Bài viết đề xuất một cảm biến thụ động không dây hoạt động trên dải tần số sóng vi ba được thiết kế đặc biệt để nhận dạng chất lỏng phụ thuộc vào đặc tính điện môi khác nhau của các chất lỏng hóa học.
Trang 1Nghiên cứu cấu trúc ăng-ten bowtie lưỡng cực theo cấu trúc cây fractal ứng dụng cho thiết kế cảm biến nhận dạng hằng số điện môi chất lỏng
An Thị Thúy 1, Nguyễn Thanh Hường 1,2,*
1Viện Điện, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Việt Nam
2Viện MICA, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Việt Nam
*Email: huong.nguyenthanh3@hust.edu.vn
Tóm tắt— Bài báo đề xuất một cảm biến thụ động không
dây hoạt động trên dải tần số sóng vi ba được thiết kế đặc
biệt để nhận dạng chất lỏng phụ thuộc vào đặc tính điện
môi khác nhau của các chất lỏng hóa học Cảm biến vi
sóng được phát triển dựa trên cấu trúc ăng-ten bowtie và
được tinh chỉnh bằng cấu trúc cây fractal để cải thiện độ
nhạy, dễ dàng điều chỉnh tần số theo đặc tính điện môi và
tăng cường băng thông trở kháng rộng cho phép phân biệt
các dung dịch hóa học khác nhau Ăng-ten được chế tạo
với hai nhánh hình tam giác có độ dày lớp dẫn đồng là
0,035 mm, chiều cao và chiều rộng lần lượt là 6,25 mm,
9,38 mm và được xây dựng trên mặt phẳng đế mềm, mỏng
có hằng số điện môi là 3,5 và và tổn hao điện môi là 0,027
Cảm biến nhỏ và chi phí thấp được chế tạo bằng công nghệ
in trên đế dẻo có thể dán lên hình dạng thùng chứa chất
lỏng được phân tích dựa trên bốn loại chất lỏng phổ biến
là nước, methanol, ethylene glycol và glycerol Kết quả của
nghiên cứu có thể được áp dụng cho các phép đo chất điện
môi, xác định hóa chất trong phòng thí nghiệm, y học và
dược phẩm
Từ khóa- cảm biến vi sóng, ăng-ten bowtie, hằng số điện
môi, phát hiện chất lỏng
I GIỚITHIỆU Ngày nay, cảm biến hóa học trong vùng vi sóng để
xác định đặc tính vật liệu đã thu hút sự chú ý nhanh
chóng hơn bởi sự phân tích chính xác, thiết kế đơn giản
và một loạt các ứng dụng của nó đã được trình bày trong
nhiều lĩnh vực như y sinh, hóa học và công nghiệp [1],
[2] Mỗi vật liệu có các đặc tính riêng biệt của nó tùy
thuộc vào hằng số điện môi ε*= ε’– jε’’ , (trong đó ε' là
phần thực, ε'' là phần ảo), suy hao điện môi tanδ=ε''/ε'
và sự tương tác điện môi trong các trường của sóng điện
từ, nhờ vậy có thể xác định được chất hóa học thông qua
các thông số như hệ số phản xạ ngược S11 trên các thiết
bị đo vi sóng [3] Cách tiếp cận phổ biến để xác định
thông tin chất lỏng là phân tích tần số cộng hưởng cần
thiết thay đổi với các đặc tính đã biết chính xác như hằng
số điện môi và độ dẫn điện được quy định trong hệ thống
đo điện môi tiêu chuẩn hiện có trên thị trường, qua việc
làm trên, các nghiên cứu đã thu thập được các mẫu hữu
cơ và vô cơ trong dải tần 300MHz đến 6GHz trong thời
gian ngắn [1], [4] Ví dụ, việc sử dụng cảm biến hoạt
động theo nguyên tắc trên như một công cụ để xác định
các dung dịch lỏng hoặc dung môi độc hại bị mất nhãn trong phòng thí nghiệm [4]
Trước đây, các phương pháp để nhận biết các chất lỏng yêu cầu thể tích hóa chất khổng lồ để đổ đầy các ống nghiệm phân tích [5], [6] Để giảm thiểu các vấn đề
về việc lãng phí các hóa chất, ăng-ten của bộ cộng hưởng
đã được cải thiện tiến bộ hơn thông qua việc phát triển các ống dẫn sóng nhỏ được tích hợp trên chip [7], [8] Tuy nhiên, việc sử dụng chip IC tích hợp sẽ làm cho chi phí sản xuất cảm biến bị đẩy lên cao và chỉ có thể phát hiện chất lỏng ở một phạm vi hạn chế trong một dải tần nhỏ [4]
Bài báo đề xuất xây dựng thiết kế ăng-ten bằng cấu trúc hình học Sierpinsky-tam giác đồng dạng theo cấu trúc ăng-ten bowtie ban đầu Các nghiên cứu nhằm vào các đặc tính lưỡng cực, các thông số như tần số, trở kháng đầu vào và độ lợi của ăng-ten đã phân tích đến sự phụ thuộc vào hình dạng hình học có khả năng làm giảm kích thước, mở rộng băng thông rộng và hiệu suất cao khi so sánh với cùng độ dài sóng của nửa sóng cấu hình lưỡng cực [11] Cảm biến được in trên đế điện môi dẻo
có hằng số điện môi là 3,5 và tổn hao điện môi là 0,027
dễ dàng uốn cong với bất kỳ loại hình dạng vật chứa nào, đặc biệt đối với các ống nghiệm trên thị trường hiện nay
có chứa lượng chất lỏng vừa đủ Thiết bị này có thể được
sử dụng nhiều để dán vào ống nghiệm thông thường trên thị trường, xác định hóa chất lỏng bị mất nhãn với chi phí, cấu hình thấp một các chính xác và thuận tiện trong thời gian ngắn
II PHƯƠNGPHÁPTHIẾTKẾ Hoạt động của quá trình mô tả đặc tính tập trung vào việc thử nghiệm trong phòng thí nghiệm, đơn giản bằng cách sử dụng ống nghiệm làm vật chứa Điều đó có nghĩa là ăng-ten bức xạ phải bức xạ vi sóng về phía tâm của dung dịch chứa trong ống Điều này yêu cầu hướng của ăng-ten phải đa hướng hoặc hướng về phía thùng chứa hóa chất Cảm biến hoạt động thụ động vì nó không yêu cầu chip nào khác ngoài cấu trúc cộng hưởng hoặc bản thân ăng-ten Do đó, nó được kích thích không dây bởi một ăng-ten bên ngoài kết nối với đầu đọc Cảm
Trang 2biến được cấp nguồn ở trung tâm ăng-ten với trở kháng
dây 50 Ohm Ăng-ten cảm biến được đề xuất phải có đồ
thị bức xạ hướng vào trong lòng chất lỏng để nhận tín
hiệu điện từ từ thiết bị bên ngoài và nhận tín hiệu vi ba
tương ứng qua ống nghiệm chất lỏng Ống nghiệm được
đề xuất sử dụng có đường kính 6 mm và cao tối đa 50
mm có thể chứa từ 5 đến 6 ml dung dịch lỏng Các giả
định này được sử dụng làm thông số hoạt động cho
ăng-ten cảm biến vi sóng
A Thiết kế dạng ăng-ten căn bản
Đồ thị bức xạ của lưỡng cực nửa bước sóng này là
đa hướng trong mặt phẳng H [10] Với trục của ăng-ten
ra/vào màn hình, bức xạ xung quanh ăng-ten là như
nhau Điều này được mong đợi vì không có gì để phân
biệt hướng này với hướng khác hoặc ảnh hưởng đến bức
xạ theo các hướng khác nhau trong mặt phẳng này Do
đó, ăng-ten được gắn trên ống thử nghiệm cho phép tia
bức xạ bao quanh các dung dịch và đặc tính định hướng
đi qua lòng chất lỏng Bên cạnh những ưu điểm đã nêu,
kích thước của ăng-ten lưỡng cực nửa bước sóng là trở
ngại cho thiết kế Bước sóng của ăng-ten này được tính
bằng λ=c/f với chiều dài l=λ/2 [10] Theo công thức trên,
giả sử thiết kế ăng-ten nửa bước sóng ở tần số 600MHz
là λ = 0,5m, vì vậy chiều dài 0,25m là quá dài đối với
ăng-ten thiết kế nhỏ, cấu hình thấp như mục tiêu đề ra
Ăng-ten bowtie được biết đến như một giải pháp
hoàn hảo để giảm chiều dài và mở rộng băng thông
Ăng-ten này sẽ có dạng bức xạ tương tự như ăng-ten
lưỡng cực nửa bước sóng Cấu hình được chia thành hai
mảnh kim loại Nguồn cấp tiếp điểm của ăng-ten nằm ở
trung tâm của ăng-ten nên ăng-ten trông giống nhau ở
tất cả các bước sóng
Hình 1 Cấu trúc hình học ăng-ten bowtie
Hình 1 minh họa cấu trúc hình học chung của
ăng-ten bowtie Cảm biến này được mạ đồng bằng cách xác
định cấu trúc bowtie bao gồm một cặp tay lưỡng cực
hình tam giác đối xứng nhau Cấu hình này được xây
dựng trên mặt phẳng đế hình thoi có độ dày 0,1mm,
hằng số điện môi tương đối là 3,5, tổn hao điện môi
0,027 Chất điện môi đế được chọn để ảnh hưởng đến
hiệu suất của ăng-ten càng nhỏ càng tốt và được uốn
cong để thay đổi theo hình dạng thùng chứa Đối với
thông số kỹ thuật ăng-ten, có một vài kích thước cần
thiết để thiết kế ten Như trong Hình 2, thiết kế
ăng-ten bowtie đơn giản với tổng
L=2w+g=2×9.38+0.52=19.28mm sẽ là nửa bước sóng ở tần số f= c/2L=7.78 GHz Ăng-ten hình bowtie
cơ bản được mô phỏng và thu được hệ số phản xạ trở lại như trong Hình 2 Sự cộng hưởng xảy ra ở khoảng 5 GHz và đạt được hiệu suất tốt trong biểu đồ hệ số phản
xạ và thấp hơn 7,78 GHz được coi là lý tưởng cho hình dạng ăng-ten có hình dạng như trên Điều này về cơ bản làm cho ăng-ten hoạt động với chiều dài điện dài hơn chiều dài vật lý thực tế Do đó, kích thước tổng thể của ăng-ten vì thế mà thu nhỏ lại
Hình 2 Biểu đồ hệ số phản xạ của ăng-ten bowtie
B Cải thiện ăng-ten bằng cấu trúc fractal cho cảm biến vi sóng
Các minh chứng đã chỉ ra rằng có thể dễ dàng tích hợp ăng-ten khe vào các cấu trúc dẫn điện hiện có mà không cần hỗ trợ cấu trúc bổ sung [12] Trong tình huống này, khe được hi vọng không quá lớn và đối xứng
để có được hiệu suất tốt hơn và có các dạng bức xạ gần đúng trước đây
Ăng-ten dựa trên cấu trúc fractal Sierpinski lặp lại lần thứ tư được chọn làm khe để đáp ứng các yêu cầu Tam giác Sierpiński là một loại fractal sử dụng hình tam giác làm hình dạng cơ sở Xét 1 nhánh cấu trúc tam giác bên trái của ăng-ten bowtie, trong lần lặp đầu tiên của cấu trúc này, hình dạng đồng dạng của một tam giác được giảm xuống một nửa và đặt chồng lên theo hướng ngược lại của nhánh đó, tương tự với các lần lặp tiếp theo Trong lần lặp thứ hai, tam giác được chia thành bốn tam giác như trong Hình 3 và tam giác ở trung tâm
bị loại trừ khỏi hình dạng Trong các lần lặp tiếp theo, hoạt động tương tự được áp dụng cho mỗi tam giác mới tạo nên cấu trúc tổng thể như Hình 4 Quy luật tái cấu trúc tam giác Sierpiński được thể hiện theo công thức kích thước Hausdorff :
log(𝑆)
trong đó N là hệ số mà số lượng hình tam giác tăng lên sau mỗi lần lặp lại và S là hệ số tỷ lệ độ dài mà số hình tam giác bị giảm đi Kích thước Hausdorff là thước đo mức độ mà một cấu trúc cây fractal chiếm trên một bề mặt dẫn [13]
Trang 3Hình 3 Các cấu hình lặp lại của cấu trúc fractal Sierpinski
Hình 4: Cấu trúc ăng ten fractal bowtie
Sau khi điều chỉnh các thông số hình học, các kích
thước của ăng-ten fractal bowtie cuối cùng được chỉ ra
trong Bảng I
BẢNG I CÁC KÍCH THƯỚC HÌNH HỌC CỦA
ĂNG-TEN BOWTIE FRACTAL
(mm)
hf Chiều cao của tam giác
dồng dạng lần thứ 4
0.39
sf Chiều dài của tam giác
dồng dạng lần thứ 4 0.62
C Bố trí thí nghiệm
Trong quá trình phân tích hoạt động của cảm biến,
ống nghiệm hóa học làm từ thủy tinh có hằng số điện
môi 7 và độ dẫn điện 10−11𝑆/𝑚 và có bán kính 6 mm,
có độ dày thành 0,8-1 mm được sử dụng và được đổ
một lượng thể tích chất lỏng vừa đủ cao hơn chiều dài
cảm biến Cảm biến ăng-ten được dán trên bình chứa
Ba chất lỏng hữu cơ phổ biến có hằng số điện môi tương
đối từ 32 đến 78 đã được chọn để đánh giá hiệu quả của
cảm biến ăng-ten như một thiết bị nhận dạng chất lỏng
Những chất lỏng này đã được nghiên cứu trong từ
trường của cảm biến ăng-ten và thông tin điện môi của
chúng rất sẵn có [3], [5] Bốn chất lỏng được thử
nghiệm là metanol, ethylene glycol, glycerol và nước
khử ion (DI) với cùng thể tích trong bình chứa ở
298°K.Với các chất hóa học ở dạng nguyên chất như
trên, với thể tích chất lỏng cao hơn ăng-ten, kết quả thu
được là như nhau vì cảm biến chỉ chịu ảnh hưởng bởi hằng số điện môi của chất lỏng
BẢNG II: HẰNG SỐ ĐIỆN MÔI CỦA CHẤT LỎNG
Chất hóa học Hằng số điện môi
Cảm biến ăng-ten đã được làm cong và dán lên hình dạng ống nghiệm đã thu được những kết quả ở bên dưới Các đặc điểm của ăng-ten đề xuất được mô phỏng trong phần mềm CST được xác định bởi một số tham số trên dải băng tần Có thể thấy từ Hình 5a rằng ăng-ten ban đầu không mang lại hệ số phản xạ khác nhiều với ăng-ten được bổ sung thêm cấu trúc fractal Tuy nhiên, kết quả ban đầu này chỉ thể hiện tần số ổn định của ăng-ten
và việc sửa đổi sẽ thu được nhiều hiệu suất khác nhau
vì hình dạng của ăng-ten sẽ thay đổi theo hình dạng ống nghiệm và chất lỏng điện môi sẽ ảnh hưởng mạnh đến các tính năng vi sóng cộng hưởng của ăng-ten
Hình 5 a) Hệ số phản xạ của Ăng-ten bowtie và Ăng-ten bowtie tái cấu trúc theo hình dạng fractal; b) Trở kháng của Ăng-ten bowtie tái cấu trúc
Cấu trúc ăng-ten bowtie được thiết kế trong bài báo thỏa mãn tần số cộng hưởng tại 5GHz giúp cho ăng-ten
có thể đạt kích thước nhỏ, có thể phù hợp với kích thước của các ống nghiệm hóa học Kết quả mô phỏng tại đồ thị Smith (Hình 5b) cũng cho thấy tại tần số này, trở kháng của ăng ten bowtie cũng đạt 50Ω và hoàn toàn hòa hợp trở kháng với nguồn cấp chuẩn cho các mạch điện tử vi sóng
a)
b)
Trang 4III KẾTQUẢVÀTHẢOLUẬN
Thiết bị cảm biến được mô phỏng và phân tích trên
phần mềm mô phỏng CST Microwave Studio Trong
phần này, ăng-ten được uốn cong trên bề mặt cong của
ống nghiệm đường kính 6 mm để mô tả đặc điểm của
các dung dịch nước bên trong bể chứa này Đối với ống
nghiệm rỗng, sự uốn cong làm cho ăng ten bowtie và
ăng-ten đã được sửa đổi theo cấu trúc fractal lệch khỏi
nhau Trong hình 6a, khi kết hợp dán cấu trúc ăng ten
trên ống nghiệm, có thể nhìn ra được kích thước của
ăng-ten nhỏ hơn nhiều so với kích thước ống nghiệm,
do đó tất cả các hiệu ứng từ chất lỏng có thể bị ăng-ten
phản xạ toàn bộ Điều này có thể đảm bảo rằng sóng
điện từ có thể bức xạ và phản xạ trở lại một cách hoàn
toàn dựa trên các đặc tính điện môi Trong Hình 6b, có
thể quan sát thấy rằng hệ số phản xạ của ăng ten trong
trường hợp hình bowtie kém thích nghi hơn so với hình
dạng bowtie biến đổi theo phương pháp fractal
Ăng-ten đạt được hiệu suất tốt hơn trong trường hợp theo cấu
trúc fractal được sửa đổi so với hình dạng ban đầu
Hình 6 a, Ăng-ten được uốn cong trên ống nghiệm; b) Hệ số
phản xạ của Ăng-ten bowtie ban đầu và Ăng-ten được tái
cấu trúc theo hình dạng fractal sau khi được uốn cong theo
hình dạng ống nghiệm
Hệ số phản xạ kết quả trong Hình 6 chứng minh
rằng việc sửa đổi theo cấu trúc fractal là cần thiết để
tăng cường khả năng phát hiện chất lỏng Để nhận biết
các hằng số điện môi bằng phép đo các vật liệu lỏng,
bốn hóa chất khác nhau được đổ vào ống nghiệm Trong
Hình 7, các thông số vi sóng của cảm biến cộng hưởng
được đánh giá từ 2,67 GHz đến 3,93 GHz trong đó
metanol có tần số cộng hưởng cao nhất là 3,93 trong khi
glycerol, etylen glycol, methanol và nước cho thấy sự
dịch chuyển đi xuống và đạt được tần số cộng hưởng
lần lượt ở 3,73 GHz là 3,51 GHz và 2,67 GHz Giá trị
hệ số phản xạ của kết quả đo được cho thấy tín hiệu bức
xạ tốt vì các giá trị tổn thất trả về của chúng đều nhỏ
hơn -10dB
Hình 7 Hệ số phản xạ của cảm biến của các chất lỏng hóa học Phân tích tham số được tiến hành để phát hiện tác động đặc tính của cảm biến được thiết kế Để đạt được mục tiêu này, chúng tôi kiểm tra miền tần số xung quanh tần số cộng hưởng của ống nghiệm rỗng có gắn ăng-ten cảm biến (khoảng 4 GHz) Có thể thấy rằng tần
số cộng hưởng tỉ lệ nghịch với hằng số điện môi của chất lỏng Điều này cho thấy rằng sử dụng ăng-ten này, các hóa chất lỏng thay đổi tuyến tính với sự thay đổi của tần số Đặc tính này thể hiện hoạt động cơ bản của cảm biến, có nghĩa là độ nhạy của cảm biến phụ thuộc tuyến tính với tần số Sự thay đổi lớn của tần số đối với sự thay đổi của hằng số điện môi được thể hiện rõ ràng trong Hình 8 khi ống nghiệm chứa hóa chất lỏng Kết quả là, đồ thị đã chứng minh được rằng mô hình đề xuất
có thể được sử dụng như một cảm biến để phát hiện chất lỏng bằng cách sử dụng cộng hưởng tần số
Hình 8 Đồ thị đặc tính của cảm biến phát hiện chất lỏng: Sự phụ thuộc của tần số cộng hưởng và hằng số điện môi Đặc tính này rất phù hợp với đặc tính vi sóng của cảm biến được thiết kế theo cấu trúc này Các thông số sau của ăng-ten khi phân tích đối với methanol được hiển thị trong Hình 9,10,11 được sử dụng để giải thích hiệu ứng này
Hình 9: Đồ thị bức xạ của cảm biến đối với methanol
Trang 5Hình 10 Điện trường của cảm biến với methanol
Hình 10: Phân bố dòng điện bề mặt của cảm biến với
methanol Theo Hình 9, hình dạng bức xạ của ăng-ten là đa
hướng với độ lợi (gain) là 3,56 dBi Độ lợi của ăng-ten
ở giá trị này thể hiện độ định hướng tương đối mạnh của
cảm biến về phía bình chứa chất lỏng Đây là minh
chứng rõ ràng để chứng minh rằng việc sửa đổi hình
dạng fractal đạt hiệu quả tốt hơn với cấu trúc ăng-ten
ban đầu và có thể giúp ăng-ten phù hợp hơn với ứng
dụng cảm biến Đặc tính bức xạ này có thể được quan
sát rõ ràng qua điện trường và phân bố dòng điện bề mặt
của cảm biến trong Hình 10 và Hình 11 Khi tiếp điện
cổng của ăng-ten bowtie dựa trên lưỡng cực, dòng điện
sẽ chạy qua cạnh của ăng-ten Tuy nhiên, chính nhờ cấu
trúc fractal mà cường độ điện trường được tăng lên một
cách hiệu quả và tinh chỉnh toàn bộ cấu trúc ăng ten làm
cho bức xạ về phía chất lỏng mạnh hơn
IV KẾTLUẬN Một ăng-ten linh hoạt phù hợp và chi phí thấp được đề
xuất để chế tạo cảm biến thụ động vi sóng Các hóa chất
lỏng khác nhau có thể được phát hiện thông qua cảm
biến mà không gặp bất kỳ khó khăn nào Đường đặc
tính của cảm biến phát hiện chất lỏng thể hiện một
đường cong tương đối tuyến tính, đã thể hiện là một
thiết kế đầy hứa hẹn cho cảm biến có độ nhạy và chất
lượng cao Sự phụ thuộc tuyến tính giữa hằng số điện
môi và tần số cho thấy rằng cảm biến vi sóng là một giải
pháp tốt cho việc nghiên cứu các cảm biến chất lỏng
mới Mặc dù với hình dạng uốn cong, cảm biến vẫn giữ
hiệu suất tốt để phát hiện các loại dung dịch lỏng khác
nhau, rất có lợi cho các ứng dụng y tế hoặc công nghiệp
Do hạn chế về cơ sở vật chất, các kết quả chỉ dừng ở việc thiết kế và mô phỏng Hướng phát triển trong tương lai sẽ tiến hành in ăng-ten, đo đạc, đánh giá kết quả thực nghiệm so với kết quả mô phỏng để kiệm nghiệm chất lượng sản phẩm
LỜI CẢM ƠN Nghiên cứu này được tài trợ bởi Trường Đại học Bách khoa Hà Nội trong đề tài mã số T2020-PC-019
V TÀILIỆUTHAMKHẢO [1] Gregory, A.P.; Clarke, R.N., “A review of RF and microwave techniques for dielectric measurements on polar liquids,” IEEE Trans Dielectr Electr Insul 2006, 13, 727–743
[2] Joshi, K.K.; Pollard, R.D “Sensitivity analysis and experimental investigation of microstrip resonator technique for the in-process moisture/permittivity measurement of petrochemicals and emulsions of crude oil and water,” In Proceedings of the 2006 IEEE MTT-S International Microwave Symposium Digest, San Francisco, CA, USA, 11–16 June 2006;
pp 1634–1637
[3] Amjad Iqbal; Amor Smida; Omar, A S.; Qais, H A.; Nazih K.M.; Byung M.L “Cylindrical Dielectric Resonator Antenna-Based Sensors for Liquid Chemical Detection,” Sensors 2019, 19, 1200
[4] Viktorija Makarovaite; Aaron J R H.; Simon J H.; Campbell W.G.;and John C B “Passive Wireless UHF RFID Antenna Label for Sensing Dielectric Properties of Aqueous and Organic Liquids,” IEEE Sensor Journal, vol.19, no.11, June 1,2019 [5] Mullett, W.M.; Levsen, K.; Lubda, D.; Pawliszyn, J Bio-compatible in-tube solid-phase microextraction capillary for The direct extraction and high-performance liquid chromatographic determination of drugs in human serum J Chromatogr A 2002, 963, 325–334
[6] Dahlgren, R.; Nieuwenhuyse, E.; Litton, G Transparency tube provides reliable water-quality measurements Calif Agric
2004, 58, 149–153
[7] Carlborg, C.F.; Gylfason, K.B.; Ka´zmierczak, A.; Dortu, F.; Polo, M.B.; Catala, A.M.; Kresbach, G.M.; Sohlström, H.; Moh, T.; Vivien, L.; et al A packaged optical slot-waveguide ring resonator sensor array for multiplex label-free assays in labs-on-chips Lab Chip 2010,10,281-290
[8] Patko, D.; Mártonfalvi, Z.; Kovacs, B.; Vonderviszt, F.; Kellermayer, M.; Horvath, R Microfluidic channels laser-cut in thin double-sided tapes: Cost-effective biocompatible fluidics
in minutes from design to final integration with optical biochips Sens Actuators B Chem 2014, 196, 352–356
[9] Theresa Chang; Steven E.D.; Andrei G.F.; John S.P.; Robert A.S.; Christopher L.T “Strengthened borosilicate glass containers with improved damage tolerance,” United States Patent, Chang et.al, May 19,2015
[10] “Antenna Theory - Half-Wave Dipole.[Online] Available: https://www.tutorialspoint.com/antenna_theory/antenna_theor y_half_wave_dipole.htm
[11] C A Balanis, “Antenna Theory: Analysis and Design,” New York , Wiley,2005
[12] John L Volakis “Antenna Engineering Handbook, Fourth Edition,” McGraw-Hill Education, 2007
[13] Shawn Sederberg and A.Y Elezzabi “Sierpiński fractal plasmonic antenna: a fractal abstraction of the plasmonic bowtie antenna” Optics Express, Vol 19, Issue 11, pp 10456-10461,
2011
[14] K J Falconer, Fractal Geometry: Mathematical Foundations and Applications ,Wiley, 2003
Trang 6[15] H Lobato-Morales, A Corona-Chávez, J L Olvera-Cervantes,
R A Chávez-Pérez, and J L Medina-Monroy, “Wireless
sensing ofcomplex dielectric permittivity of liquids based on the
RFID,” IEEE Trans Microw Theory Techn., vol 62, no 9, pp
2160–2167, Sep 2014.
[16] A Lázaro et al., “Chipless dielectric constant sensor for
structural health testing,” IEEE Sensors J., vol 18, no 13, pp
5576–5585, Jul 2018.
[17] M Abdolrazzaghi, M Daneshmand, and A K Iyer, “Strongly
enhanced sensitivity in planar microwave sensors based on
metamaterial coupling,” IEEE Trans Microw Theory Techn.,
vol 66, no 4, pp 1843–1855, Apr 2018.