(hoặc mất chức năng) trong đường sinh sản và
giúp cho việc chẩn đoán
Kỳ hình ở đầu phản ánh sự rối loạn của biểu
mô sinh tinh Bò đực bình thường có tỉ lệ kỳ
hình đầu tinh trùng <20%, vượt trên mức này,
sự rối loạn chức năng làm ảnh hưởng đến tỉ lệ
thụ tinh Tỉ lệ kỳ hình đầu tinh trùng tăng lên
trong trường hợp thoái hoá dịch hoàn và đôi
khi do suy sản dịch hoàn Tỉ lệ này càng cao,
sự rối loạn càng nghiêm trọng Những biến đổi
theo thời gian trong những trường hợp thoái
hoá dịch hoàn là có ích cho việc chẩn đoán
Tinh trùng có đính những giọt bào tương ở gần tâm chỉ nên chiếm dưới 4% tổng số tinh trùng trong lần xuất tinh Nếu có tỉ lệ cao hơn chứng
tỏ hiện tượng chưa thành thục của chức năng dịch hoàn, chứng tỏ tinh trùng không có khả năng rời khỏi biểu mô sinh tinh để thành thục trong dịch hoàn phụ hoặc hiện tượng dịch hoàn phụ bị loạn chức năng đối với giai đoạn thành thục của tinh trùng
Nếu tỉ lệ giọt bào tương xa tâm tăng lên (đáng
lẽ <4%) cũng có thể do hiện tượng loạn chức năng của dịch hoàn hoặc của dịch hoàn phụ Chỉ có đầu tinh trùng mà không có đuôi (chỉ nên <15%) là đặc điểm nổi bật của sự thoái hoá dịch hoàn, nhưng cũng có thể do suy sản dịch hoàn và do những trở ngại của hệ thống