Tình trạng lười đọc sách ở tất cả các thành phần, lứa tuổi đặc biệt là giới sinh viên ngày một tăng trong khi xã hội đang rất cần tri thức. Hiện tượng này xảy ra đồngnghĩa các phương tiện truyền thông đang có ảnh hưởng rất mạnh đến và công nghệ mì ăn liền: đọc nhanh, đọc ngắn, đọc sách mỏng trở thành phổ biến.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH-MARKETING
KHOA THƯƠNG MẠI
− Trang Thụy Vân Anh
Trang 2-Để hoàn thành tiểu luận này, chúng em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Ths Trần Thị Lan Nhung, đã tận tình hướng dẫn trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu khoa học.
Chúng em chân thành cảm ơn quý thầy, cô trong khoa Thương mại, Trường Đại Học Tài chính – Marketing đã tận tình truyền đạt kiến thức trong những bài giảng dạy trên lớp Với vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình học không chỉ là nền tảng cho quá trình viết tiểu luận mà còn là hành trang quý báu để chúng em có kinh nghiệm và tự tin trong công việc sau này.
Vì kiến thức bản thân còn hạn chế, trong quá trình viết và hoàn thiện đề tài này chúng em không tránh khỏi những sai sót, kính mong nhận được những ý kiến đóng góp từ thầy.
Cuối cùng chúng em kính chúc quý thầy, cô luôn dồi dào sức khỏe và thành công trong sự nghiệp cao quý.
Trân trọng
Tp.Hồ Chí Minh, ngày……tháng……năm 2017.
Nhóm tác giả
Trang 3
Tp.Hồ Chí Minh, ngày……tháng……năm 2017
Trang 4Tên Trang
Hình 2.2: Mô hình các bước tiến hành để ra một quyết định phức tạp 10 Hình 2.3: Mô hình lý thuyết về động cơ tích cực 11
Bảng 3.1: Các biến quan sát đo lường “Thái độ - THD” 16 Bảng 3.2: Các biến quan sát đo lường “Chuẩn chủ quan - CCQ” 16-17 Bảng 3.3: Các biến quan sát đo lường “Nhu cầu - NHC” 17 Bảng 3.4: Các biến quan sát đo lường “Khả năng đáp ứng - KND” 17 Bảng 3.5: Các biến quan sát đo lường “Các phương tiện truyền thông -
Bảng 3.6: Các biến quan sát đo lường “Thói quen đọc sách - TQD” 18 Bảng 3.6: Các biến quan sát đo lường “Thói quen đọc sách - TQD” 22 Bảng 4.1: Tỉ lệ sinh viên phân theo giới tính, cấp bậc học, nơi học tập và
Bảng 4.2: Kết quả Cronbach alpha các yếu tố trong mô hình nghiên cứu 27-28 Bảng 4.3: Kết quả Cronbach alpha các yếu tố trong mô hình nghiên cứu 28-29 Bảng 4.4: Ma trận xoay nhân tố các biến độc lập 29-30 Bảng 4.5: Ma trận xoay nhân tố biến phụ thuộc TQD 30-31
Bảng 4.7: Phương pháp sử dụng trong mô hình (TQD) 33-34 Bảng 4.8: Chỉ tiêu đánh giá độ phù hợp của mô hình (TQD) 34 Bảng 4.9: Kiểm định độ phù hợp của mô hình (TQD) 34 Bảng 4.10: Bảng ANOVA theo phương pháp Stepwise 35
Biểu đồ 4.1: Biểu đồ tần số phần dư chuẩn hóa (TQD) 38
Biểu đồ 4.3: Biểu đồ P-P khảo sát phân phối chuẩn của phần dư (TQD) 39 Bảng 4.12: Kết luận các giả thuyết các yếu tố tác động đến thói quen đọc
Bảng 4.13: Thống kê trung bình thói quen đọc sách theo giới tính 40 Bảng 4.14: Kết quả Independent Samples Test so sánh thói quen đọc sách 40
Trang 5Bảng 4.15: Kiểm tra tính đồng nhất của chênh lệch 41
Trang 6CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Vấn đề nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu 2
1.3 Mục đích nghiên cứu 2
1.4 Nhiệm vụ 2
1.5 Phạm vi nghiên cứu 2
1.6 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 2
1.7 Phương pháp nghiên cứu 3
1.8 Tính mới của đề tài 4
1.9 Ý nghĩa của đề tài 4
1.10 Bố cục đề tài 5
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 6
2.1 Tổng quan về thói quen đọc sách 6
2.2 Khái quát về sinh viên thành phố Hồ Chí Minh 6
2.3 Vai trò của việc phát triển thói quen đọc sách đối với sinh viên thành phố HồChí Minh 9
2.4 Cơ sở lý thuyết khoa học 9
2.5 Mô hình nghiên cứu đề xuất 15
CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 19
3.1 Quy trình nghiên cứu 19
3.2 Nghiên cứu sơ bộ 20
3.3 Xây dựng và phát triển thang đo 20
3.4 Nghiên cứu chính thức 22
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30
4.1 Thông tin về mẫu nghiên cứu 30
4.2 Kiểm định chất lượng thang đo 31
4.3 Kết quả EFA biến độc lập 33
4.4 Kết quả EFA biến phụ thuộc 34
4.5 Phân tích hồi quy 35
4.6 Phân tích sự khác biệt thói quen đọc sách với các đặc điểm cá nhân 44
Trang 74.8 Thảo luận kết quả nghiên cứu 47
CHƯƠNG 5: CÁC KIẾN NGHỊ NHẰM PHÁT TRIỂN THÓI QUEN ĐỌC SÁCH TRONG SINH VIÊN VIỆT NAM 49
5.1 Đổi mới phương pháp giáo dục 49
5.2 Đầu tư Nguồn sách chất lượng tại các thư viện của trường ĐH 49
5.3 Đảm bảo khả năng cung ứng về nguồn sách trên thị trường sách Việt Nam 49
5.4 Cải thiện và thay đổi thái độ của sinh viên đối với việc đọc 49 5.5 Hạn chế tầm ảnh hưởng của các thiết bị nghe – nhìn trong đời sống sinh viên .51 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 Lý do chọn đề tài
Tình trạng lười đọc sách ở tất cả các thành phần, lứa tuổi đặc biệt là giới sinh viên ngày một tăng trong khi xã hội đang rất cần tri thức Hiện tượng này xảy ra đồngnghĩa các phương tiện truyền thông đang có ảnh hưởng rất mạnh đến và công nghệ "mì ăn liền": đọc nhanh, đọc ngắn, đọc sách mỏng trở thành phổ biến.
Sinh viên nói chung và sinh viên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng hiện nay đang gặp vấn đề với việc đọc sách, họ không có thói quen đọc tài liệu, ghi chép, không biết cách tổng hợp và vận dụng kiến thức trong sách công cụ - giáo trình để giải quyết vấn đề Đặc biệt hơn cả là không biết tổ chức thời gian học tập, thêm vào đó năng lực
và thói quen đọc chưa cao, thiếu đi kỹ năng tự học và tự đọc một cách có hiệu quả nhất.
Hơn nữa, đối với các loại sách dày, sách kinh điển, sách lý luận, sinh viên càng cảm thấy ngại đọc Có những cuốn như Tố Tâm, giá 2000 đồng/cuốn, Lão Tử 6000 đồng/cuốn những cuốn sách có giá trị được "đại hạ giá" vẫn không được các bạn trẻ ngó ngàng Cũng theo điều tra xã hội thì có đến 18,18% sinh viên chỉ đọc có 15 phút một ngày, trong khi chỉ có trên 33% là đọc 3 tiếng một ngày[ CITATION Văn \l 1033 ].
Lý giải điều này, người ta cho rằng văn hoá nghe, nhìn đang lấn át khi chỉ cần nghe đài, xem tivi, nhấp chuột là các bạn có thể có mọi thông tin từ trong nước đến thế giới với muôn hình vạn nẻo những sự kiện, vấn đề đang diễn ra xung quanh.Nhưng chắc chắn, đối với giới trẻ không có một phương tiện nghe nhìn nào có thể thay thế việc đọc Và hầu như, việc đọc sách trong giới trẻ nói chung, và với sinh viên nói riêng chủ yếu là theo phong trào.
Bộ trưởng Nguyễn Bắc Son đã phát biểu trong buổi lễ công bố ngày sách Việt Nam:
“Cho dù xã hội ngày càng phát triển cao hơn, con người có thể tìm kiếm khai thác thông tin, kiến thức trong thư viện điện tử hay qua mạng internet; thì sách vẫn không thể mất đi giá trị truyền thống lâu đời vốn có của nó, gắn bó với con người trong hàng ngàn năm lịch sử Và cho đến tận hôm nay, sách vẫn là nguồn sống quý giá nhất mà không có món ăn tinh thần nào có thể so sánh được” [ CITATION 14Bá \l 1033 ]
Trang 9Vậy phải có giải pháp gì để để văn hoá đọc của sinh viên Việt Nam, đặc biệt là sinh viên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minhngày càng được tôn vinh Đó là một câu hỏi lớn
và cần thực hiện ngay đối với người viết sách, đặc biệt là người làm sách và phát hành
đề sách hay, bổ ích đến được tay tầng lớp nắm giữ tương lai của đất nước.
Có thể thấy, thói quen đọc sách của sinh viên không còn là một đề tài mới được nêu ra cho sự chú ý của bộ giáo dục, mà nó đã là một vấn đề rất nghiêm trọng cần được sư quan tâm của cả cộng đồng Trước ý nghĩa sâu sắc của vấn đề này, nhóm chúng em đã
chọn đề tài nghiên cứu:“ Các yếu tố ảnh hưởng đến thói quen đọc sách của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh” Nghiên cứu sẽ cho thấy thực trạng thói quen đọc
sách của sinh viên Thành phốvà đề xuất các biện pháp nâng cao tình trạng này nhằm biến Thành phố Hồ Chí Minh thành cái nôivăn minh, có thể sánh đôi cùng các khu vực lớn trên thế giới.
1.2 Vấn đề nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
1.2.1.Vấn đề nghiên cứu
Nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của việc đọc sách đối với sinh viên đang sinh sống tại Thành phố Hồ Chí Minh Từ đó thay đổi thói quen cũng như ý thức tự giác đọc sách của giới sinh viên.
1.2.2.Câu hỏi nghiên cứu
Trang 10- Phân tích thực trạng thói quen đọc sách của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đề xuất những giải pháp góp phần phát triển thói quen đọc sách cho sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh.
1.5 Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Các trường Đại học ở Thành phố Hồ Chí Minh.
- Thời gian: Tháng 3 năm 2017 đến tháng 7 năm 2017.
1.6 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
1.6.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của nhóm chính là những yếu tố liên quan đến thông tin cá nhân của người được khảo sát Trước hết, nhóm bàn bạc và quyết định sẽ thu thập nhữngthông tin về các yếu tố khác nhau có thể sẽ ảnh hû ởng đến thói quen đọc sách của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh và sử dụng thông số kiếm được từ các đối tượng khảo sátđể phân tích xem liệu những yếu tố này có ảnh hưởng tới thói quen đọc sách hay không Những yếu tố này bao gồm:
- Thái độ
- Chuẩn chủ quan
- Nhu cầu
- Khả năng đáp ứng
- Các phương tiện truyền thông
Nhóm quyết định lựa chọn những yếu tố này vì đây là yếu tố khá phổ biến, có thể lấy được từ đối tượng khảo sát mà không quá cá nhân, đồng thời đây cũng là các yếu tố
Trang 11quan trọng có thể liên quan trực tiếp đến tâm lý cũng nhưthói quen của đối tượng được khảo sát
1.6.2 Khách thể nghiên cứu:
Khách thể nghiên cứu là sinh viên đang sinh sống và học tập tại Thành phố Hồ Chí Minh.
1.7 Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài này có sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Nghiên cứu sơ bộ:
Nhóm thực hiện nghiên cứu sơ bộ bằng hai phương pháp chính: phương pháp nghiên cứu định tính (thảo luận nhóm) và nghiên cứu định lượng (thiết kế bảng khảo sát bằng
dữ liệu được thu thập trong cùng thời điểm, nghiên cứu thực nghiệm thông qua các biến) Thông tin thu thập từ nghiên cứu định tính nhằm khám phá, điều chỉnh các thang đo yếu tố ảnh hưởng đến thói quen đọc sách của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh Nghiên cứu định lượng sơ bộ được thực hiện bằng kỹ thuật phỏng vấn trực tiếp sinh viên địa bàn Thành phố thông qua bảng câu hỏi khảo sát Thông tin từ nghiên cứu định lượng nhằm sàng lọc các biến quan sát dùng để đo lường các khái niệm thành phần ảnh hưởng tới thói quen đọc sách của sinh viên Phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu định lượng gồm: Phương pháp kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA thông qua phần mềm SPSS.
- Nghiên cứu chính thức:
Được thực hiện thông qua phương pháp định lượng, dùng kỹ thuật thu thập thông tin bằng phỏng vấn trực tiếp 450 sinh viên đang sinh sống và học tập tại Thành phố Hồ Chí Minh Nghiên cứu sử dụng thống kê suy diễn phân tích kết quả thu thập từ mẫu và đồng thời sử dụng hệ số độ tin cậy Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA thông qua phần mềm SPSS.
1.8 Tính mới của đề tài
Tuy trước đây đã từng có những đề tài nghiên cứu về thói quen đọc sách nhưng nhóm tác giả cũng đưa vào đề tài một số tính mới, tính sáng tạo không giống với nhưnhgx đề tài đi trước:
Những đề tài đi trước:
Trang 12- Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Thủy (2014) về Văn hóa đọc của sinh viên Đại học quốc gia Hà Nội,đã nghiên cứu được: Văn hóa đọc chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như Môi trường xã hội, Lứa tuổi, Trình độ văn hóa, Sự phát triển của khoa học công nghệ, Hoạt động của Thư viện, Phương pháp đào tạo đại học hiện nay… Tuy nhiên, khách thể nghiên cứu chỉ gói gọn trong phạm vi trường Đại học quốc gia Hà Nội.
- Nghiên cứu thời gian đọc sách của sinh viên trường Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam đã kết luận: Có nhiều yếu tố tác động tới hiệu quả đọc sách của sinh
viên Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam, trong đó kĩ năng đọc sách được đánh giá là quan trọng nhất Ngoài ra còn có nhiều yếu tố khác như không gian địa điểm đọc sách, tâm trạng Tuy nhiên, đối tượng điều tra chỉ bó hẹp trong sinh viên hệ đại học chính quy của Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam
Nhóm tác giả quyết định thực hiện nghiên cứu khách thể với phạm vi mở rộng hơn
là sinh viên đang học tập tại Thành phố Hồ Chí Minh
- Văn hóa đọc của sinh viên Đại học quốc gia Hà Nội, Nguyễn Thị Thanh
Thủy,2014, sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
+ Phương pháp nghiên cứu, thu thập, phân tích và tổng hợp tài liệu
+ Phương pháp thống kê số liệu, bảng biểu để đưa ra các yếu tố ảnh hưởng.Nghiên cứu thói quen đọc sách này sử dụng phương pháp thu thập thông tin từ sách báo, tài liệu, tạp chí.
Trong bài này, nhóm tác giả nghiên cứu sâu rộng và chi tiết các học thuyết để tìm
ra cơ sở lý luận cho những yếu tố ảnh hưởng mà nhóm đưa ra.
Bài nghiên cứu được kết hợp giữa định lượng và định tính theo cấu trúc: Tính – Lượng –Tính Không chỉ dựa trên kết quả định lượng, nhóm tác giả còn mở rộng kết quả nghiên cứu định lượng, khai thác các quan điểm mở rộng nhằm thu được kết quả từ phía các bạn sinh viên nhằm thu được kết quả thực tiễn nhất, không mang nặng tính chủ quan của người làm đề tài
1.9 Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa khoa học
Thông qua những khía cạnh nghiên cứu việc thực hiện đề tài nhằm thu thập những
Trang 13thông tin định tính và định lượng về thực trạng thói quen đọc sách của sinh viên tại thành phố Hồ Chí Minh, phát hiện và kiểm chứng lại những yếu tố ảnh hưởng thói quen đọc sách Sử dụng các số liệu thu thập từ cuộc khảo sát thực tế và các công cụ như: Bảng khảo sát, phỏng vấn…thông qua việc xử lý và phân tích dựa trên số liệu thu thập cho thấy thực trạng về thói quen đọc sách của sinh viên thành phố Hồ Chí Minh hiện nay và thấy được nhận thức, thái độ trong việc đọc sáchtừ đó đề xuất các giải pháp nhằm phát triển thói quen đọc sách cho sinh viên thành phố Hồ Chí Minh.
- Ý nghĩa thực tiễn
Giúp hiểu rõ hơn về các phương pháp nghiên cứu xã hội, nhận thức được các yếu tố tác động đến ý thức, thái độ của sinh viên thành phố Hồ Chí Minh đối với việc đọc sách từ đó có thể cung cấp một cái nhìn tổng quát, chân thực và toàn diện hơn về tình hình đọc sách cho nhà trường, các đơn vị phát hành sách và những người quan tâm; góp phần phân tích về thực trạng của thói quen đọc sách thời hiện đại, từ đó giúp các
cơ quan chính quyền Nhà nước đưa ra một số giải pháp cụ thể và thiết thực nhằm có những biện pháp hữu hiệu trong việc phát triển thói quen đọc sách trong sinh viên thành phố Hồ Chí Minh hiện nay.
1.10 Bố cục đề tài
Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu
Chương 3: Thiết kế nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Các kiến nghị nhằm phát triển thói quen đọc sách trong sinh viên thành phố
Hồ Chí Minh.
Trang 14CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
2.1 Tổng quan về thói quen đọc sách
Hoạt động đọc sách được coi là một thói quen khi nó được thực hiện liên tục, được đo lường và xem xét về số lượng tài liệu đang được đọc, tần suất đọc cũng như thời gian trung bình dành cho việc đọc sách (Wagner, 2002), và thói quen này có thể được nuôi dưỡng (Wijesuriya, 1995).
Đọc sách, đó là một thói quen lâu dài bắt đầu từ những năm đầu rất sớm, là cửa ngõ nổi bật của phòng kiến thức Nó có thể được xem là một phương pháp hữu ích để giúp mỗi cá nhân phát huy sự sáng tạo và phát triển năng lực tư duy phê phán của họ Theo nghĩa này, thói quen đọc là một công cụ quan trọng cho sự phát triển của nhân cách và tinh thần của con người Ngoài sự phát triển cá nhân và tinh thần, đọc còn là
sự tiếp cận đời sống xã hội, kinh tế và nhân loại (Clark và Rumbold, 2006) Hơn nữa,
tất cả các mẫu đọc về tình cảm còn giúp tăng cường sự hài lòng về cảm xúc của con người.
Một cá nhân thường được đánh giá là đã phát triển một thói quen đọc sách khi
hoạt động đó được lặp đi lặp lại thường xuyên và tự nguyện Krashen (1996) cho rằng
rằng thói quen và sở thích có thể được nuôi dưỡng ngay từ khi còn nhỏ Sẽ có sự khác biệt về sở thích giữa các cá nhân ở mọi lứa tuổi, giới tính và chịu ảnh hưởng rất lớn từ các yếu tố bên trong như gia đình, động lực và thái độ cũng như các yếu tố bên ngoài như bạn bè, trường học, giáo viên và các cơ sở thư viện sẵn có.
2.2 Khái quát về sinh viên thành phố Hồ Chí Minh
2.2.1 Khái niệm sinh viên
Sinh viên là những người học tập tại các trường đại học, cao đẳng Ở đó họ được truyền đạt kiến thức bài bản về một ngành nghề, chuẩn bị cho công việc sau này của họ Họ được xã hội công nhận qua những bằng cấp đạt được trong quá trình học Quá trình học của họ theo phương pháp chính quy, tức là họ đã phải trải qua bậc tiểu học và trung học.
2.2.2 Đặc điểm của sinh viên
Sinh viên là nhóm tầng lớp rất dễ tiếp thu cái mới, thích cái mới, thích sự tìm tòi và sáng tạo Đây cũng là tầng lớp xưa nay vẫn khá nhạy cảm với các vấn đề chính trị- xã hội, đôi khi cực đoan nếu không được định hướng tốt.
Trang 15Không thể phủ nhận rằng mỗi cá nhân sinh viên sẽ có một tính cách, đặc điểm nhất định, nhưng nếu nhìn một cách tổng quát nhất, ta có thể tóm gọn lại các đặc điểm chung có thể thấy nhiều nhất ở sinh viên thành phố Hồ Chí Minh hiện nay:
- Tính thực tế: Thể hiện ở việc chọn ngành chọn nghề của sinh viên thành phố, họ phải lựa chọn học tập những kiến thức trang bị cho công việc sau này, chuẩn bị kinh nghiệm làm việc cho tương lai, định hướng việc làm sau khi ra trường Nói chung là tính mục đích trong hành động và suy nghĩ rất rõ.
- Tính năng động: Sinh viên TPHCM được xem là biểu tượng của sự năng động trong cả học tập lẫn các hoạt động trong cuộc sống Nhiều sinh viên vừa đi học vừa
đi làm (làm thêm bán thời gian, hoặc có khi là thành viên chính thức của một cơ quan, công ty), hình thành tư duy kinh tế (thích kinh doanh, mở shop online bán quần áo, mỹ phẩm), thể hiện sự tích cực chủ động (tham gia phong trào tình nguyện) Nhiều sinh viên cùng một lúc học hai trường.
- Tính liên kết (tính nhóm): Những người trẻ luôn có xu hướng mở rộng các mối quan hệ, đặc biệt là những quan hệ cùng nhóm Các nghiên cứu của hai nhà xã hội học người Pháp về bản sắc xã hội dưới góc độ nhóm là Taspen và Turnez, đã đưa đến kết luận: Tính nhóm phụ thuộc vào môi trường xã hội xung quanh chúng ta đang sống Sự thay đổi của đời sống tinh thần trong sinh viên trước xu hướng toàn cầu hoá (cả mặt thuận lợi và hạn chế của xu hướng này) đang hướng mạnh đến tính cộng đồng.
- Tính cá nhân: Trào lưu dân chủ hoá, làn sóng công nghệ thông tin và việc nâng cao dân trí đã làm ý thức cá nhân ngày càng rõ, đặc biệt rõ trong những người trẻ có học vấn là sinh viên Sinh viên thành phố tự ý thức cao về bản thân mình và muốn thể hiện vai trò cá nhân Trong đó, sự hy sinh và quan tâm đến người khác ít đi, và nếu có thì được đánh giá dưới góc độ kinh tế thực dụng hơn là tình cảm và sự chia
sẻ Xuất hiện thái độ bàng quan với mọi người và mọi việc xung quanh ở một bộ phận sinh viên thành phố.
2.2.3 Điều kiện sống của sinh viên thành phố Hồ Chí Minh
- Các trường đại học, cao đẳng ở nước ta nằm tập trung ở các thành phố lớn nên đa phần các sinh viên ngoại tỉnh phải ở trọ hoặc kí túc xá.
Trang 16- Trong những năm gần đây, các trường đại học, cao đẳng đã có nhiều cố gắng trong việc giải quyết chỗ ở và điều kiện sinh hoạt cho sinh viên Tuy nhiên, cải thiện một
số bức xúc hiện nay trong ký túc xá sinh viên nói riêng và đời sống sinh viên nói chung, đang là vấn đề cấp thiết:
+ Số ký túc xá hiện có của thành phố chỉ đáp ứng cho khoảng 17% tổng số sinh viên có nhu cầu
+ Một số khu ký túc xá quá cũ nát, tường tróc, mái dột, không có khu phụ hoặc khu phụ tạm bợ, không bảo đảm vệ sinh, hệ thống cung cấp điện nước đã xuống cấp.
+ Các nhu cầu thiết yếu như điện, nước, chỗ phơi quần áo vẫn còn là vấn đề bức xúc ở một số khu nhà ở sinh viên
- Vấn đề ăn uống cho sinh viên hiện nay cần được quan tâm để bảo đảm sức khỏe cho học tập
+ Căng tin không đáp ứng được nhu cầu của sinh viên (các loại thực phẩm không phong phú và việc đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm đôi khi chưa tốt).
+ Giá cả tăng nhanh chóng, sinh viên phải ăn ở bên ngoài để có thể có đủ tiền ăn cho cả tháng (thay vì ăn suất cơm trong căn tin ký túc xá khoảng 15.000đ/suất,
họ có thể mua mì gói hoặc bánh mì với giá rẻ hơn)
+ Nhà ăn sinh viên chưa có hoặc chưa đáp ứng được nhu cầu, với nguồn trợ cấp ít
ỏi, sinh viên phải ăn ở hàng quán bên ngoài và với giá cả leo thang như hiện nay, chỗ sạch sẽ, ngon miệng thì giá cao, chỗ giá rẻ thì vệ sinh an toàn thực phẩm không bảo đảm
- Các công trình phụ trợ với khu phòng ở, như: phòng tự học, Internet, hệ thống phòng cháy chữa cháy, phòng sinh hoạt chung, khu bếp, chỗ phơi quần áo, sân thể thao, trạm xá, dịch vụ ăn uống, khuôn viên cảnh quan là rất cần thiết đối với đời sống sinh viên nhưng không phải trường nào cũng đủ diện tích đất và kinh phí đầu
tư cho các hạng mục đó.Cần phải có những biện pháp để cải tạo các khu ký túc xá
cũ nát và xây mới thêm để giải quyết nhu cầu chính đáng về chỗ ở cho sinh viên, nhất là các sinh viên thuộc diện ưu tiên
- Hiện nay, đã có một số khu ký túc xá mới xây với cơ sở hạ tầng hiện đại, đáp ứng được nhu cầu học tập, đời sống văn hóa tinh thần của sinh viên, điển hình như khu
Trang 17ký túc xá mới của Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, Trường đại học Bách khoa thành phố Hồ Chí Minh, với các căn phòng đủ tiện nghi, các công trình phụ trợ, như: phòng xem truyền hình, khu vực đọc báo, đọc sách, máy tính nối mạng, điện thoại nội mạng miễn phí nối trực tiếp đến các phòng, hệ thống nhà ăn sạch sẽ,
hệ thống nước tiệt trùng và không gian xanh, sạch đẹp.[CITATION BáoMới \l 1033 ]
2.2.4 Điều kiện học tập của sinh viên thành phố Hồ Chí Minh
Môi trường giáo dục cạnh tranh và mang tính toàn cầu đem đến cho sinh viên thành phố Hồ Chí Minh những điều kiện thuận lợi để tiếp cận, lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và nhiều cơ hội để khẳng định năng lực của bản thân Sinh viên có thể tiếp cận với môi trường giáo dục quốc tế, được học tập thông qua những công nghệ hiện đại, có được công việc tốt với mức thu nhập cao…
Về mặt quản lý, tổ chức, môi trường học tập ở HồChí Minh hướng vào người học, đề cao tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học.Các hoạt động học tập của sinh viên thườngđược gắn liền với thực tế, sinhviênthườngcóđiềukiệnđi tham quan, kiến tập vàvậndụng các lý thuyết đã học ở trường vào thực tế nghề nghiệp.Trong khi tiến bộ trong lĩnh vực giáo dục đại học, các trường đại học tại thành phố Hồ Chí Minh vẫn đang chật vật chuyển mình cho những thay đổi và cung cấp cơ sở hạ tầng cần thiết cho sinh viên Hầu hết các trường đai học thành phố Hồ Chí Minh đều có thư viện nhưng chất lượng thì chưa hẳn đồng đều Vài thư viện ở một số trường hiện nay vẫn đang trong tình trạng thiếu sách và sinh viên vẫn phải đang tham khảo các tài liệu lỗi thời, chưa được cập nhật Đầu sách ít ỏi, thể loại sách không phong phú, lượng sách không
đủ cho lượng sinh viên trong trường… là những tình trạng phổ biến mà các bạn sinh viên đang theo học tại các trường đại học ở thành phố Hồ Chí Minh đang gặp phải Bộ GD-ĐT đánh giá: “Có thể nói, đây là tình trạng báo động đối với giáo dục đại học, trong khi các trường đại học trên thế giới luôn coi thư viện là linh hồn, là trái tim của một trường đại học” Đó là chưa kể đến việc thư viện điện tử chưa được phổ biến trong các trường, trong khi đó, loại hình này đã du nhập và phát triển rất lâu trước đây ở các nước tiên tiến đang phát triển Điều này gây ra một thiệt thòi lớn cho các bạn sinh viên trong việc truy cập và tiếp nhận kho kiến thức không lồ của nhân loại.
Về mặt tinh thần, các trường đại học ở khu vực thành phố Hồ Chí Minh luôn tạo điều kiện cho sinh viên phát huy khả năng của mình qua một số loại hình vui chơi gắn liền với học tập như: câu lạc bộ đội nhóm, viết bài nghiên cứu khoa học, tổ chức các buổi
Trang 18hội thảo, nói chuyện chuyên đề về chuyên ngành họ đang theo học để hình thành nhu cầu học tập cũng như động cơ học tập đúng đắn…Hoạt động của câu lạc bộ với mục đích cao nhất là phát triển năng lực tự nhận thức bản thân và lãnh đạo của các thành viên tham gia – cuộc đời mình cho mỗi thành viên, giúp mỗi thành viên phát huy cao nhấttiềm năng của mình và sau này tạo ra nhiều giá trị đóng góp cho xã hội.[ CITATIONHàn10 \l 1033 ]
2.1 Vai trò của việc phát triển thói quen đọc sách đối với sinh viên thành phố HồChí Minh
Thành phố Hồ Chí Minh được đánh giá là thành phố có biên độ phát triển lớn
nhất, và được xếp ở vị trí thứ sáu trong tổng số 120 thành phố.(Nghiên cứu của JLL trên các thành phố năng động) Nơi này là đô thị đặc biệt, một trung tâm lớn về kinh
tế, văn hóa, giáo dục – đào tạo, khoa học – công nghệ, đầu mối giao lưu và hội nhập quốc tế, là đầu tàu, động lực, có sức thu hút và sức lan tỏa lớn của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Trong đó, một kênh quan trọng để tiếp thu thông tin cập nhật, tinh hoa thế giới, văn hóa các nước, để kinh doanh và tiếp thị, tiếp cận khách hàng thành công
đó chính là sách Nâng cao ý thức, hình thành thói quen và rèn luyện kỹ năng đọc sách
là những bước đi đầu tiên và cơ bản để dần phát triển thói quen đọc sách trong cộng đồng sinh viên miền Nam và sau đó là cho người dân ở phía Nam đất nước.Thông qua thói quen đọc sách mọi người dân, tùy thuộc vào trình độ dân trí, nghề nghiệp và điều kiện sống, có thể tiếp cận được với thông tin, tri thức phù hợp, hữu ích nhất cho cuộc sống của mình Thói quen đọc sách có thể giúp cho mỗi cá nhân có một cuộc sống trí tuệ hơn, đẹp đẽ, ý nghĩa, hạnh phúc và hài hòa hơn Phát triển thói quen đọc sách luôn
là một vấn đề mang ý nghĩa chiến lược của mọi quốc gia trong việc nâng cao dân trí, góp phần phát triển bền vững nguồn nhân lực – nhân tố quyết định mọi thành công Xây dựng và phát triển văn hóa trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước góp phần đem lại chongười dân thành phố sức mạnh của trí tuệ trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Nói cách khác, xây dựng phong trào đọc sách trong xã hội, góp phần xây dựng có hiệu quả thế hệ đọc tương lai.
2.3 Cơ sở lý thuyết khoa học
2.3.1 Thuyết về nhu cầu của Maslow
Maslow đã xây dựng học thuyết về nhu cầu của con người vào những năm
1950 Lý thuyết của ông nhằm giải thích những nhu cầu nhất định của con người cần
Trang 19được đáp ứng như thế nào để một cá nhân hướng đến cuộc sống lành mạnh và có ích
cả về thể chất lẫn tinh thần.
Lý thuyết của ông giúp cho sự hiểu biết của chúng ta về những nhu cầu của con người bằng cách nhận diện một hệ thống thứ bậc các nhu cầu Ông đã đem các loại nhu cầu khác nhau của con người, căn cứ theo tính đòi hỏi của nó và thứ tự phát sinh trước sau của chúng để quy về 5 loại sắp xếp thành thang bậc về nhu cầu của con người tư thấp đến cao: Nhu cầu sinh lý, Nhu cầu về an toàn hoặc an ninh, Những nhu cầu về quan hệ và được thừa nhận, Nhu cầu được tôn trọng, Nhu cầu phát huy bản ngã (nhu cầu tự khẳng định)
Hình 2.1: Tháp nhu cầu của Maslow.
(Nguồn: A Maslow [ CITATION AHM43 \l 1033 ] )
Maslow thừa nhận rằng con người mong muốn và không bao giờ ngừng phấn đấu để đạt được nhiều mục tiêu khác nhau Những nhu cầu ở các cấp độ thấp hơn cần phải được đáp ứng một cách nhanh chóng, do đó nếu các nhu cầu này không được thỏa mãn, chúng sẽ chi phối lại toàn bộ mục tiêu của con người Theo Maslow, một khi các nhu cầu thấp cấp đã được thỏa mãn, các nhu cầu cao cấp sẽ trở thành động lực cho mọi hành vi của con người Những nhu cầu ở cấp thấp hơn không được đáp ứng thường sẽ tạo nên sự bất mãn ở các nhu cầu bậc cao hơn, do đó chúng thường phải được thỏa
Trang 20mãn trước khi một người có thể tiến lên các bậc cao hơn trong hệ thống phân cấp Biết được vị trí của một người trên kim tự tháp sẽ giúp bạn xác định động lực của họ một cách hiệu quả.
Ví dụ, một người đang đói (nhu cầu sinh lý) sẽ không quan tâm đến những gì đang xẩy ra trong lĩnh vực công nghệ tin học (nhu cầu tự khẳng định) hay những người xung quanh nhìn mình hay tôntrọng mình như thế nào (nhu cầu được tôn trọng), hay thậm chí không khí anh ta đang hít thở cótrong lành hay không (nhu cầu an toàn)
2.3.2 Thuyết lựa chọn duy lý
Thuyết lựa chọn duy lý hay còn được gọi là lý thuyết lựa chọn hợp lý (Rational choice Theory), thuyết lựa chọn duy lý dựa vào tiên đề cho rằng con người luôn hành động một cách có chủ đích, có suy nghĩ để lựa chọn và sử dụng nguồn lực một cách duy lý nhằm đạt được kết quả tối đa với chi phí tối thiểu Định đề cơ bản của thuyết duy lý được Homans diễn đạt theo kiểu định lý toán học như sau: “Khi lựa chọn trong
số các hành động có thể có, cá nhân sẽ chọn cách mà họ cho là tích (C) của xác suất thành công của hành động đó (ký hiệu là P) với giá trị mà phần thưởng của hành động
đó (V) là lớn nhất C = (P x V) = Maximum Còn theo John Elster: “Khi đối diện với một số cách hành động, mọi người thường làm cái mà họ tin là có khả năng đạt được kết quảcuối cùng tốt nhất” (Lê Ngọc Hùng, 2009)
Thuyết lựa chọn duy lý đòi hỏi phải phân tích hành động lựa chọn của cá nhân trong mối liên hệ với cả hệ thống xã hội của nó bao gồm các cá nhân khác với những nhu cầu và sự mong đợi của họ, các khả năng lựa chọn và các sản phẩm đầu ra của từng lựa chọn cùng các đặc điểm khác Kotler và Fox đã đề xuất mô hình tổng quát thể hiện các bước tiến hành để ra một quyết định phức tạp, mô hình này được tóm tắt bằng sơ đồ 2.2
Trang 21Hình 2.2: Mô hình các bước tiến hành để ra một quyết định phức tạp.
(Nguồn:[CITATION Kot95 \l 1033 ])
2.3.3 Thuyết về động cơ tích cực của Joannis
Động cơ tích cực thúc đẩy nhu cầu tiêu dùng H Joannis phân chia 3 loại động cơ tích cực:
- Động cơ hưởng thụ: Đó là những thúc đẩy mua hàng để có được những thú vui, hưởng thụ và tận hưởng Ví dụ: ăn uống, giải trí, du lịch, vui chơi…
- Động cơ vì người khác: Đó là những thúc đẩy mua nhằm làm việc tốt, việc thiện hoặc tặng một cái gì đó cho người khác
- Động cơ tự thể hiện: Đó là những thúc đẩy mua hàng nhằm muốn thể hiện cho mọi người biết rõ mình là ai Ví dụ: một số trẻ em hút thuốc lá hoặc uống rượu bia muốn tỏ ra mình cũng là người lớn rồi…
Nảy sinh
Nhu cầu
Thu thậpthông tin
Đánh giáCác lựachọn thaythế
Quyếtđịnh
Thựchiệnquyếtđịnh
Đánhgiálại
Thiết lậpthông tin Đánh giá
Động cơ
Và giá trị
Những ảnh hưởng khác
Nhữngyếu tốtìnhhuống
Xây dựng tiêuChí đánh giá
Trang 22Hình 2.3: Mô hình lý thuyết về động cơ tích cực.
Trong đó, thái độ được nhận biết qua cách cá nhân thể hiện nhận thức tích cực hay
tiêu cực, đồng tình hay phản đối các thuộc tính của sản phẩm Người tiêu dùng sẽ chú
ý đến những thuộc tính mang lại các ích lợi cần thiết và có mức độ quan trọng khác nhau.
Yếu tố chuẩn chủ quan có thể được đo lường thông qua những người có liên
quan đến người tiêu dùng (như gia đình, bạn bè, đồng nghiệp…); những người này thích hay không thích họ mua Mức độ ảnh hưởng của những người có liên quan đến
xu hướng hành vi của người tiêu dùng và động cơ thúc đẩy người tiêu dùng làm theo những người có liên quan là hai yếu tố cơ bản để đánh giá chuẩn chủ quan Mức độ thân thiết của những người có liên quan càng mạnh đối với người tiêu dùng thì sự ảnh hưởng càng lớn tới quyết định chọn mua của họ Niềm tin của người tiêu dùng vào những người có liên quan càng lớn thì xu hướng chọn mua của họ cũng bị ảnh hưởng
Động cơhưởng thụ
Động cơ vì người khác
Lựa chọn quyết định
Động cơtự thể hiện
Trang 23càng lớn Ý định mua của người tiêu dùng sẽ bị tác động bởi những người này với những mức độ ảnh hưởng mạnh yếu khác nhau
xu hướng thực hiện hành vi, và nếu đương sự chính xác trong cảm nhận về mức độ kiểm soát của mình, thì kiểm soát hành vi còn dự báo cả hành vi.
Trang 24Hình 2.5 Thuyết hành vi dự định (TBP)
(Nguồn:[ CITATION Ajz911 \l 1033 ])
2.4.6 Thuyết học tập xã hội
A.Bandura cung cấp lý luận học tập thông qua quan sát, bắt chước, hay noi gương
Vì vậy, để giáo dục trẻ, người lớn hoặc thầy cô cần là những tấm gương làm mẫu các hành vi một cách cẩn thận, có mục đích và cảnh giác.
Hình 2.6.Thuyết học tập xã hội.
2.4.7 Học thuyết phát triển nhận thức
Nhà tâm lý học Thụy Sỹ J.Piaget đưa ra nhữngquy luật hình thành trí khôn ở trẻ
em trong đó ông nhấn mạnh sự độc lập khám phá tìm tòi của đứa trẻ- vai trò tự học của chủ thể và bạn bè cùng tuổi chơi cùng Học thuyết của ông là kim chỉ nam cho
việc thay đổi phương pháp dạy học lấy người dạy làm trung tâm sang dạy học lấy
người học làm trung tâm, theo đó tri thức cần được xây dựng và tiếp thu bằng chính
nỗ lực của người học, còn người dạy chỉ nên dừng lại ở vai trò là người giúp sức, là cố vấn định hướng cho người học.
Trang 25Hình 2.7.Học thuyết phát triển nhận thức.
2.4 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Dựa trên thuyết hành động hợp lý TRA cùng các cơ sở lý thuyết mà nhóm đã trình bày
ở mục 2.4, nhóm tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu:
Hình 2.8 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Trang 26H1: “Thái độ” có mối quan hệ cùng chiều với thói quen đọc sách của sinh viên thành phố Hồ Chí Minh.
2.4.2 Chuẩn chủ quan
Chuẩn chủ quan là nhận thức của một cá nhân về chuẩn mực xã hội, áp lực bạn bè,
hoặc niềm tin của những người khác có lien quan như bạn bè và người than, cho rằng người đó nên thực hiện hành vi như thế nào (Ajzzen, 1975).
Xét về tâm lý học, lời nói, hành động, thói quen của người khác có ảnh hưởng không nhỏ đến hành vi của cá nhân đồng thời dựa vào thuyết hành động hợp lý TRA và TPB
và Thuyết học tập xã hội, nhóm tác giả đưa vào yếu tố chuẩn chủ quan (CCQ) vào mô hình nghiên cứu và yếu tố này ảnh hưởng khá lớn đến sự lựa chọn của người tiêu
dùng Yếu tố chuẩn chủ quan xuất phát từ: (1) gia đình, (2) bạn bè, (3) cơ quan, trường học… Nhóm tác giả đưa ra giả thuyết sau:
H2: “Chuẩn chủ quan” có mối quan hệ cùng chiều với thói quen đọc sách của
sinh viên thành phố Hồ Chí Minh.
2.4.3 Nhu cầu
Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người có những nhu cầu khác nhau Nhu cầu là yếu tố thúc đẩy con người hoạt động Nhu cầu càng cấp bách thì có khả năng chi phối con người càng cao Nhu cầu chi phối mạnh mẽ đến đời sống tâm lý nói chung, đến hành vi của con người nói riêng
Dựa vào Thuyết nhu cầu của Malow và Thuyết lựa chọn duy lý, nhóm đưa ra giả thuyết:
H3: “Nhu cầu” có mối quan hệ cùng chiều với thói quen đọc sách của sinh viên thành phố Hồ Chí Minh.
2.4.4 Khả năng đáp ứng
Khả năng đáp ứng của thị trường sách đối với người đọc có thể được xem xét ở năm khía cạnh khác nhau: (1) Sự nhận diện và thỏa mãn nhu cầu của khách hàng, (2) Sự cải thiện về chất lượng của sản phẩm cung cấp, (3) Sự cung cấp các sản phẩm đặc biệt
theo nhu cầu độc đáo của khách hàng hay các nhóm khách hàng cá biệt, (4) Sự cung cấp sản phẩm cho khách hàng kịp thời, (5) Thiết kế, dịch vụ và hậu mãi vượt trội
Trang 27Sự đáp ứng sản phẩm đầy đủ, thích hợp và kịp thời cũng là một yếu tố quan trọng
trong việc lựa chọn đọc.
Vì sự cung cấp đủ sách và đúng thời điểm ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định đọc sách nên dựa vào thuyết lựa chọn duy lý, ta có giả thuyết:
H4: “Khả năng đáp ứng” có mối quan hệ cùng chiều với thói quen đọc sách của sinh viên thành phố Hồ Chí Minh.
2.4.5 Những mặt hạn chế của các phương tiện truyền thông
Tuơng tự như thói quen đọc sách, văn hóa nghe – nhìn bao gồm toàn bộ các giá trị, thái độ, ứng xử đối với các phương tiện nghe – nhìn.Ngày nay, trước sự bùng nổ của các phương tiện truyền thông như ti vi, báo điện tử, đặc biệt là Internet, sách không còn là “món ăn tinh thần” của nhiều người, đặc biệt là giới trẻ Văn hoá nghe nhìn với nhiều hình thức giải trí phong phú, tiện ích như xem phim, xem ca nhạc, xem tin tức, đọc truyện, chơi game, đang lấn lướt, và dần dần thay thế vai trò độc tôn của sách.
Đặc biệt, trong thời kinh tế thị trường, quỹ thời gian của mỗi người dường như bị rút ngắn rất nhiều cộng với nỗi lo cơm áo, gạo tiền, nên ít người còn tinh thần, trí óc để tập trung vào trang sách Riêng với hình thức giải trí nghệ thuật, chúng ta vẫn có thể kết hợp cùng lúc nhiều việc ở một mức độ nào đó, chẳng hạn như vừa ăn uống vừa
xem thời sự, nghe đài Như vậy rõ ràng so với sách, văn hoá nghe nhìn có lợi thế, phù hợp hơn với nhịp sống hiện đại Cộng thêm “căn bệnh lười đọc” đã tồn tại lâu nay, rồi cảm giác hụt hẫng nếu đọc trúng các đầu sách chạy theo trào lưu văn hóa rẻ tiền Vì vậy, văn hoá đọc gần như đã bị văn hoá nghe nhìn lấn át.
Có thể thấy, văn hóa nghe nhìn càng phát triển, thói quen đọc sách càng có nguy cơ bị mất đi vị thế trong đời sống hàng ngày của nhân loại, nhất là đối với giới trẻ - lứa tuổi đang khao khát được khám phá, tiếp thu những cái mới, hiện đại và tiện ích
Dựa vào Thuyết lựa chọn duy lý, nhóm đề xuất giả thuyết:
H5: “Những mặt hạn chế của phương tiện truyền thông” có mối quan hệcùng
chiều với thói quen đọc sách của sinh viên thành phố Hồ Chí Minh.
Trang 28CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 3.1 Quy trình nghiên cứu
Bảng 3.1: Quy trình nghiên cứu
3.2 Nghiên cứu sơ bộ
Mô hình nghiên cứu tương quanSử dụng mô hình hồi
quy
Mô hình nghiên cứu thông tin
Mô hình nghiên cứu
Chọn Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
Nghiên cứu định tínhThảo
luận tập trung
> Xây dựng thang đo
Nghiên cứu định lượng- Mã hóa,
nhập liệu, làm sạch dữ liệu- Kiểm định, đánh giá thang đo
Bản khảo sát
Công cụ nghiên cứuPhần mềm SPSS
Viết báo cáo
Trang 293.2.1. Nghiên cứu định tính
Nghiên cứu sơ bộ định tính được thực hiện tại Việt Nam vào tháng 3 năm 2017 thông qua phương pháp thảo luận nhóm được thực hiện tại địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Nghiên cứu này nhằm mục đích điều chỉnh, bổ sung thang đo các khái niệm nghiên cứu.
3.2.2. Nghiên cứu định lượng sơ bộ
Nghiên cứu định lượng sơ bộ cũng được thực hiện tại Việt Nam vào tháng 3 năm 2017 với 20 sinh viên hiện đang sinh sống ở thành phố Hồ Chí Minh tham gia khảo sát Mục đích của nghiên cứu này là nhằm đánh giá sơ bộ thang đo các khái niệm nghiên cứu trước khi tiến hành nghiên cứu chính thức.
3.3 Xây dựng và phát triển thang đo
3.3.1. Thái độ (THD)
Dựa vào thuyết hành động hợp lý TRA và TPB, thang đo thái độ được thể hiện dưới các biến: Thd1, Thd2, Thd3 và đề xuất biến Thd4, Thd5, Thd6, Thd7 dựa trên nghiên cứu định tính
Tôi luôn ưu tiên cho việc đọc sách mỗi khi rãnh rỗi.
T Khi đọc sách/báo, tôi sẽ ghi chú hoặc đánh dấu những
Trang 313.3.3. Nhu cầu (NHC)
Dựa vào Thuyết nhu cầu của Malow và Thuyết lựa chọn duy lý, thang đo nhu cầu được thể hiện dưới các biến: Nhc1, Nhc2, Nhc3, Nhc4, Nhc5.
Nhc1 Đọc sách giúp tích lũy vốn kiến thức.
Nhc2 Đọc sách giúp tôi cảm thấy thư giãn.
Nhc3 Đọc sách để nhìn nhận được nhiều khía cạnh của cuộc sống Nhc4 Đọc sách giúp cải thiện kĩ năng (tư duy, phân tích, viết, giao
tiếp…) Nhc5 Đọc sách là phương pháp hữu ích phục vụ cho việc học tập.
(Nguồn: Nhóm tác giả) Bảng 3.4: Các biến quan sát đo lường “Nhu cầu - NHC”
3.3.4. Khả năng đáp ứng (KND)
Trang 32Dựa vào thuyết lựa chọn duy lý, thang đo khả năng đáp ứng được thể hiện dưới các biến: Knd1, Knd2, Knd3, Knd4, Knd5.
3.3.5. Các phương tiện truyền thông(PTT)
Dựa vào Thuyết lựa chọn duy lý và Thuyết về động cơ tích cực, thang đo Các phương tiện truyền thông được thể hiện dưới các biến: Ptt1, Ptt2, Ptt3, Ptt4, Ptt5.
Trang 33phương tiện truyền thông.
Ptt2 Các phương tiện truyền thông làm sinh viên thụ động trong học
tập.
Ptt3 Các phương tiện truyền thông làm hạn chế khả năng tư duy và phân
tích.
Ptt4 Lạm dụng các phương tiện truyền thông sẽ gây hại cho sức khỏe.
Ptt5 Thói quen đọc sách sẽ không bị mai một trước sự lấn át của các
phương tiện truyền thông.
(Nguồn: Nhóm tác giả) Bảng 3.6: Các biến quan sát đo lường “Các phương tiện truyền thông -
PTT”
3.3.6. Thói quen đọc sách (TQD)
Ký hiệu Biến quan sát
TQD1 Tôi sẽ đọc sách nhiều hơn vì những yếu tố trên.
TQD2 Các yếu tố trên sẽ khiến tôi muốn đọc nhiều sách hơn trong tương lai TQD3 Vì những lí do trên, sau này tôi sẽ khuyên mọi người nên đọc sách. TQD4 Nhận biết được tầm quan trọng của việc đọc sách khiến tôi đọc sách
nhiều hơn.
(Nguồn: Nhóm tác giả) Bảng 3.7: Các biến quan sát đo lường “Thói quen đọc sách - TQD”
3.4 Nghiên cứu chính thức
3.4.1 Thiết kế mẫu nghiên cứu
Mẫu nghiên cứu:
Nghiên cứu được khảo sát bằng bảng câu hỏi, trong đó bao gồm 42 biến quan sátvà một số câu hỏi đặc trưng.Mẫu được chọn theo phương pháp thuận tiện, một trong các hình thức chọn mẫu phi xác suất
Để tính toán cỡ mẫu cho bài nghiên cứu này nhóm tác giả dựa vào 2 cách tính kích cỡ mẫu như sau:
- Cách 1: Nhóm tác giả sử dụng cỡ mẫu theo công thức n=50+8*m (m: số biến độc
lập) (Tabachnick và Fidell, 1996) Như vậy n ≥ 50 + 8*38 = 354(1)
- Cách 2: Nhóm tác giả dùng công thức sau để tính toán kích thước mẫu[ CITATION
Tín14 \l 1033 ]: n=p × q × ( ∈ z )2
Trong đó:
Trang 34+ z = giá trị z liên quan đến việc xác định mức độ tin cậy (nếu chọn mức độ tin cậy là 95%, thì giá trị z sẽ là 1.96) Điều này miêu tả mức độ không tin cậy của trung bình hoặc tần số của mẫu khi là ước lượng của trung bình và tần suất tổng thể Giá trị tham khảo: 1.96 (cho mức độ tin cây 95%)
+ p = ước tính phần trăm trong tập hợp Thông thường p sẽ thấy ở một vài nghiên cứu trước đó hoặc một vài nguồn thông tin Trong trường hợp chúng ta không
có thông tin trước liên quan đến p, chúng ta thường thiết lập giá trị của p tới 0.5 Điều này sẽ dẫn đến một phân tách 50%-50% để nắm bắt biến số lớn nhất
có thể trong tập hợp = (1-p)
+ 𝜀 = sai số (ví dụ: tham gia vào giá trị +/- 3, 4, 5 phần trăm) Chiếm một nửa độ rộng của khoảng tin cậy Sai số càng nhỏ thì kích thước mẫu càng lớn Giá trị tham khảo: 0.05
Như vậy ta giả sử độ biến động của dữ liệu ở mức lớn nhất hay biến số lớn nhất
có thể trong tập hợp đặt u = p × q = p ×(1 – p) u’ = 1 – 2p = 0 p = 0.5
Ta chọn giá trị tham khảo sai số 𝜀 = 5% hay 𝜀 = 0.05
Chọn độ tin cậy 95% Tra bảng Zαα 2 =1.96
Như vậy ta có kích thước mẫu n=0.5 ×0.5 × ( 1.96 0.05 )2=384.16 385(2)
Từ (1) và (2) nhóm tác giả sẽ chọn cỡ mẫu tối thiểu là 385 đơn vị (n ≥ 385) Phương pháp chọn mẫu: chọn mẫu theo phương pháp thuận tiện.
3.4.2 Thu thập dữ liệu
Nhóm tác giả quyết định thu thập dữ liệu bằng 2 cách: khảo sát trực tiếp và khảo sát trực tuyến theo đường link:
https://docs.google.com/forms/d/e/1FAIpQLScWIrjdLv5nJpTTdmywRrnmMQ1bH_Q J6F6Th1qyadZ43PF5Iw/viewform
Link kết quả bản khảo sát trên mạng:
https://docs.google.com/forms/d/1U3_Ttf3qRjFr5uZYF4OCGWas46Thk_xT7kTcePtu c7U/edit#responses
3.4.3 Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu:
Nhóm tác giả sử dụng phần mềm SPSS làm công cụ hô trợ cho nghiên cứu đề tài.
Trang 35- Dùng phương pháp đánh giá độ tin cậy Cronbach’s Alpha:
Những biến có Corrected Item – Total Correlation nhỏ hơn 0.3 sẽ bị loại và Cronbach’s Alpha phải trên 0.6 mới đạt độ tin cậy để phân tích
- Phân tích nhân tố EFA
Phân tích nhân tố EFA bằng phương pháp trích Principal Axis Factoring với phép xoay Promax (Phép xoay Promax dựa trên ý tưởng tính toán giải pháp trực giao tốt nhất, sau đó nới lỏng rành buộc về tính trực giao để tách nhóm với các vectơ nhân tố (cấu trúc đơn giản hơn)) Khi phân tích nhân tố, tác giả quan tâm đến một số tiêu
chuẩn sau:
+ Thứ nhất: Hệ số KMO (Kaiser-Meyer-Olkin) ≥ 0.5 và mức ý nghĩa của kiểm
định Bartlett ≤ 0.05
+ Thứ hai: Khi phân tích nhân tố EFA chính thức thì nhóm tác giả chỉ chọn
những biến có hệ số tải nhân tố (Factor Loading) > 0.5 (Do cỡ mẫu > 100) Nếu
biến quan sát nào có hệ số tải nhân tố ≤ 0.5 sẽ bị loại nhằm đảm bảo tập dữ liệu đưa vào là có ý nghĩa cho phân tích nhân tố
+ Thứ ba: Thang đo được chấp nhận khi tổng phương sai trích ≥ 50% và
Eigenvalues có giá trị lớn hơn 1
+ Thứ tư: Khác biệt hệ số tải nhân tố của một biến quan sát giữa các nhân tố ≥
0.3 để đảm bảo giá trị phân biệt giữa các yếu tố
- Kiểm định tương quan:
Tương quan (correlation) cho biết mối liên hệ tương đối giữa hai biến Hệ số tương quan (correlation coefficient) sẽ cho biết độ mạnh hay mức độ liên hệ giữa hai biến.
Hệ số tương quan có thể xác định qua 2 phương pháp: Hệ số tương quan Pearson và tương quan hạng Spearman Trong bài nghiên cứu này nhóm tác giả dùng phương pháp hệ số tương quan Pearson trước khi phân tích hồi quy, nhằm mục đích phát hiện
một số trường hợp đa cộng tuyến sẽ xảy ra ở đâu (Trong việc kiểm định tương quan, nhóm tác giả đã tham khảo một số giảng viên đang du học và làm nghiên cứu sinh tại
ĐH Cao Hùng tại Đài Loan, tất cả đều có chung một quan niệm cho rằng Pearson chưa chắc đã phản ánh đúng vì một số lý do (như cỡ mẫu…), do đó không nên vội loại biến ngay sau Pearson, vì tồn tại một số trường hợp Pearson không có ý nghĩa nhưng
Trang 36khi chạy hồi quy vẫn thỏa và kiểm định vãn có ý nghĩa thống kê Chính vì vậy, nhóm tác giả cho rằng không nên vội kết luận sau Pearson và mà cần phải phân tích hồi quy
để đưa ra kết luận mới chính xác).
- Phân tích hồi quy:
Trong bài nghiên cứu, nhóm tác giả còn sử dụng mô hình hồi quy bội, nhằm mục đích xác định các nhân tố chủ yếu tác động mạnhnhất đến thói quen đọc sách, cũng như tầm quan trọng của từng nhân tố đó Mô hình hồi quy bội theo nhóm tác giả đề xuất có dạng như sau:
Y = β0 + β1F1 + β2F2 + … + βnFn + εi i
Trong đó:
+ Y là Thói quen đọc sách của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh.
+ F1, F2…Fn là các nhân tố (biến độc lập) ảnh hưởng đến Thói quen đọc sách
của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh (Y).
+ β1, β2… βn là hệ số hồi quy từng phần (Trong bài nghiên cứu này nhóm tác giả
sử dụng hế số β chưa chuẩn hóa).
+ εi i là sai số ngẫu nhiên có phân phối chuẩn, trung bình bằng 0, phương sai không đổi và độc lập
- Kiểm định tính BLUE của mô hình:
Các biến trong mô hình hồi quy sẽ được kiểm định thông qua bốn giả định của mô hình nhằm đảm bảo các giả định không bị vi phạm làm sai lệch kết quả nghiên cứu
Không xuất hiện hiện tượng tương quan giữa các phần dư: Nhóm tác giả kết
hợp phương pháp Backward và kiểm định Durbin – Watson Thống kê d của Durbin – Watson được định nghĩa như sau:
d= ∑ ( ei− ei−1¿)2
∑ ei2 ¿ Khi n đủ lớn thì d ≈ 2(1-ρ),
Trong đó: ρ= ∑ eiei −1
∑ ei2 , do -1 ≤ ρ ≤ 1, nên xảy ra 3 trường hợp:
+ Trường hợp 1: ρ = -1 => d = 4: tự tương quan hoàn hảo âm
+ Trường hợp 2: ρ = 0 => d = 2: không có tự tương quan
+ Trường hợp 3: ρ = 1 => d = 0: tự tương quan hoàn hảo dương
Trang 37Trong đó dU và dL là các giá trị tra bảng giá trị d.
Trong thực tế khi tiến hành kiểm định Durbin – Watson, người ta thường
áp dụng quy tắc kiểm định đơn giản sau:
+ Nếu 1 < d < 3 thì kết luận mô hình không có tự tương quan
+ Nếu 0 < d < 1 thì kết luận mô hình có tự tương quan dương
+ Nếu 3 < d < 4 thì kết luận mô hình có tự tương quan âm
Phương sai của phần dư không đổi: Dựa vào đồ thị phân tán nếu phần dư phấn
tán ngẫu nhiên xung quanh đường đi của trục tung và trục hoành chứ không tạo nên hình dạng nào thì giả định phương sai không đổi của mô hình hồi quy là không vi phạm Sử dụng phương pháp hồi quy bội không có hiện tượng phương sai thay đổi
Các phần dư có phân phối chuẩn (Theo Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc: “Mô hình hồi quy đưa ra luôn có giới hạn một số biến nhất định, có thể sẽ
bỏ qua một số nhân tố ảnh hưởng… hay những sai số trong quá trình kiểm định… gọi là những sai lệch giữa giá trị thực tế và lý thuyết mà trong SPSS gọi là phần
Trang 38dư.” Vì vậy cần phải kiểm định phần dư có phân phối chuẩn để tránh những tác động của các yếu tố khác không liệt kê trong mô hình lên biến phụ thuộc): Trong
biểu đồ Histogram phần dư chuẩn hóa có giá trị trung bình xấp xỉ bằng 0 và độ lệch chuẩn xấp xỉ bằng 1 thì được coi giả thuyết phân phối chuẩn không bị vi phạm.
- Phân tích sự khác biệt về thói quen đọc sách của sinh viên thành phố Hồ Chí Minh theo các đặc điểm cá nhân
• Đối với các đặc điểm cá nhân 1 (giới tính)
Để so sánh sự khác biệt về Thói quen đọc sách của sinh viên thành phố Hồ Chí Minhtheo các đặc điểm cá nhân là giới tính thì nhóm tác giả sử dụng phép kiểm định trung bình 2 mẫu độc lập (Independent Samples T-Test)
Đầu tiên nhóm tác giả kiểm định sự bằng nhau của 2 phương sai tổng thể (Levene’s Test) dựa vào giá trị Sig với độ tin cậy 95%, khi đó ta có 2 trường hợp sau:
+ Trường hợp 1: Giá trị Sig < 0.05 Có sự khác biệt giữa 2 phương sai Khi đó nhóm tác giả sẽ dùng kết quả ở Equal variances not assumed
+ Trường hợp 2: Giá trị Sig ≥ 0.05 Không có sự khác biệt giữa 2 phương sai Khi đó nhóm tác giả sẽ dùng kết quả ở Equal variances assumed
Sau khi đã chọn kết quả kiểm định t sẽ sử dụng trong phân tích sự khác biệt, nhóm tác giả sẽ tiến hành so sánh giá trị Sig (Sig (2 tailed)) Khi đó lại xuất hiện 2 trường hợp
+ Trường hợp 1: Sig (2 tailed) < 0.05 Có sự khác biệt có ý nghĩa về trung bình giữa các nhóm Khi đó nhóm tác giả sẽ dựa vào giá trị trung bình mẫu để xác định sự khác biệt đó
+ Trường hợp 2: Sig (2 tailed) ≥ 0.05 Không có sự khác biệt có ý nghĩa về trung bình giữa các nhóm Khi đó nhóm tác giả sẽ dừng lại ở đây
• Đối với các đặc điểm cá nhân 2 (bậc học, nơi sinh sống và học tập).
Đối với so sánh sự khác biệt giữa Thói quen đọc sách của sinh viên thành phố Hồ Chí Minhvới các đặc điểm cá nhân như: bậc học, nơi sinh sống và học tập thì nhóm tác giả dùng phân tích phương sai ANOVA (Analysis of variance) Nhóm tác giả sử dụng giá trị Sig trong bảng Homogeneity of Variances với độ tin cậy 95%, khi đó ta có 2 trường hợp sau:
Trang 39+ Trường hợp 1: Sig < 0.05 phương sai đánh giá thói quen đọc sách của sinh viên thành phố Hồ Chí Minhtheo các đặc điểm cá nhân khác nhau một cách có
ý nghĩa thống kê Khi đó nhóm tác giả dừng phân tích
+ Trường hợp 2: Sig ≥ 0.05 phương sai đánh giá thói quen đọc sách của sinh viênthành phố Hồ Chí Minhtheo các đặc điểm cá nhân không khác nhau một cách có ý nghĩa thống kê Khi đó nhóm tác giả sử dụng kết quả phân tích ANOVA
Nếu rơi vào trường hợp 2 (Sig ≥ 0.05), nhóm tác giả dựa vào kết quả ở bảng ANOVA để phân tích Nhóm tác giả tiếp tục sử dụng giá trị Sig với độ tin cậy 95%, khi đó có 2 trường hợp sau:
+ Trường hợp 1: Sig ≥ 0.05 Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về Thói quen đọc sách của sinh viênthành phố Hồ Chí Minhtheo đặc điểm cá nhân Khi đó nhóm tác giả dừng lại ở đây
+ Trường hợp 2: Sig < 0.05 Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về Thói quen đọc sách của sinh viên thành phố Hồ Chí Minh theo đặc điểm cá nhân Khi đó nhóm tác giả tiếp tục tìm sự khác biệt dựa vào phép kiểm định Tukey HSD ở độ tin cây 95% Khi đó giá trị Sig có ý nghĩa quan trọng trong việc kết luận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm (Cụ thể nếu Sig > 0.05 Không
có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm, ngược lại nếu Sig < 0.05
Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm), kế tiếp nhóm tác giả dựa vào giá trị trung bình mẫu trong bảng Descriptives để đánh giá cụ thể về sự khác biệt
- Kiểm định thống kê One - Sample T-Test
Để phân tích mối liên hệ giữa giá trị trung bình của một tổng thể định lượng với một giá trị cụ thể xác định (µ0=3) cho các thành phần trong các yếu tố ảnh hưởng đến Thói quen đọc sách của sinh viên thành phố Hồ Chí Minh, nhóm tác giả sử dụng phép Kiểm định trung bình 1 mẫu độc lập (One Samples T-Test) Khi thực hiện kiểm định, nhóm tác giảtiến hành so sánh giá trịSig (sig (2 tailed)) trong kiểm định t Nếu sig (2 tailed)
>0.05: kết luận giá trị trung bình của tổng thể bằng với giá trị xác định Nếu sig (2 tailed) <=0.05: kết luận giá trị trung bình của tổng thể bằng với giá trị xác định.
Trang 40TIỂU KẾT CHƯƠNG 3
Hình thành nên mô hình nghiên cứu là rất quan trọng với bài nghiên cứu vì từ
mô hình nghiên cứu, nhóm tác giả sẽ khảo sát các đối tượng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Cuộc khảo sát này sẽ thu về những dữ liệu quan trọng phục vụ cho bài nghiên cứu này Mỗi câu hỏi liên quan đến từng yếu tố là một quan điểm riêng của từng sinh viên, và quan điểm đó được định lượng hóa cụ thể.Từ đó nhóm tác giả sẽ phân tích một cách cụ thể và khoa học để cho thấy được sự tác động của từng yếu tố lên thói quen đọc sách của sinh viênthành phố Hồ Chí Minh Từ kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả sẽ hình thành nên những giải pháp nhằm nâng cao thói quen đọc sách của nhóm đối tượng này.Những giải pháp đều dựa trên những quan điểm ban đầu, chính vì vậy công việc thu thập thông tin (khảo sát) là rất quan trọng Những thay đổi nhỏ từ môi trường bên ngoài có tác động sâu sắc đến chất lượng của cuộc khảo sát (nơi khảo sát, thời gian khảo sát, người xung quanh…) bởi thế đòi hỏi sự khảo sát một cách độc lập và phù hợp với thực tế.
Trong chương 3 này, nhóm tác giả đã hình thành nên mô hình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, cỡ mẫu, thang đo cho cuộc khảo sát, sự hỗ trợ bởi các dụng
cụ phân tích… đây là cơ sở cho sự hình thành nên kết quả ở chương 4
Trong chương 4, nhóm tác giả sẽ đưa ra kết quả nghiên cứu được thu thập trực tiếp từ những người được khảo sát, và kết quả này sẽ là mấu chốt để nhóm tác giả đề
ra những giải pháp nhằm nâng caothói quen đọc sách của sinh viên, đây cũng chính là mục đích của bài nghiên cứu mà nhóm tác giả muốn hướng đến.