Xuất khẩu thủy sản của Việt Nam đã có những bước tiến lớn trong gần 20 năm qua. Kim ngạch xuất khẩu thủy sản từ mức thấp 550 triệu USD năm 1995 đã có những bước tăng trưởng mạnh mẽ qua từng năm với mức tăng trưởng bình quân 15,6%năm và đã đạt 7,8 tỷ USD năm 2014. Quá trình tăng trưởng này đã đưa Việt Nam trở thành một trong 5 nước xuất khẩu thủy sản lớn nhất thế giới, giữ vai trò chủ đạo cung cấp nguồn thủy sản toàn cầu.
Trang 1BỘ TÀI CHÍNH TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH MARKETING
KHOA THƯƠNG MẠI - -
Đề tài môn học
ĐÁNH GIÁ CƠ HỘI XÂM NHẬP MẶT HÀNG
TÔM ĐÔNG LẠNH SANG CÁC
THỊ TRƯỜNG QUỐC TẾ
Trang 2Xuất khẩu thủy sản của Việt Nam đã có những bước tiến lớn trong gần 20 năm qua Kim ngạch xuất khẩu thủy sản từ mức thấp 550 triệu USD năm 1995 đã có nhữngbước tăng trưởng mạnh mẽ qua từng năm với mức tăng trưởng bình quân 15,6%/năm
và đã đạt 7,8 tỷ USD năm 2014 Quá trình tăng trưởng này đã đưa Việt Nam trở thành một trong 5 nước xuất khẩu thủy sản lớn nhất thế giới, giữ vai trò chủ đạo cung cấp nguồn thủy sản toàn cầu
Năm 2014 XK thủy sản đã tăng mạnh 16,5% nhờ nhu cầu NK thủy sản tăngvọt, nguồn nguyên liệu giảm, giá thủy sản NK tăng Năm 2015, xu hướng XK đảongược khi các yếu tố cung cầu không còn thuận lợi như 2014 Nguồn cung tôm củacác nước Indonesia, Ấn Độ, Thái Lan hồi phục, giá NK trung bình giảm, áp lực cạnhtranh và đồng USD tăng giá mạnh so với các đồng tiền khác khiến nhu cầu NK của cácthị trường giảm Và mục tiêu 8 tỷ USD XK trong năm 2015 đã không thể đạt được.Kim ngạch XK thủy sản năm 2015 chỉ đạt gần 6,6 tỷ USD, giảm 16% so với năm2014
Các yếu tố bất lợi của năm 2015 có thể sẽ còn tiếp tục ảnh hưởng đến XK thủysản, ít nhất là trong nửa đầu năm 2016 Tuy nhiên, từ năm 2016, XK thủy sản ViệtNam sẽ được mở rộng cửa hơn nhờ việc Việt Nam tham gia một số hiệp định thươngmại tự do song phương và đa phương
Trong số đó, có 8 FTA đã có hiệu lực và đang thực thi, là Hiệp định thương mại
tự do thương mại ASEAN (AFTA, ký kết năm 1996) và 5 FTA giữa ASEAN với cácđối tác (FTA giữa ASEAN và Trung Quốc; FTA giữa ASEAN và Hàn Quốc; FTA giữaASEAN và Nhật Bản; FTA giữa ASEAN và Ấn Độ; FTA giữa ASEAN và Australia -New Zealand); 2 FTA song phương (Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện Việt Nam -Nhật Bản và Hiệp định thương mại tự do song phương Việt Nam - Chile) Các hiệpđịnh đã ký kết nhưng chưa có hiệu lực là FTA Việt Nam - Hàn Quốc (ký kết ngày 5-5-2015), FTA Việt Nam - Liên minh kinh tế Á - Âu (ký ngày 29-5-2015) và Hiệp địnhđối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP, công bố ngày 5-10-2015) Các FTAthế hệ mới
Trang 3đã kết thúc đàm phán gồm FTA Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA, công bố ngày4-8-2015).1
Cơ hội về thuế XNK từ TPP và các FTA với EU, Hàn Quốc & liên minh Á-Âu
Mỹ, EU, Nhật Bản và Hàn Quốc chiếm tới 64,4% tổng giá trị XK thủy sản củaViệt Nam Vì thế, sự tham gia của 4 đối tác kinh tế quan trọng trên vào các hiệp địnhthương mại sẽ đem lại những lợi ích, cơ hội lớn cho XK thủy sản Việt Nam trong thờigian tới Các nước thành viên tham gia TPP sẽ được giảm hơn 90% các loại thuế XNKhàng hóa Đó sẽ là tín hiệu tốt cho các DN XK thủy hải sản
Hiệp định FTA Việt Nam – Hàn Quốc được ký kết giúp nâng khả năng cạnhtranh của Việt Nam với Trung Quốc, Thái lan và Ecuador (đang phải chịu thuế 20%).Hàn Quốc cam kết cấp hạn ngạch thuế quan 10.000 tấn tôm cho Việt Nam trong nămđầu tiên và đạt 15.000 tấn sau 5 năm với thuế suất NK 0% Hạn ngạch này có hiệu lựcvào đầu năm 2016 Trong khi, cả ASEAN cũng chỉ có chung hạn ngạch 5.000 tấn/nămdành cho 10 nước ASEAN Cùng với 68 dòng sản phẩm thủy sản (chủ yếu là sản phẩmnguyên liệu chương 03), riêng mặt hàng tôm được cắt giảm thuế 7 dòng bao gồm cảtôm nguyên liệu chương 03 và tôm chế biến chương 16 Mặt hàng cá ngừ và thủy sảnkhác quy trình cắt giảm theo lộ trình 3-10 năm Mặt hàng cá tra và mực bạch tuộc hầunhư về 0% ngay khi hiệp định có hiệu lực
Khi Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh Hải quan (gồmNga, Belarus và Kazakhstan) - Hiệp định VCUFTA - đi vào thực thi, thủy sản là nhómhàng sẽ được hưởng ưu đãi thuế ngay lập tức từ khi Hiệp định có hiệu lực Hầu hết cácsản phẩm thủy sản đều được bỏ thuế ngay khi hiệp định có hiệu lực Việc khai thônghàng rào thuế quan và mở cửa thị trường Nga hơn sẽ là một yếu tố quan trọng đối vớithủy sản Việt Nam vì Nga là đối tác truyền thống đối với sản phẩm cá tra Việt Nam.Trong khi Nga đang áp dụng lệnh cấm NK thực phẩm từ các nước phương Tây và một
số nước khác, Việt Nam sẽ có cơ hội đẩy mạnh XK thủy sản để bù đắp thiếu hụt tại thịtrường này
1 Theo Tổ chức Thương mại thế giới, truy cập ngày 17/9/2016,
https://www.wto.org/english/res_e/booksp_e/world_trade_report15_e.pdf
Trang 4Với 11 nước thành viên tham gia TPP cùng Việt Nam là: Mỹ, Nhật Bản,Canada, Australia, Singapore, Mexico, Malaysia, Newzealand, Chile, Peru và Bruneiđều là những đối tác quan trọng của thủy sản Việt Nam Năm 2015, ước tính tổng giátrị XK thủy sản sang 11 thị trường này đạt gần khoảng 3 tỷ USD, chiếm 46% tổng giátrị XK thủy sản của Việt Nam.
Với Nhật Bản trong TPP, tất cả các SP tôm tươi/đông lạnh (HS03) sẽ có thuế0% (trước: 1-10%) ngay khi Hiệp định có hiệu lực; tôm chế biến (HS16) bị loại trừkhỏi danh mục giảm thuế trong VJEPA Lợi thế hơn Agentina, Ecuado và Ấn Độ khi 3nước này không có FTA với Nhật Bản Lợi thế cộng gộp TPP (12 nước) hơn cácnước Thái Lan, Philipines và Indonesia dù 3 nước này đã có cả FTA song phương và
đa phương ASEAN với Nhật Bản Đây cũng là tín hiệu tích cực cho các DN XK hảisản, đặc biệt là DN XK cá ngừ sang Nhật Bản - thị trường đối tác lớn thứ 2 (sau Mỹ)trong 11 nước tham gia TPP bởi trong nhiều năm trước đây thuế suất của Việt Namđang cao hơn nhiều so với các nước trong khu vực ASEAN Theo đúng lộ trình củaTPP, Nhật Bản sẽ bãi bỏ thuế NK đối với sản phẩm cá ngừ và cá hồi và mở cửa chocác DN XK thuộc các nước thành viên tham gia tích cực hơn vào thị trường này
Với Hoa kỳ trong TPP, các SP tôm tươi/đông lạnh (HS03) đã có thuế MFN 0%,
SP tôm chế biến (HS16) có lộ trình 5 năm đưa thuế về 0% Tuy nhiên, với TPP khi cóhiệu lực thì tôm VN có lợi thế cạnh tranh hơn so với 6 nước cạnh tranh chính
là Agentina, Ecuado, Ấn Độ, Thái Lan, Phillipines và Indonesia khi 6 nước này không
có FTA với Hoa kỳ
Việc ký các hiệp định FTA và TPP sẽ là cơ hội cho DN thủy sản Việt Nam mởrộng thị trường Với năng lực hàng đầu thế giới hiện nay về công nghệ chế biến thủysản của Việt Nam, DN có thể NK nguyên liệu từ các nước để gia công, chế biến XKsang EU và các nước tham gia TPP Trung Quốc hiện đang đứng đầu về gia công thủysản cho nhiều thị trường, nhưng hiện nay đang có xu hướng chuyển dịch từ TrungQuốc sang các nước khác có điều kiện sản xuất và lao động thuận lợi hơn Vì vậy, đâycũng đồng thời là cơ hội dịch chuyển các nguồn nguyên liệu tốt và khách hàng tốt đểcác nhà kinh doanh và NK thủy sản từ Mỹ, Nhật Bản, EU lựa chọn Việt Nam để đầutư
Trang 5Nguồn nguyên liệu hải sản trong nước đang ngày càng thiếu hụt, thuế NK giảmcũng sẽ tạo điều kiện tốt hơn cho các DN NK cá ngừ, mực, bạch tuộc Việt Nam khi
NK từ các nước có năng lực khai thác tốt như Đài Loan, Nhật Bản, Mexico, Peru…
Có lợi thế cạnh tranh hơn
Tham gia TPP và các FTA cũng là cơ hội tốt cho thủy sản Việt Nam tăng sứccạnh tranh nhờ sử dụng các dịch vụ hỗ trợ sản xuất giá rẻ hơn như vận tải, thức ănchăn nuôi, nguyên liệu vật tư, trang thiết bị; là cơ hội tăng cường hợp tác liên doanh đểnâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến chuỗi sản xuất hàng giá trị gia tăng…
Đa số các nước đối thủ với Việt Nam đều chưa ký FTA với các nước đối tác trênnên đây sẽ là lợi thế cạnh tranh về mặt thuế NK cho thủy sản Việt Nam VD: với thịtrường Hàn Quốc, Việt Nam sẽ có lợi thế hơn so với đối thủ cạnh tranh trong ASEAN(Thái Lan, Indonesia, Malaysia) và Trung Quốc Đối với Liên minh Kinh tế Á – Âu:Việt Nam là nước đầu tiên ký FTA nên có cơ hội cạnh tranh hơn các nước đối thủ
Đối với thị trường Mỹ: Việt Nam đều có lợi thế cạnh tranh hơn khi Hiệp địnhTPP có hiệu lực vì các nước đối thủ như Ấn Độ, Ecuador, Philippine Thái Lan,Indonesia đều không tham gia hiệp định
Đối với thị trường EU: các nước đối thủ như Ấn Độ, Thái Lan, Indonesia,Philippine đều chưa ký FTA song phương mà chỉ được hưởng ưu đãi thuế quan theoGSP Việt Nam cũng như một số nước đối thủ cạnh tranh như Ấn Độ, Thái Lan,Phillipines, Indonesia rất dễ đạt ngưỡng trưởng thành của GSP trong thời gian tới Dovậy, khi FTA VN – EU có hiệu lực Việt Nam sẽ có lợi thế so với hầu hết các nướcSXXK cạnh tranh
Theo đánh giá của các chuyên gia, nhiều DN XK thủy sản Việt Nam sẽ đượchưởng lợi từ các FTA và TPP, tuy nhiên đó chỉ là một mặt của vấn đề Để bước ra sânchơi lớn, để nắm được các cơ hội, các DN thủy sản phải nhanh nhạy với thị trường,nâng cao hơn nữa chất lượng sản phẩm XK để không bị lúng túng trước các rào cản kỹthuật khắt khe hơn, đồng thời sức cạnh tranh phải cao so với các nước cạnh tranh khác
Do đó, mặt hàng tôm cũng có thể dựa trên những lợi thế đó đẩy mạnh xuất khẩusang các thị trường tiềm năng như sau:
Trang 6- Các quốc gia thuộc TPP: Úc, Canada, Chi lê, Mexico, Newzealand, Nhật Bản.
BƯỚC 1: ĐÁNH GIÁ QUẢN TRỊ
Dựa trên những đánh giá khách quan về các yếu tố bên ngoài trên phương diệnchủ quan nhóm quyết quyết định tiến hành loại các thị trường sau:
EU
EU là thị trường tiêu thụ tôm lớn thứ 3 của Việt Nam Xét về khối lượng, ViệtNam đứng thứ 5 trong các nước nhập tôm vào EU Xuất khẩu tôm Việt Nam sang EUchiếm gần 17% tổng giá trị xuất khẩu tôm cả nước năm 2014, và 19% trong 8 thángđầu năm 2015 Đối với dòng sản phẩm tôm “nước ấm”, Việt Nam hiện là nhà cung cấplớn thứ 3 Khối lượng tôm Việt Nam vào EU năm 2014 với mức tăng khả quan 31,13%
so năm 2013
Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU được ký kết kèm theo thuế xuấtkhẩu các mặt hàng thủy sản Việt Nam dần trở về 0 Xuất khẩu tôm sang EU 8 thángđầu năm 2015 đạt 347 triệu USD, giảm 19% so cùng kỳ năm 2014 Nguyên nhân, kinh
tế EU chưa thoát khỏi khủng hoảng và EUR giảm so với USD
Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) vừa cho biết, đầunăm 2016, đơn đặt hàng từ các nhà nhập khẩu từ châu Âu (EU) dự kiến tăng do họmuốn bổ sung vào nguồn dự trữ Cơ quan này cũng cho rằng, do đồng euro mất giá,các nhà nhập khẩu tôm EU không được lợi từ việc giá tôm giảm Trong ba thị trườngnhập khẩu chính tôm Việt Nam trong khối EU, năm 2015, Anh là thị trường duy nhấtghi nhận mức tăng trưởng dương 13,4% so với 2014, do nhu cầu nhập khẩu tôm nước
ấm tăng trong khi nguồn cung tôm nước lạnh giảm và giá cao Xuất khẩu tôm ViệtNam sang Đức và Hà Lan lần lượt giảm 21,5% và 27,3%
Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), thời giantrước mắt, vì Anh phải mất 2 năm nữa để hoàn tất các thủ tục rút lui khỏi khối EU.Trong khoảng thời gian này, Anh vẫn được đảm bảo các nghĩa vụ và quyền lợi trong
Trang 7khối Anh thị trường lớn nhất nhì trong khu vực EU đối với thủy sản Việt Nam, nhưngđây không phải là thị trường mang tính cửa ngõ như Tây Ban Nha, Hà Lan, Bỉ mà làthị trường tiêu thụ Hầu hết các sản phẩm thủy sản của Việt Nam xuất khẩu sang Anhđều được bán tới tay người tiêu dùng nước này Tuy nhiên, việc rời EU của Anh sẽ ảnhhưởng đến khả năng cạnh tranh về giá cả của Việt Nam trên thị trường này trong tươnglai.
Loại EU vì thị trường tiêu thụ mạnh của khu vực này là Anh đã rời khỏi EU làm giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trong tương lai, bên cạnh đó sự suy thoái về kinh tế kéo dài của khu vực này kèm theo những bất ổn về giá trị đồng EUR trong thanh toán quốc
tế
NEW ZELAND
Việt Nam và New Zealand thiết lập quan hệ ngoại giao vào ngày 19/6/1975,quan hệ hợp tác bắt đầu phát triển nhiều từ giai đoạn 1990 đến nay Tháng 11/1995,New Zealand mở đại sứ quán tại Hà Nội và tổng lãnh sự quán tại Thành phố Hồ ChíMinh
Việt Nam và New Zealand là hai nền kinh tế mang tính bổ trợ New Zealand cónhu cầu nhập khẩu các mặt hàng mà Việt Nam có thế mạnh như may mặc, da giày, đồ
gỗ, nông sản nhiệt đới, thủy sản… trong khi Việt Nam có nhu cầu nhập khẩu lớn một
số mặt hàng như sữa, gỗ nguyên liệu, nguyên phụ liệu dệt may, da giày, kim loại, hóachất, thiết bị, phụ tùng phục vụ cho tiêu dùng trong nước và đặc biệt cho sản xuất hàngxuất khẩu dự kiến sẽ tăng mạnh
Hiện nay, hai nước đã trở thành những đối tác thương mại quan trọng của nhau.New Zealand là đối tác thương mại lớn thứ 31 của Việt Nam còn Việt Nam là đối táclớn thứ 20 của New Zealand
Theo báo cáo của nhóm Ngân hàng thế giới về “Môi trường kinh doanh năm2015”, New Zealand được đánh giá đứng thứ 2 trong số 10 nền kinh tế thuận lợi nhấtcho kinh doanh, sau Singapore và trước Hong Kong, Hàn Quốc và Australia
Trang 8Theo Thủ tướng New Zealand John Key: “Việt Nam là thị trường xuất khẩutăng trưởng nhanh nhất của New Zealand tại Đông Nam Á, với kim ngạch thương mạisong phương đạt hơn 653,4 triệu USD/năm.”
Thủy hải sản là ngành công nghiệp sống còn đối với nền kinh tế New Zealand,trực tiếp cung cấp 8.000 việc làm và đem lại nguồn thu hơn 1,5 tỷ đô la NZ (987,75triệu USD) từ xuất khẩu mỗi năm Chính phủ New Zealand đang duy trì và xây dựngviệc tiếp cận thị trường thông qua các hiệp định tự do thương mại (FTA), đồng thời tậndụng các cơ hội để phát triển các thị trường mới và gia tăng thị phần tại các thị trường
Uỷ ban trên vẫn chưa được thành lập do chưa thống nhất được cấp ký ( chính phủ haycấp bộ)
Mặc dù chưa ký kết hiệp định thương mại song phương, song trong vài năm trởlại đây, Mexico vẫn đơn phương dành cho hàng hoá nhập khẩu từ Việt Nam đượchưởng quy chế Tối huệ quốc (MFN) Đây cũng là một trong những nguyên nhân thúcđẩy tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường này Điều đáng lưu ý là từ khiViệt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới(WTO), xuất khẩu của Mexico sangViệt Nam tăng lên rõ rệt
Quan hệ hợp tác trên một số lĩnh vực kinh tế cụ thể đã có những kết quả khảquan Về nông nghiệp, Mexico đã cung cấp cho Việt Nam một số giống cây trồng caosản (ngô, rau quả, dứa sợi), giống gia súc ( tinh bò thịt và bò sữa); đào tạo cán bộ kỹthuật nông nghiệp cho Việt Nam (kỹ thuật trồng ngô, thụ tinh nhân tạo, trồng cỏ chănnuôi) Việt Nam cũng gửi cho Mexico giống lúa, một số thiết bị nông nghiệp nhỏ doViệt Nam chế tạo, cử chuyên gia trồng lúa được Mexico đánh giá cao
Trang 9Trong số các mặt hàng xuất khẩu, hàng thủy sản, giày dép hàng dệt may và máymóc thiết bị đã vươn lên vị trí hàng đầu, chiếm tỷ trọng lớn trong kim ngạch xuất khẩucủa Việt Nam Ngoài những mặt hàng trên, trong thời gian tới, Việt Nam sẽ xuất sangMexico một số mặt hàng như: đồ gỗ, hàng thủ công mỹ nghệ, đồ trang sức, sản phẩmnhựa và văn phòng phẩm Tuy nhiên, đa phần các sản phẩm xuất khẩu của Việt Namvào thị trường này như giày dép, dệt may đều do các công ty liên doanh thực hiện(Nike, Reebock, Puma ) hoặc được xuất khẩu thông qua nước thứ ba.
Mexico hiện là một trong những đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam tại
Mỹ Latinh Việt Nam không chỉ có thể tăng cường thúc đẩy xuất khẩu trực tiếp vào 17Mexico mà còn có thể gián tiếp thông qua Mexico để phát triển thị trường vào khu vựcthị trường tự do Bắc Mỹ và Mỹ Latinh Các doanh nghiệp Mexico có xu hướng chuyểnsang nhập khẩu sản phẩm Việt Nam thay thế một phần sản phẩm nhập khẩu từ TrungQuốc do muốn đa dạng hóa nguồn cung và tránh thuế bán phá giá đối với sản phẩm cóxuất xứ từ Trung Quốc Tổng kim ngạch xuất khẩu Việt Nam và Mexico năm 2014 đạt1.036 tỷ USD.Các mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam sang Mexico gồm: hàngthủy sản, cà phê, sản phẩm từ chất dẻo, cao su, gỗ và các sản phẩm từ gỗ, hàng dệtmay, giày dép, máy vi tính, các sản phẩm điện tử và linh kiện Việt Nam đứng thứ 18trong số các nước xuất khẩu sang Mexico
Xét về mặt hàng thủy sản, kim ngạch xuất khẩu thủy sản vào thị trường nàykhông đáng kể và Tôm chiếm tỷ trọng thấp nhất, chủ yếu là các sản phẩm cá da trơn.Bên cạnh đó, theo quy định kiểm định mới nhất của Mexico Hàng hóa có nguồn gốcđộng, thực vật đóng bao, gói, hộp và thùng carton phải được đặt trên pallet trongcontainer khi xuất khẩu vào Mexico Trong khi đó các hàng hóa của doanh nghiệp việcđược đóng gói bao hộp và thùng carton và đặt trực tiếp lên thùng container, việc ápdụng quy định này sẽ làm tăng chi phí xuất khẩu và đẩy mức giá xuất khẩu tôm củacác doanh nghiệp Việt Nam lên cao hơn do đó làm giảm năng lực cạnh tranh với cácđối thủ đến từ các thị trường khác khi xâm nhập vào quốc gia này
Loại Mexico vì thị trường này nhu cầu nhập khẩu mạnh các mặt hàng cá
da trơn và mạnh về xuất khẩu tôm.
CHI LÊ
Trang 10Điều kiện địa lý: khoảng cách giữa hai nước khá xa Mỗi nước ở một nửa báncầu Hai bên không có tuyến bay thẳng dẫn đến việc đi lại của các doanh nghiệp rấtkhó khăn Mặt khác, do giá cước vận tải cao, nên hạn chế trong các quan hệ trao đổixuất nhập khẩu nói chung của các doanh nghiệp Bên cạnh đó, thời gian vận chuyểnlâu hơn => khả năng cạnh trạnh kém trên thị trường Chile.
Phần lớn hàng hoá xuất, nhập còn thông qua công ty của nước thứ ba
Thông tin: Dân chúng hai nước đều ít biết đến nhau, thiếu thông tin tuyêntruyền và cập nhật thường xuyên Bên cạnh đó, ngôn ngữ giữa cũng tạo một rào cản vôhình cho doanh nghiệp hai nước, nhất là phía Chile, khi các hiệp hội thủy sản, doanhnghiệp, các website chỉ có tiếng Chile, không có tiếng Anh, một ngôn ngữ quốc tếdùng trong giao dịch thương mại
Dân số chỉ khoảng 18 triệu người đứng 60 trên thế giới , Người Chi-lê chỉ chútrọng vào hợp tác các nước lân cận tại Châu Mỹ La tinh và Mỹ, châu Âu Nhu cầunhập khẩu ít
Loại Chi Lê
Giá trị xuất khẩu tôm Việt Nam sang Thụy Sĩ đạt 39,234 triệu USD, giảm35,8% so với cùng kỳ 2014 Con số này chưa gây được ấn tượng lớn, song lại mở ra
cơ hội mới trong việc chinh phục một trong những thị trường tiềm năng của châuÂu.Tuy nhiên thị trường Thụy Sĩ yêu cầu chất lượng cao hàng đầu thế giới; vì vậydoanh nghiệp tôm Việt Nam cần nắm rõ tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm cũng như khảnăng cạnh tranh với sản phẩm cùng loại tại đây đó là thách thức lớn nhất cho cácdoanh nghiệp xuất khẩu tôm tại Việt Nam hiện nay
Loại bỏ thủy trường Thụy Sỹ
Trang 11ẤN ĐỘ
Ấn Độ và Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ năm 1972 Trên cơ sởcủa mối quan hệ chính trị tốt đẹp, hợp tác giữa hai nước trên tất cả các lĩnh vực kháccũng không ngừng được củng cố và phát triển Tháng 12/1982, Uỷ ban Hỗn hợp vềHợp tác Kinh tế, thương mại và Khoa học kỹ thuật (UBHH) đã được thành lập vàchính thức đi vào hoạt động Uỷ ban Hỗn hợp là một trong những cơ chế quan trọng vàhữu hiệu, giúp thúc đẩy quan hệ giữa hai nước trong các lĩnh vực kinh tế, thương mại,đầu tư, tín dụng, ngân hàng, giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ, văn hoá, giaothông vận tải, nông nghiệp, công nghiệp, thuỷ sản, bưu chính viễn thông… Đến nayvẫn luôn giữ mối quan hệ tốt đẹp
Ấn Độ là một đối tác được các quốc gia ASEAN lựa chọn để thiết lập khu vựcthương mại tự do từ năm 2003 và Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN - Ấn Độ(AITIG) được ký kết
Số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan cho thấy, trị giá xuất khẩu hàng hóacủa các doanh nghiệp Việt Nam sang thị trường Ấn Độ đạt gần 2,1 tỷ USD, tăng0,43% so với cùng kỳ năm trước Trong khi đó, trị giá nhập khẩu vào Việt Nam cóxuất xứ từ Ấn Độ đạt 2,2 tỷ USD, chiếm 1,6 % tỷ trọng trong tổng nhập khẩu của ViệtNam Các mặt hàng Việt Nam xuất khẩu chủ yếu sang thị trường Ấn Độ là điện thoại
di động, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, than đá, cao su, quặng, chất dẻonguyên liệu, hóa chất… Ngược lại, các doanh nghiệp nước ta nhập khẩu hàng hóaquan trọng có xuất xứ từ Ấn Độ chủ yếu bao gồm dược phẩm, thức ăn gia súc, máymóc thiết bị, nguyên vật liệu phục vụ sản xuất
Tuy nhiên, về sản phẩm tôm thì Ấn Độ lại là đổi thủ cạnh tranh mạnh đối vớicác doanh nghiệp xuất khẩu tôm của Việt Nam
Ấn Độ là quốc gia có sản lượng tôm xuất khẩu hàng đầu thế giới Trong giaiđoạn 2015-2016, cả Việt Nam và Ấn Độ , tôm đều mắc phải dịch bệnh, nên sản lượnggiảm, đồng thời suy giảm kinh tế toàn cầu nên sản lượng tôm giảm
Ông Rahul Kulkarni - giám đốc Công ty xuất khẩu thủy sản Westcoast Groupcho biết, nhu cầu tôm trên thế giới tăng trở lại, do dịch bệnh tôm ở Ấn Độ và các nước
Trang 12Đông nam Á đã hết, nên dự kiến xuất khẩu tôm của Ấn Độ năm 2017 sẽ tăng 15 –20% Các Bang của Ấn Độ tăng cường mở rộng diện tích nuôi tôm Giá Tôm của Ấn
ĐÔ ở thị trường các nước cũng thấp hơn, nên doanh nghiệp Việt Nam rất khó cạnhtranh lại
Chưa kể, Việt Nam chủ yếu nhập khẩu tôm nguyên liệu từ Ấn Độ
Loại Ấn Độ vì là nước có thế mạnh xuất khẩu tôm.
Sau loại trừ các thị trường tiềm năng còn lại là: Nhật Bản, Hàn Quốc, Hồng Kông, Trung Quốc, Canada, Úc.
BƯỚC 2: ĐÁNH GIÁ XÂM NHẬP BAN ĐẦU
ÚC
Trong các mặt hàng thủy sản thì tôm là mặt hàng được tiêu thụ nhiều nhất tại
Úc Lượng tiêu thụ tôm hàng năm lên tới 50.000-60.000 tấn Trong 5 năm vừa qua, Úcnhập khẩu trung bình khoảng 30.000 tấn/năm và lượng cung cấp còn lại từ các nhànuôi trồng và đánh bắt địa phương Tôm nuôi chỉ khoảng 4.000 tấn còn lại là đánh bắt
Bảng 1 1: Kim ngạch nhập khẩu Tôm của thị trường Úc giai đoạn 2012 - 2015
Kim ngạch nhập khẩu Tôm của Úc dự đoán năm 2016 được tính dựa vào các côngthức sau:
Tính tốc độ phát triển liên hoàn:
Trong đó:
: Tốc độ phát triển liên hoàn
: Các mức độ của dãy số thời kỳ
Tốc độ phát triển bình quân:
Trang 13Mô hình dự báo theo tốc độ phát triển bình quân:
Trong đó:
: Giá trị dự báo ở thời gian n + L
: Giá trị thực tế ở thời gian n
: Tốc độ phát triển bình quân
L: Tầm xa dự báo
Tháng
1234567
89101112
Nguồn: Trademap.org
Bảng 1 2:Kim ngạch nhập khẩu Tôm của thị trường Úc7 tháng đầu năm 2016
Tổng kim ngạch nhập khẩu nhập khẩu tôm dự báo năm 2016 là 222,983 triệu USD
Trang 14Hình 1 1: Kim ngạch nhập khẩu Tôm của thị trường Úc giai đoạn 2012 –
2016 (dự báo)
Nguồn: Nhóm nghiên cứu
Theo như dự báo, kim ngạch nhập khẩutôm của Úc 2012- 2016 tăng nhẹ, từ202,626 triệu USD lên 222,893 triệuUSD Điều này cho thấy Úc là thị trường tiềm năng về mặt hàng tôm đông lạnh
Kim ngạch nhập khẩu Tôm của Trung Quốc dự đoán năm 2016 được tính tương tự:
Tháng Tổng kim ngạch nhập khẩu (triệu USD) Tốc độ phát triển liên hoàn (%)