1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện hệ thống kiểm toán nội bộ trong hoạt động tín dụng tại Ngân hàng NNPTNT chi nhánh tỉnh Kiên Giang

120 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoàn Thiện Hệ Thống Kiểm Soát Nội Bộ Trong Hoạt Động Tín Dụng Tại Ngân Hàng Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn Chi Nhánh Tỉnh Kiên Giang
Tác giả Nguyễn Thị Bích Nguyệt
Người hướng dẫn TS. Hồ Văn Nhàn
Trường học Trường Đại Học Duy Tân
Chuyên ngành Kế toán
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ Kế Toán
Năm xuất bản 2016
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 1,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hệ thống, kiểm toán nội bộ, Hoạt động tín dụng, Ngân hàng NNPTNT, Kiên Giang; Chương 1. Cơ sở lý luận về hệ thống kiểm toán nội bộ đối với hoạt động tín dụng tại Ngân hàng thương mại; Chương 2. Thực trạng hệ thống kiểm toán nội bộ trong hoạt động tín dụng tại Ngân hàng NNPTNT chi nhánh tỉnh Kiên Giang; Chương 3. Một số giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm toán nội bộ trong hoạt động tín dụng tại Ngân hàng NNPTNT chi nhánh tỉnh Kiên Giang.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DUY TÂN

- -

NGUYỄN THỊ BÍCH NGUYỆT

HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN -

CHI NHÁNH TỈNH KIÊN GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN

Đà Nẵng – Năm 2016

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC DUY TÂN

- -

NGUYỄN THỊ BÍCH NGUYỆT

HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN -

CHI NHÁNH TỈNH KIÊN GIANG

Chuyên ngành : Kế toán

LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN

Người hướng dẫn khoa học: TS HỒ VĂN NHÀN

Đà Nẵng – Năm 2016

Trang 3

LỜI CÁM ƠN

Để hoàn thành được luận văn này, ngoài những nỗ lực của cá nhân trong việc học tập, nghiên cứu và vận dụng những tri thức đã được học trong suốt 2 năm qua tại lớp Cao học kế Toán - Trường Đại học Duy Tân, và cũng nhờ vào sự giúp đỡ động viên trong suốt thời gian nghiên cứu của gia đình, thầy cô, bạn bè và đồng nghiệp

Trước hết, xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS Hồ Văn Nhàn, người đã hết sức tận tình chỉ dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian nghiên cứu từ việc xây dựng đề cương, tìm kiếm tài liệu và cho đến lúc hoàn thành luận văn

Xin gửi lời cảm ơn đến quý thầy, cô giáo Khoa sau đại học Trường Đại học Duy Tân đã trang bị cho tôi những kiến thức cần thiết trong suốt khóa học,nơi tôi đã từng đến phỏng vấn, đã cung cấp nhiều thông tin hữu ích và giúp tôi trả lời phiếu khảo sát

Xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp của tôi tại Ngân hàng Agribank Chi Nhánh Kiên Giang đã cung cấp nhiều thông tin hữu ích và giúp tôi trả lời phiếu khảo sát, đã nhiệt tình giúp đỡ, động viên và tham gia thảo luận trong quá trình hoàn thành luận văn

Cuối cùng xin chân thành cảm ơn tới gia đình tôi đã động viên, giúp đỡ

và tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian viết luận văn

Trân trọng cảm ơn!

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn “Hoàn thiện hệ thống Kiểm Soát Nội Bộ trong hoạt động tín dụng tại Ngân Hàng Nông nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn - Chi Nhánh Tỉnh Kiên Giang” là kết quả của quá trình tự

nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu trong luận văn được thu thập và xử lý một cách trung thực, nội dung trích dẫn đều được chỉ rõ nguồn gốc Những kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này là thành quả lao động của tôi dưới sự giúp

đỡ của giáo viên hướng dẫn là TS Hồ Văn Nhàn Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào

Tôi xin cam đoan luận văn này hoàn toàn không sao chép lại bất kì một công trình nào đã có từ trước

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Bích Nguyệt

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CÁM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Tổng quan tài liệu nghiên cứu 3

6 Kết cấu của luận văn 6

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 7

1.1 KHÁI QUÁT VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 7

1.1.1 Khái niệm về KSNB và hệ thống KSNB 7

1.1.1.1 Khái niệm về KSNB 7

1.1.1.2 Khái niệm về hệ thống KSNB 11

1.1.2 Các bộ phận của hệ thống QTRR doanh nghiệp theo Coso 2004 15

1.1.3 Sự hữu hiệu và hạn chế tiềm tàng của hệ thống KSNB 24

1.1.3.1 Các nhân tố tác động đến việc xây dựng và vận hành hệ thống KSNB 24

Trang 6

1.1.3.2 Sự hữu hiệu của hệ thống KSNB 25

1.1.3.3 Những hạn chế tiềm tàng của hệ thống KSNB 25

1.2 HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 26

1.2.1 Hoạt động tín dụng trong Ngân hàng thương mại 27

1.2.1.1.Khái niệm về Tín dụng 27

1.2.1.2 Bản chất của tín dụng Ngân hàng 27

1.2.1.3 Đặc điểm của tín dụng Ngân hàng 27

1.2.1.4.Vai trò của tín dụng Ngân hàng 28

1.2.1.5 Quy trình hoạt động tín dụng Ngân hàng 29

1.2.2 Rủi ro tín dụng 31

1.2.2.1 Rủi ro tín dụng 31

1.2.2.2 Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng 32

1.2.3 KSNB và quản lý rủi ro đối với hoạt động tín dụng Ngân hàng 33

1.2.3.1 Thiết lập quy trình chặt chẽ 34

1.2.3.2 Thiết lập hệ thống KSNB và hệ thống quản lý rủi ro tín dụng hiệu quả 34

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 37

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN - CHI NHÁNH TỈNH KIÊN GIANG 38

2.1 SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI NHÁNH TỈNH KIÊN GIANG 38

2.1.1 Sự hình thành và phát triển Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn Chi nhánh tỉnh Kiên Giang 38

2.1.2 Hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn chi nhánh tỉnh Kiên Giang 41

Trang 7

2.2.THỰC TRẠNG HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN

NÔNG THÔN CHI NHÁNH TỈNH KIÊN GIANG 43

2.2.1 Phương pháp khảo sát 43

2.2.2 Những ưu điểm và tồn tại của hệ thống kiểm soát nội bộ đối với hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Chi nhánh tỉnh Kiên Giang 45

2.2.2.1 Môi trường quản lý 45

2.2.2.2 Thiết lập mục tiêu 51

2.2.2.3 Nhận dạng sự kiện tiềm tàng 52

2.2.2.4 Đánh giá rủi ro 53

2.2.2.5 Phản ứng với rủi ro 55

2.2.2.6 Hoạt động kiểm soát 57

2.2.2.7 Thông tin và truyền thông 60

2.2.2.8 Giám sát 63

2.2.3 Nhận dạng và phân tích các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn chi nhánh tỉnh Kiên Giang 65

2.2.3.1 Nguyên nhân khách quan 66

2.2.3.2 Nguyên nhân chủ quan 68

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 72

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN - CHI NHÁNH TỈNH KIÊN GIANG 73

3.1 ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI NHÁNH TỈNH KIÊN GIANG 73

Trang 8

3.1.1.Mục tiêu phát triển ngân hàng Nông nghiệp và Phát tiển nông thôn

Chi nhánh tỉnh Kiên Giang đến năm 2016 và định hướng đến năm 2020 73

3.1.2 Định hướng chiến lược phát triển các tổ chức tín dụng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam 75

3.2 QUAN ĐIỂM HOÀNTHIỆN 75

3.3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ ĐỐI VỚI NGHIỆP VỤ TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI NHÁNG TỈNH KIÊN GIANG 76

3.3.1 Các giải pháp hoàn thiện môi trường quản lý 76

3.3.1.1 Nâng cao năng lực bộ máy quản lý và cơ cấu tổ chức 76

3.3.1.2 Thay đổi quan điểm về tăng trưởng tín dụng 78

3.3.1.3 Nâng cao chất lượng đội ngũ CBTD 79

3.3.1.4 Nâng cao văn hóa kiểm soát 81

3.3.2 Các giải pháp nhận dạng rủi ro và thiết lập thủ tục kiểm soát hữu hiệu 81

3.3.2.1 Các giải pháp nâng cao tính hữu hiệu của hệ thống KSNB trong việc ngăn ngừa, kiểm soát và quản lý rủi ro tín dụng 81

3.3.2.2 Các giải pháp quản lý hiệu quả việc xử lý nợ xấu 88

3.3.3 Các giải pháp nâng cao hệ thống thông tin và truyền thông 89

3.3.3.1 Nâng cao chất lượng hệ thống báo cáo và phân tích tín dụng 89 3.3.3.2 Nâng cao tính hiệu quả của hệ thống trao đổi thông tin 89

3.3.4 Các giải pháp nâng cao hiệu quả giám sát hoạt động tín dụng 89

3.4 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC 91

3.4.1 Hoàn thiện môi trường kinh tế và pháp lý 91

3.4.2 Tạo kênh thông tin cho ngân hàng 92

3.4.3 Tăng cường hiệu quả thanh tra, giám sát ngân hàng 92

Trang 9

3.4.4 Đẩy mạnh tái cơ cấu hệ thống Ngân hàng 93 KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 96

KẾT LUẬN 97 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)

Trang 10

NHNN : Ngân hàng nông nghiệp NHTM : Ngân hàng thương mại QTRR : Quản trị rủi ro

SXKD : Sản xuất kinh doanh

TMCP : Thương mại cổ phần TCTD : Tài chính tín dụng

Trang 12

DANH MỤC CÁC HÌNH

Số hiệu

1.1 Khái quát khái niệm KSNB theo quan điểm của COSO 10

2.1 Biểu đồ dƣ nợ và tỷ lệ nợ xấu tại Agribank giai đoạn

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngân hàng thương mại (NHTM) là trung gian tài chính vừa thực hiện huy động vốn đồng thời sử dụng nguồn vốn huy động cung cấp vốn cho nền kinh tế Trong các hoạt động kinh doanh, hoạt động tín dụng đem lại nguồn thu nhập chính cho NHTM Tuy nhiên, hoạt động này cũng chứa đựng nhiều rủi ro không chỉ tác động trực tiếp đến bản thân NHTM mà còn tác động tiêu cực đến nền kinh tế Chính vì vậy, hoạt động quản lý rủi ro tín dụng luôn được các NHTM chú trọng Bên cạnh các kỹ thuật nghiệp vụ, NHTM luôn hướng tới việc xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ hiệu quả nhằm góp phần trong việc kiểm soát và quản lý rủi ro tín dụng

Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới và Việt Nam đang gặp khó khăn do khủng hoảng, nhiều tổ chức tín dụng trong nước đã và đang đối đầu với nguy

cơ mất khả năng thanh khoản Trên thực tế, đề án tái cấu trúc nền kinh tế và tái cơ cấu hệ thống Ngân hàng đã được Chính phủ quyết liệt thực hiện nhằm tạo ra môi trường kinh doanh hiệu quả hơn Đồng thời đi đôi với tái cơ cấu hệ thống Ngân hàng, việc giải quyết nợ xấu tồn đọng trong hệ thống các tổ chức tín dụng cũng là vấn đề cần quan tâm nhằm tháo gỡ khó khăn về vốn cho nền kinh tế Do đó, để nâng cao hiệu quả và chất lượng hoạt động kinh doanh trong điều kiện mới, các NHTM cần đưa ra biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro đặc biệt là việc xây dựng một hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu Ngân hàng Nông nghiệp Kiên Giang với chiến lược phát triển không nằm ngoài việc đẩy mạnh hoạt động tín dụng trong môi trường cạnh tranh khốc liệt

Để hoàn thành mục tiêu đề ra, bên cạnh nhiệm vụ đưa ra các chính sách phù hợp, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Chi nhánh tỉnh Kiên Giang còn cần đẩy mạnh việc hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ và

Trang 14

nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro (QTRR) hoạt động tín dụng trong điều kiện

nền kinh tế hiện nay Từ thực trạng như trên, tác giả chọn đề tài: “Hoàn thiện

hệ thống kiểm soát nội bộ trong hoạt động tín dụng Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - chi nhánh tỉnh Kiên Giang” để nghiên

cứu và đưa ra một số giải pháp góp phần giảm thiểu rủi ro trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Hệ thống hóa lý luận về hệ thống Kiểm soát nội bộ đối với hoạt động

tín dụng trong ngân hàng thương mại

- Đánh giá thực trạng hệ thống Kiểm soát nội bộ đối với hoạt động tín dụng tại Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh Tỉnh Kiên

- Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống KSNB đối với hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Chi nhánh tỉnh Kiên Giang

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống KSNB đối với hoạt động tín dụng troang các NHTM

Phạm vi nghiên cứu: Giới hạn trong hệ thống KSNB về hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn chi nhánh tỉnh

Kiên Giang; hệ thống số liệu sử dụng từ năm 2010 đến năm 2015

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng nghiên cứu định tính thông qua phương pháp phỏng vấn

và phương pháp thu thập dữ liệu để tìm hiểu về rủi ro tín dụng, hệ thống KSNB đối với hoạt động tín dụng, các nguyên nhân chính dẫn đến rủi ro tín dụng trong hệ thống ngân hàng nói chung và tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Chi nhánh tỉnh Kiên Giang và các giải pháp đã được sử

Trang 15

dụng trong các báo cáo trước đây để hoàn thiện hệ thống Đồng thời đề tài còn sử dụng nghiên cứu định lượng thông qua phương pháp khảo sát để xác định những tồn tại trong hệ thống KSNB và hệ thống KSNB đối với hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Chi nhánh tỉnh Kiên Giang Từ đó, tác giả đưa ra các giải pháp hạn chế những yếu kém

và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống KSNB hoạt động tín dụng tại Ngân hàng này Cụ thể như sau:

- Sử dụng bảng câu hỏi để khảo sát thực trạng hệ thống KSNB nói chung

và hệ thống KSNB đối với hoạt động tín dụng tại một số phòng giao dịch của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Chi nhánh tỉnh Kiên Giang

để xác định các mặt còn tồn tại, yếu kém trong hệ thống KSNB

- Phỏng vấn các nhà quản lý, CBTD, kiểm toán viên nội bộ các vấn đề

về rủi ro tín dụng và hệ thống KSNB đối với hoạt độngtín dụng hiện hữu tại Ngân hàng

- Tổng hợp và phân tích các báo cáo, các bài viết liên quan đến hệ thống KSNB và rủi ro hoạt động tín dụng xuất phát từ sự yếu kém của hệ thống KSNB, các giải pháp đã được áp dụng và một số đề xuất phù hợp với điều kiện hiện nay của hệ thống ngân hàng

5 Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu về hệ thống kiểm soát nội bộ đối với hoạt độngtín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chi nhánh tỉnh Kiên Giang Liên quan đến nội dung đề tài đã có những nghiên cứu trong nước được thực hiện nhằm phân tích các nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong hoạt động tín dụng và xây dựng giải pháp hoàn thiện công tác quản lý rủi ro tín dụng tại các tổ chức tín dụng, cụ thể như sau:

Luận văn thạc sỹ: “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ đối với hoạt động tín dụng trong các Ngân hàng thương mại Việt Nam” Tác giả Phi Thị Thu Hiền, bảo vệ năm 2004 tại Hội đồng trường Đại học Kinh tế

Tp Hồ Chí Minh

Trang 16

Sau khi khảo sát đề tài của tác giả Phi Thị Thu Hiền, tác giả luận văn rút

ra được một số kết quả: Đề tài đã xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của hệ thống KSNB đối với hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại Khảo sát, đánh giá và rút ra các nguyên nhân chính dẫn đến rủi ro trong hoạt động tín dụng tại các NHTM

Đưa ra một số giải pháp hoàn thiện hệ thống KSNB như thiết lập bộ phận đánh giá rủi ro tín dụng trong các NHTM, phân tích và định lượng đầy

đủ các loại rủi ro tín dụng, xây dựng và hoàn thiện hệ thống đánh giá tín dụng làm cơ sở để ra quyết định tín dụng trong toàn hệ thống ngân hàng, xây dựng

hệ thống cảnh báo sớm về các khoản vay có thể có rủi ro thông qua việc tăng cường kiểm soát sau cho vay

Tuy nhiên đề tài còn một số hạn chế, cần bổ sung hoàn thiện như:

o Đề tài khảo sát và đánh giá rủi ro tín dụng trong giai đoạn trước năm

2004 nên chỉ sử dụng cơ sở lý thuyết COSO 1998, chưa vận dụng nền tảng QTRR vào hoạt động tín dụng ngân hàng;

o Giai đoạn trước năm 2004 nhóm các ngân hàng TMCP chiếm thị phần cho vay khá thấp, trung bình từ 6 – 11% nên chưa có sự cạnh tranh mạnh mẽ

và khốc liệt giữa các ngân hàng Do đó, các gian lận trong cho vay còn hạn chế, các biện pháp mà tác giả đề xuất chưa đủ đáp ứng yêu cầu quản lý rủi ro tín dụng hiện nay của các ngân hàng thương mại

*Luận văn thạc sỹ: “Hoàn thiện hệ thống KSNB đối với nghiệp vụ tín dụng tại các Ngân hàng thương mại trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh” Tác giả Nguyễn Thị Thanh Thảo, bảo vệ năm 2010 tại Hội đồng trường Đại học Kinh tế Tp Hồ Chí Minh

Đề tài dựa trên nền tảng báo cáo COSO (1992) và báo cáo của Ủy ban Basel (1998) tập trung nghiên cứu những tồn tại, yếu kém của hệ thống KSNB

về con người, hệ thống thông tin, môi trường pháp lý đối với hoạt động tín dụng tại 14 NHTM trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh

Trang 17

Đề tài đã đạt được một số kết quả sau:

o Xác định được các tiêu chí để đánh giá một hệ thống KSNB là hữu hiệu, hiện hữu và hiệu quả Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng chỉ ra những hạn chế tiềm tàng của hệ thống KSNB;

o Nhận dạng và phân tích các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng tại các NHTM trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh thông qua các phương pháp nghiên cứu;

o Đưa ra một số giải pháp hoàn thiện hệ thống KSNB đối với hoạt động tín dụng ngân hàng như xây dựng và hoàn thiện hệ thống đánh giá tín dụng, lượng hóa rủi ro tín dụng theo mô hình 6S, xây dựng và hoàn thiện phòng quản lý rủi ro và bộ phận đánh giá rủi ro tín dụng, các giải pháp hạn chế gian lận, thiếu trung thực và sai phạm nghiệp vụ của CBTD

Đề tài còn một số mặt hạn chế sau:

Đề tài khảo sát và đánh giá rủi ro tín dụng trên cơ sở lý thuyết COSO1998, chưa vận dụng nền tảng QTRR vào hoạt động tín dụng ngân hàng; Do mỗi ngân hàng có đặc điểm và định hướng phát triển riêng nên các giải pháp tác giả đưa ra chưa rõ ràng, khó áp dụng cho từng ngân hàng để giảm thiểu rủi ro trong hoạt động tín dụng

*Luận văn thạc sỹ: “Nâng cao chất lượng quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam” Tác giả Nguyễn Trường Sơn, bảo vệ năm 2011 tại Hội đồng Học Viện Ngân hàng Tp Hà Nội

Đề tài đánh giá thực trạng chất lượng quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, nhìn nhận ưu điểm và tồn tại dựa trên cơ

sở phân loại rủi ro tín dụng và phân tích nguyên nhân dẫn đến rủi ro

Trang 18

việc xây dựng chính sách tín dụng phù hợp, hoàn thiện cơ cấu tổ chức, quy trình nghiệp vụ, phân cấp ủy quyền, nâng cao chất lượng tài sản đảm bảo nợ vay, chất lượng phân loại nợ, hệ thống xếp hạng tín dụng khách hàng, tăng cường trích lập và xử lý rủi ro

Từ các kết quả và hạn chế nêu trêncủa các tác giả, tác giả luận văn muốn

đi sâu nghiên cứu hệ thống KSNB về hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Chi nhánh tỉnh Kiên Giang với mong muốn góp phần vào kiểm soát hoạt động tín dụng tại ngân hàng nhằm quản lý rủi ro được tốt hơn

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn có kết cấu gồm 3 chương:

- Chương 1: Cơ sở lý luận về hệ thống kiểm soát nội bộ đối với hoạt động tín dụng trong NHTM

- Chương 2: Thực trạng về hệ thống kiểm soát đối với hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Chi nhánh tỉnh Kiên Giang

- Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ đối với hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Chi nhánh tỉnh Kiên Giang

Trang 19

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ

ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TRONG

NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 KHÁI QUÁT VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1.1 Khái niệm về KSNB và hệ thống KSNB

1.1.1.1 Khái niệm về KSNB

Thông qua việc tìm hiểu về lịch sử phát triển của kiểm soát nội bộ, có thể thấy hiện nay có các định nghĩa như sau về kiểm soát nội bộ: tác giả Marc Lamoureux đưa ra định nghĩa rất ngắn gọn về kiểm soát nội bộ như sau

“Kiểm soát nội bộ là một chức năng của quá trình quản trị, để nhằm đạt được các mục tiêu đã thiết lập” [Marc Lamoureux (2013)]

Theo Chuẩn mực kiểm toán quốc tế ISA số 210 (Thỏa thuận các điều khoản của hợp đồng kiểm toán) có giải thích về kiểm soát nội bộ như sau: Thuật ngữ “kiểm soát nội bộ” bao gồm các thành phần: Môi trường kiểm soát; Quy trình đánh giá rủi ro của đơn vị; Hệ thống thông tin liên quan đến việc lập

và trình bày báo cáo tài chính, bao gồm các quy trình kinh doanh có liên quan và trao đổi thông tin; Các hoạt động kiểm soát; và Giám sát các kiểm soát

Chuẩn mực kiểm toán quốc tế ISA số 315- Xác định và đánh giá rủi ro

có sai sót trọng yếu thông qua hiểu biết về đơn vị được kiểm toán và môi trường của đơn vị - “Kiểm soát nội bộ: Là quy trình do Ban quản trị, Ban Giám đốc và các cá nhân khác trong đơn vị thiết kế, thực hiện và duy trì để tạo ra sự đảm bảo hợp lý về khả năng đạt được mục tiêu của đơn vị trong việc đảm bảo độ tin cậy của báo cáo tài chính, đảm bảo hiệu quả, hiệu suất hoạt động, tuân thủ pháp luật và các quy định có liên quan” [VACPA (2013)]

Trang 20

Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 315 - Xác định và đánh giá rủi

ro có sai sót trọng yếu thông qua hiểu biết về đơn vị được kiểm toán và môi trường của đơn vị - Ban hành theo TT214/2012/TT-BTC ngày 06 tháng 12 năm 2012, cũng khá tương đồng với chuẩn mực kiểm toán quốc tế thì: Kiểm soát nội bộ là quy trình do Ban quản trị, Ban Giám đốc và các cá nhân khác trong đơn vị thiết kế, thực hiện và duy trì để tạo ra sự đảm bảo hợp lý về khả năng đạt được mục tiêu của đơn vị trong việc đảm bảo độ tin cậy của báo cáo tài chính, đảm bảo hiệu quả, hiệu suất của hoạt động, tuân thủ pháp luật và các quy định có liên quan Chuẩn mực này cũng nêu ra các thành phần của kiểm soát nội bộ bao gồm: Môi trường kiểm soát; Quy trình đánh giá rủi ro của đơn vị; Hệ thống thông tin có liên quan tới việc lập và trình bày báo cáo tài chính, bao gồm các quy trình kinh doanh có liên quan và trao đổi thông tin; Các hoạt động kiểm soát; Giám sát các kiểm soát

KSNB về kế toán ảnh hưởng trực tiếp đến thông tin tài chính, trong khi

đó KSNB về quản lý chỉ ảnh hưởng gián tiếp đến thông tin tài chính Kiểm toán viên độc lập với nhiệm vụ đưa ra ý kiến nhận xét về độ tin cậy của thông tin tài chính sẽ tập trung chú trọng đến KSNB về kế toán, còn KSNB về quản

lý sẽ được xét đến nếu kiểm toán viên tin rằng một số thủ tục kiểm soát hành chính có thể ảnh hưởng tính đáng tin cậy của thông tin tài chính

Nhìn chung, trước khi có Báo cáo COSO năm 1992 khái niệm KSNB chưa được định nghĩa một cách đầy đủ trên các phương diện Với trách nhiệm được thành lập để thống nhất định nghĩa về KSNB và các bộ phận cấu thành thành KSNB phục vụ cho nhu cầu của các đối tượng khác nhau,

năm1992 COSO đã phát hành Báo cáo KSNB - Khuôn khổ hợp nhất (Internal Control – Intergrated framework), trong đó khái niệm KSNB được định nghĩa

“là một quá trình do người quản lý, HĐQT và các nhân viên của đơn vị chi phối, nó được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm thực hiện

Trang 21

các mục tiêu sau đây: Đảm bảo sự tin cậy của BCTC; Đảm bảo sự tuân thủ các quy định và luật lệ; Đảm bảo các hoạt động được thực hiện hiệu quả” Khái niệm KSNB được trình bày trong Chuẩn mực kiểm toán quốc tế ISA

315 - Hiểu biết tình hình kinh doanh, môi trường của doanh nghiệp và đánh giá rủi ro có sai phạm trọng yếu, do Ủy ban Chuẩn mực Kiểm toán và các Dịch vụ đảm bảo quốc tế (IAASB) ban hành năm 2003 cơ bản cũng đồng nhất với định nghĩa về KSNB trong Báo cáo của COSO năm 1992 Tuy nhiên, sau hơn 20 năm kể từ ngày phát hành Báo cáo KSNB - Khuôn khổ hợp nhất lần đầu tiên, môi trường kinh doanh và hoạt động điều hành của các doanh nghiệp

đã có nhiều thay đổi, ngày càng trở nên phức tạp đòi hỏi mục tiêu của KSNB cần được mở rộng hơn so với những khuôn khổ ban đầu Chính vì vậy, năm

2013, COSO đã phát hành Báo cáo KSNB - Khuôn khổ hợp nhất cập nhật với khái niệm KSNB đã được bổ sung như sau: “KSNB là một quá trình do người quản lý, HĐQT và các nhân viên của đơn vị chi phối, nó được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm thực hiện các mục tiêu liên quan đến

hoạt động, báo cáo và tuân thủ”.Trong khái niệm này các mục tiêu hoạt động,

mục tiêu tuân thủ cơ bản vẫn giữ nguyên so với khái niệm KSNB trước đây của COSO, nhưng mục tiêu báo cáo đã được mở rộng hơn, không chỉ đảm bảo độ tin cậy của BCTC mà còn liên quan đến độ tin cậy của các báo cáo phi tài chính và báo cáo nội bộ khác

Khái niệm KSNB theo quan điểm của COSO có thể khái quát bằng sơ đồ sau:

Trang 22

Hình 1.1 Khái quát khái niệm KSNB theo quan điểm của COSO

Khi tiếp cận KSNB dưới góc độ là một quá trình với những hoạt động hiện diện ở mọi bộ phận trong đơn vị và được kết hợp với nhau theo như quan điểm của Báo cáo COSO và Chuẩn mực kiểm toán quốc tế ISA 315, thì

thuật ngữ “kiểm soát” được hiểu là bất cứ khía cạnh nào của một hoặc nhiều

bộ phận cấu thành của KSNB, đó là: Môi trường kiểm soát; Đánh giá rủi ro; Hoạt động kiểm soát; Thông tin và truyền thông; Giámsát

Như vậy, từ những khái niệm ban đầu coi kiểm soát nội bộ chỉ là kiểm

soát nội bộ về kế toán thì đến nay các quan điểm hiện đại đã đưa ra những nhận địnhđầy đủ và toàn diện về kiểm soát Lý luận về kiểm soát nội bộ ngày càng được hoàn thiện hơn, đầy đủ hơn gồm cả kiểm soát nội bộ về kế toán và quản trị Từ đó, có thể đưa ra quan điểm toàn diện về kiểm soát nội bộ hiện nay: Kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp có tính hệ thống, nó tồn tại trong mọi quá trình hay hoạt động khác của đơn vị, không phải là một hoạt động kiểm soát đơn lẻ mà bao gồm có 5 thành phần: Môi trường kiểm soát; Quy trình đánh giá rủi ro của đơn vị; Hệ thống thông tin có liên quan tới việc lập

và trình bày báo cáo tài chính, quy trình kinh doanh có liên quan và trao đổi

Trang 23

thông tin (Hệ thống thông tin và truyền thông); Các hoạt động kiểm soát; Giám sát các kiểm soát, nhằm mục đích đánh giá đƣợc các hoạt động, quá trình thực hiện và sửa chữa các sai phạm Các thành phần này có mối quan hệ qua lại tác động lẫn nhau Kiểm soát nội bộ giúp đảm bảo hợp lý về độ tin cậy của thông tin, bảo vệ tài sản, tuân thủ pháp luật và các quy định, đảm bảo hiệu năng và hiệu quả của hoạt động Kiểm soát nội bộ giúp cho khả năng đạt mục tiêu đề ra của doanh nghiệp gia tăng Kiểm soát nội bộ có mối liên hệ với tất

cả các cá nhân trong đơn vị, giúp khuyến khích đƣợc các cá nhân trong quá trình thực hiện công việc bên cạnh việc giám sát các cá nhân, đặc biệt kiểm soát nội bộ phải đƣợc sự quan tâm thích đáng từ Hội đồng quản trị, Ban giám đốc, Giám đốc điều hành, Giám đốc phụ trách về tài chính, nhà quản trị các

bộ phận Kiểm soát nội bộ phải đƣợc đặt trong mối quan hệ với chi phí liên quan tới thực hiện kiểm soát nội bộ và mối quan hệ với quản trị rủi ro Nhận thức mới này sẽ hỗ trợ cho nhà quản trị doanh nghiệp trong điều hành và lãnh đạo, đặc biệt là điều hành trong tình hình kinh tế có nhiều khó khăn và rủi ro Nhà quản trị phải chú ý tới việc thực hiện kiểm soát nội bộ trong mỗi hoạt động mà họ tiến hành và chịu trách nhiệm Kiểm soát nội bộ đƣợc thực hiện đầy đủ sẽ giúp nhà quản trị có một sự đảm bảo hợp lý rằng mục tiêu mà họ mong muốn có thể đạt đƣợc khi giao nhiệm vụ cho các cá nhân khác Tuy nhiên, các nội dung nêu trên mới chỉ đề cập tới khái niệm và thành phần của kiểm soát nội bộ, cần phải có những nhận định đầy đủ và toàn diện hơn về KSNB với tƣ cách là một hệ thống có mối liên hệ chặt chẽ giữa các thành phần với chủ thể thực hiện

1.1.1.2 Khái niệm về hệ thống KSNB

Hiện nay, trong một số nghiên cứu về KSNB không có sự phân biệt giữa

rõ khái niệm KSNB và khái niệm hệ thống KSNB Theo quan điểm của tác giả luận văn, khái niệm KSNB và khái niệm hệ thống KSNB có sự khác nhau

Trang 24

nhất định Như đã phân tích ở trên, định nghĩa về KSNB của COSO đã chỉ rõ KSNB là một quá trình với các hoạt động được thực hiện trong đơn vị nhằm đạt được các mục tiêu liên quan đến hiệu quả, hiệu lực hoạt động, độ tin cậy của báo cáo, và tuân thủ pháp luật Ở phương diện này, thuật ngữ “kiểm soát” được hiểu là bất cứ khía cạnh nào của một hoặc nhiều thành phần của KSNB Theo quan điểm của tác giả luận văn, KSNB là một chức năng trong quá trình quản lý còn hệ thống KSNB là công cụ để thực hiện chức năng của KSNB Khái niệm hệ thống KSNB trước hết được hiểu không phải là một yếu tố mà phải là một tập hợp các yếu tố cùng loại có mối liên hệ chặt chẽ với nhau để

nhằm đạt được các mục tiêu đơn vị đã đặt ra Bởi vì, theo cách hiểu chung: “hệ thống là tập hợp nhiều yếu tố, đơn vị cùng loại hoặc cùng chức năng, có quan

hệ hoặc liên hệ với nhau chặt chẽ, làm thành một thể thống nhất” [Hoàng Phê

(chủ biên) (2014)] Khái niệm hệ thống KSNB được định nghĩa trong các tài liệu khác nhau cũng đã thể hiện rõ điềunày

Theo Chuẩn mực Kiểm toán về Đánh giá rủi ro và Kiểm soát nội bộ

(ISA400) của Liên đoàn Kế toán Quốc tế thì: “Hệ thống kiểm soát nội bộ bao gồm toàn bộ các chính sách và thủ tục (các loại hình kiểm soát) được áp dụng bởi nhà quản lý của đơn vị nhằm đảm bảo việc thực hiện các mục tiêu đã định như: thực hiện hoạt động hiệu quả và tuân thủ pháp luật, bám sát chủ trương

mà nhà quản lý đã đặt ra; bảo vệ tài sản; ngăn ngừa và phát hiện gian lận và sai sót; đảm bảo sự đầy đủ và chính xác của các thông tin kế toán; lập BCTC tin cậy, đúng thời hạn” Định nghĩa này đã đề cập phạm vi của hệ thống

KSNB rất rộng, nó không chỉ giới hạn giới hạn trong phạm vi của những hoạt động về kế toán, tài chính mà bao gồm tất cả những lĩnh vực hoạt động trong đơnvị

Tại Việt Nam, đứng trên góc độ nghiên cứu về lĩnh vực kiểm toán, theo giáo trình “Kiểm toán” của Học viện Tài chính do GS.TS.Vương Đình Huệ

Trang 25

chủ biên thì: “Hệ thống KSNB là toàn bộ các chính sách, các bước kiểm soát

và thủ tục kiểm soát được thiết lập nhằm quản lý và điều hành các hoạt động của đơn vị Các bước kiểm soát là các biện pháp được tiến hành để xem xét

và khẳng định các biện pháp quản lý khác có được tiến hành hiệu quả và thích hợp hay không” [Vương Đình Huệ (2004)]

Nhìn chung, các định nghĩa về hệ thống KSNB nêu trên cơ bản đồng nhất với nhau, đó là: khái niệm hệ thống KSNB nhấn mạnh đến việc tổ chức

hệ thống kiểm soát với các chính sách và thủ tục kiểm soát được thiết lập và vận hành trong mối liên hệ chặt chẽ với nhau để đạt được các mục tiêu đơn vị đặt ra hơn là việc thực hiện một hoạt động hay một số các hoạt động kiểm soát cụ thể.Các mục tiêu cơ bản của hệ thống KSNB nhằm đảm bảo sự tuân thủ pháp luật và các quy định, đảm bảo sự tin cậy của BCTC, bảo vệ tài sản

và đảm bảo hiệu quả của hoạt động của đơn vị

Một hệ thống KSNB hữu hiệu sẽ giúp đem lại nhiều lợi ích cho đơn vị Thông thường, hệ thống này sẽ được hoàn thiện cùng với sự phát triển của doanh nghiệp nhằm mục đích: Giảm thiểu nguy cơ gây ra rủi ro trong SXKD (các sai sót vô tình gây thiệt hại, các rủi ro làm chậm kế hoạch, tăng giá thành, giảm chất lượng sản phẩm ); Bảo vệ tài sản khỏi bị hư hỏng, mất mát bởi hao hụt, gian lận, lừa gạt, trộm cắp; Đảm bảo tính chính xác, tin cậy của các số liệu

kế toán và BCTC; Đảm bảo mọi thành viên tuân thủ nội quy, quy chế, quy trình hoạt động của tổ chức chức cũng như các quy định của luật pháp; Đảm bảo tổ chức hoạt động hiệu quả, sử dụng tối ưu các nguồn lực và đạt được mục tiêu đặt ra; Bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư, cổ đông và gây dựng lòng tin đối với họ Hệ thống KSNB hữu hiệu là nhân tố chủ chốt của một hệ thống quản trị doanh nghiệp hiệu quả, hiệu lực và điều này rất quan trọng đối với những đơn vị có sự tách biệt giữa chủ sở hữu với người điều hành Tuy nhiên, hệ thống KSNB dù có hiệu quả đến đâu cũng chỉ có thể cung cấp sự đảm bảo hợp

Trang 26

lý cho các nhà quản lý trong việc đạt được mục tiêu của đơn vị chứ không thể đảm bảo tuyệt đối Khả năng đạt được mục tiêu chịu ảnh hưởng bởi những hạn chế vốn có của KSNB, như: do sự yếu kém về năng lực, trình độ chuyên môn trong việc xây dựng các quy định, chính sách, thủ tục kiểm soát không phù hợp; sự vô ý, bất cẩn, hiểu sai chỉ dẫn của cấp trên; sự thông đồng của các

cá nhân, sự lạm quyền của nhà quản lý nhằm phục vụ lợi ích riêng; sự lỗi thời, lạc hậu của các thủ tục kiểm soát do điều kiện hoạt động của đơn vị thay đổi Hơn nữa, một nguyên tắc cơ bản trong quản lý là chi phí cho việc thiết lập và vận hành các chính sách, thủ tục kiểm soát không thể vượt quá lợi ích được mong đợi Nhà quản lý có thể nhận thức đầy đủ về các rủi ro, thế nhưng nếu chi phí bỏ ra cho việc kiểm soát các rủi ro đó quá cao thì các thủ tục kiểm soát

có thể không được áp dụng Như vậy, hệ thống KSNB có thể phát hiện và giảm thiểu các rủi ro trong quá trình hoạt động của đơn vị nhưng không thể đảm bảo rằng chúng không bao giờ xảyra

Hệ thống kiểm soát nội bộ là hệ thống các quy định, quy trình,chính sách, thủ tục kiểm soát do doanh nghiệp xây dựng và áp dụng nhằm bảo đảm: tuân thủ pháp luật và các quy định; kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa và phát hiện gian lận, sai sót; lập báo cáo tài chính trung thực, hợp lý; bảo vệ, quản lý

và sử dụng có hiệu quả tài sản của doanh nghiệp; với thành phần bao gồm: môi trường kiểm soát; quy trình đánh giá rủi ro; hệ thống thông tin và truyền thông; các chính sách và thủ tục kiểm soát; giám sát kiểm soát Hệ thống này

có ảnh hưởng lớn tới việc nâng cao hiệu quả hoạt động, hiệu lực quản lý, cũng như tạo niềm tin cho những người quan tâm tới hoạt động của doanh nghiệp

* Vai trò của hệ thống kiểm soát nội bộ:

Mục tiêu của hệ thống kiếm soát nội bộ nêu trên là sự khẳng định vai trò

cơ bản nhất của HTKSNB Đó là vai trò trong việc đảm bảo hợp lý các mục tiêu đã thiết lập khi xây dựng hệ thống Xuất phát từ sự quan tâm của các đối

Trang 27

tượng khác nhau tới hệ thống kiểm soát nội bộ, vai trò của hệ thống kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp sẽ được thể hiện từ các góc độ sau:

- Về phía nhà quản trị doanh nghiệp, đặc biệt là từ phía các nhà quản trị

cấp cao như Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc, giám đốc điều hành, giám đốc tài chính - những người có trách nhiệm hàng đầu trong xây dựng và duy trì một hệ thốngkiểmsoát nội bộ đầy đủ và hữu hiệu - thì hệ thống có tác dụng giúp gia tăng độ tin cậy vào thông tin xử lý trong đơn vị, bảo vệ tài sản, giảm rủi ro xảy ra gian lận, giảm nguy cơ xảy ra sai sót, đẩy mạnh tính hiệu quả và hiệu năng trong thực hiện hoạt động, khuyến khích sự gắn bó và khả năng làm việc của người lao động và tuân thủ pháp luật và các quy định

- Về phía các nhân viên trong doanh nghiệp, HTKSNB có liên quan tới

trách nhiệm của tất cả các thành viên trong đơn vị và gắn bó với các thành viên trong các hoạt động hàng ngày Sự hữu hiệu của hệ thống sẽ giúp định hướng và kiểm soát hoạt động của nhân viên, tạo động lực khuyến khích họ

- Về phía, các kiểm toán viên bên ngoài, Theo ISA 315, “kiểm toán viên

phải tìm hiểu các thông tin về kiểm soát nội bộ của đơn vị có liên quan đến cuộc kiểm toán” Do đó, hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị nếu đầy đủ và hữu hiệu sẽ có tác động củng cố hiệu quả công việc của kiểm toán viên, cụ thể

là tác động tới quá trình xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu tại đơn vị, lập kế hoạch kiểm toán, xác định thời gian và phạm vi kiểm toán

- Về phía các cơ quan quản lý Nhà nước, giúp các quy định của pháp

luật được tuân thủ, gia tăng độ tin cậy vào thông tin đơn vị cung cấp

- Về phía các khách hàng, nhà cung cấp, các đối tượng khác ngoài doanh nghiệp, giúp phần gia tăng niềm tin vào thông tin cung cấp, tính trung

thực và minh bạch trong hoạt động, uy tín của doanh nghiệp trong cộngđồng

1.1.2 Các bộ phận của hệ thống QTRR doanh nghiệp theo Coso 2004

Khi hoạt động kinh doanh càng mở rộng, phát triển thì doanh nghiệp

Trang 28

phải đối mặt với nhiều loại rủi ro mới, phức tạp hơn, đòi hỏi phải có một lý thuyết về rủi ro và các kỹ thuật để có thể quản lý rủi ro một cách hiệu quả Cùng với yêu cầu về QTRR, các lý thuyết về rủi ro, sau đó là các kỹ thuật và các hệ thống QTRR được hình thành

Mặc dù đã tồn tại nhiều lý thuyết về QTRR nhưng COSO vẫn khẳng định rằng cần thiết phải có một cách tiếp cận mới về rủi ro và phải xây dựng một khuôn mẫu lý thuyết cũng như các kỹ thuật áp dụng tương đương để các đơn vị có thể áp dụng phù hợp với điều kiện của mình

Theo Báo cáo của COSO năm 2004 thì QTRR doanh nghiệp là một quá trình do hội đồng quản trị, các cấp quản lý và các nhân viên của đơn vị chi phối, được áp dụng trong việc thiết lập các chiến lược liên quan đến toàn đơn

vị và áp dụng cho tất cả các cấp độ trong đơn vị, được thiết kế để nhận dạng các sự kiện tiềm tàng có thể ảnh hưởng đến đơn vị và QTRR trong phạm vi chấp nhận được của rủi ro nhằm cung cấp một sự đảm bảo hợp lý về việc đạt được các mục tiêu của đơn vị (COSO, 2004)

Cũng theo báo cáo của COSO năm 2004, QTRR doanh nghiệp bao gồm những bộ phận sau:

Môi trường quản lý

Yếu tố đầu tiên của hệ thống kiểm soát nội bộ Theo Báo cáo COSO

2004 “Môi trường kiểm soát phản ánh sắc thái chung của một tổ chức, tác động đến ý thức củamọi người trong đơn vị, là nền tảng cho các bộ phận khác trong hệ thống”, các nhân tố của môi trường kiểm soát bao gồm tính trung thực và các giá trị đạo đức; cam kết về năng lực, triết lý và phong cách điều hành của nhà quản trị; cách thức phân định quyền hạn và trách nhiệm; chính sách nhân sự; sự quan tâm và chỉ đạo của ban quản trị

Xét trên khía cạnh xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp và tổng hợp từ các quan điểm khác nhau về môi trường kiểm soát rút

Trang 29

ra khái niệm sau về môi trường kiểm soát: môi trường kiểm soát là toàn bộ các nhân tố bên trong và bên ngoài đơn vị có ảnh hưởng đến việc thiết kế, vận hành và duy trì các thành phần khác của hệ thống kiểm soát nội bộ Môi trường kiểm soát được xác định gồm các yếu tố cụ thể sau: đặc thù về quản

lý, cơ cấu tổ chức, chính sách và thủ tục về nhân sự, công tác kế hoạch và lập

dự toán, Sự tham gia của Ban quản trị (Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và kiểm toán viên nội bộ ), các nhân tố bên ngoài Các yếu tố của môi trường chủ yếu tác động lên nhận thức của nhà quản trị cấp cao trong doanh nghiệp

Thiết lập mục tiêu

Theo nhận định của nhiều nhà nghiên cứu, hệ thống KSNB hiệu lực và hiệu quả sẽ thúc đẩy hoạt động doanh nghiệp và đảm bảo các mong muốn của nhà quản trị sẽ trở thành hiện thực thông qua việc đảm bảo các mục tiêu kiểm soát đã thiết lập khi xây dựng hệ thống Bên cạnh đó, nhà quản trị cũng phải quan tâm tới chi phí của hệ thống kiểm soát nội bộ, đảm bảo lợi ích mà hệ thống mang lại phù hợp với chi phí bỏ ra, yếu tốphí phải được xem xét kết hợp với mục tiêu của hệ thống kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp Như vậy, mục tiêu của hệ thống kiểm soát nội bộ có thể xem như là điều kiện tiên quyết phải xác định trước khi xây dựng trong doanh nghiệp

Mục tiêu cơ bảncủa hệ thống kiểm soát nội bộ là hệ thống phải giúp đảm bảo một cách hợp lý các mong muốn của nhà quản trị trong nâng cao hiệu quả hoạt động và hiệu năng quản lý Mục tiêu cơ bản được cụ thể hóa thành mục tiêu hoạt động, mục tiêu thông tin, mục tiêu tuân thủ Tuy nhiên, trong quá trình vận dụng và xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ tại từng đơn vị, nhà quản trị cần chú ý tới tính linh hoạt trong thiết lập mục tiêu cụ thể, lý do là mục tiêu cụ thể về kiểm soát phụ thuộc lớn vào triết lý và quan điểm điều hành của nhà quản trị

Mục tiêu cụ thể đầu tiên là mục tiêu hoạt động Mục tiêu này gắn liền

Trang 30

với sự tồn tại của đơn vị thông qua việc đảm bảo hiệu quả và hiệu lực của hoạt động Mục tiêu động thường phản ánh đặc điểm kinh doanh và ngành nghề kinh doanhcủa doanh nghiệp, do đó nếu không được thiết lập một cách hợp lý thì có thể dẫn tới việc sử dụng các nguồn lực trong đơn vị bị lãng phí hoặc không hiệu quả Thông thường, mục tiêu hoạt động sẽ được chi tiết ra thành: mục tiêu bảo vệ tài sản trong đơn vị bao gồm cả tài sản ngắn hạn và dài hạn tránh khỏi việc bị trộm cắp hoặc bị hư hỏng, bị lạm dụng; mục tiêu bảo

vệ thông tin do có một số lượng lớn thông tin được lưu trữ trong hệ thống máy tính nên cần phải bảo vệ một cách cẩn thận; mục tiêu hiệu quả nhằm vào việc ngăn ngừa sự lãng phí trong kinh doanh, sử dụng không hiệu quả các

nguồn lực, nâng cao chất lượng hoạt động

Nhận dạng sự kiện tiềm tàng

Tại các doanh nghiệp thường có 12 loại rủi ro hàng đầu như sau: sự yếu kém của nhà quản trị, nhân sự thiếu kiến thức và năng lực, cơ cấu tổ chức không đảm bảo phân chia trách nhiệm cụ thể, sai quy trình thực hiện (xử lý các nghiệp vụ không đúng quy trình…), rủi ro do các hoạt động bất thường và các hoạt động có liên quan đến danh tiếng và uy tín của đơn vị, rủi ro pháp lý, rủi ro liên quan đến văn bản tài liệu, rủi ro thanh toán, rủi ro công nghê thông tin, rủi ro an ninh, rủi ro từ cơ sở hạ tầng (với ngành dầu khí, điện, nước…), rủi ro từ những vấn đề mà đơn vị ít hiểu biết như các sự kiện có thể xảy ra trong tương lai liên quan đến những tranh chấp pháp lý…

Đánh giá rủi ro

Nền tảng cho việc xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ là môi trường kiểm soát nhưng để xác định trọng tâm công việc kiểm soát thì quy trình đánh giá rủi ro sẽ là thành phần cần được thiết lập tiếp theo Quy trình này sẽ giúp nhận diện và phân tích các rủi ro đối với quá trình thực hiện các mục tiêu của đơn vị để từ đó thiết kế các thủ tục kiểm soát – đây được coi là nhân tố then

Trang 31

chốt để phát huy hiệu quả và hiệu năng của hệ thống kiểm soát nội bộ Doanh nghiệp không chỉ thiết lập mục tiêu mong muốn đạt được mà còn phải hiểu được với những rủi ro gặp phải trong quá trình thực hiện Cụ thể, quy trình này sẽ được thực hiện thông qua các bước sau: Xác định mục tiêu, Nhận diện rủi ro, Phân tích và đánh giá rủi ro, Quản trị sự thay đổi

Xác định mục tiêu: nhà quản trị phải thiết lập các mục tiêu kiểm soát cần đạt được gồm cả mục tiêu tổng quát và mục tiêu chi tiết Mục tiêu tổng quát được trình bày ở phần trên bao gồm mục tiêu về hoạt động, thông tin và tuân thủ Tùy đối tượng kiểm soát cụ thể, mục tiêu chi tiết về kiểm soát sẽ được thiết lập Đồng thời, nhà quản trị phải xác định mục tiêu then chốt để tập trung các thủ tục kiểm soát

Nhận diện rủi ro: Nhà quản trị phải xác định được các rủi ro có liên quan đến thực hiện mục tiêu của kiểm soát Điều này đòi hỏi nhà quản trị phải có hiểu biết căn bản về quản trị rủi ro và coi việc nhận diện rủi ro là một quá trình bắt buộc trong lập kế hoạch (Đơn vị có cơ chế để nhận diện rủi ro không? Nguyên nhân nào gây ra rủi ro – gồm cả nguyên nhân từ bên trong đơn vị và bên ngoài đơn vị?) Rủi ro được xác định ở hai mức độ là rủi ro của toàn đơn vị, rủi ro từng bộ phận Rủi ro của toàn đơn vị có thể phát sinh do các nhân tố bên trong (năng lực của nhân viên thay đổi người quản lý, ngành nghề kinh doanh của đơn vị, Ban Kiểm soát hoạt động không hiệu quả, hệ thống xử lý thông tin bị trục trặc…) và bên ngoài đơn vị (điều kiện khí hậu, quy định mới của luật pháp, đối thủ cạnh tranh, yêu cầu của khách hàng, công nghệ mới…) Nhận diện rủi ro được thực hiện thông qua việc định kỳ đánh giá và xem xét lại các nhân tố ảnh hưởng tới rủi ro, tập trung vào các nhân tố liên quan năng lực của nhân viên, những kinh nghiệm về rủi ro đã xảy ra trong quá khứ, quá trình ghi chép và xử lý hoạt động chủ yếu của đơn vị, quy định luật pháp có liên quan Tiếp theo đó, tiến hành xác định nhân tố chính

Trang 32

gây ra rủi ro và thực hiện việc ước tính khả năng xảy ra rủi ro Rủi ro cũng cần được nhận diện ở từng bộ phận trong đơn vị, từng hoạt động cụ thể như rủi ro ở bộ phận bán hàng, sản xuất, kỹ thuật Việc đánh giá đúng các rủi ro

bộ phận nhằm duy trì rủi ro toàn đơn vị ở mức hợp lý

Phản ứng với rủi ro;

Phân tích và đánh giá về rủi ro: bao gồm các bước đánh giá về tầm quan trọng của rủi ro (đánh giá xem liệu đơn vị có chấp nhận rủi ro kinh doanh cao

để có cơ hội gia tăng lợi nhuận nhanh chóng?), phân tích về rủi ro (đánh giá khả năng xảy ra rủi ro và ảnh hưởng của rủi ro), quyết định hành động thích hợp với rủi ro (quản trị rủi ro), xem xét các giả định về rủi ro, phân tích chi phí bỏ ra để giảm rủi ro, lựa chọn biện pháp đối phó với rủi ro thích hợp (xác định xem nên làm gì: giảm thiểu rủi ro hay chia sẻ rủi ro hay chấp nhận rủi ro), thiết lập các thủ tục kiểm soát bổ sung để nâng cao tính hữu hiệu hệ thống kiểm soát trong việc đối phó với rủi ro (cần lưu ý là trước khi bổ sung thủ tục kiểm soát cần phải xem xét kỹ xem các thủ tục hiện hành có đủ để đối phó với rủi ro không?) Trong đánh giá rủi ro, nhà quản trị cũng cần chú ý là rủi ro không chỉ phát sinh từ các nhân tố bên trong và bên ngoài đã nêu ở trên mà còn có thể phát sinh do hạn chế cố hữu của hệ thống kiểm soát nội bộ Quy trình này sẽ phát huy tác dụng với hệ thống kiểm soát nội bộ khi nhận dạng được nhân tố chính gây ra rủi ro, sau đó đưa ra biện pháp kiểm soát thích hợp Báo cáo rủi ro và tác động của rủi ro tới hoạt động của doanh nghiệp cho nhà quản trị cũng là một nội dung quan trọng có ảnh hưởng tới các chính sách

và thủ tục kiểm soát, phải thực hiện càng sớm càng tốt để ngăn ngừa rủi ro phát sinh, báo cáo phải tập trung vào các thiệt hại quan trọng có thể xảy ra Quản trị sự thay đổi: đơn vị cần có một cơ chế để nhận diện những thay đổi

có tác động đáng kể đến khả năng đạt mục tiêu đã thiết lập thông qua việc thu thập, xử lý, cung cấp báo cáo về những sự thay đổi mà cần chú ý đặc biệt như:

Trang 33

sự thay đổi của môi trường hoạt động, nhân sự mới, nâng cấp hệ thống máy tính, kỹ thuật mới, tái cơ cấu, hoạt động ở nước ngoài Cơ chế này không cần quá phức tạp có thể kết hợp trong các cuộc tổng kết hoạt động, cuộc họp

về phương hướng kinh doanh Tuy nhiên, đây xác định là một nội dung khó

vì nhận định về tương lai là điều không chắc chắn nhưng nếu có một cơ chế phù hợp giúp dự đoán được những thay đổi trọng yếu thì có thể tạo cơ hội hạn chế rủi ro

Hoạt động kiểm soát

Hoạt động kiểm soát là tập hợp các chính sách và thủ tục đảm bảo cho các chỉthị của nhà quản lý được thực hiện, là các hành động cần thiết thực hiện để đối phó với rủi ro đe dọa đến việc đạt được mục tiêu của tổ chức Hoạt động kiểm soát tồntại ở mọi bộ phận và mọi cấp độ tổ chức trong một đơn vị

Hoạt động kiểm soát có mặt xuyên suốt trong tổ chức, ở các mức độ và các chức năng, là những chính sách và thủ tục để đảm bảo cho các chỉ thị của nhà quản lý được thực hiện Hoạt động kiểm soát bao gồm các hoạt động kiểm soát phòng ngừa và phát hiện rủi ro Do đó, để cân bằng giữa thủ tục kiểm soát phát hiện và phòng ngừa thông thường là phối hợp các hoạt động kiểm soát để hạn chế, bổ sung lẫn nhau giữa các thủ tục kiểm soát

Hoạt động kiểm soát gồm những nguyên tắc sau:

Đơn vị phải lựa chọn, thiết lập các hoạt động kiểm soát để góp phần hạn chế các rủi ro giúp đơn vị đạt mục tiêu trong giới hạn chấp nhận được

Đơn vị lựa chọn và phát triển hoạt động kiểm soát chung với công nghệ hiện đại để hỗ trợ sự thành công cho việc đạt được các mục tiêu của đơn vị Đơn vị triển khai hoạt động kiểm soát thông qua nội dung các chính sách

đã được thiết lập và triển khai thành các thủ tục

Thông tin và truyền thông

Thành phần này phản ánh về một hệ thống tổng thể liên quan tới xử lý,

Trang 34

lưu trữ và cung cấp thông tin trong đơn vị và góp phần tạo sự kết nối với các thành phần khác trong hệ thống kiểm soát nội bộ Hệ thống thông tin và truyền thông ở đây bao gồm cả các thông tin giúp cho việc ra quyết định và việc cung cấp thông tin cho các nhà quản trị trong đơn vị và các cá nhân có liên quan bên ngoài đơn vị Nội dung của thành phần này bao gồm hai bộ phận là hệ thống thông tin (trong đó thông tin do hệ thống kế toán cung cấp là quan trọng nhất) và truyền thông (cách thức trao đổi thông tin giữa các bộ phận bên trong đơn vị và bên ngoài đơn vị) Hệ thống thông tin: hệ thống này được thể hiện trong các báo cáo bao gồm cả thông tin bên trong và bên ngoài, thông tin tài chính và phi tài chính, thông tin về hoạt động thường xuyên (sản xuất, bán hàng ) và không thường xuyên (nhu cầu khách hàng ) cần thiết cho việc đạt mục tiêu của kiểm soát Nguồn cung cấp thông tin thường tới từ:

hệ thống kế toán - giúp cung cấp phần lớn thông tin cần thiết thông qua các báo cáo của kế toán tài chính và kế toán quản trị, các báo cáo về sản xuất kinh doanh, nhân sự, marketing, các cuộc điều tra thị trường (bằng bảng câu hỏi,phỏng vấn, trao đổi với khách hàng), các cuộc họp, các hội thảo chuyên ngành, các buổi tập huấn và đào tạo chuyên môn Hệ thống thông tin tốt thường có đặc điểm sau: hỗ trợ cho chiến lược kinh doanh, hỗ trợ các sáng kiến kinh nghiệm, tích hợp thông tin của nhiều hoạt động (kết hợp thông tin sản xuất với thông tin tài chính), phối hợp thông tin mới và cũ, đảm bảo chất lượng thông tin (kịp thời, thích hợp, chính xác, cập nhật)

Hệ thống thông tin và truyền thông có quan hệ không thể tách rời tạo thành một thành phần thống nhất trong hệ thống kiểm soát nội bộ có ảnh hưởng và liên quan tới mọi cá nhân, bộ phận trong đơn vị cũng như các đối tượng bên ngoài Các phương pháp cụ thể được tiến hành trong thành phần này bao gồm: duy trì hệ thống kế toán, báo cáo quản trị nội bộ, cập nhật các quy định mới, cập nhật các chính sách kế toán mới, công nghệ mới, các cuộc họp với nhân viên, đào tạo

Trang 35

Giám sát

Giám sát kiểm soát được hiểu là quá trình đánh giá chất lượng của hệ thống kiểm soát nội bộ qua từng giai đoạn, nhằm đảm bảo hệ thống kiểm soát nội bộ luôn hoạt động hữu hiệu, phát hiện kịp thời những khiếm khuyết của

hệ thống kiểm soát nội bộ và có biện pháp khắc phục càng sớm càng tốt Giám sát bao gồm giám sát thường xuyên và giám sát định kỳ, đánh giá về hệ thống kiểm soát nội bộ, báo cáo về hạn chế của hệ thống Giám sát thường xuyên được thực hiện đồng thời cùng với các hoạt động hàng ngày từ khâu lập kế hoạch, thực hiện, kiểm tra Phạm vi hoạt động giám sát thường xuyên rất rộng và công việc này được lồng ghép cùng với các thủ tục kiểm soát trực tiếp các hoạt động Mức độ của giám sát thường xuyên là lặp đi lặp lại liên tục Giám sát thường xuyên sẽ giúp nâng cao hiệu quả kiểm soát Bên cạnh giám sát thường xuyên, nhà quản lý còn cần có thông tin đầy đủ, toàn diện và khách quan hơn về tính hiệu quả, hiệu lực của hệ thống kiểm soát nội bộ thông qua giám sát định kỳ Giám sát định kỳ thường thực hiện theo thời gian nhất định hoặc khi có tình huống đặc biệt như thay đổi nhà quản lý cấp cao, tái cấu trúc… Người thực hiện giám sát định kỳ thông thường là người thực hiện hoạt động, họ tự đánh giá về các chính sách thủ tục kiểm soát tại bộ phận dưới sự hướng dẫn của nhà quản lý bộ phận và cung cấp kết quả cho nhà quản

lý cấp cao nhất trong đơn vị, kiểm toán viên nội bộ (nếu có), kiểm toán viên độc lập cũng tham gia vào công việc giám sát định kỳ Phương tiện để thực hiện hoạt động giám sát định kỳ đó là bảng kiểm tra, bảng câu hỏi, lưu đồ Sau khi hoàn thiện trên các tài liệu trên, doanh nghiệp có thể so sánh với doanh nghiệp khác có hệ thống kiểm soát nội bộ tốt hơn hoặc nhờ các bên tư vấn soát xét hộ để tìm ra những khiếm khuyết có thể có và nguyên nhân của khiếm khuyết phát hiện, lập các báo cáo đánh giá về hệ thống cũng như các hạn chế của hệ thống Thông thường, hệ thống kiểm soát nội bộ sẽ được thiết

Trang 36

kế để giám sát thường xuyên được thực hiện ở một mức độ nhất định, và khi giám sát thường xuyên càng hiệu quả thì có thể giảm thực hiện giám sát định

kỳ Giám sát định kỳ giúp phát hiện nhanh các khiếm khuyết do được thực hiện sau khi xảy ra vấn đề tuy nhiên sẽ làm phát sinh thêm chi phí cho hệ thống kiểm soát Do đó, doanh nghiệp nên xây dựng hệ thống kiểm soát theo hướng tích hợp giám sát thường xuyên trong quá trình kiểm soát, để giảm khối lượng thủ tục kiểm soát và tiết kiệm chi phí.Từ những khái quát chung

về giám sát kiểm soát có thể cho thấy hoạt động này là rất cần thiết trong xây dựng và duy trì hệ thống kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp Nhà quản lý nhất thiết phải thực hiện tốt công tác giám sát để xác định được liệu hệ thống KSNB còn phù hợp và phát hiện ngăn ngừa rủi ro mới không hay cần phải thay đổi để phù hợp với điều kiện mới

1.1.3 Sự hữu hiệu và hạn chế tiềm tàng của hệ thống KSNB

1.1.3.1 Các nhân tố tác động đến việc xây dựng và vận hành hệ thống KSNB

Từ định nghĩa và các nguyên tắc về KSNB trên, khi xây dựng và vận hành hệ thống KSNB cần chú trọng bốn nhân tố cơ bản sau:

- KSNB là một quá trình: KSNB là một chuỗi các hoạt động hiện diện ở mọi bộ phận trong đơn vị và được kết hợp với nhau thành một thể thống nhất KSNB hữu hiệu nhất khi nó được xây dựng như một phần cơ bản trong một doanh nghiệp chứ không phải là một hoạt động bổ sung cho các hoạt động của doanh nghiệp hoặc là một gánh nặng bị áp đặt bởi các cơ quan quản lý hay thủ tục hành chính Quá trình kiểm soát là phương tiện giúp cho đơn vị đạt được mục tiêu của mình

- KSNB được thiết kế và vận hành bởi con người: KSNB không chỉ đơn thuần là những chính sách, thủ tục, biểu mẫu… mà còn bao gồm cả những con người trong tổ chức như Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc, các nhân

Trang 37

viên… Chính con người định ra mục tiêu, thiết lập cơ chế kiểm soát ở mọi nơi

và vận hành chúng

- KSNB cung cấp một sự đảm bảo hợp lý: KSNB không đảm bảo tuyệt đối các mục tiêu sẽ được thực hiện Vì khi vận hành hệ thống kiểm soát, những yếu kém có thể xảy ra do các sai lầm của con người

1.1.3.2 Sự hữu hiệu của hệ thống KSNB

Sự hữu hiệu của một hệ thống KSNB được xem xét theo một trong ba nhóm mục tiêu khác nhau sau đây:

- Mức độ hoàn thành mục tiêu hoạt động của tổ chức;

- Báo cáo tài chính đang được lập và trình bày một cách đáng tin cậy;

- Các luật lệ và quy định đang được tuân thủ

Sự hữu hiệu này còn được thể hiện qua việc thiết lập một hệ thống chính sách và thủ tục nhằm đạt được bốn mục tiêu sau:

- Bảo vệ tài sản của đơn vị;

- Bảo đảm độ tin cậy của các thông tin;

- Bảo đảm việc thực hiện các chế độ pháp lý;

- Bảo đảm hiệu quả của hoạt động và năng lực quản lý

Bốn mục tiêu trên đều nằm trong một thể thống nhất, tuy nhiên đôi khi chúng cũng có mâu thuẫn với nhau trong việc cân đối giữa hiệu quả hoạt động với mục đích bảo vệ tài sản hoặc cung cấp thông tin đầy đủ và tin cậy

1.1.3.3 Những hạn chế tiềm tàng của hệ thống KSNB

Ở bất cứ đơn vị nào, dù đã được đầu tư rất nhiều trong thiết kế và vận hành hệ thống Tuy nhiên, một hệ thống KSNB vẫn không thể hoàn toàn hữu hiệu

Bởi vì ngay cả khi có thể xây dựng hệ thống hoàn hảo về cấu trúc thì hiệu quả thật sự của nó vẫn phụ thuộc vào nhân tố chủ yếu là con người, tức

là phụ thuộc vào năng lực làm việc và tính đáng tin cậy của lực lượng dân sự

Trang 38

Do đó hệ thống KSNB chỉ giúp hạn chế tối đa các sai phạm bởi hạn chế tiềm tàng xuất phát từ các nguyên nhân sau:

- Những hạn chế xuất phát từ bản thân con người như sự vô ý, bất cẩn, ước lượng sai, hiểu sai chỉ đạo của cấp trên hoặc báo cáo của cấp dưới…

- Khả năng đánh lừa, lẩn tránh của nhân viên thông qua sự thông đồng với nhau hay với các bộ phận bên ngoài đơn vị

- Hoạt động kiểm soát thường chỉ nhằm vào các nghiệp vụ thường xuyên phát sinh mà ít chú ý đến những nghiệp vụ không thường xuyên, do đó những sai phạm trong các nghiệp vụ này thường hay bị bỏ qua

- Yêu cầu thường xuyên và trên hết của người quản lý là chi phí bỏ ra cho hoạt động kiểm soát phải nhỏ hơn giá trị thiệt hại được tính do sai sót hay gian lận gây ra

- Luôn có khả năng là các cá nhân có trách nhiệm kiểm soát đã lạm dụng quyền hạn của mình nhằm phục vụ cho mưu đồ riêng

- Điều kiện hoạt động của đơn vị thay đổi nên dẫn tới những thủ tục kiểm soát không còn phù hợp… Chính những hạn chế nói trên đây của KSNB

là nguyên nhân khiến cho KSNB không thể đảm bảo tuyệt đối trong việc đạt được mục tiêu của đơn vị (Vũ Hữu Đức và cộng sự, 2007)

1.2 HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Theo tác giả Trầm Thị Xuân Hương và cộng sự (2012, trang 2): “Ngân hàng thương mại là tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật, kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, với hoạt động thường xuyên là nhận tiền gửi dưới nhiều hình thức khác nhau và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán cho các chủ thể trong nền kinh tế, nhằm mục tiêu lợi nhuận”

Trong tất cả các hoạt động kinh doanh của NHTM, hoạt động chủ yếu và

Trang 39

quan trọng nhất là hoạt động tín dụng Vì vậy, đề tài tập trung nghiên cứu về KSNB đối với hoạt động tín dụng ngân hàng

1.2.1 Hoạt động tín dụng trong Ngân hàng thương mại

1.2.1.1.Khái niệm về Tín dụng

“Đứng trên góc độ là NHTM, tín dụng là hình thức sử dụng vốn của ngân hàng thông qua việc chuyển giao vốn tín dụng cho khách hàng dưới hình thức bằng tiền hoặc tài sản mà khách hàng cam kết hoàn trả nợ và lãi đúng hạn” (Trầm Thị Xuân Hương và cộng sự, 2012, trang 41)

Về cơ bản, hoạt động tín dụng ngân hàng bao gồm các loại hình sau: Cho vay(Loans);Chiết khấu (Discount);Cho thuê tài chính (Financial Leasing);Bảo lãnh Ngân hàng (Bank Guarantee);Bao thanh toán (Factoring)

1.2.1.2 Bản chất của tín dụng Ngân hàng

Căn cứ vào kỹ thuật, nghiệp vụ cấp tín dụng rất đa dạng như cho vay, chiết khấu, thấu chi, Dù tính chất của các hình thức tín dụng có những đặc thù khác nhau nhưng đều có điểm giống nhau về cơ bản đó là ngân hàng sẽ chuyển giao cho khách hàng một số tiền nhất định và sau một khoảng thời gian đã thỏa thuận thì ngân hàng sẽ thu hồi vốn gốc và lãi (Trầm Thị Xuân Hương và cộng sự, 2012)

Cho vay luôn chiếm tỷ trọng lớn trong các sản phẩm tín dụng tại Việt Nam, nên nghiên cứu này đề cập tới khía cạnh chủ yếu là cho vay Bên cạnh

đó, các hình thức cấp tín dụng khác thực tế chỉ là hình thức biến tướng của nghiệp vụ cho vay, ngân hàng cấp vốn tín dụng dưới các hình thức đều phải thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn

1.2.1.3 Đặc điểm của tín dụng Ngân hàng

- Đặc điểm nổi bật của hoạt động tín dụng đó là tính hoàn trả Việc thu hồi vốn tín dụng từ việc hoàn trả nợ vay là yêu cầu tất yếu của hoạt động tín dụng tại NHTM

Trang 40

- Ngân hàng chỉ chuyển giao quyền sử dụng vốn cho khách hàng chứ không chuyển giao quyền sở hữu vốn

- Hoạt động cấp tín dụng của NHTM hầu hết các nước trên thế giới đều phải có khung pháp lý và được ngân hàng trung ương kiểm soát chặt chẽ

- Tín dụng của NHTM đáp ứng nhu cầu về vốn cho các doanh nghiệp và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân, nên đòi hỏi các sản phẩm tín dụng ngày càng phong phú và đa dạng đáp ứng ngày càng cao nhu cầu của khách hàng

- Các ngân hàng phải tuân thủ quy trình tín dụng, đồng thời mọi tác nghiệp của hoạt động tín dụng cần phải được kiểm tra, giám sát chặt chẽ, nhằm đảm bảo khách hàng trả nợ và lãi đúng hạn, hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng nợ xấu (Trầm Thị Xuân Hương và cộng sự, 2012)

1.2.1.4.Vai trò của tín dụng Ngân hàng

 Đối với bản thân ngân hàng thương mại

Trong hoạt động sản xuất kinh doanh mục tiêu hàng đầu của doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế là đối đa hoá lợi nhuận, các tổ chức kinh doanh tiền tệ cũng không nằm ngoài mục đích đó Ngân hàng thu được lợi nhuận thông qua các hoạt động dịch vụ cung cấp cho khách hàng như thanh toán, tư vấn và quan trọng nhất là hoạt động tín dụng Ngân hàng với tư cách là một trung gian tài chính kinh doanh trên nguyên tắc nhận tiền gửi của khách hàng (nghiệp vụ huy động vốn) và tiến hành các hoạt động cho vay dưới nhiều hình thức khác nhau, tuỳ theo yêu cầu vay của khách hàng và thu về lợi nhuận cho đơn vị Đây chưa phải là toàn bộ lợi nhuận của ngân hàng, tuy nhiên hoạt động tín dụng là nghiệp vụ chủ yếu, nó chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tổng thu nhập của ngân hàng

 Đối với nền kinh tế

Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại còn có vai trò rất lớn trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội thông qua việc cung ứng một khối lượng vốn lớn cho nền kinh tế nhằm phục vụ cho sản xuất kinh doanh,

Ngày đăng: 27/11/2021, 15:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[4]. Vũ Hữu Đức và cộng sự (2007), Kiểm toán, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm toán
Tác giả: Vũ Hữu Đức và cộng sự
Năm: 2007
[5]. Nguyễn Thị Hải (2011), Quản trị nghiệp vụ phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng tại chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hà Thành – Thực trạng và giải pháp, Luận văn thạc sĩ, Học viện Ngân hàng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị nghiệp vụ phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng tại chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Hà Thành – Thực trạng và giải pháp
Tác giả: Nguyễn Thị Hải
Năm: 2011
[6]. Phi Thị Thu Hiền (2004), Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ đối với nghiệp vụ tín dụng trong các ngân hàng thương mại Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ đối với nghiệp vụ tín dụng trong các ngân hàng thương mại Việt Nam
Tác giả: Phi Thị Thu Hiền
Năm: 2004
[7]. Vương Đình Huệ (2004), Giáo trình Kiểm toán, Nxb Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Ki"ể"m toán
Tác giả: Vương Đình Huệ
Nhà XB: Nxb Tài chính
Năm: 2004
[8]. Trầm Thị Xuân Hương và cộng sự (2012), Giáo trình nghiệp vụ ngân hàng thương mại, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình nghiệp vụ ngân hàng thương mại
Tác giả: Trầm Thị Xuân Hương và cộng sự
Năm: 2012
[9]. Nguyễn Minh Kiều (2014), Nghiệp vụ ngân hàng thương mại, Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh và chương trình giảng dạy Kinh tế Fulbright Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiệp vụ ngân hàng thương mại
Tác giả: Nguyễn Minh Kiều
Năm: 2014
[11]. Hoàng Phê (chủ biên) (2014), Từ điển tiếng việt, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ đi"ể"n ti"ế"ng vi"ệ"t
Tác giả: Hoàng Phê (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 2014
[12]. Nguyễn Trường Sơn (2011), Nâng cao chất lượng quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Học viện Ngân hàng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Trường Sơn
Năm: 2011
[13]. NguyễnThị Thanh Thảo (2010), Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ đối với nghiệp vụ tín dụng tại các ngân hàng thương mại trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sĩ, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ đối với nghiệp vụ tín dụng tại các ngân hàng thương mại trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: NguyễnThị Thanh Thảo
Năm: 2010
[14]. Vũ Thị Minh Thu (2012), Hoàn thiện hệ thống quản trị rủi ro tín dụng trong các ngân hàng thương mại Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Học viện Ngân hàng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện hệ thống quản trị rủi ro tín dụng trong các ngân hàng thương mại Việt Nam
Tác giả: Vũ Thị Minh Thu
Năm: 2012
[15]. VACPA (2013), Bản dịch Hệ thống chuẩn mực kiểm toán quốc tế, NXB Tài chính, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống chuẩn mực kiểm toán quốc tế
Tác giả: VACPA
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 2013
[16]. Victor Z.Brink and Herbert Witt (2000), Bản dịch Kiểm toán nội bộ hiện đại, NXB Tài chính.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm toán nội bộ hiện đại
Tác giả: Victor Z.Brink and Herbert Witt
Nhà XB: NXB Tài chính. Tiếng Anh
Năm: 2000
[17].Dimitris N. Chorafas (2001), Implementing and auditing the internal control system, Published by Palgrave Macmillan Sách, tạp chí
Tiêu đề: Implementing and auditing the internal control system
Tác giả: Dimitris N. Chorafas
Năm: 2001
[22]. Marc Lamoureux (2013), Internal Controls Handbook (The power sector an NERC compliance), Reliability Publishing, USA Sách, tạp chí
Tiêu đề: Internal Controls Handbook (The power sector an NERC compliance)
Tác giả: Marc Lamoureux
Năm: 2013
[23]. Steven J. Root (1998), Internal Control to Enhance Corporate Governance, John Wiley and Sons, USA Sách, tạp chí
Tiêu đề: Internal Control to Enhance Corporate Governance
Tác giả: Steven J. Root
Năm: 1998
[24]. Steven J. Root (1998), Beyond COSO - Internal Control to Enhance Corporate Governance, Jonh Wiley & Son, Inc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Beyond COSO - Internal Control to Enhance Corporate Governance
Tác giả: Steven J. Root
Năm: 1998
[1]. AGR-CN Kiên Giang (2015), Chính sách tín dụng nội bộ Khác
[2]. AGR-CN Kiên Giang, 2010 – 2016, Báo cáo thường niên Khác
[3]. AGR-CN Kiên Giang (2015), Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ Khác
[18].Entreprise Risk Management – Integrated framework – Framework (2004), Including Executive Summary Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

DANH MỤC CÁC BẢNG - Hoàn thiện hệ thống kiểm toán nội bộ trong hoạt động tín dụng tại Ngân hàng NNPTNT chi nhánh tỉnh Kiên Giang
DANH MỤC CÁC BẢNG (Trang 11)
DANH MỤC CÁC HÌNH - Hoàn thiện hệ thống kiểm toán nội bộ trong hoạt động tín dụng tại Ngân hàng NNPTNT chi nhánh tỉnh Kiên Giang
DANH MỤC CÁC HÌNH (Trang 12)
Hình 1.1.Khái quát khái niệm KSNB theo quan điểm của COSO - Hoàn thiện hệ thống kiểm toán nội bộ trong hoạt động tín dụng tại Ngân hàng NNPTNT chi nhánh tỉnh Kiên Giang
Hình 1.1. Khái quát khái niệm KSNB theo quan điểm của COSO (Trang 22)
Bảng 2.1. Tình hình chovay của Agribank tại Agribank  giai đoạn2011 - 2015  - Hoàn thiện hệ thống kiểm toán nội bộ trong hoạt động tín dụng tại Ngân hàng NNPTNT chi nhánh tỉnh Kiên Giang
Bảng 2.1. Tình hình chovay của Agribank tại Agribank giai đoạn2011 - 2015 (Trang 54)
Hình 2.1. Biểu đồ dư nợ và tỷ lệ nợ xấu tại Agribank giai đoạn 2011 - 2015  - Hoàn thiện hệ thống kiểm toán nội bộ trong hoạt động tín dụng tại Ngân hàng NNPTNT chi nhánh tỉnh Kiên Giang
Hình 2.1. Biểu đồ dư nợ và tỷ lệ nợ xấu tại Agribank giai đoạn 2011 - 2015 (Trang 55)
đƣợc thẩm định tình hình kinh doanh và - Hoàn thiện hệ thống kiểm toán nội bộ trong hoạt động tín dụng tại Ngân hàng NNPTNT chi nhánh tỉnh Kiên Giang
c thẩm định tình hình kinh doanh và (Trang 117)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w