1991 đến nay, quan hệ hữu nghị và hợp tác Việt Trung phát triển nhanh chóng và sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực, đem lại nhiều lợi ích thiết thực cho cả hai bên. Đến nay, đã ký 49 hiệp định và 25 các văn kiện khác ở cấp nhà nước, đặt cơ sở pháp lý cho quan hệ hợp tác lâu dài giữa hai nước.
Trang 1TRUNG QUỐC VÀ MỐI QUAN HỆ KINH TẾ VỚI
VIỆT NAMTrường Đại học Tài Chính – Marketing
Môn: Thương mại quốc tế
Trang 2Tình hình kinh tế của Trung Quốc
Quan hệ ngoại giao – chính trị với Việt Nam
Quan hệ kinh tế giữa hai nước
Các hiệp định thương mại Trung Quốc –Việt Nam
Trang 3Bản đồ vị trí địa lý của Việt Nam và Trung quốc
Trang 4I Tình hình kinh tế của Trung Quốc:
2009 tăng trưởng kinh tế đạt 2 % với mức dự trữ ngoại tệ đạt 2.399,152 tỷ USD
2011, tốc độ tăng trưởng của Trung Quốc đạt 9,5%, tương đương tăng trưởng GDP 6.989 tỷ USD
Lạm phát cao → tăng trưởng GDP giảm xuống dưới 8 % trong năm 2012
2013, GDP với tốc độ tăng trưởng 7,8%, ước tính đạt 12.610 tỷ USD, thứ 20 trên thế giới
GDP Trung Quốc năm 2014 có thể vượt qua Mỹ đứng thứ 1 với con số 17.631 tỷ đô la,
chiếm 16,5% GDP toàn cầu
Trang 5• Đóng góp 10,6% GDP của Trung Quốc
Công nghiệp và chế tạo
• Chiếm khoảng 48% GDP của Trung Quốc.
• 8% tổng số đầu ra hàng chế tạo trên thế giới.
• Xếp thứ 3 trên thế giới về hàng đầu ra công nghiệp.
• Chế tạo máy móc và công nghiệp luyện kim nhận được nhiều ưu tiên cao nhất chiếm khỏang 20-30% tổng giá trị của đầu ra công nghiệp.
Các ngành kinh tế mũi nhọn
Trang 6Năng lượng và khoáng sản
• Chuyển hướng từ than đá tới dùng các nguồn năng
lượng sạch hơn như dầu mỏ, khí tự nhiên, năng
lượng tái tạo mới và năng lượng hạt nhân.
• Năng cấp hiệu quả sử dụng năng lượng và thúc
đẩy sử dụng công nghệ than đá sạch.
• Luật năng lượng tái tạo mới, có hiệu lực năm 2006
kêu gọi 10% năng lượng phải từ các nguồn năng
lượng tái tạo mới năm 2020.
Trang 7GDP theo ngành (2014) Nông nghiệp: 9,7%; Côn g nghiệp: 45,3%; Dịch vụ: 45% Nông nghiệp: 9,7%; Công nghiệp: 43,9%; Dịch vụ: 46,4%
Lực lượng lao động 1,024 tỉ người 797,6 triệu người 801,6 triệu người
Mặt hàng nông nghiệp gạo, lúa mì, khoai tây, ngũ cốc, đậu phộng, trà, hạt kê, lúa mạch, táo, bông, sò, thịt lợn, cá
Các ngành công nghiệp khai khoáng, sắt, thép, aluminum và các kim loại khác, than đá; sản xuất máy móc; vũ khí quân sự; than, dệt may, đồ thêu; dầu mỏ; xi măng; hóa chất; phân bón; sản phẩm tiêu dùng (bao gồm giày dép, đồ
chơi, và điện tử…); thực phẩm chế biến; thiết bị vận chuyển (bao gồm ô tô, xe ô tô đường sắt, đầu máy xe lửa, tàu, và máy bay…); thiết bị viễn thông, xe không gian khởi động thương mại, vệ tinh
Mặt hàng chính Điện và các máy móc thiế t bị (bao gồm xử lý dữ liệu, may mặc, thiết bị cầm tay, điện thoại vô tuyến, dệt may, mạch tích hợp
Thị trường xuất khẩu chính Hồng Công 17,4%, US 1 6,7%, Nhật Bản 6,8%, Hàn Quốc 4,1 % (ước tính năm 2013)
Kim ngạch nhập khẩu 1.817 tỷ USD 1.949 tỷ USD đứng thứ
3 thế giới
Mặt hàng chính điện và các máy móc, dầu và nhiên liệu khoáng sản, thiết bị quang học và y tế, quặng kim loại, nhựa, hóa chất hữu cơ, xe có động cơ
Thị trường nhập khẩu chính Hàn Quốc 9,4%, Nhật Bản 8,3 %, Đài Loan 8%, US 7,5%, Đức 4,8%, Australia (4,7%) ước tính năm 2013
Trang 8Quan hệ ngoại giao – chính trị
Trang 10Quan hệ chính trị tốt đẹp, hòa bình giữa hai Đảng, hai Nhà nước tạo ra những điều kiện quan trọng cho quan hệ thương mại hai nước ngày càng phát triển.
Quan hệ chính trị tốt đẹp, hòa bình giữa hai Đảng, hai Nhà nước tạo ra những điều kiện quan trọng cho quan hệ thương mại hai nước ngày càng phát triển.
Trang 12Viet Jet giới thiệu nhiều đường bay đến Trung Quốc
Trang 13Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng hội kiến Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc
Tập Cận Bình thăm cấp Nhà nước Việt Nam.
Trang 14Trong bối cảnh quốc tế và khu vực có những diễn biến phức tạp như hiện nay, việc củng
cố và tăng cường quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện Việt Nam-Trung Quốc không những có tầm quan trọng đặc biệt đối với lợi ích của mỗi nước mà còn có ý nghĩa to lớn đối với hoà bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới
Trang 15Các chuyến thăm cao cấp gần đây
ASEAN-Trung Quốc (CAEXPO) và Hội nghị Thượng đỉnh Đầu tư-Thương mại ASEAN-Trung Quốc (CABIS) lần thứ 10 tại thành phố Nam Ninh, Trung Quốc.
Trang 16Quan hệ thương mại Trung Quốc – Việt Nam:
Trang 18Thực trạng quan hệ thương mại Việt Nam – Trung Quốc:
Nếu như năm 2014 Trung Quốc chiếm 29,6% tổng giá trị nhập khẩu của Việt Nam, thì năm 2015 quốc gia láng giềng này đã chi phối tới suýt soát 30% - tiếp tục là thị trường nhập khẩu lớn nhất và nới rộng khoảng cách so với các thị trường đối thủ khác
Số liệu hải quan cho thấy giá trị nhập khẩu của Việt Nam từ Trung Quốc trong năm 2015 đạt 49,5 tỷ USD, tăng 13,3% so với năm 2014 và chiếm 29,9% tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước
Trang 20Kim ngạch xuất khẩu 19.464 21.048 27.328 35.719 41.173 50.213 58.641 66.670
(Đơn vị: triệu USD – Nguồn: Tổng cục hải quan Việt Nam)
Trang 23Về xuất khẩu, Trung Quốc tiếp tục duy trì là thị trường xuất khẩu đơn lẻ lớn thứ hai của Việt Nam sau Mỹ Năm 2015, Trung Quốc chiếm 10,5% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, tăng từ mức 9,9% của năm 2014
Trang 29Việt Nam đã nhập siêu 32,4 tỷ USD giá trị hàng hóa từ Trung Quốc trong năm 2015, tăng
so với mức nhập siêu 28,8 tỷ USD của năm 2014
Có tới 10 mặt hàng nhập khẩu từ Trung Quốc có giá trị tỷ USD, và đây đều là những sản phẩm công nghiệp Số liệu cho thấy mặt hàng Việt Nam nhập khẩu nhiều nhất từ Trung Quốc là máy móc thiết bị với giá trị hơn 9 tỷ USD, tiếp đến là điện thoại và linh kiện với gần 7 tỷ USD
Trang 31Ở chiều ngược lại, chỉ có 4 mặt hàng xuất khẩu sang Trung Quốc đạt giá trị
tỷ USD Mặt hàng xuất khẩu lớn nhất không phải là nông sản, mà là máy tính và sản phẩm điện tử với giá trị 2,6 tỷ USD, tiếp đến là xơ và sợi dệt với 1,4 tỷ USD.
Trang 35Số liệu mới nhất của Tổng cục Hải quan cho thấy Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam trong quý I/2016
Cụ thể, 3 tháng đầu năm, tổng cả nước nhập khẩu 37,4 tỷ USD, trong đó riêng nhập khẩu
từ Trung Quốc chiếm hơn 28% tổng kim ngạch Tiếp sau là Hàn Quốc với 6,8 tỷ USD và khu vực ASEAN với hơn 5,3 tỷ USD, chiếm 14% tổng giá trị nhập khẩu, Nhật Bản và
Mỹ lần lượt 3,2 tỷ và 1,7 tỷ USD Còn lại là các nước khác.
Trang 36 Các mặt hàng Việt Nam nhập khẩu nhiều nhất trong 3 tháng đầu năm 2016 đều có xuất xứ từ Trung Quốc. Trong đó, máy móc, thiết bị phụ tùng là 1,9 tỷ USD; máy vi tính linh kiện điện tử 1,23 tỷ USD; nguyên liệu dệt may, da giày là 1,62 tỷ USD; điện thoại và linh kiện điện tử 1,5 tỷ USD Ngoài ra, doanh nghiệp cũng nhập hơn 2.000 ôtô nguyên chiếc từ thị trường này (chủ yếu là xe tải).
Tính chung cả quý I, tổng kim ngạch thương mại của Việt Nam đạt hơn 76,2 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt 38,77 tỷ USD (doanh nghiệp trong nước chiếm 11,49 tỷ USD, FDI là 27,28 tỷ USD), nhập khẩu đạt 37,4 tỷ USD Theo đó, Việt Nam tiếp tục xuất siêu 1,37 tỷ USD.
Trang 37Những con số không thể bỏ qua về quan hệ Thương mại Việt Nam – Trung
Quốc:
Đến nay, Trung Quốc là một trong những bạn hàng lớn nhất của Việt Nam Nếu như năm
2002, nhập khẩu từ Trung Quốc chiếm 8,9% tổng nhập khẩu, thì đến năm 2011, tỷ lệ này
đã là 23,3% và tăng lên 27% vào năm 2013
Trong 2015, nhập khẩu từ Trung Quốc có kim ngạch đạt 49,3 tỷ USD, chiếm 28,8% tổng kim ngạch nhập khẩu và Trung Quốc là thị trường lớn nhất trong các quốc gia Việt Nam
có quan hệ mua hàng hóa
Trang 38 Trong một báo cáo phát hành 1/2016, Công ty chứng khoán Vietcombank (VCBS) cho rằng kinh tế Việt Nam đang tiếp tục phải đối mặt với rủi ro từ những biến động lớn trên thế giới, đặc biệt là việc giảm tốc
và nguy cơ bất ổn từ Trung Quốc.
Theo VCBS, Việt Nam là nền kinh tế nhỏ và có độ mở lớn nên sẽ nhạy cảm với những biến động trên thị trường thế giới.
Do quan hệ thương mại song phương giữa Việt Nam và Trung Quốc khá lớn, nên với tín hiệu giảm tốc khá rõ rệt của kinh tế Trung Quốc, nước này có thể “xuất khẩu khủng hoảng” sang Việt Nam.
Trang 39Trong khi đó, xuất khẩu từ Việt Nam sang Trung Quốc hầu như không đổi, chỉ chiếm trên dưới 10% tổng kim ngạch xuất khẩu, mặc dù có sự gia tăng nhẹ sau 2010 và lên 13% vào năm 2013 Năm 2015 xuất khẩu sang Trung Quốc đạt 17,14 tỷ USD, là mức khá thấp so với tiềm năng
Trang 40Triển vọng quan hệ thương mại
Việt Nam – Trung Quốc
Trung Quốc đẩy mạnh điều chỉnh kết cấu ngành
Nền kinh tế TQ đang tăng trưởng nhánh chóng
Ngành chế tạo của Trung quốc phát triển mạnh
=> Gia tăng nhập khẩu nguyên vật liệu
Cơ cấu thương mại song phương được đổi mới
Các mặt hàng lợi thế của hai bên sẽ tăng nhanh
Trang 41Hoạt động đầu tư Trung Quốc – Việt Nam:
Tính lũy kế đến đầu tháng 3 năm 2016, Trung Quốc có 1.346 dự án tại Việt Nam với tổng vốn đăng ký 10,4 tỷ USD
Trung Quốc hiện đứng thứ 9 trong số 112 quốc gia và vùng lãnh thổ đã có đầu tư tại Việt Nam
Quy mô các dự án đầu tư trung bình cho mỗi dự án đầu tư của Trung Quốc chỉ hơn 7,7 triệu USD/dự án, bẳng khoảng ½ so với trung bình một dự án của các nhà đầu tư khác tại Việt Nam (khoảng 14 triệu USD)
Trang 43Tập đoàn Kingtec có kế hoạch di dời nhà máy tại Trung Quốc sang Việt Nam
Trang 44Hiện nay, vốn đầu tư trung bình của một dự án khoảng 4,3 triệu USD, có nhiều dự án trên 1
triệu USD đến 10 triệu USD Các dự án có vốn đầu tư trên 10 triệu USD đến 100 triệu USD chủ yếu xuất hiện từ năm 2007 trở lại đây, trong đó tiêu biểu:
Dự án đầu tư xây dựng, quản lý và kinh doanh hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp ở Hải Phòng 175 triệu USD của Cty TNHH Liên hiệp đầu tư Thâm Việt;
Dự án khai thác, kinh doanh khu công nghiệp, kinh doanh bất động sản ở Tiền Giang 100
triệu USD của Công TNHH Đầu tư quản lý Tiền Giang, Trung Quốc;
Trang 45Dự án sản xuất giày ở Đồng Nai 60 triệu USD của Công ty Phương Đông - Trung Quốc,
Dự án Khu đô thị Nam Hoàng Đồng I, thành phố Lạng Sơn 27.750.000 USD của Công ty
TNHH Thành Bá Nam Ninh; …
→ Những dự án với vốn đầu tư lớn này đã góp phần thay đổi diện mạo đầu tư của Trung Quốc tại Việt Nam trong thời gian qua
Trang 46Thống kê từ Bộ Kế Hoạch Đầu Tư cho thấy, từ cuối năm ngoái khi Hiệp định TPP chưa được ký kết, đã có khoảng 810 Doanh Nghiệp Trung Quốc và Đài Loan (Trung Quốc) đầu tư vào 52 tỉnh, thành của Việt Nam Đặc biệt, lĩnh vực dệt, nhuộm có sự tăng trưởng đột biến
Hàng loạt dự án có số vốn đầu tư “khủng” từ vài chục đến hàng trăm triệu USD của các doanh nghiệp (DN) Trung Quốc, Đài Loan (Trung Quốc) ồ ạt đổ bộ vào ngành dệt - may
VN trong khoảng từ nửa cuối năm ngoái đến nửa đầu năm nay
Trang 47Phân theo ngành:
Phân theo hình thức đầu tư:
Phân theo địa phương:
Phân loại đầu tư
Trang 49Cho đến nay, đầu tư của Trung Quốc tại Việt Nam mới tập trung ở những ngành nghề thông thường, chưa có dự án nào đầu tư ở lĩnh vực công nghệ cao với vốn đầu tư lớn Tuy nhiên, sự thay đổi trong lĩnh vực đầu tư như trên đã kéo theo thay đổi trong quy mô đầu tư, hình thức đầu tư
Cho đến nay, đầu tư của Trung Quốc tại Việt Nam mới tập trung ở những ngành nghề thông thường, chưa có dự án nào đầu tư ở lĩnh vực công nghệ cao với vốn đầu tư lớn Tuy nhiên, sự thay đổi trong lĩnh vực đầu tư như trên đã kéo theo thay đổi trong quy mô đầu tư, hình thức đầu tư
Trang 50Theo hình thức:
Trước đây đại đa số các dự án đầu tư trực tiếp của các doanh nghiệp Trung Quốc vào Việt Nam
là thực hiện liên doanh với các doanh nghiệp Việt Nam, nhưng trong 10 năm trở lại đây đã có sự thay đổi rõ rệt.
Vốn đầu tư của Trung Quốc tập trung chủ yếu theo hình thức 100% vốn nước ngoài với 1.058 dự án, tổng vốn đầu tư 5,6 tỷ USD, chiếm 78,6% số dự án và 54,3% tổng vốn đăng ký;
Tiếp theo là hình thức hợp đồng BOT,BT,BTO** có 3 dự án với tổng vốn đầu tư 2,06 tỷ USD,
chiếm 20% tổng vốn đầu tư Số vốn còn lại tập trung trong các dự án liên doanh và hợp đồng hợp tác kinh doanh.
Trang 51Sự thay đổi này cho thấy, các doanh nghiệp Trung Quốc đầu tư tại Việt Nam đã trải qua giai đoạn thăm dò, thử nghiệm, dựa vào đối tác địa phương am hiểu thị trường ở thập kỷ 90 của thế kỷ XX Họ đã tự tin, hiểu biết, đủ khả năng độc lập kinh doanh cũng như đặt niềm tin ở thị trường Việt Nam
Sự thay đổi này cho thấy, các doanh nghiệp Trung Quốc đầu tư tại Việt Nam đã trải qua giai đoạn thăm dò, thử nghiệm, dựa vào đối tác địa phương am hiểu thị trường ở thập kỷ 90 của thế kỷ XX Họ đã tự tin, hiểu biết, đủ khả năng độc lập kinh doanh cũng như đặt niềm tin ở thị trường Việt Nam
Trang 52Theo địa phương:
Đầu tư trực tiếp của Trung Quốc có mặt ở 54/63 tỉnh thành của Việt Nam nhưng trong đó chủ yếu tập trung tại các thành phố đông dân cư, gần biên giới Việt – Trung, có sức thu hút lao động mạnh, có cơ sở hạ tầng tốt, thuận lợi cho xuất, nhập khẩu hàng hóa cũng như đi lại giữa Trung Quốc và Việt Nam.
Đầu tư trực tiếp của Trung Quốc cũng đã hướng đến một số tỉnh biên giới tiếp giáp với Trung Quốc của Việt Nam, trong đó có một số tỉnh có cơ sở hạ tầng kém, trình độ phát triển thấp, khó thu hút vốn đầu tư nước ngoài như Lào Cai (26 dự án), Lạng Sơn (20 dự án), Cao Bằng (7 dự án), Lai Châu (2 dự án).
Trang 54 Phản ánh kết quả của việc tăng cường hợp tác giữa các địa phương hai nước, đặc biệt là sự đẩy mạnh hợp tác với Việt Nam của một số tỉnh Trung Quốc như Quảng Đông, Vân Nam, Quảng Tây, một xu hướng mới trong phát triển quan hệ Việt - Trung thời gian qua Tuy nhiên, các dự án đầu tư của Trung Quốc ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam chủ yếu tập trung vào khai thác khoáng sản, nguyên vật liệu thế mạnh của địa phương
Các nhà đầu tư của Trung Quốc tại Việt Nam chủ yếu tập trung ở một số tỉnh miền Nam, gần hoặc tiếp giáp với Việt Nam như Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam…
Phản ánh kết quả của việc tăng cường hợp tác giữa các địa phương hai nước, đặc biệt là sự đẩy mạnh hợp tác với Việt Nam của một số tỉnh Trung Quốc như Quảng Đông, Vân Nam, Quảng Tây, một xu hướng mới trong phát triển quan hệ Việt - Trung thời gian qua Tuy nhiên, các dự án đầu tư của Trung Quốc ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam chủ yếu tập trung vào khai thác khoáng sản, nguyên vật liệu thế mạnh của địa phương
Các nhà đầu tư của Trung Quốc tại Việt Nam chủ yếu tập trung ở một số tỉnh miền Nam, gần hoặc tiếp giáp với Việt Nam như Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam…
Trang 55Ưu, nhược điểm trong việc đầu tư của Trung Quốc tại Việt Nam:
Trang 57Nhược điểm
Tiềm tàng những khả năng có thể gây tổn hại tới nền kinh tế như tận dụng những lợi thế cạnh tranh và những ưu đãi của nước sở tại để cạnh tranh không lành mạnh với các doanh nghiệp nội địa, dẫn đến tình trạng các doanh nghiệp nội địa có thể bị đánh bật ra khỏi thị trường do không đủ sức cạnh tranh để tồn tại và bị thôn tính
FDI vào các nước đang phát triển thường làm gia tăng khoảng cách không đồng đều giữa các ngành, các vùng miền, các khu vực kinh tế và làm gia tăng khoảng cách giàu nghèo trong xã hội, gây ra sự thay đổi trong nếp sống, lối sống của người dân, gây ra hiện tượng “chảy máu chất xám” đối với nước nhận đầu tư
Trang 58FDI thường đặt nước nhận đầu tư phụ thuộc vào sự vận động của dòng công nghệ, cho dù công nghệ ấy phù hợp hay không còn phù hợp, đã lạc hậu hay thuộc các ngành gây ô nhiễm môi trường
Doanh nghiệp FDI với mục đích khai thác thị trường, họ thường chỉ tập trung vơ vét tài nguyên, tận dụng nhân công giá rẻ thu lợi nhuận, rồi rút khỏi nước nhận đầu tư, để lại những hậu quả nghiêm trọng khôn lường về nhiều mặt.
Thị trường Việt Nam được coi là bàn đạp để các doanh nghiệp Trung Quốc thâm nhập vào thị trường ASEAN dưới danh nghĩa là một doanh nghiệp Việt Nam.
Trang 59Những hạn chế trong việc đầu tư của
Trung Quốc ở Việt Nam:
Trong những năm gần đây, quy mô của dự án đầu tư đã tăng, đã có dự án có vốn đầu tư trên 10 triệu USD nhưng vẫn có những dự án có vốn đầu tư dưới 500.000 USD, thậm chí có dự án dưới 100.000 USD
Quy mô đầu tư nhỏ đã kéo theo tình trạng hầu hết các dự án đầu tư của Trung Quốc có công nghệ thấp, chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng phổ thông
Đầu tư với quy mô nhỏ: