1. Trang chủ
  2. » Công Nghệ Thông Tin

Nghiên cứu, đề xuất mô hình chuyển đổi hạ tầng mạng truyền số liệu chuyên dùng thành hạ tầng số phục vụ chính phủ số

6 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 1,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu đã thực hiện khảo sát một số bộ, ngành và địa phương, Cục Bưu điện Trung ương, các doanh nghiệp viễn thông chủ đạo để định vị sự sẵn sàng kết nối của các bên có liên quan trong hệ sinh thái hạ tầng số cũng như dự báo nhu cầu kết nối số phục vụ sự điều hành của Chính phủ trong thời gian tới tại Việt Nam.

Trang 1

Nghiên cứu, đề xuất mô hình chuyển đổi hạ tầng mạng truyền số liệu chuyên dùng thành hạ tầng số

phục vụ chính phủ số

Trần Minh Tuấn Viện Chiến lược Thông tin và Truyền thông - Bộ Thông tin và Truyền thông - tm_tuan@mic.gov.vn

Tóm tắt: Công nghệ số cho chúng ta những khả năng kỹ

thuật vô cùng tiềm tàng cho các ngành và lĩnh vực Đặc biệt công

nghệ số đã hỗ trợ giúp chính phủ điều hành tốt hơn dựa trên dữ

liệu Nhiều nước đã ban hành chiến lược chính phủ số, trong đó

xác định hạ tầng số là một trong những nền tảng quan trọng

nhất Ở Việt Nam, khái niệm hạ tầng số còn chưa thật sự rõ ràng

và do vậy ảnh hưởng đến việc đầu tư của các bộ, ngành, địa

phương cũng như các doanh nghiệp viễn thông Việc định nghĩa

hạ tầng số được xây dựng phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh

của Việt Nam Việc nghiên cứu các chỉ số đánh giá hạ tầng số

cũng như các mô hình kết nối tham chiếu là một nhiệm vụ hết

sức cấp bách nhằm hỗ trợ cho việc triển khai sớm hạ tầng số

phục vụ chính phủ số Nghiên cứu đã thực hiện khảo sát một số

bộ, ngành và địa phương, Cục Bưu điện Trung ương, các doanh

nghiệp viễn thông chủ đạo để định vị sự sẵn sàng kết nối của các

bên có liên quan trong hệ sinh thái hạ tầng số cũng như dự báo

nhu cầu kết nối số phục vụ sự điều hành của Chính phủ trong

thời gian tới tại Việt Nam

Từ khóa — hạ tầng số, hạ tầng viễn thông, chính phủ điện tử,

chính phủ số, trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây

I TỔNG QUAN Khái niệm hạ tầng số hiện nay trên thế giới, nổi bật có một

số định nghĩa sau: Theo ITU [1]: hạ tầng số là sự liên kết phần

cứng vật lý và phần mềm, mà qua đó cho phép hệ thống thông

tin và truyền thông có thể vận hành xuyên suốt Ngân hàng Hạ

tầng Thông tin Châu Á (AIIB) [2] xác định hạ tầng số bao

gồm hạ tầng cứng và hạ tầng mềm trong đó hạ tầng cứng bao

gồm hạ tầng viễn thông và trung tâm dữ liệu (TTDL), hạ tầng

mềm bao gồm hạ tầng thiết bị và các nền tảng ứng dụng Hãng

viễn thông Huawei [3] thì hạ tầng số bao gồm năm yếu tố

công nghệ: Mạng băng thông rộng; TTDL; Điện toán đám

mây (ĐTĐM), Dữ liệu lớn và IoT; Ở Việt Nam, chưa có định

nghĩa chính thức về hạ tầng số Tuy nhiên, Bộ trưởng Bộ

Thông tin và Truyền thông (TT&TT) Nguyễn Mạnh Hùng

cũng đã xác định hạ tầng số là “hạ tầng viễn thông cộng thêm

nền tảng điện toán đám mây Việt Nam phải làm chủ được hạ

tầng số” [4] Hạ tầng viễn thông phục vụ chính phủ điện tử

(CPĐT) hiện nay là hệ thống mạng truyền số liệu chuyên dùng

(TSLCD) phục vụ sự chỉ đạo cơ quan Đảng, Nhà nước Tuy

nhiên, trong thời gian tới, với xu hướng tiến hóa từ CPĐT lên

chính phủ số thì vấn đề Chính phủ dựa trên dữ liệu được đặt

lên hàng đầu Hạ tầng mạng TSLCD cần được chuyển đổi

thành hạ tầng số phục vụ chính phủ số

Trong nghiên cứu này, chúng tôi tiến hành khảo sát để đưa

ra bức tranh hiện trạng mạng TSLCD hiện nay Trong phần 2,

chúng tôi sẽ trình bày cơ sở lý luận và phương pháp luận

nghiên cứu Phần 3 sẽ trình bày các nghiên cứu về hệ thống

chỉ số đánh giá hạ tầng số và giới thiệu các mô hình kết nối

tham chiếu Phần 4 sẽ đưa ra các kết quả khảo sát cũng như

tính toán dự báo dung lượng hệ thống Phần 5 đề xuất mô hình mục tiêu của hạ tầng số phục vụ chính phủ số tại Việt Nam

II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN Trên thế giới nhiều nước đã ban hành chiến lược chính phủ

số, trong đó hạ tầng số được xác định là một trong các thành phần quan trọng nhất Tuy nhiên như đã phân tích tại phần I, các định nghĩa hạ tầng số [1], [2], [3] trên thế giới đều chưa nhất quán và chưa thể hiện tính đặc thù của từng quốc gia Ở Việt Nam, tuy chiến lược chính phủ số chưa được ban hành, song Khung kiến trúc Chính phủ Điện tử phiên bản 2.0 được

Bộ TT&TT ban hành năm 2020 [5] có thể hiện hạ tầng kỹ thuật - công nghệ bao gồm: nền tảng ĐTĐM, nền tảng dữ liệu (BigData, AI), mạng TSLCD, LAN, WAN, TTDL So với mô hình cũ, hạ tầng cho CPĐT trước kia mới chỉ bao gồm: mạng TSLCD, LAN, WAN của các bộ, ngành, địa phương (BNĐP) thì hạ tầng kỹ thuật – công nghệ cho CPĐT đã bổ sung thêm nền tảng ĐTĐM, nền tảng dữ liệu và TTDL

Nghiên cứu của GS Hồ Tú Bảo về hạ tầng số [6] đã xác định hạ tầng số gồm 6 thành phần, bao gồm: hạ tâng thiết bị,

hạ tầng kết nối, hạ tầng dữ liệu, hạ tầng ứng dụng, hạ tầng nhân lực và hạ tầng pháp lý

Tại Việt Nam, được coi là cơ sở hạ tầng thiết yếu cho cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư do đó hạ tầng số nhận được

sự quan tâm của Chính phủ và các ngành công nghiệp, doanh nghiệp Nhóm nghiên cứu đề xuất khung kiến trúc cho hạ tầng

số ở Việt Nam (phần khoanh đỏ) tại Hình 1

Hình 1 Khung kiến trúc cho hạ tầng số ở Việt Nam Nhóm nghiên cứu đã xác định hạ tầng số phục vụ chính phủ số (Hình 2) bao gồm: hạ tầng thiết bị (máy tính, điện thoại, smartphone, IoT), hạ tầng kết nối (mạng viễn thông, Internet…), hạ tầng an toàn, an ninh (AT, AN) mạng, hạ tầng

dữ liệu (Big Data, AI), hạ tầng nền tảng ĐTĐM (thanh toán điện tử, định danh và xác thực điện tử, tín nhiệm số…), hạ tầng nhân lực và hệ thống chính sách, pháp lý

Trang 2

Hình 2 Hạ tầng số phục vụ chính phủ số ở Việt Nam

Việc xác định bộ chỉ số đánh giá hạ tầng số và các mô hình

kết nối số tại các BNĐP là một trong các nhiệm vụ quan trọng

và cấp thiết hiện nay Đến nay, chưa có một nghiên cứu về vấn

đề này ở góc độ quốc gia được thực hiện tại Việt Nam Kết

quả nghiên cứu sẽ cung cấp cho các bên liên quan (Chính phủ,

doanh nghiệp, người dân…) góc nhìn đối với các thành phần

của hạ tầng số và do đó sẽ hỗ trợ cho việc xây dựng chiến

lược, kế hoạch đầu tư phát triển hạ tầng số trong tương lai

Trong nghiên cứu này, với đối tượng nghiên cứu là các

thành phần của hạ tầng số nói chung là rất mới đối với các cơ

quan BNĐP, để tránh thất bại, chúng tôi sử dụng lại nhiều mô

hình kết nối tham chiếu và chỉ số có sẵn trong bộ chỉ số ICT

Index của Việt Nam, cũng như một số chỉ số quốc tế của ITU,

UN Egov Phần còn lại là các chỉ số đặc thù cho Việt Nam do

chúng tôi nghiên cứu xây dựng

Ưu điểm của phương pháp tiếp cận này đó là:

Ưu tiên sử dụng các mô hình kết nối và chỉ số đã được

chứng minh phù hợp trong giai đoạn trước đây

Sử dụng phương pháp tiếp cận của quốc tế và do đó

một số kết quả có thể được so sánh với quốc tế

Tận dụng tối đa nguồn lực của các doanh nghiêp viễn

thông (DNVT), ngành công nghiệp CNTT để xây

dựng hạ tầng số do Việt Nam làm chủ

III GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

III.1 Hiện trạng kết nối mạng, TTDL và nền tảng

ĐTĐM tại các BNĐP

Hình 3: Mô hình tổng thể mạng TSLCD

Mạng TSLCD được xây dựng giai đoạn 2008 - 2010, sử dụng công nghệ chuyển mạch nhãn đa giao thức (IP/MPLS), các kết nối đều đảm bảo tính dùng riêng, an toàn, dự phòng cao hoạt động liên tục và thông suốt 24/7 Bộ TT&TT đang quản lý, vận hành Mạng TSLCD cấp I kết nối đến các cơ quan cấp Trung ương gồm: VPCP, VPTW, VPQH, VP CTN, các ban, bộ, ngành và 63 Tỉnh ủy, UBND, HĐND cấp tỉnh Trong khi đó mạng TSLCD cấp II do các địa phương tự đầu tư hoặc thuê các DNVT triển khai xây dựng kết nối đến cấp sở, ngành, huyện, xã Mô hình kết nối mạng TSLCD và hiện trạng sử dụng TTDL, ĐTĐM được thể hiện trên Hình 3 và Bảng 1

ngang Bộ CQ thuộc CP Tỉnh, TP TW

1 Tỷ lệ kết nối với mạng WAN

95% 96% 90,40%

2 Tỉ lệ bộ và tỉnh

- Có trung tâm dữ liệu 86,36%

(19/22)

66,66%

(4/6)

90,48% (57/63)

- Có trung tâm dữ liệu

dự phòng

54,55%

(12/22)

33,33%

(2/6)

46,03% (29/63)

- Có phòng máy chủ 68,18%

(15/22) 100% (6/6) 53,97% (34/63)

3 Đã triển khai mô hình ĐTĐM

72,73%

(16/22)

83,33%

(5/6)

63,49% (40/63)

Bảng 1: Hiện trạng kết nối, sử dụng TTDL và ĐTĐM tại

các BNĐP Trên cơ sở hiện trạng, đặt ra một số vấn đề cần giải quyết: Công nghệ chuyển mạch nhãn đa giao thức (IP/MPLS) không còn phù hợp với nhu cầu linh hoạt

về mạng lưới của các BNĐP do yêu cầu các dịch vụ của chính phủ số được thiết kế hướng đối tượng

Các BNĐP đã và đang triển khai TTDL và ĐTĐM, tuy nhiên chưa có mô hình kết nối tổng thể thống nhất đặc biệt trong xu hướng thuê dịch vụ CNTT nhằm tận dụng nguồn lực xã hội của các DNVT

Bộ chỉ số ICT Index không còn phù hợp với đánh giá hoạt động của hạ tầng số

III.2 Nghiên cứu xây dựng bộ chỉ số đánh giá

Bộ chỉ số đánh giá hạ tầng số được chia thành 2 nhóm:

Chỉ số hạ tầng số cấp bộ/ngành Chỉ số hạ tầng số cấp tỉnh, TP

trực thuộc TƯ

7 chỉ số chính, 25 chỉ số thành phần (CSTP), 62 tiêu chí (TC): 7 chỉ số chính, 26 chỉ số thành phần và 75 tiêu chí:

- HT thiết bị: 1 CSTP, 1 TC - HT thiết bị: 2 CSTP, 10 TC

- HT kết nối: 2 CSTP, 10 TC - HT kết nối: 2 CSTP, 15 TC

- HT dữ liệu: 5 CSTP, 10 TC - HT dữ liệu: 5 CSTP, 10 TC

- HT nền tảng: 4 CSTP, 10 TC - HT nền tảng: 5 CSTP, 10 TC

- HTAT, AN mạng: 5 CSTP, 10 TC - HTAT, AN mạng: 4 CSTP, 10 TC

- HT pháp lý: 5 CSTP, 10 TC - HT pháp lý: 5 CSTP, 10 TC

- HT nhân lực: 3 CSTP, 10 TC - HT nhân lực: 3 CSTP, 10 TC

Sử dụng lại các chỉ số ICT Index:

12/62 (19,3%) Sử dụng các chỉ số quốc tế: 06/62 (9,7%)

Sử dụng lại các chỉ số ICT Index: 13/75 (17,3%) Sử dụng các chỉ số quốc tế: 15/75 (20%)

Bảng 2 Bộ chỉ số đánh giá chính phủ số

III.3 Nghiên cứu các mô hình tham chiếu

III.3.1 Xây dựng mô hình mẫu phân hệ TTDL của BNĐP:

Trang 3

Mô hình mẫu kết nối mạng LAN, WAN vào TTDL được

thể hiện trên Hình 4, theo đó tổ chức TTDL gồm: phân vùng

hệ thống thông tin (HTTT) chuyên dùng và HTTT công cộng:

HTTT chuyên dùng: kết nối vào mạng TSLCD để

đồng bộ CSDL giữa các HTTT chuyên dùng và kết

nối từ cán bộ, công chức lên HTTT

HTTT công cộng: kết nối multi-home qua các ISP và

VNIX để người dân, doanh nghiệp truy cập vào

HTTT

Hình 4 Mô hình tổng quan kết nối mạng LAN, WAN,

Trung tâm dữ liệu III.3.2 Mô hình kết nối TTDL vào mạng TSLCD

a Mô hình 01: kết nối phân vùng TTDL của DNVT phục

vụ BNĐP về trụ sở BNĐP

Đây là mô hình kết nối sử dụng trong trường hợp TTDL

của DNVT chưa đủ điều kiện kết nối trực tiếp vào mạng

TSLCD (Hình 5) Theo đó, DNVT cần triển khai kênh kết nối

bằng cáp quang trực tiếp, qua thiết lập kênh L2/L3 VPN qua

hạ tầng mạng của DNVT hoặc kênh IPSec VPN qua Internet

từ TTDL của DNVT về trụ sở BNĐP

Hình 5 Kết nối phân vùng TTDL của DNVT phục vụ

BNĐP về trụ sở BNĐP

b Mô hình 02: kết nối trực tiếp phân vùng TTDL của

DNVT phục vụ BNĐP vào mạng TSLCD (Hình 6)

Đây là mô hình sử dụng trong trường hợp TTDL của

DNVT đủ điều kiện kết nối trực tiếp vào mạng TSLCD Theo

đó DNVT cần triển khai kênh kết nối bằng cáp quang trực tiếp

vào mạng TSLCD cấp I hoặc qua kết nối trung kế với mạng

TSLCD cấp I của Cục BĐTW

Hình 6 Kết nối trực tiếp phân vùng TTDL của DNVT phục vụ BNĐP vào mạng TSLCD

c Mô hình 03: kết nối TTDL của BNĐP vào mạng TSLCD (Hình 7)

Đây là mô hình sử dụng trong trường hợp các BNĐP có TTDL riêng đặt tại trụ sở của BNĐP Kết nối từ TTDL của BNĐP vào mạng TSLCD sử dụng kênh truyền mạng TSLCD sẵn có của BNĐP

Hình 7 Kết nối TTDL của BNĐP vào mạng TSLCD III.3.3 Mô hình 04: kết nối Internet tại TTDL (Hình 8) Phân hệ Internet của TTDL quy hoạch cung cấp các dịch

vụ chung cho các hoạt động của BNĐP, bao gồm các ứng dụng, cổng thông tin BNĐP, các dịch vụ web khác, cơ sở dữ liệu, các HTTT dùng chung như DNS, thư điện tử (email)… Phân hệ Internet cần được quy hoạch theo kiến trúc của một mạng độc lập, kết nối đa hướng (multi-home), từng bước chuyển đổi IPv6:

- Mạng độc lập: là mạng sử dụng vùng địa chỉ IP mạng Public và số hiệu mạng ASN độc lập Tại Việt Nam địa chỉ IP

và ASN được quản lý cấp phát bởi VNNIC

Trang 4

- Kết nối đa hướng (multi-home) là một hệ thống mạng

độc lập có khả năng kết nối nhiều hướng với các mạng độc lập

khác, với các DNVT (ISP) khác để kết nối vào mạng Internet,

khi có sự cố hướng này sẽ tự động chạy theo hướng khác và

ngược lại mà không bị gián đoạn dịch vụ, đồng thời có thể

linh hoạt trong điều hướng để sử dụng hiệu quả băng thông kết

nối trên các kênh truyền theo nhu cầu

- Chuyển đổi IPv6: Quy hoạch mạng đảm bảo hoạt động

song song IPv4, IPv6, có lộ trình từng bước chuyển đổi từ

IPv4 sang IPv6, tiến tới dừng sử dụng IPv4

Hình 8 Kết nối Internet tại TTDL

III.3.4 Mô hình 05: kết nối mạng WAN của BNĐP vào

mạng TSLCD (Hình 9)

Mô hình kết nối mạng WAN của BNĐP vào mạng TSLCD

là mô hình kết nối trực tiếp các đơn vị trực thuộc BNĐP lên

điểm tập trung mạng WAN của BNĐP (thông thường là trụ sở

chính hoặc TTDL của BNĐP)

Hình 9 Mô hình kết nối mạng WAN của BNĐP vào mạng

TSLCD

III.3.5 Mô hình 06: kết nối mạng LAN của đơn vị trực thuộc BNĐP vào mạng TSLCD (Hình 10):

Mô hình kết nối mạng LAN vào mạng TSLCD là mô hình

sử dụng trong trường hợp các đơn vị không có HTTT (thường

là các điểm quận/huyện, xã/phường)

Hình 10: Kết nối mạng LAN của đơn vị trực thuộc BNĐP vào

mạng TSLCD:

IV KẾT QUẢ

IV.1 Khảo sát mức độ sẵn sàng kết nối mạng WAN của BNĐP vào mạng TSLCD:

Mức độ sẵn sàng của các bộ/ngành (Hình 11a):

Mức độ sẵn sàng của các địa phương (Hình 11b):

Hình 11 a, b Mức độ sẵn sàng kết nối mạng WAN của các

BNĐP

Trang 5

IV.2 Đề xuất lựa chọn công nghệ

Từ những phân tích và các số liệu tham khảo nêu trên,

nhóm nghiên cứu đề xuất sử dụng Segment Routing MPLS kết

hợp SDN (Software Define Network), với các lý do sau:

‐ Segment Routing MPLS bản chất vẫn là sự tiếp nối của

công nghệ MPLS để tận dụng các ưu điểm của công nghệ

MPLS hiện tại

‐ Segment Routing giúp đơn giản hóa cấu hình mạng để

tích hợp tốt với SDN hỗ trợ triển khai giải pháp ảo hóa mạng

trong tương lai

‐ Công nghệ NFV (Network Functions Virtualization)

chính là việc ảo hóa các chức năng mạng và an toàn thông tin

như NAT, load balancer, firewall để đạt tính linh động cao

‐ TTDL của BNĐP trong thiết kế hạ tầng số cần bảo đảm

AT, AN mạng theo tiêu chí cấp độ 5 và ISO27001

IV.3 Dự báo dung lượng mạng giai đoạn 2020 – 2025

IV.3.1 Dịch vụ trục liên thông văn bản điện tử (VBĐT):

Bảng 3 Kết nối từ UBND, Bộ/Ngành lên VPCP

Bảng 4 Kết nối từ Cục/Vụ lên Bộ/Ngành và kết nối từ

Sở/Ban/Ngành, Quận/Huyện lên UBND tỉnh trong nội tỉnh

IV.3.2 Dịch vụ truyền hình hội nghị (THHN)

Bảng 5 Triển khai hệ thống THHN đến cấp xã phường với

số lượng các điểm lên tới 700 điểm

IV.3.3 Các bài toán phục vụ chính phủ số:

Các bài toán phục vụ chính phủ số gồm: Trục liên thông

dữ liệu quốc gia, định danh và xác thực điện tử, thanh toán

điện tử, HTTT báo cáo quốc gia, HTTT tham vấn chính sách,

HTTT cổng dịch vụ công quốc gia, cổng dữ liệu quốc gia…

Bảng 6 Dự báo lưu lượng cho các bài toán phục vụ chính

phủ số

IV.3.4 Mạng Thông tin diện rộng (TTDR) của Đảng

Bảng 7 Dự báo dung lượng cho các đơn vị thuộc mạng TTDR của Đảng để trao đổi dữ liệu

IV.3.5 Dự phòng phát triển dịch vụ Ngoài các dịch vụ trên, hạ tầng số hiện đang cung cấp các dịch vụ khác như: dịch vụ mạng riêng ảo, dịch vụ thuê máy chủ ảo và nhiều dịch vụ phát sinh khác trong thời gian tới

Bảng 8 Dự phòng băng thông cho các dịch vụ phát sinh IV.3.6 Dự báo nhu cầu phát triển thuê bao phục vụ CPĐT

Bảng 9 Nhu cầu phát triển thuê bao phục vụ CPĐT

Bảng 10 Dự báo lưu lượng phục vụ phát triển thuê bao

phục vụ CPĐT/Chính phủ số

V MÔ HÌNH MỤC TIÊU HẠ TẦNG SỐ CHO CHÍNH PHỦ SỐ

V.1 Tổng hợp nhu cầu băng thông giai đoạn tới

Bảng 11 Dự báo tổng nhu cầu băng thông của hạ tầng số

phục vụ CPĐT/Chính phủ số

V.2 Đề xuất mô hình mục tiêu:

Trên cơ sở tổng hợp nhu cầu băng thông giai đoạn tới, mô hình mục tiêu được nghiên cứu xây dựng và đề xuất trong Hình 12 dưới đây

Trang 6

Hình 12 Mô hình mục tiêu hạ tầng số cho chính phủ số

VI KẾT LUẬN Nhờ ưu điểm sử dụng Segment Routing MPLS kết hợp

SDN (Software Define Network) với công nghệ ảo hóa NFV

(Network Functions Virtualization) và thiết kế TTDL của

BNĐP bảo đảm AT, AN mạng theo tiêu chí cấp độ 5 và

ISO27001, hạ tầng số phục vụ chính phủ số vẫn sẽ tận dụng

các ưu điểm của công nghệ MPLS hiện đang triển khai song

sẽ có thông lượng dữ liệu lớn, độ trễ rất thấp, độ tin cậy rất

cao và đặc biệt là đáp ứng nhanh với sự thay đổi của các dịch

vụ chính phủ số liên tục phát sinh theo nhu cầu cá thể hóa của

người dân và doanh nghiệp

Trong bối cảnh chuyển đổi số, việc triển khai sớm hạ tầng

số nói chung phục vụ kinh tế số và xã hội số c ng như hạ tầng

số phục vụ chính phủ số sẽ giúp Việt Nam đạt thứ hạng cao

hơn trong bảng xếp hạng về viễn thông thế giới c ng như bảng

xếp hạng Chính phủ điện tử UN-EGov

Trong thời gian tới, nhóm nghiên cứu dự định tiếp tục điều

tra theo chủ đề này để có bức tranh đầy đủ hơn về sự s n sàng

triển khai hạ tầng số phục vụ chính phủ số của các BNĐP

phục vụ việc xây dựng các kế hoạch, định hướng, chính sách

và đầu tư vào lĩnh vực hạ tầng của nền kinh tế số trong tương

lai

TÀI LIỆU THAM KHẢO [1] Digital Infrastructure Policy and Regulation in the Asia-Pacific Region

ITU September 2019

[2] Digital Infrastructure - The new bridges and rails for 21st economy

AIIB August 26, 2019

[3] Global Connectivity Index 2019 Huawei 2019

[4]

https://dientungaynay.vn/chuyen-dong-so/bo-truong-nguyen-manh-hung-viet-nam-phai-lam-chu-duoc-ha-tang-dien-toan-dam-may

[5] Khung kiến trúc Chính phủ Điện tử phiên bản 2.0 Bộ TT&TT – 2020

[6] GS Hồ Tú Bảo Về các vấn đề trọng yếu trong xây dựng hạ tầng số của

Việt Nam

Các kết quả của bài báo được trích từ kết quả của Đề tài Nghị

định thư Việt Nam Hàn uốc Nghiên cứu, đề xuất kế hoạch

tổng thể phát triển cơ sở hạ tầng băng rộng phục vụ Chính phủ

điện tử ở Việt Nam đến năm 20 0 mã số NĐT.54.K /1

Ngày đăng: 27/11/2021, 10:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm