Còn dạy học theo phương pháp mới – dạy học theo hướng tiếp cận năng lực học sinh đòi hỏi người giáo viên phải là người biết thiết kế, tổ chức các hoạt động để học sinh có thể tự chiếm lĩ
Trang 1SỞ GD - ĐT TỈNH VĨNH PHÚC TRƯỜNG PT DTNT CẤP 2-3 VĨNH PHÚC
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
NĂNG LỰC HỌC SINH BÀI VỢ CHỒNG A PHỦ
(TIẾT 1) CỦA NHÀ VĂN TÔ HOÀI”
Tác giả sáng kiến: Đỗ Thị Minh Thúy
Mã sáng kiến: 04.51.05
Vĩnh Phúc, năm 2020
Trang 2BÁO CÁO KẾT QUẢ
NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
1 Lời giới thiệu
Với cuộc cách mạng 4.0, vạn vật kết nối internet, thông tin bùng nổ, vì vậy quá trình trao truyền tri thức, kinh nghiệm giữa con người với con người cũng cần có sự thay đổi cho phù hợp Sự ra đời và phát triển của các thiết bị thông minh giúp con người được tận hưởng những tiện ích của kỉ nguyên internet giúp cho việc tiếp nhận tri thức nhanh chóng hơn, rút ngắn khoảng cách Khi đó, vai trò của người thầy trong quá trình truyền trao tri thức, kinh nghiệm cần có sự thay đổi
Theo quan điểm giáo dục hiện đại: hoạt động giáo dục gồm bốn yếu tố: giáo dục gia đình, giáo dục nhà trường, giáo dục xã hội và tự giáo dục của cá nhân Đó cũng chính là lý do vì sao hoạt động dạy học trong nhà trường phổ thông chuyển
từ phương pháp truyền thống: dạy học theo hướng tiếp cận trang bị kiến thức sang phương pháp dạy học mới: dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học
Như chúng ta đã biết, Ngữ văn là một môn học có đặc thù riêng, vừa mang tính khoa học, vừa mang tính nghệ thuật Dạy văn bản văn học là bằng tài năng
sư phạm của mình, giáo viên đưa học sinh hòa mình trong tác phẩm, rung động với nó, lắng nghe tiếng nói của tác giả, thưởng thức cái hay, cái đẹp của tác phẩm Bằng trí tưởng tượng, kinh nghiệm và cả tâm hồn mình, học sinh khám phá ý nghĩa từng câu, từng chữ, cảm nhận sức sống của từng hình ảnh, hình tượng nhân vật, theo dõi diễn biến cốt truyện… làm cho văn bản khô khan biến thành một thế giới sống động đầy sức cuốn hút Theo phương pháp dạy học truyền thống, giáo viên chủ yếu thuyết giảng, học sinh chăm chú lắng nghe, ghi chép như vậy giờ học sẽ tẻ nhạt, nhàm chán, học sinh ít hứng thú Còn dạy học theo phương pháp mới – dạy học theo hướng tiếp cận năng lực học sinh đòi hỏi người giáo viên phải là người biết thiết kế, tổ chức các hoạt động để học sinh có thể tự chiếm lĩnh được kiến thức Qua đó hình thành cho học sinh những năng lực cần thiết: năng lực học tập chung, cơ bản; năng lực tư duy; năng lực thu thập (tìm kiếm, tổ chức, xử lý thông tin); năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề; năng lực giao tiếp; năng lực hợp tác; năng lực tự quản lý và phát triển bản thân
Vậy làm thế nào để học sinh phát huy được hết khả năng của bản thân trong mỗi giờ học Ngữ văn nói chung và khi học tác phẩm “Vợ chồng A Phủ”
nói riêng? Đó chính là lý do thôi thúc tôi lựa chọn đề tài: “Dạy học theo định hướng tiếp cận năng lực học sinh bài “Vợ chồng A Phủ”(Tiết 1) của nhà văn Tô Hoài”
2 Tên sánh kiến
“Dạy học theo định hướng tiếp cận năng lực học sinh bài “Vợ chồng A Phủ” (Tiết 1) của nhà văn Tô Hoài”
3 Tác giả sáng kiến
- Họ và tên: Đỗ Thị Minh Thúy
- Giáo viên Trường PT Dân tộc nội trú cấp 2-3 Vĩnh Phúc
Ngõ 9- Đường Lý Thường Kiệt – Đồng Tâm – Vĩnh Yên – Vĩnh Phúc
- Điện thoại: 0915371780
Trang 37 Mô tả bản chất của sáng kiến:
NỘI DUNG SÁNG KIẾN
I Cơ sở lí luận
1 Dạy học theo định hướng phát triển năng lực
a Khái niệm năng lực
- Theo Từ điển Tiếng Việt (2012), “Năng lực là khả năng huy động tổng hợp
các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính tâm lí cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí để thực hiện thành công một loại công việc trong một bối cảnh nhất
định”
- Theo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, “năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí, thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể”
- Theo Tài liệu tập huấn: Dạy học và kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực của học sinh – Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2014, “năng lực là sự kết
nối một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kĩ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân…nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt dộng trong bối cảnh nhất định Năng lực thể hiện sự vận dụng tổng hợp nhiều yếu tố (phẩm chất của người lao động, kiến thức và kĩ năng) được thể hiện thông qua các hoạt động của cá nhân nhằm thực hiện một loạt công việc nào đó”
Từ những nghĩa trên, ta có thể hiểu năng lực được hiểu là quá trình tích lũy kiến thức và vận dụng những kiến thức để giải quyết một vấn đề hay tình huống
mà cuộc sống đặt ra
b Dạy học theo định hướng phát triển năng lực
Dạy học theo định hướng phát triển năng lực là nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạy học, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất, nhân cách, chú trọng năng lực vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho con người năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp
2 Nội dung và phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực
- Nội dung dạy học theo định hướng phát triển năng lực không chỉ giới hạn trong tri thức và kĩ năng chuyên môn mà gồm những nhóm nội dung nhằm phát triển các lĩnh vực năng lực
- Phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực không chỉ chú trọng sự tích cực hóa của học sinh về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn với những tình huống của cuộc sống và nghề
Trang 4nghiệp, đồng thời gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên – học sinh theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trogj nhằm phát triển năng lực xã hội Bên cạnh việc
học tập những tri thức và kĩ năng riêng lẻ của các môn học cần bổ sung câc chủ
đề học tập phức hợp nhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp
- Tư tưởng cốt lõi của chương trình mới là hướng đến quá trình giáo dục hình thành năng lực chung, năng lực chuyên biệt để con người có thể phát triển, thích nghi với hoàn cảnh sống, học tập, làm việc luôn biến động trong cả cuộc đời Điều này sẽ làm thay đổi can bản hoạt động giáo dục phổ thông từ nội dung, phương pháp đến cách thức đánh giá
3 Vai trò của giáo viên trong hoạt dộng dạy học theo định hướng phát triển năng lực
- Trong hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực, người giáo
viên là yếu tố quyết định hàng đầu Với sự nhận thức đúng đắn, với tinh thần trách nhiệm và sự quyết tâm cao, kỹ năng sử dụng thiết bị dạy học và tổ chức hướng dẫn học sinh học tập tốt là những phẩm chất cần thiết của người giáo viên trong nhà trường
- Tri thức của giáo viên là đặc điểm quan trọng trong công tác giáo dục Giáo viên ở bất cứ cấp học nào cũng cần hội đủ các điều kiện về kiến thức, khả năng giảng dạy hữu hiệu, lòng nhiệt tình, trách nhiệm, thân mật, gần gũi với học sinh Bên cạnh đó người giáo viên còn phải có kỹ năng tổ chức hướng dẫn học sinh trong lớp học, biết sử dụng đồ dùng dạy học, có năng lực tự thu thập thông tin phong phú của thời đại mình đề phục vụ yêu cầu dạy học
- Giáo viên phải nắm vững yêu cầu nội dung giáo dục, nắm vững kiến thức và
kĩ năng cần truyền đạt đến học sinh để thiết kế dẫn dắt học sinh đi từ dễ đến khó,
từ ít đến nhiều Tài nghệ của giáo viên trong công tác giảng dạy cũng cần thiết không kém bất cứ một lĩnh vực sáng tạo nào khác Công tác này sẽ trở thành một hình thức sáng tạo nhất Nếu người giáo viên khéo léo phát huytinhs tích cực, chủ động ở học sinh thì con người đang chịu tác dộng của giáo dục sẽ trở thành chủ thể của giáo dục Qúa trình học quan trọng hơn môn học, quá trình học tạo thói quen trí tuệ, kĩ năng phân tích vấn đề, khả năng tiếp thu, diễn đạt, tổ chức,
xử lý thông tin Thói quen học tập là quan trọng trong giáo dục vì trên thực tế kiến thức rất đa dạng và thay đổi theo thời gian vì vậy giảng dạy là khai thác và tận dụng nội lực của học sinh để bản thân người học có ý thức học tập suốt đời
- Với phương pháp dạy học mới – dạy học theo hướng phát triển năng lực học sinh- người giáo viên không còn là người truyền thụ kiến thức mà là người hỗ trợ học sinh hướng dẫn tìm, chọn và xử lý thông tin Vị trí của nhà giáo không phải được xác định bằng sự độc quyền về thông tin và tri thức có tính đẳng cấp,
mà bằng trí tuệ và sự từng trải của mình trong quá trình dẫn dắt học sinh tự học, giúp nguwoif học sẵn sang tiếp thu khái niệm mới, tích cực thể hiện tương tác, trải nghiệm,… tăng cường hứng thú, tự tin, kích thích tư duy sáng tạo của người học
- Người giáo viên phải có hiểu biết cơ bản về nội dung chương trình của lớp học, cấp học Mạnh dạn đổi mới cách thiết kế và tổ chức lớp học, chú trọng hoạt
Trang 5động thực hành Chuyển quá trình thuyết giảng áp đặt thành quá trình tự học, tự tìm tòi, khám phá của người học với mục đích:
+ Giúp học sinh nắm được mục tiêu, nhiệm vụ học tập
+ Tự mình giải quyết nhiệm vụ học tập
+ Khi gặp khó khăn mới trao đổi với bạn (hình thành các nhóm học tập theo nhu cầu)
+ Các bạn trong nhóm trao đổi bài, kiểm tra cho nhau, nói cho nhau kết quả, cách làm của mình
+ Báo cáo kết quả học tập trước lớp cho các bạn và cô giáo
+ Thực hiện nhiệm vụ học tập mới
- Trong khi học sinh học, giáo viên cần quan sát thái độ, cử chỉ, nét mặt của học sinh, sẵn sang giúp đỡ học sinh khi cần thiết Cần sắp xếp chỗ ngồi của học sinh cho phù hợp, dễ quan sát và dễ tương tác
4 Đánh giá năng lực của học sinh trong hoạt dộng dạy học theo định hướng phát triển năng lực
- Việc đánh giá năng lực của học sinh không lấy việc tái hiện kiến thức làm trung tâm mà cần chú trọng khả năng vận dụng sáng tạo tri thức trong những tình huống ứng dụng khác nhau
- Cách đánh giá học sinh chuyển trọng tâm từ đánh giá kết thúc, đánh giá tổng kết sang đánh giá quá trình, đánh giá tiến trình; chuyển đánh giá bằng điểm số sang đánh giá bằng nhận xét
- Việc đánh giá quá trình phát triển, đánh giá sự tiến bộ mới là đánh giá thiết thực và hiệu quả nhất cho mỗi học sinh
II Thực trạng vấn đề
Trong bối cảnh đổi mới hiện nay, việc dạy học môn Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực học sinh, việc tổ chức một cách hiệu quả những hoạt động học tập để “kích hoạt” tinh thần học tập là việc làm đặc biệt quan trọng Dạy học theo hướng phát triển năng lực học sinh, được xem là một trong những biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn Ngữ văn Từ thời xa xưa, Khổng Tử đã khẳng định: “Tôi nghe - tôi quên ; tôi nhìn - tôi nhớ ; tôi làm - tôi hiểu” Quan điểm này nhấn mạnh việc “học bằng cách làm” của học sinh bởi “trăm hay không bằng tay quen”
Nghị quyết số 29/NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8 (khóa XI) đã xác định nội dung trọng tâm của việc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phổ thông là sự phát triển năng lực của người học, từ đó nâng cao chất lượng của nguồn nhân lực trong chiến lược phát triển đất nước Dạy học theo định hướng hướng phát triển năng lực học sinh, đã được nghiên cứu trong những năm gần đây, cụ thể có thể kể đến các công trình như: Phác thảo chương trình Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực của Bùi Mạnh Hùng; Dạy học ngữ văn theo hướng phát triển năng lực và yêu cầu “đổi mới căn bản, toàn diện” giáo dục phổ thông của Nguyễn Thành Thi; Các mô hình dạy học nhằm PTNLHS của Nguyễn Thị Hồng Nam, Dương Thị Hồng Hiếu: Dạy học PTNL môn ngữ văn trung học phổ thông của Đỗ Ngọc Thống, Bùi Minh Đức, Đỗ Thu Hà, Phạm Thị Thu Hiền, Lê Thị Minh Nguyệt,… Để quá trình dạy học môn Ngữ văn ở trường trung học phổ thông phát huy được năng lực học sinh, sự thống và đồng bộ giữa
Trang 6hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh là rất cần thiết Vì vậy, cần có sự đầu tư đúng mức trong việc tổ chức hoạt động học tập cho học sinh
Trên thực tế, một số trường phổ thông đã áp dụng phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực học sinh Song việc áp dụng còn chưa đồng bộ giữa các môn học hoặc áp dụng máy móc, cứng nhắc nên hiệu quả chưa cao Vì vậy phải căn cứ vào đối tượng học sinh cụ thể và đặc trưng riêng của từng môn học
để vận dụng một cách linh hoạt phương pháp dạy học này sao cho giờ học đạt hiệu quả cao nhất, hình thành cho học sinh những năng lực cơ bản nhất, cần thiết nhất
III Biện pháp cụ thể
Dạy học theo hướng phát triểnphát huy tính tích cực, tự giác, chủ động
của người học, hình thành và phát triển năng lực tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép, tìm kiếm thông tin ), trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh
hoạt, độc lập, sáng tạo của tư duy Có thể chọn lựa một cách linh hoạt các phương pháp chung và phương pháp đặc thù của môn học để thực hiện Tuy nhiên dù sử dụng bất kỳ phương pháp nào cũng phải đảm bảo được nguyên tắc “Học sinh tự
mình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức(tự chiếm lĩnh kiến thức) với sự tổ chức,
hướng dẫn của giáo viên”
Việc sử dụng phương pháp dạy học gắn chặt với các hình thức tổ chức dạy học Tuỳ theo mục tiêu, nội dung, đối tượng và điều kiện cụ thể mà có những hình thức tổ chức thích hợp như: học cá nhân, học nhóm; học trong lớp, học ở ngoài lớp Cần chuẩn bị tốt về phương pháp đối với các giờ thực hành để đảm bảo yêu cầu rèn luyện kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, nâng cao hứng thú cho người học
Cần sử dụng đủ và hiệu quả các thiết bị dạy học tối thiểu của môn học theo qui định của Bộ Giáo dục Khuyến khích giáo viên tự làm thiết bị, đồ dùng dạy học Vận dụng CNTT trong dạy học một cách hiệu quả, sáng tạo
Để hoạt động dạy học trong nhà trường phổ thông nói chung và dạy học môn Ngữ văn nói riêng theo hướng tiếp cận năng lực đạt hiệu quả cao, cá nhân tôi xin mạnh dạn đề xuất một số biện pháp cụ thể sau:
1 Cải tiến các phương pháp dạy học truyền thống
Đổi mới phương pháp dạy học không có nghĩa là loại bỏ các phương pháp dạy học truyền thống như thuyết trình, đàm thoại, luyện tập mà cần bắt đầu bằng việc cải tiến để nâng cao hiệu quả và hạn chế nhược điểm của chúng Để nâng cao hiệu quả của các phương pháp dạy học này người giáo viên trước hết cần nắm vững những yêu cầu và sử dụng thành thạo các kỹ thuật của chúng trong việc chuẩn bị cũng như tiến hành bài lên lớp, kỹ thuật đặt các câu hỏi và xử lý các câu trả lời trong đàm thoại, hay kỹ thuật làm mẫu trong luyện tập Tuy nhiên, các phương pháp dạy học truyền thống có những hạn chế tất yếu, vì thế bên cạnh các phương pháp dạy học truyền thống cần kết hợp sử dụng các phương pháp dạy học mới, có thể tăng cường tính tích cực nhận thức của học sinh trong thuyết trình, đàm thoại theo quan điểm dạy học giải quyết vấn đề
2 Kết hợp đa dạng các phương pháp dạy học
Trang 7Trong thực tiễn dạy học ở trường phổ thông hiện nay, nhiều giáo viên đã cải tiến bài lên lớp theo hướng kết hợp thuyết trình của giáo viên với hình thức làm việc nhóm, góp phần tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh Tuy nhiên hình thức làm việc nhóm rất đa dạng, không chỉ giới hạn ở việc giải quyết các nhiệm vụ học tập nhỏ xen kẽ trong bài thuyết trình, mà còn có những hình thức làm việc nhóm giải quyết những nhiệm vụ phức hợp, có thể chiếm một hoặc nhiều tiết học, sử dụng những phương pháp chuyên biệt như phương pháp đóng vai, nghiên cứu trường hợp, dự án Mặt khác, việc bổ sung dạy học toàn lớp bằng làm việc nhóm xen kẽ trong một tiết học mới chỉ cho thấy rõ việc tích cực hoá
“bên ngoài” của học sinh Muốn đảm bảo việc tích cực hoá “bên trong” cần chú
ý đến mặt bên trong của phương pháp dạy học, vận dụng dạy học giải quyết vấn
đề và các phương pháp dạy học tích cực khác
3 Vận dụng dạy học giải quyết vấn đề
Dạy học giải quyết vấn đề (dạy học nêu vấn đề, dạy học nhận biết và giải quyết vấn đề) là quan điểm dạy học nhằm phát triển năng lực tư duy, khả năng
nhận biết và giải quyết vấn đề Học sinh được đặt trong một tình huống có vấn
đề, đó là tình huống chứa đựng mâu thuẫn nhận thức, thông qua việc giải quyết vấn đề, giúp học sinh lĩnh hội tri thức, kỹ năng và phương pháp nhận thức Dạy học giải quyết vấn đề là con đường cơ bản để phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh, có thể áp dụng trong nhiều hình thức dạy học với những mức độ
tự lực khác nhau của học sinh Các tình huống có vấn đề là những tình huống khoa học chuyên môn, cũng có thể là những tình huống gắn với thực tiễn Trong thực tiễn dạy học hiện nay, dạy học giải quyết vấn đề thường chú ý đến những vấn đề khoa học chuyên môn mà ít chú ý hơn đến các vấn đề gắn với thực tiễn Tuy nhiên nếu chỉ chú trọng việc giải quyết các vấn đề nhận thức trong khoa học chuyên môn thì học sinh vẫn chưa được chuẩn bị tốt cho việc giải quyết các tình huống thực tiễn Vì vậy bên cạnh dạy học giải quyết vấn đề, lý luận dạy học còn xây dựng quan điểm dạy học theo tình huống
4 Vận dụng dạy học theo tình huống
Dạy học theo tình huống là một quan điểm dạy học, trong đó việc dạy học được tổ chức theo một chủ đề phức hợp gắn với các tình huống thực tiễn cuộc sống và nghề nghiệp Quá trình học tập được tổ chức trong một môi trường học tập tạo điều kiện cho học sinh kiến tạo tri thức theo cá nhân và trong mối tương tác xã hội của việc học tập Các chủ đề dạy học phức hợp là những chủ đề có nội dung liên quan đến nhiều môn học hoặc lĩnh vực tri thức khác nhau, gắn với thực tiễn Trong nhà trường, các môn học được phân theo các môn khoa học chuyên môn, còn cuộc sống thì luôn diễn ra trong những mối quan hệ phức hợp Vì vậy
sử dụng các chủ đề dạy học phức hợp góp phần khắc phục tình trạng xa rời thực tiễn của các môn khoa học chuyên môn, rèn luyện cho học sinh năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp, liên môn Phương pháp nghiên cứu trường hợp là một phương pháp dạy học điển hình của dạy học theo tình huống, trong đó học sinh tự lực giải quyết một tình huống điển hình, gắn với thực tiễn thông qua làm việc nhóm Vận dụng dạy học theo các tình huống gắn với thực tiễn là con đường quan trọng để gắn việc đào tạo trong nhà trường với thực tiễn đời sống, góp phần khắc phục tình trạng giáo dục hàn lâm, xa rời thực tiễn hiện nay của nhà trường
Trang 8phổ thông Tuy nhiên, nếu các tình huống được đưa vào dạy học là những tình huống mô phỏng lại, thì chưa phải tình huống thực Nếu chỉ giải quyết các vấn
đề trong phòng học lý thuyết thì học sinh cũng chưa có hoạt động thực tiễn thực
sự, chưa có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành
5 Vận dụng dạy học định hướng hành động
Dạy học định hướng hành động là quan điểm dạy học nhằm làm cho hoạt động trí óc và hoạt động chân tay kết hợp chặt chẽ với nhau Trong quá trình học tập, học sinh thực hiện các nhiệm vụ học tập và hoàn thành các sản phẩm hành động, có sự kết hợp linh hoạt giữa hoạt động trí tuệ và hoạt động tay chân Đây
là một quan điểm dạy học tích cực hoá và tiếp cận toàn thể Vận dụng dạy học định hướng hành động có ý nghĩa quan trong cho việc thực hiện nguyên lý giáo dục kết hợp lý thuyết với thực tiễn, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội Dạy học theo dự án là một hình thức điển hình của dạy học định hướng hành động, trong đó học sinh tự lực thực hiện trong nhóm một nhiệm vụ học tập phức hợp, gắn với các vấn đề thực tiễn, kết hợp lý thuyết và thực hành, có tạo ra các sản phẩm có thể công bố Trong dạy học theo dự án có thể vận dụng nhiều lý thuyết và quan điểm dạy học hiện đại như lý thuyết kiến tạo, dạy học định hướng học sinh, dạy học hợp tác, dạy học tích hợp, dạy học khám phá, sáng tạo, dạy học theo tình huống và dạy học định hướng hành động
6 Vận dụng dạy học trải nghiệm sáng tạo
Dạy học qua hoạt động trải nghiệm là người học được sử dụng toàn diện:
trí tuệ, cảm xúc, thể chất, kỹ năng và các quan hệ xã hội trong quá trình tham gia, người học phải sáng tạo, tự chủ, tự ra quyết định và thỏa mãn với kết quả đạt được Qua trải nghiệm, người học được tham gia tích cực vào việc: đặt câu hỏi, tìm tòi, trải nghiệm, giải quyết vấn đề, tự chịu trách nhiệm Đặc biệt kết quả của trải nghiệm không quan trọng bằng quá trình thực hiện và những điều học được từ trải nghiệm đó
nghe ) và các quá trình tâm lý bên trong (chú ý, ghi nhớ, tư duy, tưởng tượng) Qua đó học sinh tự khám phá kiến thức hình thành năng lực cho bản thân
7 Tăng cường sử dụng phương tiện dạy học và công nghệ thông tin
Phương tiện dạy học có vai trò quan trọng trong việc đổi mới phương pháp dạy học, nhằm tăng cường tính trực quan và thí nghiệm, thực hành trong dạy học Hiện nay, việc trang bị các phương tiện dạy học mới cho các trường phổ thông từng bước được tăng cường Tuy nhiên các phương tiện dạy học tự làm của giáo viên luôn có ý nghĩa quan trọng, cần được phát huy Đa phương tiện và công nghệ thông tin vừa là nội dung dạy học vừa là phương tiện dạy học trong dạy học hiện đại
8 Sử dụng các kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực và sáng tạo
Kỹ thuật dạy học là những cách thức hành động của của giáo viên và học sinh trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học Các kỹ thuật dạy học là những đơn vị nhỏ nhất của phương pháp dạy học Có những kỹ thuật dạy học chung, có những kỹ thuật đặc thù của từng phương pháp dạy học, ví dụ kỹ thuật đặt câu hỏi trong đàm thoại Ngày nay
Trang 9người ta chú trọng phát triển và sử dụng các kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực, sáng tạo của người học như “động não”, “tia chớp”, “bể cá”, bản đồ tư duy,
kỹ thuật khăn trải bàn
9 Chú trọng các phương pháp dạy học đặc thù bộ môn
Phương pháp dạy học có mối quan hệ biện chứng với nội dung dạy học, việc sử dụng các phương pháp dạy học đặc thù có vai trò quan trọng trong dạy học bộ môn Các phương pháp dạy học đặc thù bộ môn được xây dựng trên cơ
sở lý luận dạy học bộ môn Ví dụ: Thí nghiệm là một phương pháp dạy học đặc thù quan trọng của các môn khoa học tự nhiên; các phương pháp dạy học như trình diễn vật phẩm kỹ thuật, làm mẫu thao tác, phân tích sản phẩm kỹ thuật, thiết kế kỹ thuật, lắp ráp mô hình, các dự án là những phương pháp chủ lực trong dạy học kỹ thuật; phương pháp “Bàn tay nặn bột” đem lại hiệu quả cao trong việc dạy học các môn khoa học
10 Bồi dưỡng phương pháp học tập tích cực cho học sinh
Phương pháp học tập một cách tự lực đóng vai trò quan trọng trong việc tích cực hoá, phát huy tính sáng tạo của học sinh Có những phương pháp nhận thức chung như phương pháp thu thập, xử lý, đánh giá thông tin, phương pháp
tổ chức làm việc, phương pháp làm việc nhóm, có những phương pháp học tập chuyên biệt của từng bộ môn Bằng nhiều hình thức khác nhau, cần luyện tập cho học sinh các phương pháp học tập chung và các phương pháp học tập trong
bộ môn
Tóm lại, có rất nhiều phương hướng đổi mới phương pháp dạy học với những cách tiếp cận khác nhau, trên đây chỉ là một số phương hướng chung Việc đổi mới phương pháp dạy học đòi hỏi những điều kiện thích hợp về phương tiện, cơ
sở vật chất, kỹ thuật và hình thức tổ chức dạy học, điều kiện về tổ chức, quản
lý lớp học Ngoài ra, phương pháp dạy học còn mang tính chủ quan Mỗi giáo viên với kinh nghiệm riêng của mình cần xác định những phương hướng riêng
để cải tiến phương pháp dạy học và kinh nghiệm của cá nhân
IV Áp dụng soạn giáo án
*Giáo án soạn theo hướng phát triển năng lực học sinh tiết 1 bài Vợ chồng
1 Kiến thức: Giúp học sinh thấy được:
- Cuộc sống cực nhọc, tăm tối của những người dân nghèo miền núi dưới ách thống trị của thực dân Pháp và chế độ phong kiến miền núi và quá trình người dân tộc thiểu số thức tỉnh, từng bước giác ngộ cách mạng, vùng lên tự giải phóng đời mình và đi theo tiếng gọi của Đảng
- Giá trị nhân đạo của tác phẩm trong việc khẳng định sức sống tiềm tàng của con người lao động
- Những đóng góp của nhà văn trong việc khắc hoạ tính cách nhân vật, lối kể chuyện linh hoạt, sự tinh tế trong diễn tả thế giới nội tâm, sở trường quan sát,
Trang 10miêu tả những nét riêng về phong tục, tập quán và lối sống của người miền núi Tây Bắc, nghệ thuật trần thuật linh hoạt, lời văn tinh tế mang màu sắc dân tộc
- Năng lực chuyên biệt:
+ Năng lực trải nghiệm ( đóng vai, thuyết trình) + Năng lực thu thập thông tin liên quan đến văn bản
+ Năng lực giải quyết những tình huống đặt ra trong các văn bản
+ Năng lực hợp tác thảo luận về nội dung và nghệ thuật của văn bản + Năng lực cảm thụ và thưởng thức thẫm mỹ
+ Năng lực tự đọc hiểu các tác phẩm truyện ngắn hiện đại
+ Năng lực vận dụng những kiến thức liên môn đã học để giải quyết những vấn đề thực tiễn: Vấn đề bảo tồn và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc…
II Chuẩn bị của giáo viên và học sinh
- Chuẩn bị của giáo viên: Sách giáo khoa; Sách giáo viên; Giáo án; Tài liệu tham khảo
- Chuẩn bị của học sinh: Sách giáo khoa; Soạn bài; Tài liệu tham khảo; Hoàn thành các phần việc mà giáo viên yêu cầu từ tiết học trước
III Tổ chức các hoạt động học tập
1 Ổn định lớp, kiểm tra sĩ số
2 Kiểm tra bài cũ
- Kiểm tra việc chuẩn bị bài của các nhóm
3 Tiến trình bài học
Hoạt động 1: Khởi động
Phương pháp, kĩ thuật dạy học: Phát vấn, thuyết trình, phân tích, công não,
thảo luận nhóm…
GV: Sử dụng máy chiếu chiếu một số hình ảnh liên quan đến bài học:
- Hình ảnh một số bản làng và đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng cao
- Hình ảnh đôi trai gái người Mèo đang thổi sáo
- Hình ảnh lễ hội của đồng bào H mông
GVH: Những hình ảnh trên gợi cho em liên tưởng đến nét văn hóa vùng miền nào trên đất nước ta ?
HS: Trả lời
- GV: Nhận xét phần trả lời của HS
Trang 11- Giới thiệu khái quát về vẻ đẹp thiên nhiên, con người, những nét đặc sắc về
văn hóa, nghệ thuật, phong tục tập quán của vùng núi Tây Bắc
- GV: Kết luận và dẫn vào hoạt động mới
Hoạt động 2: Hình thành kiến thức mới
Phương pháp, kĩ thuật dạy học: Phát vấn, đóng vai, thuyết trình, phân tích,
công não, chia nhóm, thảo luận …
Hoạt động của giáo viên và học
sinh
Yêu cầu cần đạt
- Giáo viên hướng dẫn học sinh tự
chiếm lĩnh kiến thức mới thông qua
việc tìm hiểu những kiến thức cơ bản
sau: Kiến thức về tác giả, kiến thức về
tập “ Truyện Tây Bắc ”, kiến
thức về truyện ngắn “Vợ chồng A
Phủ”
- Học sinh tìm kiếm thông tin từ văn
bản Giải thích, cắt nghĩa, phân loại,
kết nối… thông tin để tạo nên hiểu biết
chung về nhà văn Tô Hoài, tập truyện
Tây Bắc và tác phẩm Vợ chồng A Phủ,
phản hồi và đánh giá thông tin trong
văn bản
Thao tác 1: Tìm hiểu về tác giả
- Giáo viên gọi đại diện nhóm 1- Trình
bày phần chuẩn bị của nhóm mình
(Những nét chính về tác giả Tô
Hoài? Kể tên một số truyện ngắn tiêu
biểu của ông ?
- Học sinh: Cử đại diện trình bày phần
chuẩn bị của nhóm (Nhóm đã thảo
luận và chuẩn bị trước)
- Các học sinh khác nhận xét, bổ sung
- Giáo viên: Nhận xét, nhấn mạnh
những đóng góp lớn lao của Tô Hoài
đối với nền văn học dân tộc
- Tô Hoài có quan niệm nghệ thuật
“vị nhân sinh” độc đáo và có phần quyết liệt
- Là nhà văn có vốn hiểu biết phong phú, sâu sắc về phong tục, tập quán của nhiều vùng miền khác nhau trên đất nước ta
- Năm 1996 ông được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật
Trang 12Thao tác 2: Tìm hiểu về truyện
ngắn “Vợ chồng A Phủ”
- Giáo viên hỏi:
+ Nêu hoàn cảnh ra đời và xuất xứ của
văn bản “Vợ chồng A Phủ”?
+ Em hãy phân chia bố cục của văn
bản “Vợ chồng A Phủ” ?
- Học sinh: Trình bày hoàn cảnh ra
đời, xuất xứ của tác phẩm, phân chia
- In trong tập Truyện Tây Bắc(1954)
- Truyện Tây Bắc gồm 3 truyện ngắn: Cứu đất cứu mường, Mường Giơn,
Vợ chồng A Phủ
- Tập truyện được tặng giải nhất- giải thưởng Hội văn nghệ Việt Nam 1954- 1955
b Hoàn cảnh sáng tác:
- Là kết quả của chuyến đi thực tế dài tám tháng cùng bộ đội lên giải phóng Tây Bắc năm 1952 Trong những chuyến đi này ông có điều kiện tiếp xúc nhiều với đồng bào Tây Bắc và cuộc sống của đồng bào nơi đây đã khơi nguồn cảm hứng cho ông
- Giáo viên yêu học sinh đóng vai Mị
và kể về cuộc đời cuả mình theo đoạn
trích
- Đại diện nhóm 2 trình bày phần tóm
tắt của nhóm mình (Nhóm đã thảo
luận và chuẩn bị trước)
- Các học sinh khác nhận xét về nội
Trang 13+ Đêm tình mùa xuân đến, Mị muốn
đi chơi nhưng bị A Sử (chồng Mị) trói đứng vào cột nhà
+ A Phủ vì bất bình trước A Sử nên
đã đánh nhau và bị bắt, bị phạt vạ và trở thành kẻ ở trừ nợ cho nhà Thống
lí
+ Không may hổ vồ mất 1 con bò, A Phủ đã bị đánh, bị trói đứng vào cọc đến gần chết
+ Mị đã cắt dây trói cho A Phủ, 2 người chạy trốn đến Phiềng Sa
+ Mị và A Phủ được giác ngộ, trở thành du kích
- GV yêu cầu học sinh nêu cảm nhận
về văn bản
- Học sinh làm việc cá nhân và trả lời
- Giáo viên gọi 3 học sinh trả lời sau
đó nhận xét và chuẩn kiến thức
e Cảm nhận chung
Nỗi khổ của người dân miền núi dưới ách áp bức của bọn phong kiến, chúa đất và thực dân xâm lược Đồng thời thấy được sức sống mãnh liệt, cá tính độc đáo và quá trình đấu tranh tự giải phóng của họ
Thao tác 3: Tìm hiểu về nhân vật Mị
- Giáo viên gọi 1 học sinh đọc diễn
cảm đoạn văn mở đầu giới thiệu về
nhân vật Mị sau đó đặt câu hỏi:
+ Cảm nhận ban đầu của em về nhân
+ Tại sao tác giả đặt nhân vật trong
hoàn cảnh đối lập như vậy?
- Học sinh làm việc cá nhân sau đó trả
lời
- Các học sinh khác nhận xét, bố sung
- Giáo viên nhận xét, kết luận
II Đọc - hiểu
1 Nhân vật Mị a) Cách giới thiệu nhân vật
- Giới thiệu nhân vật như trong chuyện cổ tích:
+ Giọng kể : trầm buồn + Miêu tả ngoại hình, tư thế, công việc: “ Cô gái ngồi ….rười rượi” -> nhằm gợi ra thân phận nhân vật khiến người đọc tò mò về kiếp làm dâu của
Mị ở nhà Thống lí, không hiểu điều
gì khiến cho Mị vô cảm như một cái bóng
- Đặt nhân vật trong hoàn cảnh đối lập: cô gái buồn rầu, đau khổ, lam lũ với khung cảnh tấp nập, giàu có của nhà Thống lí -> Tạo nên sự suy ngẫm của người đọc về nhân vật
=> Cách giới thiệu nhân vật vừa tạo
sự chú ý cho người đọc vừa tạo tình huống “có vấn đề” trong lối kể
Trang 14chuyện truyền thống, giúp tác giả mở lối dẫn người đọc cùng tham gia hành trình tìm hiểu cuộc đời và số phận nhân vật
- Giáo viên chia lớp thành 4 nhóm và
giao nhiệm vụ cho từng nhóm
+ Nhóm 1: Trước khi về làm dâu nhà
thống lý Mị là người như thế nào?
+ Nhóm 2: Là cô gái yêu đời, khao
khát tự do song Mị có được lựa chọn
cuộc sống cho mình không? Vì sao?
+ Nhóm 3: Khi mới bị bắt về làm dâu
- Sau khi cả 4 nhóm trả lời song, giáo
viên nhận xét, chuẩn kiến thức cho học
sinh
b Cuộc đời của Mị
* Mị trước khi bị bắt về làm dâu gạt
nợ nhà Thống lý Pá Tra
- Là cô gái trẻ đẹp, có tài thổi sáo:
“Trai đến đứng nhẵn cả chân vách đầu buông Mị”, “Mị thổi sáo giỏi,
Mị uốn chiếc lá trên môi,thổi lá cũng hay như thổi sáo Có biết bao nhiêu người mê, ngày đêm đã thổi sáo đi theo Mị”
- Là người con hiếu thảo, tự trọng,
yêu lao động: “Con nay đã biết cuốc nương làm ngô, con phải làm nương ngô giả nợ thay cho bố Bố đừng bán con cho nhà giàu”
–> M xứng đáng được hưởng cuộc sống tự do, hạnh phúc nhưng vì món
nợ truyền kiếp của cha mẹ Mị trở thành con dâu gạt nợ của nhà Pá Tra
Mị không được lựa chọn cuộc sống cho mình Mị bị tròng bởi 2 thứ dây trói: Con dâu- con nợ (cường quyền
và thần quyền)
Trang 15* Mị khi mới về làm dâu nhà thống lý:
– Phản ứng của Mị khi mới bị bắt về làm con dâu gạt nợ :
+ Lúc đầu “ có đến hàng mấy tháng, đêm nào Mị cũng khóc”, định ăn lá ngón tự vẫn Mị đau khổ, ấm ức, muốn giải thoát cho mình, muốn chấm dứt kiếp nô lệ
+ Thương cha, Mị đã vứt nắm lá ngón
Hành động buông xuôi, phó mặc cho số phận, vứt bỏ quyền làm người, chấp nhận làm con dâu gạt nợ vì cha – Cuộc sống của Mị ở nhà Thống lí:
bị đày đoạ cả thể xác lẫn tinh thần như một kẻ nô lệ, kiếp ngựa trâu + Nỗi khổ thể xác:
Mị là con trâu, con ngựa, thậm chí không bằng con trâu con ngựa -> Thủ pháp vật hoá kiếp người còn khổ hơn kiếp vật để cực tả nỗi khổ của Mị Cụm từ chỉ thời gian: mấy năm qua, mấy năm nay, mỗi mùa, mỗi tháng,
cả ngày cả đêm diễn tả vòng thời gian khép kín, kéo dài triền miên trong công việc
Liệt kê: công việc liền tay liền chân không lúc nào được ngơi nghĩ, Mị như một cái máy vận hành theo công việc
=> Mị bị tước đoạt sức lao động một cách triệt để và trở thành công cụ lao động cho nhà Thống lí Pá Tra
Trang 16Mị mất hết cả ý niệm về không gian, thời gian: “lúc nào trông ra cũng chỉ thấy trăng trắng, không biết là sương hay nắng”
- Nghệ thuật:
Ẩn dụ: gây ám ảnh cho người đọc,
Mị sống trong một tg tù đày, lạnh lẻo,
u ám, khoá kín tuổi thanh xuân, mơ ước, hp
So sánh: diễn tả sự vô cảm, lặng lẽ mất hết khả năng phản kháng, mất hết ý thức tồn tại của bản thân, tinh thần dường như tê lịm
=> Mị sống trong trạng thái vô cảm, gần như mất hết tri giác về cuộc sống, tuyệt vọng
Tác giả đã cắt nghĩa: “ở lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi Chính cuộc sống khổ ải, bị đoạ đày đã làm tê liệt
ý thức của một cô gái xinh đẹp, yêu đời trước đây
Cuộc sống của Mị trong gia đình Thống lý chính là bản cáo trạng đanh thép giai cấp thống trị miền núi: bóc lột, tước đoạt và triệt tiêu quyền sống con người
Điều đó có sức ám ảnh đối với độc giả, gieo vào lòng người những xót thương
GV dẫn dắt:
Cuộc sống “lầm lũi như con rùa nuôi
trong xó cửa” của Mị không diễn ra
mãi như thế Đã có những tác nhân
quan trọng tác động đến tâm hồn Mị
làm Mị thay đổi
Hoạt động nhóm
- Giáo viên yêu cầu học sinh làm việc
với văn bản, tìm chi tiết, phân tích ý
nghĩa , đánh giá cảm nhận của nhân
vật và giá trị tư tưởng của văn bản
Cách tiến hành: Chia lớp
thành 4 nhóm thảo luận về các tác
nhân quan trọng làm thức tỉnh tâm hồn
Mị
Trang 17- Giáo viên phát phiếu học tập, giao
nhiệm vụ cho mỗi nhóm:
+ Nhóm 1: Phiếu học tập số 1
Câu 1: Khung cảnh ăn Tết của người
Mèo đã được Tô Hoài tái hiện như thế
nào? Nó tác động ấn tượng đến tâm
Câu 2: Nhận xét nghệ thuật miêu tả
diễn biến tâm lí nhân vật Mị của nhà
văn Tô Hoài?
+ Nhóm 3: Phiếu học tập số 3
Câu 1: Giữa lúc Mị đang dâng tràn sức
sống mới thì A Sử về và hắn đã có
hành động gì với Mị?
Câu 2: Phân tích diễn biến tâm lí của
Mị trước những lời nói và hành động
của A Sử ?
+ Nhóm 4: Phiếu học tập số 4
Em có nhận xét gì về nghệ thuật miêu
tả tâm lí nhân vật của Tô Hoài trong
đoạn này? So sánh với cách miêu tả
tâm lí nhân vật Mị của Tô Hoài ở đoạn
trước đó?
Học sinh (hoạt động nhóm)
- Thực hiện nhiệm vụ thảo luận nhóm,
hoàn thành phiếu học tập
Trong quá trình học sinh thảo luận,
giáo viên gợi ý cho học sinh bằng các
câu hỏi nhỏ:
+ Điều gì đã khơi dậy sức sống mãnh
liệt trong con người Mị?
+ Bức tranh mùa xuân được miêu tả
như thế nào?
+ Bức tranh mùa xuân đẹp nhưng đã
đủ sức làm thay đổi Mị chưa?
+ Yếu tố thực sự làm thay đổi Mị là
gì?
Trang 18+ Tại sao tiếng sáo lại tác động mạnh
mẽ tới Mị đến vậy?
+ Khi uống rượu và nghe tiếng sáo Mị
nghĩ đến điều gì? Điều ấy có phù hợp
tâm trạng của Mị không?
+ Trạng thái tâm hồn Mị lúc này được
nhà văn miêu tả ra sao?
+ Mị có thực sự quên đi hiện tại để
sống với quá khứ không?
+ Nhận xét cách miêu tả của Tô
Hoài?
- Các nhóm lần lượt thuyết trình kết
quả thảo luận
- Học sinh các nhóm nhận xét, phản
biện và bổ sung hoàn thiện kiến thức
- Giáo viên giúp đỡ, giải quyết khó
khăn cho học sinh khi thảo luận nhóm
- Đánh giá phần thảo luận, thuyết trình
của các nhóm
- Nhận xét, đánh giá, sử dụng hệ thống
câu hỏi gợi mở và đặt câu hỏi nâng
cao để kết luận và bổ sung kiến thức
c Sức sống tiềm tàng
* Đêm tình mùa xuân:
- Thiên nhiên:
+ Khung cảnh mùa xuân: Hồng Ngài
ăn tết, cảnh mùa xuân tươi vui, tràn đầy sức sống và đầy màu sắc
-> Sự hồi xuân trong đất trời
+ Sự hồi sinh về tâm hồn: Những chiếc váy hoa sặc sỡ…-> ý thức làm đẹp đang trở về trong lòng Mị
Những sắc màu rực rỡ của mùa xuân là tác nhân đầu tiên làm ấm lên cõi lòng băng giá của Mị
Trang 19muốn giao lưu, muốn hưởng thụ, muốn gặp gỡ Đó là biểu hiện của sự trổi dậy trong sức sống tiềm tàng của
Mị
- Tiếng sáo:
+ Tiếng sáo lấp ló ngoài đầu núi, tiếng sáo rủ bạn đi chơi: “Mị lẩm nhẩm bài hát của người đang thổi”-> Khát vọng hạnh phúc, tự do, nhu cầu sống đang trở về
+ Tai Mị văng vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu làng -> đánh thức kí ức: “ngày trước Mị thổi sáo giỏi”
+ Tiếng sáo gọi bạn yêu vẫn lơ lửng bay ngoài đường…
Tiếng sáo kéo Mị ra khỏi tình cảnh
bi đát, chuyển hóa thành hành động
- Hành động:
+ "lấy ống mỡ xắn một miếng bỏ thêm vào đĩa dầu"
+ “Mị muốn đi chơi, Mị sắp đi chơi” + “quấn tóc lại, với tay lấy cái váy hoa vắt ở phía trong vách" để “đi chơi”
Qúa khứ ám ảnh mãnh liệt đến mức kéo Mị hoàn toàn ra khỏi thực tại, đắm chìm trong ảo giác
+ A Sử trói đứng Mị vào cột nhà, quấn tóc Mị lên cột khiến Mị không cúi, không nghiêng được đầu
+ “Mị vùng bước đi”…, trong Mị hơi rượu vẫn nồng nàn, tiếng sáo gọi bạn tình vẫn đưa Mị đi theo những cuộc chơi
+ Mị thức tỉnh nghĩ mình không bằng con ngựa khi nghe tiếng chân ngựa
A Sử chỉ có thể trói buộc thân xác
Mị, ngăn cản hành động đi chơi của
Mị chứ không thể dìm xuống cái sức sống mạnh liệt vẫn đang dâng trào trong lòng Mị
Tô Hoài đã thể hiện rất rõ sức sống tiềm tàng, mãnh liệt trong tâm hồn
Trang 20Mị- biểu tượng cho ước mơ, tuổi trẻ, tình yêu, sức sống của Mị
Hoạt động cặp đôi
Câu 1: Thái độ ban đầu của Mị khi
thấy A Phủ bị trói?
Câu 2: Chi tiết nào ở A Phủ khiến Mị
thay đổi thái độ?
Nguyên nhân nào đã khiến Mị có hành
động cắt dây, cởi trói cho A Phủ?
Câu 3: Anh/ chị có suy nghĩ gì trước
câu nói của Mị với A Phủ: “ A Phủ cho
tôi đi…ở đây thì chết mất”
Câu 4: Giá trị nhân đạo mà Tô Hoài
muốn gửi gắm ở đây là gì?
Câu 5: Khái quát nghệ thuật xây dựng
nhân vật Mị của nhà văn Tô Hoài?
- Giáo viên gọi học sinh trả lời sau đó
nhận xét, bổ sung và chuẩn kiến thức
Khi thấy A Phủ bị trói đứng:
- Lúc đầu:“Mị vẫn thản nhiên thổi lửa hơ tay Nếu A Phủ là cái xác chết đứng đấy thì cũng thế thôi””
+ Mị dửng dưng, vô cảm trước nỗi
đau khổ của người khác
+ Khi nhìn thấy “một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã đen xạm lại…”
- Giọt nước mắt yếu đuối của phái
mạnh đã nhen lên sức mạnh của phái yếu, của Mị
- Mị nhớ ra: Đêm mùa xuân năm trước Mị cũng bị trói như thế, người đàn bà đời trước cũng bi trói đến chết
+ Thương thân xót phận mình, đồng cảm với người khác có nỗi đau khổ giống mình
+ Nhận thức được tội ác của cha con thống lí: “Trời ơi, nó bắt trói đứng người ta đến chết…Chúng nó thật độc ác…”
+ Thương cảm cho A Phủ:
+ Mị nảy sinh tình thương với A
Phủ, ý thức được bước đường cùng đầy oan uổng của một người đàn ông vốn can đảm, mạnh mẽ nhất Hồng Ngài
+ Mị lo sợ hốt hoảng, tưởng tượng
khi A Phủ đã trốn được thì “Mị sẽ phải trói thay vào đấy”
+ Mị đi đến hành động can đảm, liều
lĩnh một cách khác thường:Cắt dây trói, cứu A Phủ, hai người dìu nhau lao vào bóng tối
Là hành động tất yếu sau những gì
đã diễn ra ở Mị từ đêm tình mùa xuân
ở Hồng Ngài đến đêm cứu A Phủ là một hành trình tìm lại chính mình và
Trang 21tự giải thoát mình Đó là con đường giải thoát duy nhất, cứu người cũng
là tự cứu mình
- Tài năng của nhà văn trong miêu tả
tâm lí nhân vật: Diễn biến tâm lí tinh
tế được miêu tả từ nội tâm đến hành động
=> Giá trị nhân đạo sâu sắc:
+ Khi sức sống tiềm tàng trong con người được hồi sinh thì nó là ngọn lửa không thể dập tắt
+ Nó tất yếu chuyển thành hành động phản kháng táo bạo, chống lại mọi sự chà đạp, lăng nhục để cứu cuộc đời mình
d Nghệ thuật xây dựng nhân vật:
- Mị là một nhân vật có cá tính, rõ nét, sinh động, cá tính đó được Tô Hoài diễn tả một cách sống động, chân thực
- Miêu tả tính cách nhân vật: chọn điểm nhìn từ bên trong, đối thoại nội tâm và dòng ý thức của nhân vật
- Miêu tả tâm lí nhân vật: Miêu tả diễn biến tâm lí nội tâm tinh tế, phức tạp
Câu 3: Nội dung chính của đoạn trích Vợ chồng A Phủ là gì?
a. Số phận nô lệ tủi nhục của người dân nghèo miền núi dưới ách thống trị của
phong kiến miền núi
b Tội ác dã man của thực dân Pháp
c Sự cố gắng vươn lên để tự giải phóng của người miền núi
Trang 22d Cả ba đáp án trên
Câu 4: Tô Hoài đã chọn cách nào sau đây để giới thiệu nhân vật Mị trong đoạn
đầu tác phẩm Vợ chồng A Phủ
a Giới thiệu trực tiếp Mị là con dâu nhà thống lí
b Kể món nợ cha mẹ Mị vay của thống lí dẫn đến việc Mị bị bắt là con dâu gạt
nợ
c Kể chuyện A Sử bắt cóc Mị về làm vợ, Mị trở thành con dâu thống lí
d Thủ pháp đối lập gây chú ý của người đọc vào số phận nhân vật: Hình ảnh một cô gái khi làm việc lúc nào cũng cúi mặt “mặt buồn rười rượi” đối lập với cảnh giàu có tấp nập của nhà thống lí, đó chính là Mị không phải con gái mà là con dâu thống lí
Câu 5:Trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ, Tô Hoài đã so sánh thân phận Mị với thân phận của con vật nào?
a Con trâu
b Con ngựa
c Con rùa
d Cả trâu, ngựa và rùa
Câu 6: Tiếng sáo gọi bạn tình trong đêm tình mùa xuân có tác động như thế nào
đối với Mị?
a Mị nghe một cách vô cảm, không xúc động
b Mị nghe và càng buồn thêm cho số phận
c Mị nghe và nhớ về quá khứ với nỗi đau đớn tuyệt vọng
d Gợi dậy lòng yêu sống vốn tiềm tàng trong con người Mị dẫn đến hành động
đấu tranh tự phát nhưng quyết liệt của cô
Câu 7: Chi tiết: “Mấy đêm A Phủ bị trói, Mị thấy nhưng vẫn thản nhiên ngồi
thổi lửa, hơ tay bên bếp” cho thấy Mị là người như thế nào?
a Mị là người vô tình vô cảm
b Quá quen thuộc với cảnh trói người tàn ác trong nhà thống lí
c Mị cũng chỉ là một nạn nhân bất lực, cô cũng có quá nhiều nỗi đau
- Phương pháp: nêu vấn đề, gợi tìm
- Kỹ thuật: đặt câu hỏi
Câu 1: Trong bức tranh mùa xuân ở Hồng Ngài của truyện ngắn Vợ chồng A
Phủ, chi tiết nghệ thuật nào được nhà văn đặc tả nhiều lần? Chi tiết ấy có vai trò gì trong việc thể hiện sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị?
Giáo viên gợi ý:
- Chi tiết nghệ thuật được đặc tả nhiều lần: âm thanh tiếng sáo
- Vai trò của tiếng sáo
+ Tiếng sáo là biểu tượng đẹp đẽ nhất của mùa xuân, của tình duyên, của tuổi thanh xuân căng đầy sức sống của Mị
Trang 23+ Trong đêm tình xuân, tiếng sáo ấy làm Mị “thiết tha , bồi hồi”, là tác nhân quan trọng làm thức dậy trong Mị khát vọng tình yêu và hạnh phúc - dấu hiệu đầu tiên của sự hồi tỉnh là Mị sống lại với những kỉ niệm ngày trước Nếu như trước đây,
Mị tồn tại trong trạng thái vô hồn, vô cảm, với cảm thức phi thời gian, thì bây giờ
Mị đã có ý thức về thời gian, trái tim đã đập những nhịp bồi hồi, xao xuyến, thôi thúc Mị bất chấp cảnh ngộ, muốn đi chơi
+ Tiếng sáo đã làm sống dậy sức sống tiềm tàng nhưng mãnh liệt ở nhân vật Mị
Câu Câu 2: Giá trị hiện thực và nhân đạo của truyện ngắn Vợ chồng A Phủ?
Giáo viên gợi ý:
Phủ" Dưới ánh sáng của cách mạng, A Phủ và Mị đã tham gia du kích, chuẩn bị cùng dân làng đánh Pháp sống cuộc sống của những con người tự do
b Giá trị nhân đạo:
- Bênh vực và cảm thông sâu sắc với những con người có số phận bất hạnh như
Mị, A Phủ -Tố cáo sự tàn bạo của giai cấp thống trị miền núi (tiêu biểu là cha con thống lí PáTra) - Trân trọng khát vọng tự do, hạnh phúc và phẩm chất tốt đẹp của người lao động nghèo miền núi trong xã hội cũ
- Đồng tình với tinh thần phản kháng, đấu tranh của những người bị áp bức và vạch
ra con đường giải phóng cho họ
Hoạt động 5: Tìm tòi, sáng tạo
1 Hãy kể tên những tác phẩm viết về số phận của những người dân miền núi Tây Bắc?
2 Tìm đọc các tác phẩm khác của Tô Hoài để thấy được tài năng của nhà văn trong việc miêu tả thế giới nội tâm của nhân vật
3 Hãy tái hiện lại khung cảnh mùa xuân ở Hồng Ngài bằng tranh vẽ
4 Nếu em là nhân vật Mị trong tác phẩm em sẽ làm gì?
5 Nhà nước ta đã có những chính sách đặc biệt nào dành cho người dân miền núi?
4 Củng cố
- Nắm được những nét cơ bản về tác giả, tác phẩm
- Hiểu được vẻ đẹp của nhân vật Mị và tư tưởng của nhà văn Tô Hoài
5 Dặn dò
- Hoàn thiện các bài tập phần Tìm tòi,sáng tạo
- Ôn lại nội dung bài học
- Chuẩn bị cho tiết học sau:
Trang 24+ Tìm hiểu về nhân vật A Phủ và mối quan hệ giữa Mị và A Phủ
+ Tìm hiểu cảnh xử kiện và ý nghĩa của cảnh xử kiện
+ Tìm hiểu cảnh Mị cởi trói cho A Phủ
- Hoàn thiện các phiếu học tập
* Giáo án soạn theo phương pháp truyền thống tiết 1 bài Vợ chồng A Phủ
- Ý thức tự giác, tích cực học tập của học sinh
B PHƯƠNG TIỆN THỰC HIỆN:
- SGK + SGV cùng một số tài liệu tham khảo
2 Kiểm tra bài cũ:
- Kiểm tra trong quá trình học bài mới
- Tô Hoài có quan niệm nghệ thuật “vị nhân sinh”
độc đáo và có phần quyết liệt : “Viết văn là một quá trình đào tạo để nói lên sự thật Đã là một sự thật thì không tầm thường, cho dù phải đập vỡ những thần tượng trong lòng người đọc”
Trang 25Hãy giới thiệu những nét
chính về tác phẩm và đoạn
trích?
Gọi học sinh tóm tắt văn
bản
Mị xuất hiện ngay ở
những dòng đầu tiên của
truyệnn ngắn Em cảm
nhận được điều gì về nhân
vật trong đoạn văn mở đầu
tác phẩm?
- Tô Hoài là nhà văn có vốn hiểu biết phong phú, sâu sắc về con người và phong tục tập quán của nhiều vùng khác nhau trên đất nước ta Văn Tô Hoài luôn hấp dẫn người đọc bởi lối trần thuật hóm hỉnh, sinh động trên cơ sở vốn sống, vốn từ vựng giàu có
2 Tác phẩm:
a Xuất xứ:
- “Vợ chồng A Phủ” (1952) in trong tập “Truyện Tây Bắc”- tác phẩm được giải nhất, giải thưởng Hội VHVN 1954-1955
- “Vợ chồng A Phủ” gồm có hai phần:
+ Phần đầu: cuộc đời của Mị và A Phủ ở Hồng Ngài
+ Phần sau: Mị và A Phủ ở Phiềng Sa
- Đoạn trích được học trong SGK là phần mở đầu của truyện ngắn
a Sự xuất hiện của nhân vật:
- Hình ảnh: Một cô con gái ngồi quay sợi bên tảng
đá, trước cửa, cạnh tàu ngựa… lúc nào cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi
- Một cô gái âm thầm, lẻ loi, sống như gắn vào những vật vô tri, vô giác
- Một cô con dâu nhà thống lí quyền thế, giàu sang
nhưng lúc nào cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi
Trước khi trở thành con
dâu gạt nợ Mị được giới
thiệu là người như thế
nào?
=> Cách giới thiệu nhân vật đầy ấn tượng tạo sự chú cho người đọc Hình ảnh Mị hoàn toàn tương phản với gia đình mà Mị đang ở =>báo hiệu một cuộc đời không bằng phẳng, một số phận nhiều ấm ức
b Bi kịch thân phận làm dâu gạt nợ:
* Mị trước khi về làm dâu gạt nợ nhà Thông Lí:
- Là cô gái trẻ đẹp và có tài thổi sáo; “Trai đến nhẵn
cả vách đầu buồng Mị”, Mị thổi sáo giỏi, Mị uốn chiếc lá trên môi, thổi lá cũng hay như thổi sáo Có biết bao nhiêu người mê, ngày đêm đã thổi sáo đi theo Mị
Trang 26Tìm những chi tiết miêu tả
cuộc sống của Mị ở nhà
thống lí Pá Tra?
- Một cô gái chăm làm, sẵn sàng lao động, không quản ngại khó khăn: “biết cuốc nương làm ngô” và sẵn sàng “làm nương ngô giả nợ thay cho bố”
- Một cô gái yêu đời, yêu cuộc sống, yêu tự do, không ham giàu sang, phú quý “bố đừng bán con cho nhà giàu”
- Một người con hiếu thảo: Mị săn sàng lao động vất
vả để trả món nợ truyền kiếp cho cha mẹ
=>Mị là một hình tượng đẹp về người thiếu nữ Tây Bắc
* Khi về làm dâu nhà Thống Lí:
- Nguyên nhân: Vì món nợ truyền kiếp bố mẹ vay gia đình nhà thống lí Pá Tra nên Mị bị bắt về làm dâu gạt nợ
-> Bề ngoài là con dâu (Mị là vợ A Sử) nhưng bên trong Mị chỉ là một thứ gán nợ, con nợ nên số phận
đã trói buộc Mị đến lúc tàn đời
- Lúc đầu: Mị phản kháng quyết liệt:
+ “Có đến hàng mấy tháng, đêm nào Mị cũng khóc:
…
+ Mị tính chuyện ăn lá ngón đê tìm sự giải thoát + Vì long hiếu thảo nên phải nén nỗi đau riêng, qay trở lại nhà thống lí
- Những ngày làm dâu: “Đời con dâu gạt nợ” của
Mị ở nhà thống lí là một quãng đời thê thảm, tủi cực, sống mà như chết:
+ Bị vắt kiệt sức lao động: biến thành một thứ công
cụ lao động, một kẻ nô lệ, làm việc quần quật quanh năm, suốt tháng không lúc nào ngơi nghỉ Mị thấy mình còn thua con trâu con ngựa trong nhà này
“ Tết xong thì lên núi hái thuốc phiện, giữa màu thì giặt đay, xe đay, đến mùa thì đi nương bẻ bắp và dù lúc đi hái củi, lúc bung ngô, lúc nào cũng gài một
bó đay trong cánh tay để tước thành sợi”
“Con ngựa con trâu làm còn có lúc, đêm nó còn đứng gãi chân, đứng nhai cỏ, đàn bà con gái nhà này thì vùi vào việc làm cả đêm cả ngày”
+ Mị dường như đã bị tê liệt cả long yêu đời, ham sống lẫn tinh thần phản kháng: ở lâu trong cái khổ
“nên quen khổ rồi”, “bây giờ Mị tưởng mình cũng
là con trâu, mình cũng là con ngựa”
+ Mị âm thầm như một cái bóng: “Mỗi ngày Mị càng không nói, lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa”
Trang 27Qua những chi tiết này nhà
văn muốn nói lên điều gì?
Ý định đi chơi của Mị có
thực hiện được không? tại
+ Mị như một tù nhân của chốn địa ngục trần gian,
đã mất tri giác về cuộc sống Bị giam cầm trong căn
phòng “ kín mít, có một chiếc cửa sổ một lỗ vuông bằng bàn tay Lúc nào trông ra cũng chỉ thấy trăng trắng, không biết là sương hay là nắng”
=> Nhà văn không chỉ gián tiếp tố cáo sự áp bức bóc lột của bọn địa chủ phong kiến miền núi mà còn nói lên một sự thật đau xót: Dưới ách thống trị của cường quyền bạo lực và thần quyền hủ tục người dân lao động miền núi TB bị chà đạp một cách tàn nhẫn về tinh thần đến mức tê liệt cảm giác
về sự sống, mất dần ý niệm về cuộc đời
c Sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị:
* Trong đêm tết mùa xuân:
- Mùa xuân ở Hồng Ngài được tác giả miêu tả rất đẹp, rất quyến rũ Cùng với vẻ đẹp thiên nhiên là không khí tưng bừng của ngày hội với tiếng khèn, tiếng sáo dìu dặt, thiết tha đã đánh thức tâm hồn của
Mị -> Mùa xuân mang vẻ đẹp đặc trưng của núi rừng Tây Bắc đánh thức khát vọng tình yêu hạnh phúc trong long người
- Diễn biến tâm lí, hành động của Mị:
+ Mị “lén lấy hũ rượu” “cứ uống ực từng bát”
=>cách uống rượu không bình thường mà như đang uống hận, nuốt hận trong lòng mình
+ Trong trạng thai vừa say vừa tỉnh lòng Mị sống về ngày trước, bồi hồi nhớ lại những kỉ niệm ngọt ngào của đời thiếu nữ Mị thấy lòng mình phơi phới trở lại, Mị tự nhân thức về mình “Mị còn trẻ lắm” + Mị ý thức được cảnh ngộ éo le của mình “A Sử với Mị không có lòng với nhau mà vẫn phải ở với nhau” ý nghĩ về cái chết lại xuất hiện Đó là khát vọng mãnh liệt muốn thoát khỏi cuộc sống mòn mỏi, phũ phàng
+ Tiếng gọi bạn yêu lơ lửng ngoài đường thôi thúc
Mị khiến Mị như quên cảnh ngộ của mình và Mị hành động như quên cảnh ngộ của mình và Mị hành
động như người tự do: Mị xắn mỡ bỏ thêm vào đĩa đèn cho sáng, Mị vấn lại tóc, lấy chiếc váy hoa và chuẩn bị đi chơi
hành động bứt phá cho thấy khát vọng tự do khát vọng hạnh phúc mãnh liệt
- Trong lúc lòng yêu đời đang trỗi dậy mãnh liệt cũng là khi Mị bị vùi dập phũ phàng A Sử biết ý định của Mị, hắn trói Mị vào cột nhà và ra đi