1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng dinh dưỡng trẻ em 25 đến 60 tháng tuổi dân tộc thiểu số và một số yếu tố liên quan tại hai xã vùng cao huyện bảo yên tỉnh lào cai năm 2019

64 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 266,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phần lớn các mụctiêu của Chiến lược Dinh dưỡng Quốc gia liên quan đến suy dinh dưỡngSDD trẻ em dưới 5 tuổi trong giai đoạn 2011 - 2015 đã đạt hoặc vượt; mức an ninh lương thực cũng đã đư

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kểtrong việc cải thiện tình trạng dinh dưỡng cho nhân dân Phần lớn các mụctiêu của Chiến lược Dinh dưỡng Quốc gia liên quan đến suy dinh dưỡng(SDD) trẻ em dưới 5 tuổi trong giai đoạn 2011 - 2015 đã đạt hoặc vượt; mức

an ninh lương thực cũng đã được tăng cường và khẩu phần ăn của người dân

đã được tăng lên về số lượng và đa dạng hóa về chất lượng; kiến thức và thựchành dinh dưỡng của người dân đã được cải thiện đáng kể, tỷ lệ suy dinhdưỡng thể nhẹ cân ở trẻ em dưới 5 tuổi đã giảm tương đối nhanh và liên tục…Tuy vậy, suy dinh dưỡng thể thấp còi vẫn còn cao Đặc biệt ở các khu vựcmiền núi biên giới khó khăn và các dân tộc thiểu số Bệnh gây nhiều hậu quảkhông tốt đến phát triển trí tuệ và thể lực của trẻ em những năm sau này Vềmặt xã hội, suy dinh dưỡng kìm hãm và gây nhiều thiệt hại về kinh tế bởi nótrực tiếp ảnh hưởng tới nguồn nhân lực, ảnh hưởng tới giống nòi Tỷ lệ suydinh dưỡng cao thường đi đôi với nghèo đói Ngân hàng thế giới (WB) đã ướctính suy dinh dưỡng làm giảm 5% GDP mỗi năm ở các nước Đông Nam Á.Những nghiên cứu gần đây còn cho thấy, những đứa trẻ bị suy dinh dưỡngvào những năm đầu của cuộc đời sau này thường có nguy cơ cao bị béo phì sovới trẻ bình thường

Tại Việt Nam tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi đã giảm trong 5năm qua; tỷ lệ trẻ em nhẹ cân giảm từ 17,5% vào năm 2010 xuống còn 13,8%trong năm 2016 Tuy nhiên, Việt Nam vẫn còn gần 1/4 trẻ em dưới 5 tuổi bịsuy dinh dưỡng thấp còi (24,3% năm 2016) Đặc biệt, tỷ lệ suy dinh dưỡngthấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi người dân tộc thiểu số cao gấp gần 2 lần so vớitrẻ em người dân tộc Kinh (32,1% so với 16,2%) Nguyên nhân là do đồngbào dân tộc thiểu số thường sinh sống ở vùng sâu, vùng xa và gặp nhiều khókhăn trong việc tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe; việc di chuyển từ nhà

Trang 2

đến các cơ sở y tế thường rất khó khăn, nhất là vào mùa mưa Phụ nữ dân tộcthiểu số thường cho trẻ ăn thức ăn thô từ rất sớm (từ 2-3 tháng tuổi) Tại một

số vùng, người dân không đủ lương thực, nước sạch và vệ sinh Trẻ em dântộc khi sinh ra chỉ có trung bình 20% bị suy dinh dưỡng nhưng đến khi 5 tuổicon số này đã tăng lên xấp xỉ 40%

Tỉnh Lào Cai là một tỉnh vùng cao biên giới, đời sống của nhân dân còngặp nhiều khó khăn, phong tục tập quán của người dân tộc còn nhiều lạc hậu.Đặc biệt tỉ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi trên địa bàn tỉnh còn ở mứcrất cao 35.2 % [41]

Hai xã Vĩnh Yên, Xuân Hòa là hai xã vùng cao đặc biệt khó khăn củahuyện Bảo Yên – tỉnh Lào Cai với tỷ lệ dân tộc thiểu số chiếm 96% Trongthời gian qua mặc dù được sự quan tâm của các cấp ủy đảng cũng như chínhquyền của huyện Bảo Yên nhưng tình hình kinh tế xã hội của hai xã VĩnhYên, Xuân Hòa vẫn gặp nhiều khó khăn đặc biệt tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ emcòn cao Để hiểu rõ hơn thực trạng này tại hai xã vùng cao Vĩnh Yên, XuânHòa làm cơ sở đề xuất các giải pháp thiết thực hơn nhằm cải thiện tình trạngdinh dưỡng cho trẻ em vùng cao này chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Thực trạng dinh dưỡng trẻ em 25 đến 60 tháng tuổi dân tộc thiểu số và một

số yếu tố liên quan tại hai xã vùng cao huyện Bảo Yên tỉnh Lào Cai năm 2019” nhằm mục tiêu sau:

1 Mô tả tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dân tộc thiểu số từ 25 đến 60tháng tuổi tại hai xã vùng cao huyện Bảo Yên tỉnh Lào Cai năm 2019

2 Xác định một số yếu tố liên quan đến suy dinh dưỡng ở trẻ em từ 25đến 60 tháng tuổi dân tộc thiểu số tại địa bàn nghiên cứu

Trang 3

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số nguyên nhân và hậu quả của suy dinh dưỡng ở trẻ em

1.1.1 Khái niệm về suy dinh dưỡng

Suy dinh dưỡng là tình trạng chậm lớn, chậm phát triển, do chế độ ăncủa trẻ không đảm bảo đủ nhu cầu protein và năng lượng, kèm theo đó là cácbệnh nhiễm khuẩn Những nghiên cứu về tỷ lệ suy dinh dưỡng đã chỉ ra cácnước thuộc châu Phi, châu Mỹ La Tinh và Đông Nam Á từ trước cho đến nayvẫn có tỷ lệ suy dinh dưỡng cao Không chỉ có tỷ lệ suy dinh dưỡng cao màcòn có tỷ lệ tử vong cao nhất do bị suy dinh dưỡng [33], [49], [57]

Mức độ thiếu dinh dưỡng protein năng lượng trung bình chung của cảnước đang ở ngưỡng ý nghĩa sức khỏe cộng đồng mức trung bình cho cả chỉtiêu nhẹ cân và thấp còi Suy dinh dưỡng ở trẻ dưới 5 tuổi không chỉ là hậuquả của thiếu ăn và các bệnh nhiễm trùng, mà chính suy dinh dưỡng làm chosức đề kháng kém, trẻ dễ mắc nhiễm trùng hơn, từ đó tạo ra vòng xoắn suydinh dưỡng và nhiễm trùng ở trẻ

1.1.2 Nguyên nhân dẫn đến suy dinh dưỡng ở trẻ em

Nguyên nhân trực tiếp

Nguyên nhân phổ biến của tình trạng SDD trẻ em là do chế độ ănkhông cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng theo nhu cầu của trẻ và tình trạngmắc các bệnh nhiễm khuẩn như: tiêu chảy, nhiễm khuẩn hô hấp cấp Nguyênnhân này càng phổ biến hơn ở các vùng nông thôn nghèo, những địa bàn cóđiều kiện kinh tế, văn hóa xã hội còn hạn chế, khả năng tiếp cận thông tintruyền thông giáo dục sức khỏe của người dân còn gặp khó khăn, kiến thức,thực hành chăm sóc sức khỏe và dinh dưỡng trẻ em của bà mẹ và người chămsóc trẻ không đầy đủ Thiếu VCDD gây nên tình trạng biếng ăn khiến trẻkhông hấp thu được các dưỡng chất cần thiết dẫn đến trẻ bị SDD [12], [47]

Trang 4

- Chế độ dinh dưỡng không đầy đủ:

Việc nuôi trẻ không đúng phương pháp khi mẹ thiếu hoặc mất sữa, chotrẻ ăn bổ sung không đúng cả về số lượng và chất lượng, mẹ thiếu kiến thứcdinh dưỡng hoặc không có thời gian chăm sóc con cái là nguyên nhân hàngđầu ảnh hưởng đến quá trình phát triển thể chất của trẻ Bên cạnh đó là khẩuphần ăn chưa cung cấp đủ nhu cầu khuyến nghị (NCKN) các VCDD như iốt,sắt, kẽm, vitamin A, D, C, vitamin nhóm B [1], [58]

Để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng ngày càng tăng sau 6 tháng được nuôihoàn toàn bằng sữa mẹ, trẻ dưới 1 tuổi cần được cung cấp các thực phẩm dinhdưỡng bổ sung để đảm bảo mức độ tăng trưởng tối đa Tuy nhiên, trẻ em dântộc thiểu số không có điều kiện để tiếp nhận chế độ dinh dưỡng đó Nhìnchung, chỉ có 39% trẻ là người dân tộc thiểu số trong độ tuổi từ 6 - 23 tháng

có chế độ dinh dưỡng đầy đủ, so với 69% trẻ em là người Kinh/Hoa

Dinh dưỡng rõ ràng là yếu tố then chốt nhưng tổng số năng lượng ănvào không đủ có khả năng là yếu tố ảnh hưởng tới thấp còi vì thấp còi thườngkhông kết hợp với gầy còm, nghĩa là năng lượng thường đủ để đứa trẻ duy trìcân nặng của nó phù hợp với chiều cao Chất lượng khẩu phần cần xem xéthơn là số lượng khẩu phần, trong đó vai trò của protein động vật, chất béo,các vi chất, vitamin, các axit amin và axit béo cần thiết [15], [25], [54], [63]

- Trẻ bị nhiễm khuẩn và các bệnh lý khác:

Tiêu chảy và nhiễm ký sinh trùng do trứng giun truyền qua đất từ lâu đãđược biết đến là nguyên nhân ảnh hưởng đến dinh dưỡng ở trẻ, khiến trẻ kémhấp thụ các chất dinh dưỡng Theo nhận định của Điều tra đánh giá các mụctiêu trẻ em và phụ nữ (MICS) năm 2014 của Việt Nam, tiêu chảy là một bệnhphổ biến gây ảnh hưởng lớn đến cộng đồng dân tộc thiểu số Kết quả điều tracho thấy, 18,5% trẻ em dân tộc thiểu số bị tiêu chảy tại thời điểm khảo sát, sovới chỉ 6,5% trẻ em là người Kinh/Hoa [29]

Trang 5

Nguyên nhân gián tiếp

- Tiếp cận các dịch vụ y tế: Dịch vụ chăm sóc trước sinh giúp phụ nữ

mang thai được cung cấp các dịch vụ về dinh dưỡng thiết yếu, bao gồm bổsung sắt-axit folic, bổ sung năng lượng và protein để duy trì dinh dưỡng cũngnhư dịch vụ tư vấn dinh dưỡng nhằm giúp họ có thực hành phù hợp về nuôidưỡng trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ Tuy nhiên, theo khảo sát MICS năm 2014, chỉ có32,7% phụ nữ là người dân tộc thiểu số trong độ tuổi 15 -49 và đã sinh controng vòng 2 năm trước cuộc khảo sát đã đi khám thai theo khuyến nghị trongkhi 82,1% phụ nữ là người Kinh đi khám khai từ 4 lần trở lên [29]

- Môi trường sống không đảm bảo vệ sinh Môi trường sống thể chấtkhông đảm bảo vệ sinh ảnh hưởng đến rối loạn chức năng đường ruột và dẫnđến tình trạng suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ Theo Khảo sát MICS 2014, chỉ

có 2,4% hộ dân tộc Kinh/Hoa phóng uế bừa bãi trong khi đây là thói quen của26,8% hộ gia đình dân tộc thiểu số Hơn nữa, 81,7% hộ gia đình là ngườiKinh/Hoa, so với 38,7% hộ gia đình dân tộc thiểu số, có sử dụng nguồn nướcsinh hoạt cũng như các công trình vệ sinh đảm bảo [29]

- Chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ chưa được đảm bảo Kết hônsớm và mang thai ở tuổi vị thành niên có thể làm tăng tỷ lệ tử vong ở phụ nữmang thai và trẻ sơ sinh, tăng tình trạng nhẹ cân khi sinh và suy dinh dưỡngthể thấp còi ở trẻ Theo Khảo sát MICS năm 2014, 23,9% phụ nữ dân tộcthiểu số ở độ tuổi 15 - 19 tuổi đã trải qua sinh nở, so với 5,1% phụ nữ ngườiKinh/Hoa [16],[29], [45], [51]

1.1.3 Hậu quả của suy dinh dưỡng ở trẻ em

a Hậu quả về y tế

SDD thấp còi gây ra các tác động tiêu cực lâu dài đến sức khỏe khôngchỉ ở hiện tại mà còn tác động đến cả các thế hệ sau này Các nguy cơ về sứckhỏe gắn liền với tình trạng thấp còi bắt đầu từ khi lọt lòng và kéo dài trong

Trang 6

suốt cuộc đời của trẻ và thường di truyền sang thế hệ tiếp theo Trong “Báocáo dinh dưỡng là trọng tâm của sự phát triển”, có trích dẫn: “Con của các bà

mẹ bị SDD thấp còi hoặc nhẹ cân thường có xu hướng bị thấp còi hoặc nhẹcân Bằng cách này, SDD được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác như một

sự kế thừa không mong muốn”

SDD thấp còi ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe của bà mẹ và ngườitrưởng thành Chậm tăng trưởng ở giai đoạn đầu đời không chỉ liên quan đếnchiều cao thấp khi trưởng thành mà còn gây ra một số rối loạn chuyển hóa vàcác bệnh mạn tính ở người trưởng thành [37], [43]

b Hậu quả về kinh tế - xã hội

SDD thấp còi còn ảnh hưởng đến sự phát triển của toàn bộ nền kinh

tế-xã hội của cả một quốc gia Ngân hàng thế giới ước tính rằng: mất 1% chiềucao người trưởng thành do còi cọc ở trẻ em đồng nghĩa với việc giảm 1,4%năng suất kinh tế Còi cọc có thể làm giảm tổng sản phẩm quốc nội của mộtquốc gia lên đến 3% [55], [61]

SDD thấp còi gây nhiều thiệt hại về kinh tế, kìm hãm sự phát triển của

xã hội bởi nó trực tiếp ảnh hưởng tới nguồn nhân lực, ảnh hưởng đến giốngnòi Ở những vùng có tỉ lệ SDD cao thường là các vùng có nền kinh tế chậmphát triển Ngân hàng thế giới đã ước tính SDD thấp còi ở nước ta làm giảm5% GDP mỗi năm [37]

c Suy dinh dưỡng thấp còi hạn chế khả năng học tập và lao động Thấp còi có liên quan chặt chẽ với khả năng học hỏi và đóng góp xâydựng, phát triển nền kinh tế quốc dân Trình độ học vấn thấp và khả năng pháttriển nhận thức hạn chế Thiếu dinh dưỡng và thường xuyên mắc các bệnhnhiễm khuẩn không chỉ ảnh hưởng đến phát triển chiều cao mà còn gây tổnthương đến chức năng và cấu trúc của não bộ, do đó làm chậm quá trình pháttriển nhận thức suy giảm nhận thức lâu dài Kết quả của tổng điều tra dinh

Trang 7

dưỡng cho thấy: SDD thấp còi xảy ra trong 2 năm đầu đời có liên quan đếngiảm số năm đến trường (giảm đi 0,9 năm), chậm đi học và tăng nguy cơ bịđúp (16%) [37] Nghiên cứu từ các nước đang phát triển khác cũng cho thấy:SDD thấp còi xảy ra trong khoảng 12 - 36 tháng tuổi thường đi kèm với khảnăng nhận thức kém hơn cũng như thành tích học tập thấp hơn ở tuổi thiếuniên [52], [59].

tỷ lệ thấp còi hầu như ít thay đổi Sau 20 năm, tỷ lệ SDD thấp còi vẫn daođộng trong mức 40,0%; trong khi đó châu Á có những chuyển biến mạnh mẽ,giảm đáng kể tỷ lệ SDD thấp còi từ 49,0% năm 1990 xuống còn 28,0% trongnăm 2010 [44], [62] Tuy nhiên, ở đa số các nước đang phát triển, thấp còivẫn còn là một vấn đề có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng trong giai đoạn hiệnnay Khoảng 80% trẻ dưới 5 tuổi thấp còi trên thế giới nằm ở 14 quốc giatrong đó nhiều quốc gia như Đông Timor, Burundi, Niger và Madagascar,Banglades, Campuchia, Camarun, Etiopia có tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi thấp còicao nhất (hơn một nửa trẻ em dưới 5 tuổi bị SDD thấp còi) Đến năm 2012 tỷ

lệ thấp còi chung toàn thế giới khoảng 25,0%; trong đó 56,0% ở Châu Á,36,0% ở châu Phi [48], [50], [52], [56]

Trang 8

Theo báo cáo của Tổ chức y tế thế giới công bố tháng 5/2012 cho thấytrong 15 năm vừa qua các quốc gia đang phát triển trung bình mới chỉ giảmđược 1,5% trẻ em SDD nhẹ cân Theo báo cáo về tình hình an ninh lươngthực thế giới năm 2016, FAO đã nhận định rằng số ca SDD toàn cầu tuy cógiảm sau 15 năm nhưng vẫn còn ở mức cao Do đó, tình trạng này sẽ khó cókhả năng đạt được “mục tiêu phát triển thiên niên kỷ thứ nhất’’ giảm một nửa

tỷ lệ SDD tại các nước đang phát triển từ 20,0% vào năm 1990-1992 xuốngcòn 10,0% vào năm 2015 [64]

Trong khi 98,0% nạn đói trên thế giới tập trung ở các nước đang pháttriển và chiếm đến 16,0% dân số thế giới thì tại từng khu vực cho thấy châu Á

là nơi tập trung chủ yếu của tình trạng SDD, đã tạo nên gánh nặng lớn về kinh

tế khi cải thiện tình trạng SDD tại khu vực này cũng như cản trở việc đạt đượcmục tiêu thiên niên kỷ thứ nhất [60]

Tại khu vực Đông Nam Á, tình trạng dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổicũng tương tự: tỉ lệ SDD thấp còi năm 1990 là 58,6% giảm xuống 33,9% vàonăm 2014; SDD nhẹ cân giảm từ 46,9% năm 1990 xuống 24,8% vào năm

2014 Báo cáo của WHO cho thấy, đến năm 2015 trên toàn cầu có 156 triệutrẻ em bị SDD thấp còi, chiếm khoảng 23,0% tổng số trẻ dưới 5 tuổi Nhiềubằng chứng cho thấy mặc dù số trẻ dưới 5 tuổi bị SDD thấp còi còn cao,nhưng tỉ lệ phân bố không đều ở các khu vực trên thế giới SDD thấp còi cómức độ trầm trọng hơn SDD thể nhẹ cân Ở các nước đang phát triển, trẻ ởnông thôn có nguy cơ mắc SDD thấp còi cao gấp 1,5 lần so với trẻ ở thànhphố Chiều hướng giảm SDD thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi cũng tương tự nhưvới SDD nhẹ cân Tỷ lệ SDD thấp còi ở các nước đang phát triển là 26,8%(2014), toàn thế giới là 22,5% (2013) Dự đoán đến năm 2020, tỷ lệ SDD thấpcòi trên toàn thế giới tiếp tục giảm Tỷ lệ SDD thấp còi ở các nước đang pháttriển sẽ tiếp tục giảm từ 29,8% năm 2000 xuống khoảng 16,3% năm 2020 Ở

Trang 9

Châu Phi mức độ giảm ít hơn rất nhiều, từ 34,9% xuống còn 31,1% trongkhoảng 20 năm tới [46], [53]

Đông

và N

am Phi

Mỹ L

a Tinh/ Caribê

Tỷ lệ này cũng khác nhau giữa các vùng sinh thái Điều tra của ViệnDinh dưỡng năm 2014 cho thấy những vùng có tỷ lệ SDD cao là TâyNguyên (22,6%), tiếp đến là Trung du và miền núi phía Bắc (19,8%) Nhìnchung ở vùng đồng bằng tỷ lệ SDD trẻ em thấp hơn ở các vùng khác [].Như vậy, tỷ lệ SDD trẻ em miền núi ở cả 3 thể luôn cao nhất Sự khác biệtkhá lớn về tỷ lệ SDD trẻ em ở các vùng sinh thái, giữa vùng nghèo ở khuvực nông thôn và các vùng khác, cũng như giữa các mức chi tiêu Giá trị

Trang 10

dinh dưỡng của khẩu phần người dân vùng nông thôn nghèo kém hơn rấtnhiều so với khu vực thành thị [29] Hiện có 28 tỉnh có tỷ lệ suy dinhdưỡng thể thấp còi cao hơn mức trung bình toàn quốc, trong đó có 12 tỉnhtrên 35%, là mức được xếp loại rất cao theo tiêu chuẩn của WHO Các tỉnhtập trung chủ yếu vào 3 vùng: Tây Nguyên, miền núi phía Bắc và Bắcmiền Trung [41].

Năm 2014, điều tra trên toàn quốc trong khuôn khổ hoạt động giám sátdinh dưỡng hằng năm Số liệu điều tra thường được thu thập do Trung tâm Y

tế Dự phòng tỉnh tiến hành dưới sự chỉ đạo kỹ thuật của Viện Dinh dưỡng chothấy Tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi bị SDD thể thấp còi là 24,9%, nhẹ cân là 14,5% vàgày còm là 6,8%; trong khi đó tỷ lệ trẻ bị thừa cân và béo phì là 5,5% Tỷ lệthấp còi và nhẹ cân ở trẻ trai cao hơn so với trẻ gái Ở trẻ dưới 6 tháng tuổi,không có sự khác biệt nào về tình trạng thấp còi, nhưng có một chút khác biệt

về tình trạng nhẹ cân và gầy còm [40]

Tỷ lệ thấp còi, nhẹ cân và gầy còm khác biệt tuỳ thuộc tỉnh thành điềutra Ở Đà Nẵng, tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi bị SDD thể thấp còi là 14%, nhẹ cân là3,9% và gày còm là 4%; trong khi đó tỷ lệ trẻ bị thừa cân và béo phì là 11%

Ở Hà Nội tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi bị SDD thể thấp còi là 15%, nhẹ cân là 6,1% vàgày còm là 5,8%; trong khi đó tỷ lệ trẻ bị thừa cân và béo phì là 4,6% ỞThành phố Hồ Chí Minh tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi bị SDD thể thấp còi là 7,1%, nhẹcân là 4,9% và gày còm là 2,6%; trong khi đó tỷ lệ trẻ bị thừa cân và béo phì

là 12,9% Tuy nhiên ở một số tỉnh thành lại cao hơn hẳn như ở Hà Giang, tỷ lệtrẻ dưới 5 tuổi bị SDD thể thấp còi là 35,2%, nhẹ cân là 23,1% và gày còm là9,8%; trong khi đó tỷ lệ trẻ bị thừa cân và béo phì là 2,8% Ở Ninh Thuận tỷ

lệ trẻ dưới 5 tuổi bị SDD thể thấp còi là 27,3%, nhẹ cân là 18,9% và gày còm

là 6,6%; trong khi đó tỷ lệ trẻ bị thừa cân và béo phì là 3,5% Ở Đắk Nông tỷ

Trang 11

lệ trẻ dưới 5 tuổi bị SDD thể thấp còi là 33,3%, nhẹ cân là 22,1% và gày còm

là 7,1%; trong khi đó tỷ lệ trẻ bị thừa cân và béo phì là 2% [40]

Các kết quả nghiên cứu của Viện Dinh dưỡng Việt Nam đến năm 2014cho thấy: Phân bố SDD ở nước ta không đồng đều giữa các vùng sinh thái,nhiều địa phương miền núi tỷ lệ SDD cao hơn hẳn vùng đồng bằng Tại Đồngbằng sông Hồng tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi bị SDD thể thấp còi là 20,3%, nhẹ cân là10,2% và gày còm là 5,2%; trong khi đó tỷ lệ trẻ bị thừa cân và béo phì là4,7%.Vùng núi và cao nguyên phía Bắc tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi bị SDD thể thấpcòi là 30,7%, nhẹ cân là 19,8% và gày còm là 8,2%; trong khi đó tỷ lệ trẻ bịthừa cân và béo phì là 3,9% Bắc miền Trung và ven biển miền Trung tỷ lệ trẻdưới 5 tuổi bị SDD thể thấp còi là 28,1%, nhẹ cân là 17% và gày còm là6,7%; trong khi đó tỷ lệ trẻ bị thừa cân và béo phì là 4,7% Vùng Tây Nguyên

tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi bị SDD thể thấp còi là 34,9%, nhẹ cân là 22,6% và gàycòm là 7,8%; trong khi đó tỷ lệ trẻ bị thừa cân và béo phì là 3,5% Đông Nam

Bộ tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi bị SDD thể thấp còi là 18,3%, nhẹ cân là 8,4% và gàycòm là 5,4%; trong khi đó tỷ lệ trẻ bị thừa cân và béo phì là 10,5% Đồngbằng sông Cửu Long tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi bị SDD thể thấp còi là 24%, nhẹ cân

là 13% và gày còm là 6,8%; trong khi đó tỷ lệ trẻ bị thừa cân và béo phì là5,6% [40]

SDD cũng có liên quan mật thiết với tình trạng kinh tế, xã hội củangười dân Tỷ lệ SDD nhẹ cân của trẻ em ở nông thôn (13,8%) cao hơn vùngthành thị (7,1%) Tương tự, tỷ lệ SDD thấp còi của trẻ em ở vùng nông thôn(21,8%) cao hơn vùng thành thị (12,1%), tỷ lệ SDD gày còm của trẻ em ởvùng nông thôn (6,6%) cao hơn vùng thành thị (5,0%) [40]

Kết quả của tác giả Nguyễn Thanh Hà khi nghiên cứu về tình trạng đa

vi chất của trẻ từ 6-36 tháng tuổi SDD thấp còi tại huyện Gia Bình tỉnh BắcNinh cho thấy, thiếu máu, thiếu vitamin A và thiếu kẽm trên trẻ SDD thấp còi

Trang 12

đều ở mức nặng theo phân loại của WHO Trẻ bị SDD thấp còi có tỷ lệ thiếu

đa vi chất khá cao Có 37,6% số trẻ SDD thấp còi thiếu 1 loại vi chất, 23,5%trẻ thiếu 2 vi chất kết hợp và 8,2% tổng số trẻ SDD thấp còi thiếu kết hợp cả 3loại vi chất [11]

Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Xuân Ninh khi mô tả thực trạng suydinh dưỡng của trẻ từ 6-36 tháng tuổi tại Thái Nguyên cho thấy suy dinhdưỡng vẫn còn ở mức ý nghĩa cộng đồng đặc biệt là suy dinh dưỡng thể thấpcòi Tỷ lệ SDD ở nam cao hơn nữ, tập trung chủ yếu ở nhóm tuổi 24-36tháng, thấp nhất ở nhóm tuổi 0-12 tháng Nhóm tuổi 18-24 tháng có gần20% số trẻ bị suy dinh dưỡng độ 2 thể nhẹ cân, gần 30% trẻ suy dinh dưỡng

độ 2 thể thấp còi [21] Nghiên của tác giả Nguyễn Thị Oanh khi đánh giátình trạng SDD ở trẻ dưới 5 tuổi tại một số xã phường tỉnh Đồng Tháp, kếtquả cho thấy tỷ lệ SDD chung về cân nặng là 19,4% và về chiều cao là18,9%.Theo nhóm tuổi, tỷ lệ SDD chiếm cao nhất là nhóm trẻ 4 tuổi, thấpnhất là nhóm trẻ 1 tuổi [22]

Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Minh Phương khi xác định tỷ lệ suydinh dưỡng thấp còi và một số yếu tố liên quan ở trẻ tại thành phố Cần Thơcho thấy tỷ lệ SDD thấp còi chiếm 14,6%, yếu tố ảnh hưởng đến thấp còi làsống ở nông thôn, kinh tế nghèo, học vấn cha mẹ thấp, trẻ ăn dưới 3 bữachính 1 ngày, không ăn sáng, tiếp xúc thường xuyên với khói thuốc lá [23].Nghiên cứu của tác giả Đỗ Thị Hạnh Trang tại Quảng Bình trên 355 trẻ từ 6đến 59 tháng tuổi cho thấy tỷ lệ trẻ SDD thể nhẹ cân, gầy còm và thấp còi lầnlượt là 17,5%; 4,8%; 54,9%, phần lớn là SDD độ 1 [30]

Nghiên cứu của tác giả Lê Thị Hương trên nhóm đối tượng tại huyệnYên Thủy nhằm mục đích đánh giá tình trạng suy dinh dưỡng và tìm hiểu cácyếu tố liên quan ở trẻ em dưới 5 tuổi Kết quả cho thấy trong 400 trẻ tham gianghiên cứu: Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng thể thấp còi, nhẹ cân, gầy còm lần lượt

Trang 13

là 52,2%; 23,5% và 6,9% [14] Nghiên cứu của tác giả Huỳnh Văn Dũng khiđánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi tại thị xã Thủ Dầu Một,tỉnh Bình Dương kết quả: 710 trẻ < 36 tháng tuổi SDD thể nhẹ cân 42,7%,thể thấp còi 61,5%, thể gầy còm 5,6% [8] Lương Thị Thu Hà nghiên cứuthực trạng suy dinh dưỡng thiếu protein, năng lượng ở trẻ em dưới 5 tuổi tại 2

xã của huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên cho thấy tỷ lệ SDD của trẻ emtrong nghiên cứu ở mức rất cao: Thể nhẹ cân là 35,4%, thể thấp còi là 41,5%,thể gầy còm là 8,4% SDD mức độ nhẹ là chủ yếu gặp ở thể nhẹ cân, thấp còi:SDD độ I thể nhẹ cân là 29,6%, thể thấp còi là 27,5% Độ tuổi có tỷ lệ SDDcao ở nhóm tuổi 13 - 48 tháng tuổi - Ở thể nhẹ cân, tỷ lệ SDD trẻ gái cao hơntrẻ trai, ở trẻ em người dân tộc thiểu số cao hơn trẻ em người kinh [10]

Nghiên cứu của tác giả Ninh Thị Nhung tại 2 trường mầm non thuộc 2xã/phường của Thành phố Thái Bình năm 2011 cho thấy: tỉ lệ SDD là 14,0%trong đó SDD độ I chiếm 94,3%, còn lại 5,7%, SDD độ II, không có SDD độIII SDD cao nhất ở nhóm tuổi 25 đến 36 tháng chiếm 16,5% Tỉ lệ còi cọc là19,8%, tăng dần theo các nhóm tuổi Tỉ lệ gầy mòn là 7,4%, tỉ lệ thừa cân, béophì là 2,6% Năng lượng khẩu phần không đạt so với nhu cầu đề nghị ở tất cảcác nhóm tuổi ở cả 2 khu vực, tỉ lệ trẻ đạt nhu cầu về năng lượng chỉ có 15,6

% Có trên 90% số trẻ đạt nhu cầu đề nghị về protid trong đó khu vực thànhthị cao hơn khu vực nông thôn [20]

Nghiên cứu của Nguyễn Văn Thịnh tại xã Vũ Phúc Thành phố TháiBình năm 2013 cho thấy: Tỉ lệ SDD cân nặng theo tuổi là 13,9% trong đó chủyếu là SDD độ I chiếm 11,2%, còn 0,3% trẻ SDD độ III SDD thể nhẹ cânthấp nhất ở nhóm tuổi dưới 12 tháng Tỉ lệ còi cọc là 23,1%, tỉ lệ còi cọc có

xu hướng tăng dần theo nhóm tuổi Tỉ lệ gầy mòn là 6,9%, ở trẻ nam là 7,4%lại cao hơn trẻ nữ là 6,5%, không có sự khác biệt về tỉ lệ SDD các thể theo

Trang 14

giới Tỉ lệ thừa cân béo phì là 3,2%, ở trẻ nữ là 4% cao hơn trẻ nam là 2,5%,tập trung ở nhóm tuổi 49 - 60 tháng tuổi

Nghiên cứu gần đây của Trần Quang Trung năm 2014 về thực trạngSDD thấp còi ở trẻ dưới 5 tuổi vùng ven biển Tiền Hải, Thái Bình cho thấy;tình trạng SDD ở trẻ em dưới 5 tuổi phổ biến nhất là tỉ lệ mắc thể thấp còi(26,9%) rồi đến thể nhẹ cân (11,1%) và thấp nhất là thể gầy còm (4,5%), tỉ lệSDD tăng lên theo tuổi, tăng nhanh từ nhóm 13 - 24 tháng và tỉ lệ cao nhất từcác nhóm trẻ trên 24 tháng [32]

Nghiên cứu của tác giả Đặng Hoàng Cương năm 2016 khi khảo sátthực trạng suy dinh dưỡng ở trẻ thấp còi từ 25 đến 48 tháng tuổi tại 3 xã,huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, tỉ lệ trẻ em thấp còi 25 - 48 tháng tuổi là25,8%, trong đó trẻ thấp còi độ 1 chiếm 92,9 %, độ 2 chiếm 7,1% Số trẻ mắc

ít nhất một thể SDD chiếm 36,2% tiếp theo là thấp còi đơn thuần (17%), thểphối hợp (12,9%), thể nhẹ cân đơn thuần (3,3%), thừa cân béo phì (2,8%),thấp nhất là thể gầy còm đơn thuần (2%) [6]

Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Minh Chính năm 2018 khi đánh giátình trạng dinh dưỡng và hiệu quả can thiệp gạo tăng cường sắt, kẽm ở trẻ em

từ 36 đến dưới 60 tháng tuổi tại huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình, cho thấy tỷ lệSDD thấp còi của trẻ từ 36 đến dưới 60 tháng tuổi còn cao (26,2%), SDD thểnhẹ cân là 12,7%, SDD gầy còm là 4,2% và chỉ có 3% trẻ bị thừa cân, béophì Trẻ nam và nhóm trẻ 48 - <60 tháng tuổi có nguy cơ SDD cao hơn trẻ nữ

và nhóm 36-47 tháng, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05 Tỷ lệthiếu máu của trẻ cũng rất cao, tới 23,9% [5]

Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thúy Hồng, Lưu Thị Mỹ Thục về

tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi tại khoa hô hấp bệnh viện Nhitrung ương cho thấy suy dinh dưỡng ở nhóm tuổi 13-26 tháng chiếm tỷ lệ caonhất Có 130 trẻ bị suy dinh dưỡng trong 1000 trẻ nhập viện, thời gian điều trị

Trang 15

kéo dài ở nhóm trẻ SDD vừa và nặng [13] Nghiên cứu của tác giả Chu ThịPhương Mai, Lương Tuấn Dũng và một số tác giả khác cũng cho các kết quảtương tự [9], [17], [28], [32]

1.2.3 Thực trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em dân tộc thiểu số Việt Nam

Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam thường xuyên đối mặt với tình trạngthiếu dinh dưỡng Nguyên nhân là do đồng bào dân tộc thiểu số thường sinhsống ở vùng sâu, vùng xa và gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận dịch vụchăm sóc sức khỏe; việc di chuyển từ nhà đến các cơ sở y tế thường rất khókhăn, nhất là vào mùa mưa Phụ nữ dân tộc thiểu số thường cho trẻ ăn thức ănthô từ rất sớm (từ 2-3 tháng tuổi) Tại một số vùng, người dân không đủ lươngthực, nước sạch và vệ sinh

Khi phân tích dữ liệu năm 2015 được phân chia theo nhóm dân tộc đãcho thấy dân tộc Kinh có tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi là 17,5%, trong khi

tỷ lệ này ở các nhóm dân tộc khác là 31,4% Trên thực tế, khoảng cách về tỷ

lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi giữa các nhóm dân tộc chiếm đa số và cácnhóm dân tộc thiểu số thậm chí đã nới rộng, từ mức chênh lệch 14,3 điểmphần trăm năm 2010 lên mức 16,4 điểm phần trăm năm 2015 Tình trạng suydinh dưỡng thể thấp còi ở trẻ em từ các hộ gia đình dân tộc thiểu số khôngđược cải thiện nhiều với tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi chỉ giảm 5,0 điểm phầntrăm trong vòng năm năm, so với mức giảm 7,1 điểm phần trăm ở trẻ em dântộc Kinh Tình hình suy dinh dưỡng thể nhẹ cân cũng có xu hướng tương tự,trong đó tỷ lệ toàn quốc đã giảm mạnh từ 33,8% năm 2000 xuống còn 14,1%năm 2015, nhưng tỷ lệ trong nhóm dân tộc Kinh năm 2015 là 9,7% so với tỷ

lệ ở các nhóm dân tộc khác là 21,9% Trong khi đó, tỷ lệ suy dinh dưỡng thểgầy còm toàn quốc đã giảm từ 8,6 xuống còn 5,6% trong giai đoạn 2000-

2015, nhưng tỷ lệ này trong nhóm dân tộc Kinh là 5,5% so với tỷ lệ này trongcác nhóm dân tộc khác là 8,6% [29]

Trang 16

Tình hình thiếu hụt dinh dưỡng tại khu vực miền núi phía Bắc và TâyNguyên còn nghiêm trọng hơn với tỷ lệ suy dinh dưỡng cao nhất trong cảnước Dữ liệu từ Khảo sát đa cụm chỉ số cho thấy tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡngthấp còi ở khu vực miền núi phía bắc (30,7%) và Tây Nguyên (34,9%) vẫnđang ở mức đáng báo động Hệ quả là các nhóm dân tộc thiểu số chiếm đại bộphận dân cư tại hầu hết (nhưng không phải toàn bộ) các tỉnh có tỷ lệ suy dinhdưỡng thể thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi cao nhất [29].

Các dân tộc khác Toàn quốc Dân tộc kinh

Biểu đồ 1.1 Xu hướng tình hình suy dinh dưỡng thể thấp còi theo nhóm

dân tộc: Việt Nam, năm 2010-2015[18]

Bảng 1.1 Các tỉnh có tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi

cao nhất tại Việt Nam [18]

Tỉnh Tỷ lệ

thấp còi

ở trẻ em

Tổng sốtrẻ dưới

5 tuổi

Số trẻSDDthấp còi

Ước tính tỷ

lệ trẻ làngười dântộc thiểu số

Ước tính tỷ lệtrẻ là người dântộc thiểu sốSDD thấp còi

Trang 17

số trẻ được cân khi sinh so với tỉ lệ ở dân tộc Kinh là 5,2% 14,6% các bà mẹngười dân tộc thiểu số không có điều kiện cân được em bé khi sinh cho biếtcon của mình rất nhỏ hoặc nhỏ hơn mức trung bình Chỉ 8,7% các bà mẹngười Kinh đưa ra nhận định tương tự Tại khu vực trung du và miền núi phíaBắc, 6,2% số trẻ được xác định là nhẹ cân khi sinh thông qua việc đo cânnặng và tỷ lệ này ở khu vực Tây Nguyên là 7,2% Nhìn chung, 85,6% trẻ sơsinh ở Tây Nguyên và 79,2% trẻ sơ sinh ở vùng núi phía Bắc được cân saukhi sinh [18], [29].

Sau khi trẻ được 6 tháng tuổi, phụ nữ trong các hộ gia đình dân tộcthiểu số với điều kiện an ninh lương thực không được đảm bảo sẽ ưu tiên chotrẻ ăn các loại thực phẩm thiết yếu hoặc nông sản từ vườn thay vì các loạithực phẩm đắt tiền giàu protein và chất béo Việc chuyển đổi cơ cấu cây trồngkhiến nông sản bị hạn chế về chủng loại và không thể mang lại giá trị dinhdưỡng đa dạng Nguyên nhân khác dẫn đến chế độ dinh dưỡng thiếu đa dạngtrong hai năm đầu đời của trẻ là do những tín ngưỡng và cấm kỵ về văn hóa

xã hội của các nhóm dân tộc thiểu số khác nhau

Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Song Tú xác định thực trạng suy dinhdưỡng thấp còi trên trẻ vị thành niên 11-14 tại 5 trường phổ thông dân tộc bántrú huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái cũng cho thấy tỷ lệ SDD thấp còi là 43,6%

Trang 18

(tỷ lệ SDD thấp còi mức độ nặng là 13,8%; mức độ vừa là 29,8%); Tỷ lệ SDDthấp còi dao động theo lứa tuổi, từ 43,6 % đến 46,4% (nam) và 39,2% -46,6% (nữ) Tỷ lệ SDD thấp còi cao nhất là trẻ dân tộc H’ mông (71,2%) vàtiếp theo là Dao (40,5%) [34]

Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thanh Nga khi xác định tình trạngsuy dinh dưỡng ở trẻ dưới 5 tuổi tại huyện Đơn Dương tỉnh Lâm Đồng chothấy tỷ lệ suy dinh dưỡng chung của trẻ dưới 5 tuổi ở thể nhẹ cân là 14,1%,thấp còi 27,0% và thể gầy còm là 4,4% Trẻ dân tộc thiểu số bị suy dinhdưỡng cao hơn trẻ dân tộc Kinh cả 3 thể (Nhẹ cân: 22,8% và 8,6%, Thấp còi:34,6% và 22,3%, Gầy còm: 3,7% và 2,8%) Tỷ lệ suy dinh dưỡng vùng khôngkhó khăn, khó khăn và đặc biệt khó khăn: thể nhẹ cân (10,4%, 12,2% và37,3%), thể thấp còi (19,2%, 26,4% và 34,2%), thể gầy còm (2,9%, 3,9% và6,3%).Tình trạng suy dinh dưỡng thấp còi và nhẹ cân còn phổ biến ở trẻ dântộc thiểu số [19]

Nghiên cứu của tác giả Ngô Trọng Trung về tình trạng dinh dưỡng trẻ

em dưới 5 tuổi tại hai xã đặc biệt khó khăn và hoạt động phòng chống suydinh dưỡng của huyện Mộc Châu tỉnh Sơn La năm 2018 cho thấy tỷ lệ SDDthấp còi của trẻ dưới 5 tuổi là rất cao (49,7%), trong đó 26,5% trẻ bị suy dinhdưỡng thấp còi độ 1 và độ 2 là 23,2% Trẻ em dân tộc Mông SDD thấp còi là53,6%, dân tộc Thái là 45,9%; các dân tộc khác là 45,5% Tỷ lệ trẻ em SDDthấp còi cao nhất ở nhóm dưới 24 tháng tuổi (30,1%) Tỷ lệ SDD thể nhẹ cân

là 24,6%, SDD gầy còm là 14,1%, cao gấp quá 2 lần so với mặt bằng chungcủa cả nước, trong đó trẻ nam chiếm tỷ lệ cao hơn trẻ nữ Tỉ lệ trẻ SDD ởLóng Sập là 64,9% cao hơn gấp 1,54 lần so với Chiềng Khừa với p<0,05).Trẻ có cân nặng sơ sinh dưới 2500g có tỉ lệ suy dinh dưỡng cao gấp 6,6 lần sovới trẻ có cân nặng sơ sinh trên 2500g với p<0,05 Tỉ lệ suy dinh dưỡng ở trẻkhông được bú mẹ có cao gấp 1,5 lần trẻ được bú mẹ, trẻ ăn bổ sung sớm cao

Trang 19

gấp 1,64 trẻ ăn sam đúng với p<0,05 Trẻ bị ốm trong tháng qua có tỉ lệ suydinh dưỡng cao gấp 1,54 lần so với trẻ khỏe mạnh (p<0,05) [31].

Ngoài những khác biệt tương đối rõ ràng này, mức độ chênh lệch cònxuất hiện trong vấn đề thiết hụt vi chất dinh dưỡng - còn được gọi là nạn đóitiềm ẩn Trước đó, Tổng điều tra dinh dưỡng năm 2009-2010 (VDD/BYT2010) đã phân tích dữ liệu về tỷ lệ thiếu máu ở trẻ em theo vùng sinh thái.Theo đó, khu vực trung du và miền núi phía bắc có tỷ lệ thiếu máu cao nhất,

ví dụ 42% trẻ em trong độ tuổi 6-11 tháng bị thiếu máu Theo Kế hoạch hànhđộng quốc gia, mục tiêu tới năm 2020 là giảm tỷ lệ thiếu máu ở phụ nữ cóthai toàn quốc xuống dưới 23% và ở vùng miền núi xuống dưới 25,5% vàgiảm tỷ lệ thiếu máu ở trẻ em dưới 5 tuổi xuống dưới 15%

Theo báo cáo của chính phủ Việt nam, đến năm 2018, tỷ lệ trẻ bị thiếumáu cao nhất luôn nằm ở vùng trung du và miền núi miền Bắc, cũng là địabàn sinh sống của 75% các nhóm dân tộc thiểu số Trong khi tỷ lệ thiếu máu ởtrẻ em tại Việt Nam là 27,8%, con số này với trẻ em là người dân tộc thiểu số

là 43% Là nguyên nhân làm tăng nguy cơ trẻ sinh non và sinh nhẹ cân, thiếusắt cũng là vấn đề phổ biến với trẻ em khu vực miền núi (81%) so với khuvực thành thị với phần lớn dân số là người Kinh (50%)

Tỷ lệ thiếu máu tại khu vực miền núi phía Bắc và Tây Nguyên ở trẻ em6-17 tháng tuổi cao gấp hai lần tỷ lệ toàn quốc ở trẻ em dưới 5 tuổi Mức độphổ biến phân tách theo khu vực trong dữ liệu quốc gia là vấn đề lớn Đồngthời, tỷ lệ thiếu máu rất cao ở trẻ dưới 5 tháng tuổi cũng rất đáng quan ngại,phản ánh nguồn sắt dự trữ không đủ ở người mẹ trong thai kỳ và giai đoạnngay sau khi sinh Khác biệt về tỷ lệ thiếu máu tại khu vực miền núi phía Bắc

và khu vực Tây Nguyên cho thấy thành phần các nhóm dân tộc và điều kiện ởhai vùng này không giống nhau Nguyên nhân của sự khác biệt trên bao gồmtình trạng thiếu máu ở người mẹ; tính khả dụng, chất lượng và tình hình sử

Trang 20

dụng đất đai; điều kiện vệ sinh cá nhân và vệ sinh môi trường; tỷ lệ mắc bệnh

và lựa chọn thực phẩm mang tính văn hóa

Như vậy có thể thấy trẻ em dân tộc thiểu số là nhóm đối tượng chịunhiều thiệt thòi, có điều kiện sống khó khăn hơn nhóm trẻ dân tộc Kinh về cácmặt kinh tế, giáo dục, thông tin, giao thông, Hơn nữa, tuy tỷ lệ SDD trẻ emchung toàn quốc đã giảm đáng kể trong những thập kỷ qua; nhưng ở nhóm trẻdân tộc ít người, tỷ lệ SDD vẫn còn rất cao và tốc độ giảm chậm, đặc biệt làSDD thể thấp còi Chính vì vậy, hướng tới và ưu tiên nguồn lực thực hiện cácchương trình cải thiện dinh dưỡng cho nhóm trẻ này là định hướng đúng, phùhợp với thực trạng SDD trẻ em tại Việt Nam

1.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng suy dinh dưỡng trẻ em.

- Cung cấp thức ăn cho trẻ chưa hợp lý

Vấn đề sản xuất ra lương thực, thực phẩm sẽ ảnh hưởng trực tiếp tớiviệc tiêu thụ lương thực, thực phẩm Ở đâu tỷ lệ suy dinh dưỡng cao đồngnghĩa là ở đó sản xuất ra lương thực còn thiếu, ở những vùng có tỷ lệ SDDcao thì thường số hộ thiếu ăn chiếm tỷ lệ cao Nghiên cứu của nhiều tác giảđều cho thấy khẩu phần thực tế của trẻ em Việt Nam thiếu cả về số lượng, mấtcân đổi về chất lượng (khẩu phần chủ yếu là gạo, rau và gần như rất ít thịt,trứng, cá) Hàm lượng protit và năng lượng khẩu phần nhóm trẻ SDD thấphơn nhóm trẻ bình thường, khẩu phần không cân đối

Nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 4-6 tháng tuổi và tiếp tục cho trẻ

bú ít nhất đến 2 tuổi làm giảm bệnh tật trẻ Phần lớn các nghiên cứu cho thấytrẻ dưới 1 tuổi không được bú sữa mẹ đầy đủ sẽ nguy cơ mắc bệnh ỉa chảy lớnhơn so với trẻ được bú mẹ hoàn toàn

Việc sử dụng thức ăn bổ sung cho trẻ hợp lý và đảm bảo vệ sinh cũngđóng vai trò lớn trong phòng ngừa suy dinh dưỡng trẻ em [4]

Bên cạnh đó chế độ ăn cho trẻ đang điều trị các bệnh cấp tính tại các cơ

Trang 21

sở y tế cũng ảnh hưởng tới suy dinh dưỡng trẻ em [18], [24].

- Học vấn, kiến thức, thái độ và thực hành nuôi dạy con, phòng chống SDD của mẹ hoặc người nuôi trẻ:

Học vấn, kiến thức, thái độ, thực hành nuôi dạy con, PCSDD của mẹhoặc người nuôi trẻ trong chăm sóc trẻ có ảnh hưởng rất lớn tới tình trạngdinh dưỡng của trẻ [36] Những nghiên cứu ở cộng đồng cũng thấy trong sốtrẻ em SDD, có 71% là con thứ nhất, 60% các bà mẹ không biết cách cho con

ăn bổ sung và không biết “tô màu bát bột” cho trẻ Đối với trẻ còn đang bú

mẹ, yếu tố nuôi con bằng sữa mẹ và ăn bổ sung đã được nhiều tác giả nghiêncứu và thấy có sự khác biệt rõ rệt về trình độ văn hoá cũng như kiến thức dinhdưỡng giữa nhóm bà mẹ có con SDD và nhóm bà mẹ có con khoẻ mạnh [3]

- Các bệnh nhiễm trùng thường gặp

SDD và nhiễm trùng đã được nhiều nghiên cứu đề cập đến trong nhiềunăm qua Bệnh nhiễm khuẩn là một trong những nguyên nhân trực tiếp dẫnđến tăng tỷ lệ trẻ em SDD, đặc biệt là bệnh tiêu chảy và viêm đường hô hấpcấp Các bệnh này gây tăng nhu cầu, giảm ngon miệng, và kém hấp thụ củatrẻ em Nghiên cứu trên 2 nhóm trẻ dinh dưỡng tốt và dinh dưỡng kém chothấy, ở nhóm dinh dưỡng kém trước khi mắc SDD trẻ thường rất lười ăn, ăn íthay bị ốm vặt, tỷ lệ mắc bệnh ỉa chảy kéo dài và viêm phế quản phổi thường

bị tái đi tái lại nhiều lần Như vậy trẻ lười ăn và hay ốm vặt sẽ là hai yếu tố đedọa dẫn đến SDD nặng

- Nhiễm ký sinh trùng đường ruột cũng là nguyên nhân quan trọng gây

ra SDD, thiếu máu ở trẻ em Một số nghiên cứu về nhiễm giun ở trẻ em chothấy tỷ lệ nhiễm giun rất cao (khoảng 60-95%) với các loại giun chủ yếu làgiun đũa và giun móc Nhiễm các loại giun cũng là vấn đề cần được nghiêncứu để tìm ra các giải pháp phù hợp Nhiễm ký sinh trùng đường ruột là mộtvấn đề sức khoẻ cộng đồng ở các nước đang phát triển do điều kiện vệ sinh

Trang 22

môi trường không đảm bảo Nhiễm giun làm cho trẻ chán ăn, giảm hấp thucác chất dinh dưỡng, thiếu máu, và gây ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡngcủa trẻ Nhiễm ký sinh trùng đường ruột với cường độ cao và trong một thờigian dài có thể gây suy dinh dưỡng như thấp còi, nhẹ cân và ở những trường

hợp nặng có thể gây tử vong [29], [2] Nghiên cứu của Siramaneerat và cộng

sự tại Indonesia và của tác giả Lyengar K J M ở vùng nông thôn Rajasthan,India đã đưa ra mối liên quan giữa nhiễm kí sinh trùng đường ruột và suy dinhdưỡng trẻ em [66], [67]

- Suy dinh dưỡng do thiếu vi chất.

Vi chất dinh dưỡng là những chất mà cơ thể chỉ cần một lượng rất nhỏ,miligram hoặc microgram Chúng có vai trò rất quan trọng giúp cơ thể sảnxuất các enzym, hóc môn và các chất thiết yếu khác cho cơ thể phát triển, tăngtrưởng, hoạt động một cách bình thường Thiếu vi chất dinh dưỡng sẽ gây rahậu quả hết sức nghiêm trọng đổi với sức khoẻ Các nghiên cứu gần đây vềảnh hưởng của thiếu vi chất dinh dưỡng đến suy dinh dưỡng thể thấp còi, đặcbiệt chú ý là ảnh hưởng của thiếu Vitamin A, sắt, iốt, và thiếu kẽm [7] Thiếuvitamin A gây bệnh khô mắt, quáng gà thậm chí mù loà [6], [65] Trẻ thiếuvitamin A có nguy cơ tăng mắc các bệnh nhiễm trùng như tiêu chảy, sởi vànhiễm khuẩn hô hấp Thiếu iốt gây bệnh bướu cổ, ảnh hưởng đến phát triển trítuệ, phụ nữ mang thai thiếu iốt trầm trọng có thể bị sẩy thai, đẻ non Thiếusắt, iốt, vitamin A hiện đang là vấn đề sức khoẻ cộng đồng toàn cầu, đối tượng

bị ảnh hưởng nhiều là trẻ em và phụ nữ, nhất là ở các nước đang phát triển[36] Hiện nay, trên thế giới nói chung và các nước đang phát triển nói riêng,

tỷ lệ thiếu máu thiếu sắt đang ở mức cao, trong đó đối tượng nguy cơ cao nhất

là trẻ em dưới 5 tuổi Ở Việt Nam, thiếu máu thiếu sắt trẻ em < 5 tuổi nôngthôn là 45,6%, đồng bằng là 45,8%, thành thị là 22,9%, miền núi là 53,2% Tỷ

lệ thiếu máu khác nhau ở vùng sinh thái, thành phố là 38%, nông thôn là

Trang 23

49,4% Thiếu máu làm giảm phát triển trí tuệ, giảm khả năng tập trung tronghọc tập, kết quả học tập của học sinh bị thiếu máu thấp hơn hẳn so với trẻbình thường; làm tăng nguy cơ đẻ non, tăng tỷ lệ mắc bệnh và tử vong của mẹ

và con Hiện nay, trẻ em dưới 5 tuổi là nhóm nguy cơ cao nhất ở các nướcđang phát triển Tỷ lệ thiếu máu ở trẻ cao hơn cả tỷ lệ thiếu máu ở bà mẹmang thai Nhất là giai đoạn 6-18 tháng tuổi, vì nhu cầu trong giai đoạn này làcao nhất, cao hơn khoảng gấp 10 lần, tính theo trọng lượng cơ thể [29]

- Một số yếu tố ảnh hưởng, nguyên nhân khác

Điều kiện kinh tế gia đình: sự nghèo đói vẫn được biết đến như là gốc

rễ của tình trạng suy dinh dưỡng Chúng tôi tìm thấy mối tương quan thống kêgiữa SDD thể thấp còi với điều kiện kinh tế gia đình Tỷ lệ SDD thấp còi ởnhóm trẻ thuộc hộ nghèo là 36,4%, gấp 2,4 lần so với nhóm trẻ thuộc những

hộ không nghèo Sự khác biệt này phản ánh hậu quả lâu dài của sự nghèo đóilên sự phát triển của trẻ So với SDD nhẹ cân với SDD cấp tính thì SDD thấp

còi chịu ảnh hưởng sâu sắc hơn trước sự nghèo đói [3].

Cân nặng lúc sinh của trẻ: những trẻ có cân nặng lúc sinh dưới 2.500gbao gồm trẻ sinh thiếu tháng, hoặc trẻ sinh đủ tháng nhưng bị SDD bào thai

Tỷ lệ SDD nhẹ cân và thấp còi ở những trẻ này lần lượt là 42,1% và 47,4%,cao hơn hẳn so với những trẻ có cân nặng lúc sinh từ 2.500g trở lên (13,4% và16,2%) Các sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p<0,05) Trẻ bị SDD bàothai thì có nguy cơ tử vong cao, dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn, chậm pháttriển thể chất và vận động hơn những đứa trẻ sinh đủ trọng lượng, và dĩ nhiênviệc chăm sóc nuôi dưỡng cũng khó khăn hơn Trẻ em gái bị suy dinh dưỡngthấp còi lớn lên trở thành phụ nữ suy dinh dưỡng thấp còi và khi đẻ con thìnguy cơ suy dinh dưỡng thấp còi cho con là cao hơn [3]

Nghề nghiệp của mẹ: tỷ lệ SDD nhẹ cân và thấp còi ở những trẻ có bà

mẹ làm nghề nông cao hơn hẳn so với những nghề khác Sự khác biệt này có

Trang 24

ý nghĩa thống kê với p <0,05 Nghề nghiệp của người mẹ có liên quan chặtchẽ đến điều kiện kinh tế gia đình Đa số những bà mẹ làm nghề nông có điềukiện kinh tế khó khăn hơn so với những ngành nghề khác, chưa kể đến thờigian chăm sóc con cái cũng eo hẹp hơn Bên cạnh đó, chúng ta cũng có thểnhận thấy mối liên quan giữa nghề nghiệp với trình độ học vấn cũng như điềukiện tiếp cận với các phương tiện truyền thông, những thông tin về chăm sóc

dinh dưỡng cho trẻ [2].

Trình độ học vấn của mẹ: chúng tôi tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩathống kê về tình trạng SDD (cả 3 thể) với trình độ học vấn của bà mẹ Kết quảphân tích cho thấy tỷ lệ SDD càng cao ở những trẻ có mẹ có trình độ học vấncàng thấp Điều này cho thấy yếu tố về cách nuôi dưỡng, cách chăm sóc (thểhiện qua trình độ học vấn của người phụ nữ) có vai trò rất quan trọng đối vớitình trạng SDD của trẻ em

Dinh dưỡng trong quá trình mang thai và cho con bú của các bà mẹcũng có ảnh hưởng lớn đến tình trạng suy dinh dưỡng của đứa con được đẻ ra[2] Cách cho trẻ ăn bổ sung: tỷ lệ SDD thấp còi ở những trẻ được cho ăn bổsung đúng cách là 11,7%, thấp hơn nhiều so với nhóm trẻ được cho ăn bổsung không đúng cách (23,8%) Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p

<0,05 Kết quả này phù hợp với nghiên cứu tại bệnh viện Nhi Đồng II [26]

Công tác chăm sóc sức khoẻ bà mẹ cũng ảnh hưởng trực tiếp đến tìnhtrạng dinh dưỡng của trẻ em, vì sức khoẻ của trẻ em phụ thuộc vào sức khoẻ

và thể lực của mẹ Nếu mẹ gầy còm, ốm yếu, thiếu máu khi có thai thì đứa trẻsinh ra sẽ thiếu cân Các tác giả nhận thấy: tình trạng dinh dưỡng của nhómtrẻ ở bà mẹ chỉ số BMI < 18,5 (mẹ gầy) thấp hơn ở nhóm bà mẹ mà chỉ sốBMI > 18,5

Quy mô hộ gia đình cũng được cho là liên quan đến tỷ lệ SDD trẻ em.Những gia đình có nhiều con (> 3 con) có tỷ lệ SDD trẻ em cao hơn hẳn Lý

Trang 25

do có thể là đông con dẫn đến hậu quả kinh tế gia đình càng kém và điều kiệnchăm sóc trẻ em cũng kém hơn [35].

Thời tiết, khí hậu diễn biến phức tạp, hạn hán, thiếu nước trồng trọt nênnăng suất cây trồng giảm, mất mùa, sản lượng lương thực giảm, ảnh hưởngđến an ninh lương thực, dẫn đến số hộ đói nghèo nguy cơ tăng Đồng thờithiếu nước sinh hoạt không bảo đảm vệ sinh ăn uống cũng dễ làm bệnh dịchphát sinh Các yếu tố này đều dẫn đến nguy cơ làm tăng số trẻ SDD [38]

Chế độ ăn và chế độ chăm sóc cho trẻ bị suy dinh dưỡng cũng ảnhhưởng đến khả năng thoát khỏi suy dinh dưỡng của trẻ Bên cạnh đó việc thựchiện công tác phòng chống suy dinh dưỡng của cán bộ y tế cấp xã, phường vàthôn bản cũng ảnh hưởng lớn đến tình trạng suy dinh dưỡng trẻ em tại khuvực đó [27]

Trang 26

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Địa bàn nghiên cứu

Huyện Bảo Yên là huyện miền núi của tỉnh Lào Cai, Huyện nằm ở phíađông nam tỉnh Lào Cai, phía bắc giáp huyện Bắc Hà và Bảo Thắng, phía tâygiáp huyện Văn Bàn, phía đông là huyện Quang Bình (Hà Giang), phía nam

là huyện Văn Yên và Lục Yên (Yên Bái) Toàn huyện có 17 xã và 01 thị trấn,với dân số 84.997 và 20.970 hộ, có 28 anh em dân tộc cùng sinh sống trong

đó Dân tộc thiểu số là 64.794 người chiếm 76,2% dân số toàn huyện bao gồmdân tộc Tày là 28.767 người chiếm 44,3%; dân tộc Dao là 20.802 ngườichiếm 32,2%; dân tộc Mông là 10.662 người chiếm 16,4% Trẻ em từ 25-60tháng tuổi là 8.959 trẻ chiếm 10,5% dân số toàn huyện (tính đến tháng 6/2019tại báo cáo sơ bộ kết quả tổng điều tra dân số và nhà ở 01/04/2019)

Xuân Hòa là xã miền núi đặc biệt khó khăn của huyện Bảo Yên nằmcách trung tâm thị trấn 12 Km về phía đông, điều kiện kinh tế và giao thôngkém phát triển, có tổng diện tích tự nhiên là 7.532,04 ha Phía bắc giáp xãVĩnh Yên, phía nam giáp xã Xuân Thượng, phía đông giáp xã Nà Khương(huyện Quang Bình, tỉnh Hà Giang), phía tây giáp xã Tân Dương Trên 90,5%

số dân trong xã là người dân tộc thiểu số bao gồm các dân tộc: Tày, Dao,Mông, Nùng, Phù Lá, Mường, Kinh tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo chiếm tới69% số hộ của xã Tại xã có 25 thôn bản, có tổng số 1.817 hộ, Tổng dân số là8.550 nhân khẩu, số trẻ em 25-60 tháng tuổi là 286 trẻ

Vĩnh Yên là xã miền núi đặc biệt khó khăn của huyện Bảo Yên nằmcách trung tâm thị trấn 24 Km về phía nam, điều kiện kinh tế và giao thôngkém phát triển, có diện tích tự nhiên là 6214,11 ha Phía bắc giáp xã Nghĩa

Đô - huyện Bảo Yên, phía tây giáp giáp bản Cái - huyện Bắc Hà, phía nam

Trang 27

giáp xã Xuân Hoà - huyện Bảo Yên, phía đông giáp xã Yên Thành - tỉnh HàGiang Trên 91,4% số dân trong xã là người dân tộc thiểu số bao gồm các dântộc: Tày chiếm 23%, Hmông chiếm 35%, Dao chiếm 12%, còn lại là các dântộc khác như Nùng, Phù Lá, Mường, Kinh Tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèochiếm 57% số hộ của xã Xã có 11 thôn bản, trong đó có 6 thôn tập trung trên90% dân tộc Mông, dân tộc Dao và dân tộc Tày sinh sống.Tổng dân số là

6580, số trẻ em từ 25-60 tháng tuổi là 454 trẻ

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu

- Trẻ em từ 25 đến 60 tháng tuổi dân tộc thiểu sống tại địa bàn nghiên cứu

- Bà mẹ của những trẻ từ 25 đến 60 tháng tuổi dân tộc thiểu số được

chọn vào nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại trừ đối tượng nghiên cứu:

- Trẻ mắc các bệnh mạn tính, các dị tật bẩm sinh, bệnh cấp tính nặng tạithời điểm điều tra

- Bà mẹ có tâm sinh lý không bình thường

2.1.3 Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 10/2019 đến tháng 12/2019: Thu thập số liệu

- Từ tháng 1-6/2020: Xử lý số liệu, viết báo cáo và bảo vệ luận văn

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Là một nghiên cứu dịch tễ học mô tả có phân tích qua cuộc điều tracắt ngang nhằm:

- Xác định tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dân tộc thiểu số từ 25 đến 60tháng tuổi tại hai xã vùng cao huyện Bảo Yên tỉnh Lào Cai năm 2019

- Mô tả một số yếu tố liên quan đến suy dinh dưỡng ở trẻ em từ 25 đến

60 tháng tuổi dân tộc thiểu số tại địa bàn nghiên cứu

Trang 28

2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu:

a/ Cỡ mẫu: Xác định tình trạng dinh dưỡng ở trẻ em từ 25 đến 60 tháng tuổi

p.(1-p)

n = Z2

(1 - α / 2)

d 2

Trong đó:

n : là số trẻ em cần để đánh giá tình trạng dinh dưỡng

Z((1-α/2)) với độ tin cậy tương ứng với xác xuất 95% thì là 1,96

p : là tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em thể thấp còi Lào Cai năm 2014( theobáo cáo của viện dinh dưỡng 2014 ) p = 32%) []

d: là sai số, lấy d = 0,06

Vậy n= 233 trẻ Dự trữ 10% trẻ do phiếu điều tra thiếu thông tin

Cỡ mẫu tính toàn n = 257 trẻ Do chọn mẫu chùm để tăng độ chính xác nên

cỡ mẫu nhân đôi Vậy số trẻ cần điều tra là 257 x 2 = 514 trẻ Thực tế có 522 trẻ emtham gia đánh giá tình trạng dinh dưỡng và phỏng vấn 522 bà mẹ của những trẻđược đánh giá tình trạng dinh dưỡng

Tại xã Xuân Hòa chọn toàn bộ số trẻ em từ 25 đến 60 tháng tuổi được

245 trẻ đáp ứng các tiêu chuẩn chọn mẫu và loại mẫu đủ điều kiện tham gianghiên cứu

Tại xã Vĩnh Yên: Chủ động chọn 6 thôn có trên 90% dân tộc Mông,Tày, Dao sinh sống Chọn toàn bộ số trẻ em từ 25 đến 60 tháng tuổi được 277

Trang 29

trẻ đáp ứng các tiêu chuẩn chọn mẫu và loại mẫu đủ điều kiện tham gianghiên cứu.

+ Chọn bà mẹ để phỏng vấn: Chọn toàn bộ các bà mẹ có con từ 25-60

tháng tuổi tham gia đánh giá TTDD để phỏng vấn tìm một số yếu tố liên quan

2.2.3 Các biến số và chỉ số nghiên cứu

- Phân bố trẻ tham gia nghiên cứu theo giới tính, tháng tuổi và địa bànnghiên cứu

- Giá trị trung bình cân nặng, chiều cao của trẻ theo giới tính, nhómtuổi và địa bàn nghiên cứu

- Giá trị trung bình các chỉ số Z-score của trẻ theo giới tính và nhómtuổi, địa bàn nghiên cứu

- Phân loại tình trạng dinh dưỡng của trẻ theo giới tính và theo dântộc, theo nhóm tuổi

- Mức độ suy dinh dưỡng thể thấp còi, thể nhẹ cân, thể gày còm củatrẻ em theo giới, nhóm tuổi, địa bàn nghiên cứu

-Tỷ lệ trẻ mắc phối hợp với các thể suy dinh dưỡng theo giới tính, nhómtuổi, địa bàn, theo dân tộc

- Mối liên quan giữa tình trạng SDD của trẻ với giới, địa bàn nghiên cứu

- Mối liên quan giữa tình trạng SDD của trẻ với cân nặng sơ sinh vàdân tộc của trẻ

- Mối liên quan giữa tình trạng SDD của trẻ theo trình độ học vấn,nghề nghiệp của bà mẹ

- Mối liên quan giữa tình trạng SDD của trẻ với người chăm sóc chínhcho trẻ và tuổi thai của trẻ khi sinh

- Mối liên quan giữa tình trạng SDD của trẻ với hoàn cảnh gia đình

- Mối liên quan giữa tình trạng SDD với số con của bà mẹ và khoảngcách giữa các lần sinh

Trang 30

- Mối liên quan giữa tình trạng SDD với tăng cân khi mang thai của

bà mẹ và số lần khám thai

- Mối liên quan giữa tình trạng SDD với bà mẹ được uống vi chất dinh dưỡng

- Mối liên quan giữa tình trạng SDD với lao động khi mang thai vàthòi gian đi làm trở lại sau sinh

- Mối liên quan giữa tình trạng SDD với tiền sử mắc bệnh

2.2.4 Các kỹ thuật áp dụng trong nghiên cứu

2.2.4.1 Tính tháng tuổi

Sử dụng cách tính tuổi của WHO đang sử dụng ở Việt Nam Tuổi trẻ

em được xác định từ ngày, tháng, năm sinh ghi trong sổ theo dõi sơ sinh củatrạm Y tế xã, những trẻ em không được đẻ tại trạm Y tế xã thì cán bộ nghiêncứu phỏng vấn kỹ các bà mẹ về ngày sinh của con mình và ghi rõ ngày âmhay ngày dương lịch sau đó tra bảng qui về ngày dương lịch Trong trườnghợp mẹ nhớ không chính xác thì dựa vào ngày tháng ghi trong giấy khai sinh.Căn cứ ngày, tháng, năm sinh và ngày điều tra để tính tháng tuổi của trẻ TheoWHO (2007), tháng tuổi của trẻ được qui ước như sau:

 Trẻ đẻ ra sống 1 ngày đến 29 ngày: 1 tháng tuổi

 Trẻ 1 tháng 1 ngày đến trẻ 1 tháng 29 ngày: 2 tháng tuổi

 Trẻ từ 59 tháng 1 ngày đến 59 tháng 29 ngày : 60 tháng tuổi

2.2.4.2 Kỹ thuật nhân trắc

- Xác định cân nặng của trẻ:

Trước khi điều tra phải kiểm tra độ chính xác của cân Trẻ em được cởi

bỏ hết quần áo dài, giày, dép, mũ, các vật nặng trên người trẻ (nếu có) đểđảm bảo chính xác cân nặng thực tế của trẻ

Đặt trẻ lên bàn cân khi cân trẻ có sự hỗ trợ của các bà mẹ hoặc kỹthuật viên khác để có thể cân nhanh cho trẻ,hạn chế để trẻ quấy khóc, ngãkhỏi bàn cân Cân nặng của trẻ được tính bằng kilôgam (kg) và ghi chính xác

Trang 31

tới một chữ số thập phân.

- Kỹ thuật xác định chiều cao đứng của trẻ trên 24 tháng tuổi:

Dụng cụ: Dụng cụ đo chiều cao đứng cho trẻ là một thước dây đượcdán sát vào mặt tường sao cho thước dây vuông góc với mặt đất và vạch 0trên thước dây và chạm tới mặt đất

Cách đo: Trẻ được đứng thẳng, mắt nhìn thẳng, các mốc chấm bả vai,mông, gót để được chạm mặt tường Dùng một tấm gỗ phẳng (20cm x 30cm)đặt vuông góc với mặt tường và chạm tới đỉnh đầu của trẻ

Đọc và ghi lại kết quả đo được vào phiếu điều tra

Phân loại trẻ em SDD theo WHO 2007.

Sử dụng các số đo nhân trắc dinh dưỡng và phân loại trẻ em theo 3 chỉtiêu: Cân nặng theo tuổi (CN/T) (Weight for Age: W/A), Chiều cao theo tuổi(CC/T) (Height for Age: H/A), cân nặng theo chiều cao (CN/CC) (Weight forHeight: W/H)

+ Trẻ nhẹ cân: khi trẻ có CN/T Zscore < - 2 SD và được chia làm 2 mức

độ CN/T Zscore từ - 2 SD đến – 3SD là nhẹ cân độ 1 và CN/T Zscore > - 3SD

là nhẹ cân độ 2

+ Trẻ thấp còi: khi trẻ em có CC/T Zscore < - 2SD và được chia làm 2

mức độ CC/T Zscore từ - 2 SD đến – 3SD là thấp còi độ 1 và CC/T Zscore >-3SD là thấp còi độ 2

+ Trẻ gầy còm: khi trẻ em có CN/CC zscore < -2SD và được chia làm 2mức độ CN/CC Zscore từ - 2 SD đến – 3SD là gày còm độ 1 và CN/CCZscore > - 3SD là gày còm độ 2

+ Trẻ thừa cân béo phì: khi trẻ có CN/CC zscore > + 2SD

2.2.4.3 Phỏng vấn

Xây dựng bộ phiếu điều tra, hướng dẫn điều tra phù hợp với đối tượng được chọn vào điều tra

Trang 32

Tìm hiểu các yếu tố liên quan tới tình trạng dinh dưỡng của trẻ thôngqua phỏng vấn trực tiếp bà mẹ (phụ lục số1)về nuôi con bằng sữa mẹ, ăn bổsung hợp lý, kiến thức, thực điều kiện nuôi con của bà mẹ để thông qua bộcâu hỏi được thiết kế và thử nghiệm trước khi tiến hành điều tra.

2.2.5 Tổ chức triển khai

- Các điều tra viên được tập huấn các chỉ số cần thu thập trong quátrình điều tra Thống nhất nội dung và cách thức điều tra để đạt đuợc hiệu quảcao nhất

- Cuối buổi tập huấn các điều tra viên cùng nhau thảo luận rút kinhnghiệm truớc khi tiến hành cuộc điều tra

- Tổ chức triển khai

+ Ngay sau khi chọn được các xã tham gia nghiên cứu, điều tra đượctiến hành theo phương pháp cuốn chiếu từ xã này sang xã khác bởi cùng mộtnhóm cán bộ, cộng tác viên nghiên cứu

+ Kiểm tra cân nặng, chiều cao của trẻ và phỏng vấn bà mẹ được tổchức ngay tại xã

2.2.6 Xử lý số liệu

- Toàn bộ số liệu điều tra được nhập máy tính bằng phần mềm Epi data3.1 và xử lý bằng phần mềm Stata 16.0

- Kết quả nghiên cứu được trình bày bằng bảng tỷ lệ %, biểu đồ

- Các giá trị trung bình, độ lệch chuẩn Sự khác nhau giữa 2 giá trịtrung bình được kiểm định bằng test Mann-whitney So sánh giữ các tỷ lệ sửdụng test x2 Khoảng tin cậy là 95% được áp dụng cho toàn bộ các test Nhậnđinh có sự khác biệt khi giá trị p < 0,05

2.2.7 Các biện pháp khống chế sai số

Ngày đăng: 27/11/2021, 20:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
10. Lương Thị Thu Hà (2008), Nghiên cứu thực trạng suy dinh dưỡng thiếu protein, năng lượng ở trẻ em dưới 5 tuổi tại 2 xã của huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên, Luận văn Thạc sĩ y học dự phòng, Trường Đại học y khoa - Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thực trạng suy dinh dưỡngthiếu protein, năng lượng ở trẻ em dưới 5 tuổi tại 2 xã của huyện PhúLương tỉnh Thái Nguyên
Tác giả: Lương Thị Thu Hà
Năm: 2008
11. Nguyễn Thanh Hà (2011), Hiệu quả bổ sung kẽm và Sprinkles đa vi chất trên trẻ 6-36 tháng tuổi suy dinh dưỡng thấp còi tại huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh, Luận án Tiến sĩ dinh dưỡng cộng đồng, Viện dinh dưỡng quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệu quả bổ sung kẽm và Sprinkles đa vichất trên trẻ 6-36 tháng tuổi suy dinh dưỡng thấp còi tại huyện GiaBình, tỉnh Bắc Ninh
Tác giả: Nguyễn Thanh Hà
Năm: 2011
12. Phạm Văn Hoan (2009), Ăn uống theo nhu cầu dinh dưỡng của bà mẹ và trẻ em Việt Nam, Nhà xuất bản Y học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ăn uống theo nhu cầu dinh dưỡng của bà mẹvà trẻ em Việt Nam
Tác giả: Phạm Văn Hoan
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học Hà Nội
Năm: 2009
13. Nguyễn Thị Thúy Hồng (2011), "Nghiên cứu tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi tại khoa hô hấp bệnh viện Nhi trung ương ", Tạo chí y học Việt Nam tháng 7(1), tr. 46-50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tỷ lệ suy dinh dưỡng củatrẻ em dưới 5 tuổi tại khoa hô hấp bệnh viện Nhi trung ương
Tác giả: Nguyễn Thị Thúy Hồng
Năm: 2011
14. Lê Thị Hương (2011), "Tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan của trẻ em dưới 5 tuổi vùng dân tộc Mường tại huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình." Tạp chí Y học thực hành. 768(6), tr. 27-32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liênquan của trẻ em dưới 5 tuổi vùng dân tộc Mường tại huyện Yên Thủy,tỉnh Hòa Bình
Tác giả: Lê Thị Hương
Năm: 2011
15. Trần Chí Liêm (2008), "Một số nguyên nhân và yếu tố liên quan đến suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi tại một số địa điểm thuộc Bắc Cạn", Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh. 12(4), tr. 243-249 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nguyên nhân và yếu tố liên quan đếnsuy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi tại một số địa điểm thuộc BắcCạn
Tác giả: Trần Chí Liêm
Năm: 2008
16. Trần Quý Long (2015), "Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng suy dinh dưỡng chiều cao theo tuổi của trẻ em dưới 5 tuổi", Nghiên cứu Gia đình và Giới. 12(1), tr. 12-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng suy dinhdưỡng chiều cao theo tuổi của trẻ em dưới 5 tuổi
Tác giả: Trần Quý Long
Năm: 2015
19. Nguyễn Thị Thanh Nga (2015), "Tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ dưới 5 tuổi tại huyện Đơn Dương tỉnh Lâm Đồng ", Tạp chí y học dự phòng 6(166), tr. 67-69 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ dưới5 tuổi tại huyện Đơn Dương tỉnh Lâm Đồng
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Nga
Năm: 2015
20. Ninh Thị Nhung (2012), "Tình trạng dinh dưỡng và đặc điểm khẩu phần của trẻ em từ 25-60 tháng tuổi tại 2 trường mầm non thuộc 2 xã/phường của thành phố Thái Bình", Tạp chí Y học thực hành, 802(1), tr. 29-33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình trạng dinh dưỡng và đặc điểm khẩuphần của trẻ em từ 25-60 tháng tuổi tại 2 trường mầm non thuộc 2xã/phường của thành phố Thái Bình
Tác giả: Ninh Thị Nhung
Năm: 2012
21. Nguyễn Xuân Ninh (2016), "Tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ từ 6 đến 36 tháng tuổi tại xã Thành Công và Phúc Thuận huyện Phổ Yên, Thái Nguyên", Tạp chí Y học Cộng đồng, 32(5), tr. 15-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ từ 6 đến36 tháng tuổi tại xã Thành Công và Phúc Thuận huyện Phổ Yên, TháiNguyên
Tác giả: Nguyễn Xuân Ninh
Năm: 2016
22. Nguyễn Thị Oanh (2015), "Tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi tại một số xã, phường thuộc Thị trấn Hồng Ngự, tình Đồng Tháp", Tạp chí Khoa học, 17(9), tr. 16-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5tuổi tại một số xã, phường thuộc Thị trấn Hồng Ngự, tình Đồng Tháp
Tác giả: Nguyễn Thị Oanh
Năm: 2015
23. Nguyễn Minh Phương (2014), "Suy dinh dưỡng thể thấp còi và một số yếu tố liên quan ở trẻ từ 11-14 tuổi Thành phố Cần Thơ", Tạp chí Y học Việt Nam, 34 (2), tr. 24-41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suy dinh dưỡng thể thấp còi và một sốyếu tố liên quan ở trẻ từ 11-14 tuổi Thành phố Cần Thơ
Tác giả: Nguyễn Minh Phương
Năm: 2014
24. Phạm Thúy Quỳnh (2018), "Đánh giá thực trạng chăm sóc thiết yếu bà mẹ, trẻ sơ sinh trong và ngay sau sinh tại bệnh viện phụ sản Hà Nội 2018", Tạp chí khoa học Điều dưỡng, 2(1), tr. 47-52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá thực trạng chăm sóc thiết yếu bàmẹ, trẻ sơ sinh trong và ngay sau sinh tại bệnh viện phụ sản Hà Nội2018
Tác giả: Phạm Thúy Quỳnh
Năm: 2018
26. Đặng Thị Mỹ Tánh (2015), "Đánh giá hiệu quả chăm sóc trẻ sinh non và nhẹ cân bằng phương pháp Căng-gu-ru tại khoa sơ sinh bệnh viện Nhi Đồng 2", Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 19(6), tr. 142- 149 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiệu quả chăm sóc trẻ sinh nonvà nhẹ cân bằng phương pháp Căng-gu-ru tại khoa sơ sinh bệnh việnNhi Đồng 2
Tác giả: Đặng Thị Mỹ Tánh
Năm: 2015
27. Thủ tướng Chính phủ (2015), "Kết quả 15 năm thực hiện các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ", Báo cáo quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả 15 năm thực hiện các mục tiêuphát triển thiên niên kỷ
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2015
28. Phạm Vân Thúy (2014), "Tỷ lệ thiếu máu, thiếu kẽm và thiếu vitamin A ở trẻ 12-72 tháng tuổi năm 2010", Tạp chí Y học thực hành, 914(4), tr.155-159 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỷ lệ thiếu máu, thiếu kẽm và thiếu vitamin Aở trẻ 12-72 tháng tuổi năm 2010
Tác giả: Phạm Vân Thúy
Năm: 2014
30. Đỗ Thị Hạnh Trang (2015), "Suy dinh dưỡng ở trẻ em 6-59 tháng tuổi sau bão lũ tại Quảng Sơn, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình năm 2013", Tạp chí Y học Cộng đồng, tập 15+16, tr. 26-34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suy dinh dưỡng ở trẻ em 6-59 tháng tuổisau bão lũ tại Quảng Sơn, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình năm2013
Tác giả: Đỗ Thị Hạnh Trang
Năm: 2015
31. Ngô Trọng Trung (2018), Tình trạng dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi tại hai xã đặc biệt khó khăn và hoạt động phòng chống suy dinh dưỡng của huyện Mộc Châu tỉnh Sơn La năm 2018, Luận án bác sĩ chuyên khoa II, Trường đại học Y Dược Thái Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình trạng dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi tạihai xã đặc biệt khó khăn và hoạt động phòng chống suy dinh dưỡngcủa huyện Mộc Châu tỉnh Sơn La năm 2018
Tác giả: Ngô Trọng Trung
Năm: 2018
32. Trần Quang Trung (2014), Thực trạng suy dinh dưỡng thấp còi và hiệu quả cải thiện khẩu phần cho trẻ dưới 5 tuổi tại vùng ven biển Tiền Hải, Thái Bình, Luận án Tiến sĩ y tế công cộng, Trường Đại học Y Dược Thái Bình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng suy dinh dưỡng thấp còi và hiệuquả cải thiện khẩu phần cho trẻ dưới 5 tuổi tại vùng ven biển Tiền Hải,Thái Bình
Tác giả: Trần Quang Trung
Năm: 2014
33. Trường Đại học Y Dược Thái Bình (2016), Giáo trình dinh dưỡng và an toàn thực phẩm ed. học, Nhà xuất bản y Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình dinh dưỡng vàan toàn thực phẩm
Tác giả: Trường Đại học Y Dược Thái Bình
Nhà XB: Nhà xuất bản y
Năm: 2016

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Tình hình thiếu hụt dinh dưỡng tại khu vực miền núi phía Bắc và Tây Nguyên còn nghiêm trọng hơn với tỷ lệ suy dinh dưỡng cao nhất trong cả nước - Thực trạng dinh dưỡng  trẻ em 25 đến 60 tháng tuổi dân tộc thiểu số và một số yếu tố liên quan tại hai xã vùng cao huyện bảo yên tỉnh lào cai năm 2019
nh hình thiếu hụt dinh dưỡng tại khu vực miền núi phía Bắc và Tây Nguyên còn nghiêm trọng hơn với tỷ lệ suy dinh dưỡng cao nhất trong cả nước (Trang 16)
Biểu đồ 1.1. Xu hướng tình hình suy dinh dưỡng thể thấp còi theo nhóm dân tộc: Việt Nam, năm 2010-2015[18] - Thực trạng dinh dưỡng  trẻ em 25 đến 60 tháng tuổi dân tộc thiểu số và một số yếu tố liên quan tại hai xã vùng cao huyện bảo yên tỉnh lào cai năm 2019
i ểu đồ 1.1. Xu hướng tình hình suy dinh dưỡng thể thấp còi theo nhóm dân tộc: Việt Nam, năm 2010-2015[18] (Trang 16)
Bảng 3.1. Phân bố trẻ tham gia nghiên cứu theo giới tính và tháng tuổi - Thực trạng dinh dưỡng  trẻ em 25 đến 60 tháng tuổi dân tộc thiểu số và một số yếu tố liên quan tại hai xã vùng cao huyện bảo yên tỉnh lào cai năm 2019
Bảng 3.1. Phân bố trẻ tham gia nghiên cứu theo giới tính và tháng tuổi (Trang 34)
Bảng 3.3. Giá trị trung bình cân nặng, chiều cao của trẻ theo giới tính, nhóm tuổi và địa bàn nghiên cứu  - Thực trạng dinh dưỡng  trẻ em 25 đến 60 tháng tuổi dân tộc thiểu số và một số yếu tố liên quan tại hai xã vùng cao huyện bảo yên tỉnh lào cai năm 2019
Bảng 3.3. Giá trị trung bình cân nặng, chiều cao của trẻ theo giới tính, nhóm tuổi và địa bàn nghiên cứu (Trang 35)
Bảng 3.5. Phân loại tình trạng dinh dưỡng của trẻ theo giới tính - Thực trạng dinh dưỡng  trẻ em 25 đến 60 tháng tuổi dân tộc thiểu số và một số yếu tố liên quan tại hai xã vùng cao huyện bảo yên tỉnh lào cai năm 2019
Bảng 3.5. Phân loại tình trạng dinh dưỡng của trẻ theo giới tính (Trang 36)
Kết quả bảng trên cho thấy: Trẻ SDD thể thấp còi chủ yếu là độ 1 chiếm 28,5%, độ 2 chiếm 14,0% - Thực trạng dinh dưỡng  trẻ em 25 đến 60 tháng tuổi dân tộc thiểu số và một số yếu tố liên quan tại hai xã vùng cao huyện bảo yên tỉnh lào cai năm 2019
t quả bảng trên cho thấy: Trẻ SDD thể thấp còi chủ yếu là độ 1 chiếm 28,5%, độ 2 chiếm 14,0% (Trang 39)
Kết quả bảng trên cho thấy: Trẻ SDD thể gầy còm chủ yếu là độ 1 chiếm 14,0%, độ 2 chiếm 0,6% - Thực trạng dinh dưỡng  trẻ em 25 đến 60 tháng tuổi dân tộc thiểu số và một số yếu tố liên quan tại hai xã vùng cao huyện bảo yên tỉnh lào cai năm 2019
t quả bảng trên cho thấy: Trẻ SDD thể gầy còm chủ yếu là độ 1 chiếm 14,0%, độ 2 chiếm 0,6% (Trang 40)
Bảng 3.8. Mức độ suy dinh dưỡng thể gày còm của trẻ em theo giới tính, nhóm tuổi, địa bàn nghiên cứu  - Thực trạng dinh dưỡng  trẻ em 25 đến 60 tháng tuổi dân tộc thiểu số và một số yếu tố liên quan tại hai xã vùng cao huyện bảo yên tỉnh lào cai năm 2019
Bảng 3.8. Mức độ suy dinh dưỡng thể gày còm của trẻ em theo giới tính, nhóm tuổi, địa bàn nghiên cứu (Trang 40)
Bảng 3.10. Tỷ lệ trẻ mắc phối hợp với các thể suy dinh dưỡng khác theo nhóm tuổi  - Thực trạng dinh dưỡng  trẻ em 25 đến 60 tháng tuổi dân tộc thiểu số và một số yếu tố liên quan tại hai xã vùng cao huyện bảo yên tỉnh lào cai năm 2019
Bảng 3.10. Tỷ lệ trẻ mắc phối hợp với các thể suy dinh dưỡng khác theo nhóm tuổi (Trang 41)
Kết quả bảng và biểu đồ trên cho thấy: 43,7% trẻ mắc ít nhất một thể SDD. Trẻ mắc SDD thấp còi đơn thuần chiếm 19,5%, trong đó ở trẻ tại xã Vĩnh Yên cao hơn ở xã Xuân Hòa với tỉ lệ 20,9% so với 18% - Thực trạng dinh dưỡng  trẻ em 25 đến 60 tháng tuổi dân tộc thiểu số và một số yếu tố liên quan tại hai xã vùng cao huyện bảo yên tỉnh lào cai năm 2019
t quả bảng và biểu đồ trên cho thấy: 43,7% trẻ mắc ít nhất một thể SDD. Trẻ mắc SDD thấp còi đơn thuần chiếm 19,5%, trong đó ở trẻ tại xã Vĩnh Yên cao hơn ở xã Xuân Hòa với tỉ lệ 20,9% so với 18% (Trang 42)
Bảng 3.12. Tỷ lệ trẻ mắc phối hợp với các thể suy dinh dưỡng khác theo dân tộc  Dân tộc Thể SDDTày (n=171)H’Mông(n=239) - Thực trạng dinh dưỡng  trẻ em 25 đến 60 tháng tuổi dân tộc thiểu số và một số yếu tố liên quan tại hai xã vùng cao huyện bảo yên tỉnh lào cai năm 2019
Bảng 3.12. Tỷ lệ trẻ mắc phối hợp với các thể suy dinh dưỡng khác theo dân tộc Dân tộc Thể SDDTày (n=171)H’Mông(n=239) (Trang 42)
Kết quả bảng trên cho thấy: Tỉ lệ trẻ dân tộc H’Mông mắc ít nhất một thể SDD cao hơn các dân tộc khác với tỉ lệ 49,0% - Thực trạng dinh dưỡng  trẻ em 25 đến 60 tháng tuổi dân tộc thiểu số và một số yếu tố liên quan tại hai xã vùng cao huyện bảo yên tỉnh lào cai năm 2019
t quả bảng trên cho thấy: Tỉ lệ trẻ dân tộc H’Mông mắc ít nhất một thể SDD cao hơn các dân tộc khác với tỉ lệ 49,0% (Trang 43)
Bảng 3.15. Mối liên quan giữa tình trạng SDD của trẻ theo trình độ học vấn, nghề nghiệp của bà mẹ - Thực trạng dinh dưỡng  trẻ em 25 đến 60 tháng tuổi dân tộc thiểu số và một số yếu tố liên quan tại hai xã vùng cao huyện bảo yên tỉnh lào cai năm 2019
Bảng 3.15. Mối liên quan giữa tình trạng SDD của trẻ theo trình độ học vấn, nghề nghiệp của bà mẹ (Trang 44)
Bảng 3.18. Mối liên quan giữa tình trạng SDD với số con của bà mẹ và khoảng cách sinh - Thực trạng dinh dưỡng  trẻ em 25 đến 60 tháng tuổi dân tộc thiểu số và một số yếu tố liên quan tại hai xã vùng cao huyện bảo yên tỉnh lào cai năm 2019
Bảng 3.18. Mối liên quan giữa tình trạng SDD với số con của bà mẹ và khoảng cách sinh (Trang 46)
Kết quả bảng trên cho thấy: gia đình thiếu gạo tỷ lệ trẻ SDD là 67,6% cao gấp 2,9 lần so với gia đình không thiếu gạo (42,1%) - Thực trạng dinh dưỡng  trẻ em 25 đến 60 tháng tuổi dân tộc thiểu số và một số yếu tố liên quan tại hai xã vùng cao huyện bảo yên tỉnh lào cai năm 2019
t quả bảng trên cho thấy: gia đình thiếu gạo tỷ lệ trẻ SDD là 67,6% cao gấp 2,9 lần so với gia đình không thiếu gạo (42,1%) (Trang 46)
Bảng 3.19. Mối liên quan giữa tình trạng SDD với số con dưới 5 tuổi của bà mẹ và trẻ là con thứ mấy - Thực trạng dinh dưỡng  trẻ em 25 đến 60 tháng tuổi dân tộc thiểu số và một số yếu tố liên quan tại hai xã vùng cao huyện bảo yên tỉnh lào cai năm 2019
Bảng 3.19. Mối liên quan giữa tình trạng SDD với số con dưới 5 tuổi của bà mẹ và trẻ là con thứ mấy (Trang 47)
Bảng 3.23. Mối liên quan giữa tình trạng SDD với bà mẹ được hướng dẫm cách nuôi con và bà mẹ tham gia buổi giáo dục dinh dưỡng  - Thực trạng dinh dưỡng  trẻ em 25 đến 60 tháng tuổi dân tộc thiểu số và một số yếu tố liên quan tại hai xã vùng cao huyện bảo yên tỉnh lào cai năm 2019
Bảng 3.23. Mối liên quan giữa tình trạng SDD với bà mẹ được hướng dẫm cách nuôi con và bà mẹ tham gia buổi giáo dục dinh dưỡng (Trang 49)
Kết quả bảng trên cho thấy: có mối liên quan giữa tình trạng SDD với bà mẹ được hướng dẫn cách nuôi con, bà mẹ không được hướng dẫn cách nuôi con trẻ có tỷ lệ SDD là 61% cao gấp 2,1 lần trẻ có bà mẹ được hướng dẫn cách nuôi con - Thực trạng dinh dưỡng  trẻ em 25 đến 60 tháng tuổi dân tộc thiểu số và một số yếu tố liên quan tại hai xã vùng cao huyện bảo yên tỉnh lào cai năm 2019
t quả bảng trên cho thấy: có mối liên quan giữa tình trạng SDD với bà mẹ được hướng dẫn cách nuôi con, bà mẹ không được hướng dẫn cách nuôi con trẻ có tỷ lệ SDD là 61% cao gấp 2,1 lần trẻ có bà mẹ được hướng dẫn cách nuôi con (Trang 49)
Kết quả bảng trên cho thấy: trẻ không được cán bộ y tế cân có tỉ lệ SDD là 50,7% cao hơn so với trẻ được cán bộ y tế cân trẻ - Thực trạng dinh dưỡng  trẻ em 25 đến 60 tháng tuổi dân tộc thiểu số và một số yếu tố liên quan tại hai xã vùng cao huyện bảo yên tỉnh lào cai năm 2019
t quả bảng trên cho thấy: trẻ không được cán bộ y tế cân có tỉ lệ SDD là 50,7% cao hơn so với trẻ được cán bộ y tế cân trẻ (Trang 51)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w