1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hội thảo Khoa học cấp quốc gia: Mô hình cân bằng tổng thể và các phương pháp phân tích tác động của các hiệp định thương mại tự do đến cơ cấu kinh tế quốc gia

114 38 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mô Hình Cân Bằng Tổng Thể Và Các Phương Pháp Phân Tích Tác Động Của Các Hiệp Định Thương Mại Tự Do Đến Cơ Cấu Kinh Tế Quốc Gia
Tác giả PGS.TS. Trương Hồng Trình, PGS.TS. Nguyễn Mạnh Toàn, TS. Nguyễn Thị Hương, ThS. Lê Vũ Tường Vy, ThS. Nguyễn Ngọc Thụy Vy, TS. Nguyễn Hồ Phi Hà, TS. Bùi Trinh, TS. Hoàng Thanh Hiền, TS. Nguyễn Hữu Nguyên Xuân, PGS.TS. Trương Hồng Trình, PGS.TS. Phạm Tiến Đạt, ThS. Dương Hoàng Linh
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Mạnh Toàn, PGS.TS. Trương Tấn Quân, PGS.TS. Võ Thị Thúy Anh, PGS.TS. Nguyễn Phúc Nguyên, PGS.TS. Hoàng Tùng, ThS. Phan Kim Tuấn, ThS. Đặng Ngọc Châu, Bà Hồng Thị Thủy
Trường học Đại Học Kinh Tế
Thể loại hội thảo khoa học
Năm xuất bản 2018
Thành phố Đà Nẵng
Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 6,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hội thảo Khoa học cấp quốc gia Mô hình cân bằng tổng thể và các phương pháp phân tích tác động của các hiệp định thương mại tự do đến cơ cấu kinh tế quốc gia trình bày các nội dung chính sau: Mô hình cân bằng tổng quát và phân tích chính sách kinh tế; Phát triển mô hình cân bằng tổng thể với đa nhóm đối tác thương mại; Tác động của giảm thuế nhập khẩu đến nền kinh tế Việt Nam; Cơ sở lý thuyết về thương mại tự do và các tác động của các hiệp định thương mại tự do đến nền kinh tế Việt Nam;...

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

ISBN: 978-604-84-4281-1

HỘI THẢO KHOA HỌC CẤP QUỐC GIA

MÔ HÌNH CÂN BẰNG TỔNG THỂ VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO ĐẾN CƠ CẤU KINH TẾ QUỐC GIA

Đà Nẵng, ngày 23 tháng 03 năm 2018

Trang 3

1 PGS.TS Nguyễn Mạnh Toàn Hiệu trưởng Trường ĐHKT-ĐHĐN Trưởng ban

BAN NỘI DUNG

ĐHKT

Thư ký

Trang 5

MỤC LỤC

Stt Tên bài báo Tác giả Trang

sách kinh tế: Khuôn khổ lý thuyết

PGS.TS Trương Hồng Trình

1

nhóm đối tác thương mại

PGS.TS Nguyễn Mạnh Toàn

14

tế Việt Nam – Cách tiếp cận từ mô hình cân

bằng tổng thể dạng động (DCGE)

động của các hiệp định thương mại tự do đến

nền kinh tế Việt Nam

mô hình cân bằng động tổng thể ngẫu nhiên

ThS Nguyễn Ngọc Thụy

Vy

46

Nam Bộ và phần còn lại của Việt Nam

TS Nguyễn Hồ Phi Hà,

TS Bùi Trinh

58

Method Of Moments (GMM) lên mô hình lực

hấp dẫn (Gravity Model) trong phân tích tác

động của các hiệp định thương mại tự do đối với

kinh tế Việt Nam

của lao động bằng SPA

TS Nguyễn Hữu Nguyên Xuân

75

mô hình hóa cân bằng tổng quát

PGS.TS Trương Hồng Trình

83

10 Đánh giá tác động của các hiệp định tự do

thương mại FTA đến nền kinh tế Việt Nam

thông qua một số phương pháp định lượng

PGS.TS Phạm Tiến Đạt, ThS Dương Hoàng Linh

102

Trang 7

1

MÔ HÌNH CÂN BẰNG TỔNG QUÁT VÀ PHÂN TÍCH CHÍNH

SÁCH KINH TẾ: KHUÔN KHỔ LÝ THUYẾT

GENEAL EQUILIBRIUM MODEL AND ECONOMIC POLICY ANALYSIS: A

Từ khóa: khái niệm giá trị, GDP, cân bằng tổng quát, phân tích chính sách kinh tế

ABSTRACT

This paper explores the value concept for explaining the relationship between price and value in the market This relationship is important in determining market equilibrium and general equilibrium of the economy Based on this theoretical base, the paper approaches the value-added method for GDP measurement, and developes the basic general equilibrium model with market equilibriums and macro balances The GDP formula not only identifies the driving factors and incentives of economic growth, but also uses as the objective function in the computable general equilibrium model The CGE model contructed under the linking economic data and macro balances allows to analyse the changes in economic policy on the economic growth and transition

Keywords: value concept, GDP, general equilibrium, economic policy analysis

1 Giới thiệu

Tăng trưởng kinh tế luôn là chủ đề quan trọng trong các diễn đàn kinh tế Nhiều nhà nghiên cứu cố gắng nhận diện các nhân tố tác động đến tăng trưởng kinh tế, các nhân tố cũng là cơ sở nền tảng hình thành các lý thuyết tăng trưởng kinh tế Để giải quyết vấn đề này, các nhà kinh tế không chỉ hiểu về cân bằng tổng quát và đo lường tổng sản phẩm quốc nội (GDP), mà còn vận dụng các công cụ để phân tích các chính sách kinh tế (hay cú sốc kinh tế) đến sự chuyển dịch và tăng trưởng kinh tế

Trong các diễn đàn kinh tế, các nhà kinh tế nỗ lực trong việc khám phá khái niệm giá trị, khái niệm này đóng vai trò quan trọng trong việc xác định mối quan hệ cung cầu và phân bổ nguồn lực trong nền kinh

tế Leon Walras (1874) và Alfred Marshall (1890) cho rằng cả cung (chi phí sản xuất) và cầu (lợi ích tiêu dùng) có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, và là nhân tố ảnh hưởng đến giá trị của nhau Trong khi Alfred Marshall (1890) phát triển phương pháp phân tích để giải thích giá trị dựa trên quan hệ cung cầu, Leon Walras (1874) xây dựng các mô hình lý thuyết về cân bằng tổng quát bằng cách tích hợp các ảnh hưởng của cung cầu đến toàn bộ nền kinh tế Từ những nền tảng lý thuyết này, các nhà kinh tế đã xây dựng các kỹ thuật

Trang 8

2

phân tích để đánh giá tác động các chính sách đến nền kinh tế Wassily Leontief (1941) đã phát triển mô hình I-O, kỹ thuật phân tích định lượng, để biểu thị các quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa các thành phần của nền kinh tế hay các nền kinh tế khu vực với nhau Mô hình I-O rất hữu ích cho phân tích kinh tế từ khi biểu thị mối quan hệ giữa dữ liệu kinh tế với cấu trúc ngành, nhưng mô hình hạn chế trong việc xem xét mối quan hệ tương tác trên thị trường của các thành phần trong nền kinh tế Arrow and Debreu (1954) đã phát triển mô hình cân bằng tổng quát tính toán (CGE) để nghiên cứu cách thức nền kinh tế phản ứng với các thay đổi của chính sách kinh tế Mô hình cân bằng tổng quát được xây dựng dựa trên các thành phần (hộ gia đình, doanh nghiệp, chính phủ và phần thế giới bên ngoài), các thị trường (hàng hóa, nguồn lực, tài chính), và các cân bằng vĩ mô (cân bằng bên trong, cân bằng chính phủ, cân bằng bên ngoài) Bằng cách thay đổi các chính sách kinh tế hay cú sốc kinh tế, các cân bằng thị trường và cân bằng vĩ mô sẽ được tái xác lập cho nền kinh

tế Mô hình CGE rất hữu ích cho hoạch định chính sách, trong đó sự liên kết giữa dữ liệu kinh tế với các cân bằng vĩ mô là rất quan trọng khi xây dựng mô hình cân bằng tổng quát (CGE)

Để phát triển các mô hình cân bằng tổng quát, các nhà kinh tế cần định nghĩa hàm lợi ích và các điều kiện cân bằng tổng quát Các hàm lợi ích được sử dụng phổ biến trong các mô hình CGE như hàm lợi ích Cobb-Douglas và hàm lợi ích Stone-Greary (Lofgren & cộng sự, 2002; Sue Wing, 2004; Hosoe & cộng sự, 2010) Tuy nhiên, các hàm lợi ích này không tích hợp các biến giá cả và giá trị Điều này dẫn đến một hạn chế, đó là các mô hình này không thể xem xét cân bằng giá trị giữa doanh nghiệp và khách hàng Ngoài ra, các mô hình cân bằng tổng quát trước đây xem xét điều kiện cân bằng thị trường cho cả thị trường nguồn lực

và thị trường sản phẩm, dưới góc độ cân bằng giá cả chứ chưa xem xét cân bằng giá trị Ngoài ra, sự khác nhau trong các mô hình cân bằng tổng quát là do cách thức vận dụng các phương pháp cân bằng khác nhau Hosoe & cộng sự (2010) sử dụng mô hình lợi nhuận bằng không với giả định rằng các doanh nghiệp hoạt động trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo và sự cạnh tranh dẫn đến lợi nhuận bằng không tại điểm cân bằng thị trường Trong khi đó, Lofgren & cộng sự (2002) vận dụng mô hình đạo hàm bậc nhất đối với hàm lợi ích

và hàm lợi nhuận để tối đa hóa lợi ích khách hàng và lợi nhuận doanh nghiệp tại điểm cân bằng thị trường

Từ khi mô hình trên không xem xét sự cân bằng giá trị giữa lợi ích khách hàng và lợi nhuận doanh nghiệp, giải pháp cân bằng tổng quát với giá trị xã hội cực đại có thể đã bị bỏ qua

Vì lẽ đó, bài viết khám phá khái niệm giá trị, giá cả, và lợi ích để xây dựng hàm lợi ích với sự tích hợp của giá trị và giá cả Từ nền tảng lý thuyết này, phương pháp giá trị tăng thêm vận dụng để đo lường GDP của nền kinh tế Từ khi phương pháp giá trị tăng thêm chuyển đổi giá trị các hàng hóa trung gian thành giá trị sản xuất tăng thêm của các doanh nghiệp trong nền kinh tế, hàm GDP này sử dụng như là hàm mục tiêu của

mô hình cân bằng tổng quát với các ràng buộc về cân bằng thị trường và cân bằng vĩ mô Hơn thế nữa, mô hình cân bằng tổng quát liên kết dữ liệu kinh tế với cấu trúc ngành và cân bằng vĩ mô thông qua ma trận hạch toán xã hội (SAM) Vì vậy, mô hình cân bằng tổng quát là rất hữu ích cho phân tích tác động chính sách đến

sự chuyển dịch và tăng trưởng kinh tế

2 Nền tảng lý thuyết

Khái niệm giá trị có lịch sử lâu đời trong tư tưởng triết học và kinh tế nhằm giải thích hai khái niệm: giá trị sử dụng (giá trị) và giá trị trao đổi (giá cả) Sự phân biệt giữa giá trị sử dụng và giá trị trao đổi là cơ sở nền tảng hình thành các lý thuyết giá trị Kinh tế học cổ điển dựa trên thuyết lao động về giá trị, hay thuyết giá trị khách quan Thuyết giá trị cổ điển cho rằng giá trị dựa trên lượng lao động bỏ ra trong quá trình sản xuất hàng hóa, làm cơ sở cho giá trị trao đổi trên thị trường (giá trị trao đổi) Điển hình cho tiếp cận cổ điển bao gồm các nghiên cứu của Adam Smith (1776) và David Ricardo (1821) Kinh tế học tân cổ điển dựa trên thuyết lợi ích về giá trị, hay thuyết giá trị chủ quan Thuyết giá trị tân cổ điển cho rằng lợi ích là thước đo giá trị dựa trên đánh giá chủ quan của chủ thể (giá trị sử dụng) Tiếp cận tân cổ điển hướng đến khái niệm lợi ích

và xây dựng lý thuyết giá cả dựa trên các thuyết lợi ích của Jeremy Bentham (1789) và Jules Dupuit (1844) Sau này, các nhà kinh tế William Jevons (1871) và Carl Menger (1871) phát triển công cụ phân tích biên để hiểu về giá trị, mà ở đó giá trị phụ thuộc vào lợi ích mà người mua mong muốn nhận được

Trang 9

3

Hầu hết các nhà kinh tế cố gắng phân biệt giữa giá trị và giá cả của hàng hóa Baier (1971) đã đưa ra định nghĩa “giá trị là khả năng mà một sản phẩm, dịch vụ, hay hoạt động thỏa mãn nhu cầu hay cung cấp lợi ích cho cá nhân hay tổ chức” Giá trị được nhận thức và đánh giá tại thời điểm tiêu dùng (Wikström, 1996; Woodruff & Gardial, 1996; Vargo & Lusch, 2004; Grӧnroos, 2008) Có một sự thừa nhận chung đó là giá trị được tạo ra trong quá trình sử dụng như là giá trị sử dụng (Grönroos, 2011) Từ khi giá trị sử dụng (giá trị) thích hợp trong việc giải thích giá trị hơn là giá trị trao đổi, liệu các nhà kinh tế có sử dụng qui luật lợi ích biên giảm dần để giải thích đường cầu Vì vậy, khái niệm giá trị cần phải xác định lại, và thuyết giá trị cần phải dựa trên qui luật giá trị biên giảm dần (Trinh, 2014a) Thuyết giá trị không chỉ giải thích quan hệ giữa giá trị và giá cả, mà còn định nghĩa khái niệm lợi ích trên cơ sở mối quan hệ này Dựa trên nền tảng lý thuyết này, hàm lợi ích được thiết lập với mối quan hệ giá cả và giá trị (Trinh & cộng sự, 2014) như sau

Q u

Trong đó, v, p, và u lần lượt là giá trị, giá cả, và lợi ích đơn vị TV, TR, và TU là tổng giá trị, tổng

doanh thu, và tổng lợi ích tương ứng

Theo quan điểm tạo giá trị, hệ thống tạo giá trị bao gồm quá trình sản xuất, trao đổi và tiêu dùng như Hình 1

Từ phạm vi doanh nghiệp, doanh nghiệp đóng vai trò là người tạo thuận lợi (cung cấp nền tảng giá trị),

và cũng tham gia vào quá trình tạo giá trị của khách hàng như là người đồng tạo giá trị Hàm sản xuất của doanh nghiệp được định nghĩa theo hàm sản xuất Cobb Douglas như sau:

1 1 1 1

1, L A K LK

f

Trong đó, Q là tổng sản lượng sản xuất A 1 là năng suất yếu tố tổng hợp sản xuất K 1 và L 1 là vốn và

lao động của doanh nghiệp α1 , β 1 , là độ co giãn sản lượng theo các yếu tố đầu vào sản xuất

Bằng phương pháp kết hợp chi phí đầu vào cực tiểu, hàm chi phí doanh nghiệp (TC 1) có thể xác định như là hàm số phụ thuộc vào giá cả và tham số đầu vào như sau:

1

1 1 1

1 p Q K w K L w L TC

TR

Π        

(4) Trong đó, Π là lợi nhuận doanh nghiệp và TR là tổng doanh thu ( TRpQ)

Từ phạm vi khách hàng, khách hàng là người tạo giá trị Khách hàng cũng tham gia vào quá trình sản

xuất như là người đồng sản xuất Từ khi giá trị được tạo ra trong quá trình tiêu dùng, vốn khách hàng (K 2) và

lao động khách hàng (L 2) thêm vào hàm tiêu dùng như sau:

2 2 2 2

2, L A KLK

f

Trang 10

4

Trong đó, Q là tổng sản lượng tiêu dùng A 2 là năng suất yếu tố tổng hợp tiêu dùng α2 , β 2 , là độ co

giãn đầu ra theo yếu tố đầu vào tiêu dùng

Sử dụng phương pháp kết hợp đầu vào cực tiểu, hàm chi phí khách hàng (TC 2) có thể xác định như hàm số phụ thuộc vào giá đầu vào và các tham số hàm tiêu dùng như sau:

2

2 2 2

2 K w K L w L

TC    

(6) Trong đó, TC2 là tổng chi phí khách hàng, w K2

TU

U         

(7)

Trong đó, U là lợi ích khách hàng và TU là tổng lợi ích (TUuQvpQ)

Từ phạm vi tạo giá trị, giá trị được tạo ra trong quá trình tiêu dùng, cả chi phí doanh nghiệp và chi phí khách hàng phải được xem xét trong hệ thống tạo giá trị Hàm tổng chi phí và giá trị ròng (giá trị tăng thêm) được xác định như sau:

2 2

1

1 2

1 TC K w K L w L K w K L w L TC

TC          

(8)

Q v U Π

V       K   L   K   L  

2 2

của ngành i thông qua quá trình trao đổi giữa doanh nghiệp và khách hàng

Hình 2: Tiếp cận đo lường GDP cho ngành i

j ij m

j ij Lij m

j ij Kij i

Trang 11

5

Đối với quá trình trao đổi trung gian, doanh nghiệp trung gian đóng vai trò vừa là doanh nghiệp và khách hàng Đối với quá trình trao đổi đầu tiên, doanh nghiệp cung cấp hàng hóa cho khách hàng Lợi nhuận doanh nghiệp   Πi1 và lợi ích khách hàng   Ui1 được xác định như sau:

1 1

1 1 1

Khách hàng sau đó đóng vai trò là doanh nghiệp trong quá trình trao đổi kế tiếp Lợi ích khách hàng

  Ui1 trong quá trình trao đổi đầu tiên cũng là lợi nhuận doanh nghiệp   Πi2 trong quá trình trao đổi kế tiếp

2 2

2 2 2

Đối với quá trình trao đổi cuối cùng, khách hàng là người tiêu dùng cuối cùng mua hàng hóa cuối cùng

từ doanh nghiệp Lợi nhuận doanh nghiệp   Πim đối với hàng hóa cuối cùng xác định như sau:

im L im K im im im

j

L ij K

m

j ij m

j

ij ij m

j

Π

ij ij

1 1

1 1

j

ij ij i

i

p

1 1

ij m

j

L ij m

1 1 1 1

j ij Ki

j ij Li

i

i

p GDP

1 1

i i n

i i L

n

i i K

n

i

K GDP

i i

1 1

1 1

i i n

i i n

i

S

1 1

1 1

, trong đó 

n

i Fi S

1

là khấu hao vốn Vì vậy, GDP từ công thức (18) có thể viết lại như sau:

Trang 12

i i n

i Fi L

n

i i K

n

i

K GDP

i i

1 1

1 1

GDP đo lường theo tổng thu nhập bao gồm thu nhập vốn (KW K ), thu nhập lao động (LW L), tiết kiệm

doanh nghiệp (S F ), khấu hao vốn (D), thuế và trợ cấp (T)

3 Mô hình cân bằng tổng quát

Để hiểu về nền kinh tế đòi hỏi phải có kiến thức cơ bản về các dòng chảy ảnh hưởng đến các hoạt động kinh tế Làm thế nào để chính sách của chính phủ ảnh hưởng đến GDP? Điều đó đòi hỏi kiến thức về cấu trúc nền kinh tế bao gồm ba yếu tố chính: các thị trường, các thành phần, và các cân bằng vĩ mô Hình 3 minh họa một cấu trúc cơ bản của nền kinh tế đó cho thấy cách thành phần (hộ gia đình, doanh nghiệp, chính phủ, và thế giới bên ngoài) tương tác trên các thị trường (thị trường hàng hóa, thị trường nguồn lực, và thị trường tài chính) dựa trên các cân bằng vĩ mô (cân bằng bên trong, cân bằng chính phủ, và cân bằng bên ngoài)

Biểu đồ luân chuyển là sự hiện diện đơn giản về cấu trúc của nền kinh tế bao gồm: dòng tiền tệ, dòng hàng hóa, và yếu tố sản xuất trong nền kinh tế Trong đó, dòng tiền tệ dựa trên nguyên tắc cơ bản là dòng tiền vào mỗi thị trường hoặc thành phần kinh tế (thu nhập) bằng dòng tiền ra ở mỗi thị trường hoặc thành phần kinh tế (chi tiêu)

Nền kinh tế bao gồm bốn thành phần kinh tế: hộ gia đình, doanh nghiệp, chính phủ, và thế giới bên ngoài

Hộ gia đình nhận thu nhập từ các thị trường nguồn lực dưới hình thức tiền lương, lợi nhuận, tiền lãi và tiền thuê Hộ gia đình chi tiêu cho việc mua sắm hàng hóa và dịch vụ trên các thị trường hàng hóa Các hộ gia đình có thể gửi tiết kiệm hoặc vay tiền từ thị trường tài chính

Doanh nghiệp nhận doanh thu từ việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho các hộ gia đình, chính phủ, và thế giới (ROW) trên các thị trường hàng hóa Các doanh nghiệp cũng chi cho chi phí vốn và lao động trên thị trường nguồn lực Doanh nghiệp cũng cần một nguồn vốn để đầu tư, và gởi phần tiết kiệm trên thị trường tài chính

Chính phủ thu thuế từ các doanh nghiệp và hộ gia đình đối với hàng hóa và dịch vụ từ thị trường hàng hóa Chính phủ có thể vay tiền bù đắp thâm hụt ngân sách hoặc gửi thặng dư ngân sách trên thị trường tài chính Ngoài ra, chính phủ trợ cấp một phần tiền thuế để hỗ trợ cho các doanh nghiệp và hộ gia đình

Trang 13

7

Hình 3: Dòng luân chuyển của nền kinh tế

Ma trận hạch toán xã hội (SAM) biểu thị nền kinh tế dưới hình thức dữ liệu của toàn bộ nền kinh tế SAM biểu thị dữ liệu kế toán cho các dòng tiền vào (thu nhập) và dòng tiền ra (chi tiêu) trong biểu đồ luân chuyển nền kinh tế Cấu trúc SAM là một ma trận vuông, trong đó mỗi hàng và cột được gọi là một "tài khoản" Bảng 1 cho thấy SAM tương ứng với biểu đồ luân chuyển nền kinh tế như trong Hình 3 Mỗi một khối trong biểu đồ là một tài khoản trong SAM Mỗi một ô trong ma trận biểu thị một dòng tiền từ một tài khoản cột vào một tài khoản hàng Các nguyên tắc cơ bản của kế toán kép đòi hỏi mỗi tài khoản trong SAM thỏa mãn dòng tiền vào (tổng thu nhập) bằng dòng tiền ra (tổng chi phí) Điều này có nghĩa tổng hàng và tổng cột của một tài khoản phải bằng nhau

Bảng 1: Cấu trúc cơ bản của SAM

Hàng hóa

C1

Nguồn lực C2

Tài chính C3

Hộ gia đình C4

Doanh nghiệp C5

Chính phủ C6

Đầu tư vốn (I)

Chi tiêu chính phủ (G)

Xuất khẩu (X)

Cầu hàng hóa

Nguồn lực

R2

Chi phí sản xuất (KW K +

LW L +D)

Cầu nguồn lực

Tài chính

R3

Tiền gửi

Hộ gia đình (Sc >0)

Tiền gửi doanh nghiệp (П > 0)

Thặng dư ngân sách (G < T)

Thăng dư Thương mại (X < N)

Cầu tài chính

Hộ gia đình

R4

Thu nhập nguồn lực (KW K +

LW L )

Tiền vay

hộ gia đình (Sc < 0)

Trợ cấp

Cá nhân (S bP )

Thu

hộ gia đình

Trang 14

8

Doanh nghiệp

R5

Sản xuất nội địa (GDP)

Khấu hao vốn (D)

Tiền vay doanh nghiệp (П < 0)

Trợ cấp doanh nghiệp (S bF )

Thu doanh nghiệp

Chính phủ

R6

Thâm hụt ngân sách (G > T)

Thuế

cá nhân (T P )

Thuế doanh nghiệp (T F )

Thu chính phủ

Thu ROW

hàng hóa

Cung nguồn lực

Cung tài chính

Chi

hộ gia đình

Chi doanh nghiệp

Chi chính phủ

Chi ROW

Hàng hóa được cung cấp bởi sản xuất trong nước [R5-C1] và nhập khẩu từ thế giới (ROW) [R7-C1] Tổng cung phải bằng với tổng cầu bao gồm chi tiêu cá nhân [R1-C4], vốn đầu tư [R1-C5], chi tiêu chính phủ [R1-C6], và xuất khẩu [R1-C7] Các yếu tố sản xuất được cung cấp bởi các hộ gia đình [R4-C2] và khấu hao vốn của doanh nghiệp [R5-C2] Tổng cung yếu tố sản xuất cũng bằng với tổng cầu chi phí sản xuất [R2-C5] của doanh nghiệp Cung tài chính từ khoản tiết kiệm hộ gia đình [R3-C4] và lợi nhuận doanh nghiệp [R3-C5] Cầu tài chính từ nguồn vay chính phủ [R6-C3] và thế giới (ROW) [R7-C3] cho bù đắp thâm hụt, vay chi tiêu hộ gia đình [R4-C3], và các khoản vay doanh nghiệp [R5-C3]

Các hộ gia đình nhận được thu nhập từ việc cung cấp vốn và lao động [R4-C2], và sử dụng thu nhập

để chi tiêu cá nhân [R4-C1] Các hộ gia đình có thể gửi tiết kiệm trên thị trường tài chính [R3-C4] hoặc vay

nợ để chi tiêu từ thị trường tài chính [R4-C3] Các doanh nghiệp chi trả cho các chi phí sản xuất [R2-C5], vốn đầu tư [R1-C5], và thuế doanh nghiệp [R6-C5] Các doanh nghiệp cũng nhận doanh thu từ sản xuất trong nước [R5-C1] và khấu hao vốn [R5-C2] Các doanh nghiệp có thể gửi lợi nhuận trên thị trường tài chính [R3-C5] hoặc vay tiền từ thị trường tài chính [R5-C3] Chính phủ thu thuế từ hộ gia đình [R6-C4] và doanh nghiệp [R6-C5], và trợ cấp cá nhân [R4-C6] và trợ cấp doanh nghiệp [R5-C6] Phần còn lại dành cho chi tiêu của chính phủ [R1-C6] Chính phủ có thể vay từ thị trường tài chính đáp ứng thâm hụt ngân sách [R6-C3], hoặc gửi phần thặng dư ngân sách trên thị trường tài chính [R3-C6] ROW chi tiêu cho xuất khẩu [R1-C7] và nhận thu nhập từ nhập khẩu [R7-C1] ROW gửi phần thặng dư thương mại [R3-C7], hoặc vay nợ

bù đắp thâm hụt thương mại [R7-C3] trên thị trường tài chính

Từ khi SAM liên kết dữ liệu kinh tế từ hệ thống tài khoản quốc gia, SAM là một công cụ hữu ích để biểu thị bức tranh nền kinh tế của một quốc gia SAM được xây dựng dựa trên các cân bằng thị trường và cân bằng vĩ mô (dựa trên chính sách kinh tế hay cú sốc kinh tế) Có ba cân bằng thị trường: thị trường hàng hóa, thị trường nguồn lực, và thị trường tài chính, trong đó nguồn cung thị trường là cân bằng với nhu cầu thị trường Nền kinh tế xây dựng dựa trên các cân bằng vĩ mô bao gồm: cân bằng chính phủ, cân bằng bên ngoài, và cân bằng bên trong

Cân bằng chính phủ là lựa chọn ràng buộc giữa tiết kiệm chính phủ (chênh lệch giữa doanh thu chính phủ và chi tiêu chính phủ) và thuế suất Tùy chọn chính sách (GOV-1) cho biết tiết kiệm chính phủ thay đổi linh hoạt trong khi tất cả các mức thuế suất được cố định Tùy chọn chính sách (GOV-2), mức thuế được điều chỉnh linh hoạt nhằm duy trì một mức cố định tiết kiệm chính phủ

Cân bằng bên ngoài là sự lựa chọn ràng buộc giữa xuất khẩu ròng (chênh lệch giữa xuất khẩu và nhập khẩu) và tỷ giá hối đoái Tùy chọn chính sách (EXT-1) cho biết cán cân thương mại điều chỉnh linh hoạt, trong khi tỷ giá hối đoái cố định Dưới tùy chọn chính sách (EXT-2), tỷ giá hối đoái là linh hoạt để tạo ra một mức cố định cán cân thương mại (xuất khẩu ròng)

Cân bằng bên trong là sự lựa chọn ràng buộc giữa yếu tố đầu tư và yếu tố tiết kiệm Tùy chọn chính sách (INT-1) cho biết lượng đầu tư linh hoạt, trong khi tiết kiệm được cố định Đối với tùy chọn chính sách (INT-2), lượng đầu tư cố định để tạo ra một mức linh hoạt tiết kiệm

Trang 15

9

Bảng 2 cho thấy các kết hợp tùy chọn chính sách vĩ mô Các kết hợp cân bằng vĩ mô khác nhau tùy thuộc vào bối cảnh phân tích chính sách Có 8 kết hợp tùy chọn chính sách vĩ mô để phân tích tác động chính sách đến tăng trưởng kinh tế Kết quả thực nghiệm giúp hiểu rõ hơn về các cân bằng vĩ mô, và tác động của các chính sách vĩ mô đến nền kinh tế của một quốc gia

Trong nền kinh tế thực, nền kinh tế được mở rộng với các chính sách kinh tế, chẳng hạn như xuất khẩu

ròng (NX), thuế và trợ cấp (T), chi tiêu chính phủ (G), vốn đầu tư (I), và khấu hao vốn (D) Trong điều kiện

cân bằng thị trường và cân bằng vĩ mô, mô hình cân bằng tổng quát cơ bản xây dựng với các giả thiết chính như sau:

1 Hộ gia đình (khách hàng) tiêu thụ m hàng hóa (sản phẩm hoặc dịch vụ) với cùng sở thích và tham số

4 Hàm cầu của mỗi hàng hóa là xác định trong các mô hình thực nghiệm

5 Xuất khẩu ròng (NX), thuế và trợ cấp (T), chi tiêu chính phủ (G), đầu tư vốn (I), khấu hao vốn (D)

được giả định trong các mô hình

Bảng 2: Các kết hợp tùy chọn chính sách vĩ mô

Cân bằng

chính phủ

Cân bằng bên ngoài

Cân bằng bên trong

GOV-1:

Tiết kiệm chính phủ linh hoạt,

Thuế suất cố định

EXT-1:

Cán cân thương mại linh hoạt,

Tỷ giá hối đoái cố định

Cán cân thương mại cố định,

Tỷ giá hối đoái linh hoạt

INT-2:

Đầu tư cố định, Tiết kiệm linh hoạt

Để phân tích những thay đổi trong chính sách kinh tế, thực nghiệm mô phỏng được thực hiện trên nền

kinh tế giả định với m ngành, mỗi lĩnh vực (ngành) sản xuất một loại hàng hóa (j = 1 m) bằng cách sử dụng

tổng vốn (K j) và tổng số lao động (L j ) Hàm cầu hàng hóa j được xác định như sau:

Hàm cầu: pj  f Q j (22)

Điều kiện cân bằng thị trường là điều kiện mà ở đó tổng cung  Q j bằng với tổng cầu

Q CjQ GjQ NXj đối với tất cả hàng hóa (j = 1 m)

Cân bằng thị trường: Q jQ CjQ GjQ NXj (23)

Hàm sản xuất  Q j của hàng hóa j được cho như sau:

j j j

Q      (24) Hàm lợi nhuận   Π của các hàng hóa trong nền kinh tế được xác định như sau:

Hàm lợi nhuận:

Trang 16

10

1 1

j

Lj j m

j

Kj j j

Trong đó, T j là thuế và trợ cấp của hàng hóa j (j = 1 m)

Mô hình cân bằng tổng quát sau đây có hàm mục tiêu là tối đa hóa tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và các ràng buộc là cân bằng thị trường và cân bằng vĩ mô

Mô hình cân bằng tổng quát cơ bản:

NXj m

j j Gj

m

j j Cj

m

j

P GDP

1 1

1 1

j j j

j       

(27)

m j Q Q Q

Q jCjGjNXj  1 (28)

m j X Q

P jjj  1 (29)

A Q P -

T

m

j

Gj j m

P Q

P

m

j j j m

j

NXj j m

Trang 17

EX : Tỷ lệ giá xuất khẩu và giá nhập khẩu

A : Ràng buộc tối thiểu của cân bằng chính phủ

B : Ràng buộc tối đa của cân bằng bên ngoài

C : Ràng buộc thối thiểu của cân bằng bên trong

Mô hình cân bằng tổng quát cơ bản ở trên với hàm mục tiêu GDP được xây dựng dựa trên phương

pháp giá trị gia tăng Mô hình này dựa trên cân bằng tổng cung và tổng cầu như trong ràng buộc (27) và (28),

cơ cấu ngành mục tiêu như trong ràng buộc (29), và cân bằng vĩ mô như trong ràng buộc (30), (31) và (32 )

Các thực nghiệm mô phỏng được thực hiện trên nền kinh tế giả định với m ngành Mỗi ngành j (j = 1 m) sản xuất một hàng hóa (sản phẩm hoặc dịch vụ) với tổng sản lượng sản xuất Q j (j = 1 m) bằng cách sử dụng tổng vốn (K j ) và tổng lao động (L j ) Giá nội địa của hàng hóa j được cho bởi hàm cầu Giá xuất khẩu được điều chỉnh với tỷ lệ EX j (tỷ lệ của giá xuất khẩu và giá nhập khẩu), tỷ lệ này phụ thuộc vào tỷ giá hối đoái, giá

xuất khẩu và giá nhập khẩu đối với hàng hóa j

Để phân tích những thay đổi trong chính sách kinh tế đối với nền kinh tế, các ràng buộc chính sách (29), (30), (31) và (32) được thêm vào các mô hình cân bằng tổng quát Ràng buộc (29) thiết lập một cấu trúc mục tiêu GDP cho từng lĩnh vực của nền kinh tế P jQ jX j (j = 1 m) Ràng buộc (30) thiết đặt ràng

buộc tối thiểu đối với cân bằng chính phủ (doanh thu của chính phủ từ thuế và trợ cấp  

m

j j T

1

) Ràng buộc (31) thiết đặt ràng buộc tối đa đối với cân bằng bên ngoài

EX Q

P Q

P

m

j j j m

j

NXj j m

j

Gj j

Trang 18

12

4 Kết luận

Thuyết giá trị bao gồm tất cả các lý thuyết trong kinh tế nhằm giải thích sự khác nhau giữa giá trị và giá cả Từ quan điểm tạo ra giá trị, lý thuyết về giá trị xem xét các mối quan hệ giữa giá trị và giá cả, và hàm lợi ích được xây dựng với sự kết hợp giá trị và giá cả, và cũng được sử dụng để đo lường GDP Công thức GDP là rất quan trọng không chỉ giải thích các yếu tố tác động, cũng như phân tích những thay đổi trong chính sách kinh tế đối với sự chuyển dịch và tăng trưởng kinh tế trong mô hình cân bằng tổng quát

Để phân tích ảnh hưởng chính sách đến nền kinh tế, mô hình cân bằng tổng quát xây dựng với hàm mục tiêu GDP, và những ràng buộc cân bằng thị trường và cân bằng vĩ mô Một khuôn khổ phân tích chính sách kinh tế đề xuất với các tùy chọn chính sách vĩ mô khác nhau phụ thuộc vào bối cảnh phân tích chính sách Các thực nghiệm mô phỏng được thực hiện trên dữ liệu kinh tế trong cấu trúc SAM với cấu trúc ngành của nền kinh tế Thực nghiệm nhằm phân tích những thay đổi trong chính sách kinh tế (cơ cấu ngành mục tiêu, cân bằng chính phủ, cân bằng bên ngoài, cân bằng bên trong) đến sự chuyển dịch và tăng trưởng kinh

tế Nghiên cứu góp phần làm rõ các cân bằng tổng quát của nền kinh tế, và khuôn khổ phân tích chính sách đến sự chuyển dịch và tăng trưởng kinh tế

Tuy nhiên, nghiên cứu này cũng còn một số hạn chế, và cũng là những gợi ý cho hướng nghiên cứu sau này: (1) các mô hình cân bằng tổng quát được phát triển trên các dữ liệu kinh tế từ SAM, vì vậy liên kết các tài khoản quốc gia và SAM cần được nghiên cứu trong tương lai; (2) các hàm cầu được giả định trong

mô hình cân bằng tổng quát, các nghiên cứu cần phải phân tích nhân tố ảnh hưởng đến cầu và dự báo giá cả thị trường; (3) nghiên cứu giả định cân bằng thị trường, trong đó tổng sản lượng sản xuất là hoàn toàn tiêu thụ bởi các hộ gia đình, chính phủ, và thế giới bên ngoài; (4) các nghiên cứu nên mở rộng với nhiều lĩnh vực

và với dữ liệu SAM cho nền kinh tế

Quỹ nghiên cứu

Nghiên cứu này được sự hỗ trợ từ Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ, Đại học Đà Nẵng cho đề tài khoa học và công nghệ, mã số Đ2015-04-62 và B2017-ĐN04-06

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Arrow, K J & Debreu, G (1954) Existence of an equilibrium for a competitive economy

Econometrica, 22(3), 265–290

[2] Baier, K (1971) What is Value?: An Analysis of the Concept Value and the Future, K Baier & N

Rescher, eds., New Yord: The Free Express, 33-67

[3] Bentham, J (1789) An Introduction to the Principles of Morals and Legislation Clarendon Press (1907), Oxford

[4] Dupuit, J (1844) De l'utilite' et de sa mesure La Riforma Sociale (1933), Torino, Italy

[5] Grönroos, C (2011) A service perspective on business relationships: The value creation, interaction

and marketing interface Industrial marketing Management, 40(2), 240-247

[6] Grӧnroos, C (2008) Service logic revisited: who creates value? And who co-creates? European

Business Review, 20(4), 298-314

[7] Grӧnroos, C & Voima, P (2012) Making sense of value and value co-creation in service logic

Hanken School of Economics: Helsinki, Finland

[8] Hosoe, N., Gasawa, K & Hashimoto, H (2010) Textbook of Computable General Equilibrium

Modeling: Programming and Simulations Palgrave Macmillan, London

[9] Jevons, S W (1871) Theory of Political Economy London: Macmillan (1970)

[10] Leontief, W W (1941) The Structure of the American Economy, 1919-1929 Cambridge,

Massachusetts: Havard University Press

[11] Lofgren, H., Harris, R L & Robinson, S (2002) A standard computable general equilibrium (CGE)

Trang 19

13

model in GAMS International Food Policy Research Institute (IFPRI)

[12] Marshall, A (1890) Principles of Economics London: Macmillan

[13] Menger, C (1871) Principles of Economics Germany: Braumüller

[14] Ricardo, D (1821) On the Principles of Political Economy and Taxation John Murray, London [15] Smith, A (1776) The Wealth of Nations The Modern Library (1937), New York

[16] Sue Wing, I (2004) Computable General Equilibrium Models and Their Use in Economy-Wide Policy Analysis MIT Joint Program on the Science and Policy of Global Change

[17] Trinh, T H (2014a) A New Approach to Market Equilibrium International Journal of Economic

[20] Trinh, T H., Kachitvichyanukul, V & Khang, D B (2014) The co-production approach to service: a

theoretical background Journal of the Operational Research Society 65(2), 161-168

[21] Vargo, S L & Lusch, R F (2004) Evolving to a new dominant logic for marketing Journal of

Marketing, 68(1), 1-17

[22] Walras, L (1874) Elements of Pure Economics London: George Allen and Unwin (Reprinted: 1954) [23] Wikström, S (1996) The customer as co-producer European Journal of Marketing, 30(4), 6-19 [24] Woodruff, R B & Gardial, S (1996) Know Your Customers – New Approaches to Understanding

Customer Value and Satisfaction Blackwell Business, Cambridge, MA

Trang 20

14

PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH CÂN BẰNG TỔNG THỂ VỚI ĐA NHÓM

ĐỐI TÁC THƯƠNG MẠI

là cho phép các chủ thể trong nước lựa chọn, thay thế sản phẩm nhập khẩu từ nhiều quốc gia khác nhau; đồng thời cho phép các nhà sản xuất trong nước lựa chọn, quyết định lượng hàng hóa xuất khẩu đến các quốc gia khác nhau để tối đa hóa các lợi ích của mình

Mô hình phù hợp để phân tích tác động riêng lẻ của từng hiệp định thương mại tự do đến nền kinh tế dưới nhiều góc độ khác nhau, cho phép so sánh mức độ tác động của các hiệp định khác nhau cũng như tác động tổng hợp đan xen của quá trình thực thi nhiều hiệp định một cách đồng thời Mô hình rất cần thiết cho nghiên cứu các đề tài liên quan đến tự do hóa thương mại trong bối cảnh nguồn lực của nền kinh tế bị giới hạn và tác động của một hiệp định FTA có thể có tác động khuyếch đại hoặc lấn át tác động tích cực của các hiệp định khác

Từ khóa: Mô hình CGE, Đa nhóm đối tác thương mại, Multi-trading parner

1 Giới thiệu

Trong các mô hình cân bằng tổng thể (CGE) cho nền kinh tế nhỏ và mở cửa được phát triển trước đây, hoạt động nhập khẩu của các ngành sản phẩm được mô phỏng dựa vào hàm Armington (1969) Theo đó, các chủ thể trong nền kinh tế được giả định luôn tìm cách tối đa hóa lợi ích của mình khi quyết định lựa chọn mua hàng hóa từ nguồn hàng được sản xuất trong nước và nguồn hàng nhập khẩu từ phần còn lại của thể giới (Rest of the world - ROW) Tương tự như vậy, các doanh nghiệp trong nước cũng xem xét lựa chọn việc cung ứng hàng do mình sản xuất ra cho thị trường nội địa hay xuất khẩu ra phần còn lại của thế giới (ROW) nhằm tối đa hóa lợi nhuận

Đặc điểm cơ bản của các mô hình trên là xem phần còn lại của thế giới -ROW là một thực thể hợp nhất (Single trading parner) Điều đó có nghĩa các mô hình này không cho phép phân biệt nguồn gốc nhập khẩu của hàng hóa từ các quốc gia khác nhau hoặc đích đến khác nhau của hàng hóa xuất khẩu

Trong bối cảnh tự do hóa thương mại, mô hình CGE đa và đang trở thành một trong những công cụ quan trọng và đáng tin cậy để mô phỏng, phân tích tác động của việc thực thi các hiệp định thương mại tự do (FTA) song phương hoặc đa phương đến nền kinh tế của các quốc gia Tuy vậy, với các mô hình CGE chỉ xem các đối tác thương mại là một thực thể hợp nhất, việc phân tích tác động của từng hiệp định FTA riêng

lẽ hoặc tác động kết hợp của một số hiệp định nhất định gặp nhiều khó khăn

Bài viết này trình bày cơ sở lý thuyết, sự cần thiết và yêu cầu thực tiễn của việc phát triển mô hình cân bằng tổng thể với đa nhóm đối tác thương mại (multi-trading parner) Mô hình này cho phép mô phỏng nền kinh tế mở và mối liên hệ về thương mại của nó với nhiều đối tác thương mại khác nhau Theo đó, nhập khẩu

và xuất khẩu được mô hình hóa một cách chi tiết theo từng quốc gia cụ thể với các mức giá và thuế suất nhập

Trang 21

15

khẩu tương ứng Mô hình cho phép các chủ thể trong nước ưu tiên lựa chọn sử dụng hàng nhập khẩu từ một quốc gia cụ thể để thay thế cho mặt hàng nhập khẩu đó từ các quốc gia khác căn cứ vào mức giá tương đối của hàng nhập khẩu giữa các quốc gia Các doanh nghiệp cũng có thể ưu tiên xuất khẩu hàng hóa của mình sang quốc gia có giá bán cao hơn một cách tương đối hoặc có những ưu đãi hơn về thuế quan và phi thuế quan so với các quốc gia khác

Phát triển mô hình CGE theo đa nhóm đối tác thương mại là những cơ sở quan trọng để mô phỏng và phân tích tác động của việc thực thi từng hiệp định thương mại tự do (ví dụ Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương - CPTPP) đến luồng hàng hóa xuất nhập khẩu, sản lượng sản xuất của các ngành, đầu tư, thu ngân sách của chính phủ, cũng như phúc lợi của các nhóm hộ gia đình…

Theo giả định nền kinh tế mở, qui mô nhỏ và chấp nhận giá, giá thế giới của hàng hóa xuất nhập khẩu

là không đổi, nhưng giá của hàng hóa nội địa được quyết định nội sinh dựa vào quan hệ cung - cầu đối với từng loại hàng hóa Mô hình có thị trường ngoại hối, nơi cung cầu ngoại tệ quyết định tỷ giá, và do đó quyết định giá hàng nhập khẩu bằng bản tệ Phần Hai và phần Ba của bài viết này sẽ giới thiệu cụ thể cách thức xây dựng mô hình nhập khẩu và xuất khẩu từ nhiều nước đối tác riêng lẽ Trong Phần bốn, bài viết sẽ trình bày các hướng ứng dụng của mô hình để phân tích tác động của các hiệp định thương mại tự do trong bối cảnh của Việt Nam

2 Phát triển mô hình CGE với hoạt động nhập khẩu từ nhiều nước đối tác

Giống như các mô hình CGE thường được sử dụng trong các nghiên cứu trước đây, mô hình này cho phép các chủ thể trong nước lựa chọn sử dụng giữa hàng hóa được sản xuất trong nước và hàng nhập khẩu thông qua hàm CES (Constant Elasticity of Substitution) Điểm khác biệt và là điểm nhấn của mô hình này là cho phép thay thế sản phẩm nhập khẩu từ nhiều quốc gia khác nhau (Feenstra, Luck, Obsfeld và Russ, 2014)

để phục vụ nghiên cứu tác động của các hiệp định thương mại tự do khác nhau đến nền kinh tế

Căn cứ vào giá cả của hàng sản xuất trong nước và giá bình quân hàng nhập khẩu, các chủ thể xác định nhu cầu về số lượng hàng nội địa và hàng nhập khẩu trong mỗi kỳ Tiếp đó, họ tiếp tục phân bố chi tiết lượng hàng nhập khẩu đã được xác định cho nhiều nước khác nhau trên cơ sở giá cả của hàng hóa đó ở từng nước Như vậy, mô hình này không chỉ cho phép thay thế lẫn nhau giữa hàng hóa được sản xuất nội địa và hàng nhập khẩu, mà còn cho phép thay thể lẫn nhau giữa hàng hóa được nhập khẩu từ nhiều nguồn (Balistreri, Edward, Ayed and Carol, 2010) Các mối quan hệ này được biểu diễn theo sơ đồ sau đây:

Trong đó Pj là giá bình quân của hàng hóa j; Qjlà tổng nhu cầu của các chủ thể trong nước đối với

hàng hóa j; PDj là giá bán trong nước của hàng hóa j; PMj là giá nhập khẩu bình quân của hàng hóa j;

jp

PM là giá nhập khẩu của hàng hóa j từ quốc gia p; Dj là nhu cầu đối với lượng hàng hóa j sản xuất trong

nước; Mj là nhu cầu đối với lượng hàng hóa j nhập khẩu; Mjp là nhu cầu đối lượng hàng hóa j được nhập

Trang 22

16

khẩu từ quốc gia p; j là hệ số co giãn thay thế (CES) giữa hàng sản xuất trong nước và hàng nhập khẩu;

j

 là hệ số co giãn thay thế giữa hàng hóa được nhập khẩu từ các quốc gia khác nhau

Do hàng hóa được nhập khẩu từ nhiều nước khác nhau, giá nhập khẩu từ mỗi nước theo nguyên tệ, ký hiệu là PWm jp, là biến ngoại sinh và được giả định không đổi Giá nhập khẩu từ mỗi nước bằng bản tệ là biến nội sinh, thay đổi theo biến động của tỷ giá hối đoái ER và thuế suất thuế nhập khẩu t m jp, được xác định như sau:

)1( m jp

m jp

PM    , (p  1 , z)

Khi đó, giá nhập khẩu bình quân của hàng hóa j được xác định:

j j j

z

p

jp jp

Trong đó Ojlà tham số hiệu suất thay thế; jp là tỷ trọng hàng hóa j nhập khẩu từ mỗi quốc gia

Mối quan hệ giữa nhu cầu đối với hàng hóa sản xuất trong nước và hàng nhập khẩu:

Ở cấp độ đầu tiên, mô hình giả định rằng hàng nhập khẩu và hàng nội địa có thể được thay thế nhau không hoàn hảo và được kết hợp thành một loại hàng hóa duy nhất Tổng cầu của các chủ thể trong nước đối

với hàng hóa j cho sản xuất, tiêu dùng cuối cùng của các nhóm hộ gia đình, chi tiêu của chính phủ và cho

hoạt động đầu tư, ký hiệu là Qj, được xác định như sau:

j j

Minimize PjQjPDjDjPMjMj

1 1

) 1

j

j j j

j j

j

j j j

j j j j

j j

Từ điều kiện bậc nhất (First Order Condition - FOC) của bài toán tối ưu trên, ta suy ra nhu cầu đối

với hàng hóa j được sản xuất trong nước

j j j

j j j

j j

j j

j

P

PM B

M

j j

Trang 23

17

Các chủ thể trong nước xác định nhu cầu của mình đối với hàng sản xuất trong nước và hàng nhập khẩu tùy thuộc tổng nhu cầu về loại hàng hóa đó (Qj), giá của hàng sản xuất trong nước (PDj) và giá bình quân hàng nhập khẩu (PMj), độ lớn của tham số hiệu suất thay thế (B j) và tỷ trong hiện tại của nhu cầu đối với hàng sản xuất trong nước trong tổng nhu cầu (j) Khi giá của hàng sản xuất trong nước tăng lên tương đối so với giá hàng nhập khẩu đối với một loại hàng hóa nào đó, các chủ thể trong nền kinh tế sẽ hướng nhu cầu của mình về hàng nhập khẩu Mức độ thay thế từ hàng sản xuất trong nước sang hàng nhập khẩu (hoặc ngược lại) tùy thuộc vào độ lớn của hệ số co giãn thay thế j

Mối quan hệ giữa nhu cầu đối với hàng nhập khẩu từ các quốc gia khác nhau:

Ở cấp độ thứ hai, mô hình cho phép mô phỏng sự lựa chọn và phân bố nhu cầu nhập khẩu đối từng loại hàng hóa theo nhiều nguồn cung từ các quốc gia khác nhau sao cho có lợi nhất Mô hình cũng dựa trên giả định rằng hàng hóa nhập khẩu từ các nguồn cũng có thể thay thế lẫn nhau, sử dụng hàm hệ số đàn hồi thay thế (CES) với  j là hệ số đàn hồi thay thế hàng hóa giữa các quốc gia khác nhau Bài toán tối ưu có

thể được trình bày như sau:

Tối thiếu hóa

jz jz j

j j

j j

Thỏa mãn điều kiện ràng buộc:

1 1 1

2 2 1 1

j j

j

jz jz j

j j

j j

j j

j

jz jz j

j j

j j

j j

j j

j

1 1 1

2 2

1 1 1

1

ta có thể xác định được nhu cầu nhập khẩu hàng hóa j từ quốc gia p theo công thức tổng quát sau:

Trang 24

18

j j j

jp j

PM

PM O

3 Phát triển mô hình CGE với hoạt động xuất khẩu đến nhiều nước đối tác

Sản phẩm đầu ra của từng ngành được giả định bán trên cả thị trường trong nước và nước ngoài Trong mô hình này, người sản xuất căn cứ vào giá bán trên các thị trường nước ngoài và các chính sách ưu đãi khác để cân nhắc phân phối lượng hàng hóa xuất khẩu đến từng nước khác nhau Như vậy, tương tự như đối với nhập khẩu mô hình không chỉ cho phép chuyển đổi giữa cung ứng hàng hóa cho tiêu dùng nội địa và xuất khẩu ra nước ngoài, mà còn cho phép chuyển đổi giữa lượng hàng xuất khẩu sang các quốc gia khác nhau (Imbs, Jean and Isabelle, 2010) Các mối quan hệ này được biểu diễn theo sơ đồ sau đây:

Trong đó Pj* là giá bán bình quân của hàng hóa j người sản xuất thu được từ tiêu thụ sản phẩm trong

nước và xuất khẩu; Xj là sản lượng hàng hóa j được sản xuất; PEjlà giá xuất khẩu bình quân của hàng hóa

j; PEjp là giá xuất khẩu của hàng hóa j đến quốc gia p; Sj là lượng hàng hóa j được tiêu thụ trong nước;

j

E là lượng hàng hóa j xuất khẩu; Ejp là lượng hàng hóa j được xuất khẩu đến quốc gia p; j là hệ số co giãn chuyển đổi (CET) giữa tiêu thụ trong nước và xuất khẩu; jlà hệ số co giãn chuyển đổi giữa hàng hóa được xuất khẩu đến các quốc gia khác nhau

Giá xuất khẩu theo nguyên tệ thu về từ từng thị trường xuất khẩu khác nhau là biến ngoại sinh, ký hiệu

PWe jp Vì đây là mô hình CGE cho một quốc gia (single country model) nên thuế suất thuế nhập khẩu của

các đối tác thương mại không được thể hiện bằng các biến cụ thể trong mô hình Tuy nhiên, khi có sự thay đổi thuế suất nhập khẩu của các đối tác thương mại (ví dụ có sự giảm thuế cho hàng nhập khẩu từ Việt Nam theo các hiệp định thương mại tự do đã được ký kết), với giá bán không đổi so với trước nhưng phần thu về sau khi trừ thuế nhập khẩu phải nộp cho nước đối tác sẽ có sự thay đổi Do vậy, về mặt kỷ thuật, ta có thể điều chính giá xuất khẩu bằng nguyên tệ (PWe jp) để mô phỏng tác động của chính sách này

Giả định thêm rằng không có trường hợp tái xuất các hàng hóa đã được nhập khẩu, vì vậy hàng hóa xuất khẩu chỉ bao gồm hàng được sản xuất trong nước Giá xuất khẩu đo bằng nội tệ của từng loại hàng hóa thu về từ mỗi quốc gia là khác nhau và là hàm của tỷ giá hối đoái:

) 1

e jp

j j

j j

1 1 1

2 2 1

1 1 1

Trang 25

19

Một cách khái quát, ta có:

j j j

z

p

jp jp j

Trong đó Uj là tham số hiệu suất chuyển đổi; jp là tỷ trọng hàng hóa j xuất khẩu đến từng quốc gia

Tương tự như đối với nhập khẩu, ta xem xét hoạt động xuất khẩu từng loại hàng hóa sang các nước đối tác dưới 2 cấp độ sau đây:

Mối quan hệ giữa tiêu thụ trên thị trường nội địa và xuất khẩu:

Ở cấp độ thứ nhất, doanh nghiệp lựa chọn việc cung ứng hàng hóa sản xuất ra cho thị trường nội địa

và thị trường xuất khẩu nhằm tối đa hóa lợi ích của mình Mối quan hệ giữa xuất khẩu và cung cho sử dụng nội địa được giả định thông qua hàm hệ số đàn hồi thay thế hằng số (CET) Mỗi doanh nghiệp phân phối sản phẩm đầu ra của nó giữa thị trường trong nước và xuất khẩu để tối đa hóa thu nhập theo hàm CET:

Maximize P j*X jPD j S jPE j E j

1 1

\

)1

j

j j j

j j

j

j j j

j j j j

j j

j

P

PE N

)1(

và hàm cung cho tiêu dùng nội địa:

j j

j j

j

P

PD N

Như vậy có thể thấy rằng các doanh nghiệp xác định lượng cung ứng cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu trên cơ sở của tổng sản lượng sản xuất (Xj), giá của hàng sản xuất trong nước (PDj) và giá bình quân hàng xuất khẩu (PEj), độ lớn của tham số hiệu suất chuyển đổi (Nj) và tỷ trong hiện tại của lượng cung ứng cho tiêu dùng trong nước trong tổng sản lượng sản xuất (j) Khi giá bán trong nước tăng lên tương đối so với giá xuất khẩu đối với một loại hàng hóa nào đó, doanh nghiệp sẽ hướng sang cung ứng cho thị trường nội địa Mức độ chuyển đổi từ thị trường xuất khẩu sang thị trường nội địa (hoặc ngược lại) tùy thuộc vào độ lớn của hệ số co giãn chuyển đổij

Mối quan hệ trong việc phân bố lượng hàng xuất khẩu đến các quốc gia khác nhau:

Ở cấp độ thứ hai, mô hình mô phỏng sự lựa chọn và phân bố lượng hàng xuất khẩu đối từng loại hàng hóa theo nhiều thị trường khác nhau sao cho có lợi nhất Mô hình dựa trên giả định rằng hàng hóa xuất

Trang 26

20

khẩu đi các nước cũng có thể chuyển đổi lẫn nhau, sử dụng hàm hệ số đàn hồi thay thế (CET) vớijlà hệ số

đàn hồi chuyển đổi hàng hóa xuất khẩu giữa các nước khác nhau Bài toán tối ưu có thể được trình bày như sau:

Tối đa hóa:

jz jz j

j j

j j

Thỏa mãn điều kiện ràng buộc:

1 1 1

2 2 1 1

j j

j

jz jz j

j j

j j

j j

j

jz jz j

j j

j j

j j

j j

PE          1 

1 1 1

2 2 1

1 1 1

ta xác định được hàm xuất khẩu của hàng hóa j đến quốc gia p theo công thức tổng quát như sau:

j jp j

jp j

PE

PE U

Trang 27

21

gần đây nhất là các Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định

Tự do thương mại Việt Nam – EU…

Việc ký kết và thực thi các hiệp định nêu trên đã có những tác động rất lớn đến chuyển dịch cơ cấu các ngành kinh tế của Việt Nam, đến luồng hàng hóa thương mại giữa Việt Nam và các nước có liên quan, đến các chỉ số vĩ mô của nền kinh tế cũng như thu nhập và phúc lợi của người dân…

Mô hình cân bằng tổng thể với đa nhóm đối tác thương mại như đã trình bày ở các phần trên cho phép

mô phỏng mối quan hệ thương mại một cách cụ thể giữa Việt Nam với các đối tác Mô hình phù hợp để phân tích tác động riêng lẻ của từng hiệp định đến nền kinh tế Việt Nam dưới nhiều góc độ khác nhau

Mỗi hiệp định thương mại tự do gắn liền việc thực thi các cam kết với một nước cụ thể (ví dụ Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam - Nhật Bản) hoặc một nhóm nước (ví dụ Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương - CPTPP) Trong đó từng hiệp định đều có các điều khoản liên quan đến việc Việt Nam cam kết dỡ bỏ các hàng rào thuế quan và phi thuế quan đối với từng loại hàng hóa và dịch vụ khác nhau của các quốc gia đối tác theo một lộ trình cụ thể Đồng thời các quốc gia đối tác cũng cam kết gỡ bỏ các rào cản thương mại đối với các hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam Có thể thấy, mô hình cân bằng tổng thể với

đa nhóm đối tác thương mại như đã được trình bày trên là mô hình phù hợp để mô phỏng tác động của việc

gỡ bỏ các hàng rào thuế quan và phi thuế quan của Việt Nam đối với hàng hóa của các nước và ngược lại theo lộ trình cam kết trong điều kiện giả định các yếu tố khác không thay đổi để khu biệt tác động của từng hiệp định riêng lẻ Do vậy mô hình cũng cho phép so sánh mức độ tác động của các hiệp định khác nhau đối với nền kinh tế Việt Nam cũng như tác động tổng hợp đan xen của quá trình thực thi nhiều hiệp định một cách đồng thời Mô hình rất cần thiết cho các nghiên cứu các đề tài có liên quan trong bối cảnh nguồn lực của nền kinh tế bị giới hạn và tác động của một hiệp định FTA có thể có tác động hỗ trợ hoặc lấn át tác động tích cực của các hiệp định khác

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Armington, P.A (1969), A Theory of Demand for Products Distinguished by Place of Production, IMF Staff Papers, No 16

[2] Balistreri, Edward J., Ayed Al-Qahtani, and Carol A Dahl (2010), Oil and Petroleum Product Armington Elasticities: A New-Geography-of-Trade Approach to Estimation, The Energy Journal 31 (3), pp 415

[3] Feenstra, Robert C., Philip Luck, Maurice Obstfeld, and Katheryn N Russ (2014), In Search of the

Armington Elasticity, Working Paper 20063 - National Bureau of Economic Research

[4] Huchet-Bourdon, Marilyne and Esmaeil Pishbahar (2009), Armington Elasticities and Tarif Regime: An Application to European Union Rice Imports, Journal of Agricultural Economics 60.3, pp 586

[5] Imbs, Jean and Isabelle Mejean (2010), Trade Elasticities: A Final Report for the European Commission, European Economy - Economic Papers 432

Trang 28

Từ khóa: cơ cấu ngành, nhập khẩu, xuất khẩu, thuế nhập khẩu, tăng trưởng kinh tế

1 Giới thiệu

Kể từ khi thực hiện chính sách đổi mới, Việt Nam tiến hành mở cửa nền kinh tế và thực hiện các cam kết thương mại quốc tế Mặc dù có những thay đổi vượt bậc trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam vẫn còn được bảo hộ khá cao Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam được đánh dấu bằng các sự kiện gia nhập các tổ chức quốc tế và ký kết các hiệp định kinh tế và thương mại, bao gồm: gia nhập ASEAN (1995), APEC (1998), kí kết hiệp định thương mại Việt Mỹ (2000), gia nhập WTO (2007), ký kết các hiệp định kinh tế và thương mại song phương và đa phương với các nước và gần đây nhất là Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương TPP (2015) Mục tiêu chính của các sự kiện này là xóa bỏ các loại thuế và rào cản cho hàng hóa, dịch vụ xuất nhập khẩu giữa các nước thành viên Mặc dù có những thay đổi vượt bậc trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam vẫn còn được bảo hộ Vậy, việc tiếp tục giảm thuế nhập khẩu sẽ tác động như thế nào đến hoạt động sản xuất của các ngành, tăng trưởng kinh tế, ngân sách và phúc lợi Hộ gia đình?

Trong thời gian qua, có rất nhiều nghiên cứu phân tích tác động của giảm thuế nhập khẩu đến tăng trưởng và phát triển kinh tế Các nghiên cứu này đã sử dụng mô hình kinh tế lượng và mô hình cân bằng tổng thể (CGE) trong phân tích thực nghiệm và mô phỏng tác động của giảm thuế nhập khẩu đến nền kinh tế Đối với mô hình Kinh tế lượng, việc xây dựng mô hình không quá phức tạp nhưng đòi hỏi nhiều dữ liệu, mỗi biến số cần chuỗi dữ liệu thời gian đủ dài để tính toán, xử lý Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, việc thu thập chuỗi dữ liệu thời gian còn nhiều bất cập nên kết quả nghiên cứu có nhiều hạn chế (Tào Thị Hoàng Anh, 2007) Hơn nữa, các mô hình kinh tế lượng không cho phép phân tích cơ chế tác động và biểu diễn mối quan

hệ đa dạng, phức tạp giữa các ngành, các chủ thể khác nhau trong nền kinh tế, ít được sử dụng trong nghiên cứu dự báo (Lê Quốc Phương và Đặng Huyền Linh, 2009) Trong khi đó, mô hình CGE cho phép mô tả chi tiết nền kinh tế theo từng ngành và biểu diễn mối liên hệ giữa các ngành bằng hệ thống các phương trình toán học Mô hình CGE được xem là mô hình phù hợp nhất để nghiên cứu tác động của các chính sách kinh tế nói chung và chính sách thuế nói riêng đến nền kinh tế cũng như cơ cấu kinh tế của một nước (Shoven and Whalley, 1984) Tuy vậy, các nghiên cứu tại Việt Nam đến thời điểm hiện nay chủ yếu sử dụng mô hình

Trang 29

23

CGE dạng tĩnh Để có thể mô phỏng và dự báo tác động giảm thuế suất theo lộ trình đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong dài hạn, mô hình DCGE có nhiều ưu việt nổi trội (CIEM,2012)

Bài viết này sử dụng DCGE với bộ dữ liệu Ma trận hạch toán xã hội Việt Nam năm 2012

để phân tích tác động của việc giảm thuế suất thuế nhập khẩu đến các ngành kinh tế, tăng trưởng kinh

tế, cán cân thương mại, ngân sách Nhà nước và phúc lợi Hộ gia đình cả trong ngắn hạn và dài hạn Điểm cân bằng ban đầu được so sánh với điểm cân bằng sau “cú shock thuế suất” để đo lường tác động của việc giảm thuế suất thuế nhập khẩu theo lộ trình cam kết Kết quả phân tích giúp cho nhà quản lý kinh tế

vĩ mô có cái nhìn tổng thể về những tác động của việc giảm thuế nhập khẩu đến nền kinh tế Việt Nam Đây

là cơ sở để Chính phủ thay đổi thuế suất các sắc thuế khác và lựa chọn các chính sách kinh tế vĩ mô phù hợp cho từng ngành, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, ổn định nguồn thu ngân sách và gia tăng phúc lợi Hộ gia đình

Bài viết trình bày cơ chế tác động của giảm thuế suất thuế nhập khẩu đến nền kinh tế, cấu trúc cơ bản của mô hình DCGE, dữ liệu cho mô hình, xây dựng kịch bản mô phỏng giảm thuế nhập khẩu theo lộ trình cam kết của Việt Nam Cuối cùng là thực hiện mô phỏng, phân tích đánh giá tác động của việc giảm thuế nhập khẩu đến cơ cấu ngành, tăng trưởng kinh tế, cán cân thương mại, ngân sách và phúc lợi Hộ gia đình và một số hàm ý chính sách

2 Tổng quan nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

2.1 Tổng quan nghiên cứu tác động của giảm thuế nhập khẩu đến nền kinh tế

Việc cắt giảm thuế quan mang lại cơ hội cho quốc gia đang phát triển thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng nâng cao hiệu quả trên cơ sở phát huy các ngành có lợi thế (World Bank, 2002) (Krueger, 1997) Xóa bỏ hàng rào thuế quan trong khuôn khổ các hiệp định FTA đã được kiểm chứng có tác động tích cực đối với các ngành khuyến khích xuất khẩu và cản trở phát triển các ngành bảo hộ nhập khẩu (Santos‐Paulino & Thirlwall, 2004)

Từ thập niên 2000, khi Việt Nam từng bước hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới thông qua các hiệp định thương mại tự do, đã có một số các nghiên cứu về sự tác động của việc cắt giảm thuế quan đến tăng trưởng kinh tế, cơ cấu kinh tế, và các vấn đề cơ bản của kinh tế vĩ mô như việc làm, tiền lương và bất bình đẳng thu nhập Nguyễn Mạnh Toàn (2005) đã phát triển một mô hình CGE động cho nền kinh tế Việt Nam dựa trên dữ liệu I/O năm 2000 và SAM 1999 nhằm phân tích tác động của tự do hóa thương mại đến phân phối thu nhập ở Việt Nam, Trương Bá Thanh (2009) ứng dụng mô hình CGE tĩnh đánh giá mối quan hệ giữa tự do hóa thương mại và thay đổi cơ cấu kinh tế theo ngành của kinh tế Việt Nam, sử dụng bảng I/O

2000, kết hợp với SAM 1999 và các nguồn số liệu khác Phát hiện từ việc mô phỏng xác định các ngành thâm dụng lao động sẽ nhiều lợi thế trong khi đó các ngành thâm dụng vốn và được bảo hộ cao sẽ gặp nhiều khó khăn David Vanzetti & Phạm Lan Hương (2006), Cassing & cộng sự (2010), Dordi & cộng sự (2015), Nguyễn Đức Thành & Nguyễn Thị Thu Hằng (2015) sử dụng mô hình cân bằng tổng thể GTAP nhằm mô phỏng quá trình đổi mới chính sách thương mại và các hiệp định FTA Kết quả nghiên cứu cho thấy những thay đổi phần lớn xảy ra trong ngành dệt may và dịch vụ Với các tiếp cận tương tự, Viện Chiến lược Phát triển (2008) ứng dụng mô hình MIRAGE tập trung đánh giá tác động của việc cắt giảm mức thuế quan hợp nhất đến cơ cấu kinh tế, hoạt động sản xuất và thương mại Kết quả mô phỏng cho thấy, việc cắt giảm thuế quan khi Việt Nam gia nhập WTO làm cho sản xuất các ngành may mặc, da giày, điện tử sẽ mở rộng, đồng thời tác động tích cực tới ngành chăn nuôi và sản xuất sản phẩm cơ khí; trong khi đó, qui mô sản xuất ngành nông lâm sản; chè, hạt tiêu, cà phê giảm

2.2 Cơ chế tác động của giảm thuế nhập khẩu đến nền kinh tế

Việc giảm thuế nhập khẩu tác động đến cơ cấu ngành kinh tế được thực hiện theo một cơ chế rất phức tạp, thông qua nhiều mối quan hệ ràng buộc và tác động qua lại, lan truyền qua nhiều khâu, nhiều vòng cho đến khi nền kinh tế đạt được cân bằng mới trong dài hạn Trước hết, cắt giảm thuế nhập khẩu một hàng hóa

sẽ làm giảm giá bán và tăng cầu đối với mặt hàng đó trong ngắn hạn, đồng thời làm giảm cầu đối với các mặt

Trang 30

ra, đầu tư nước ngoài, vay nợ, xuất khẩu và nhập khẩu cũng có sự thay đổi, dẫn đến có sự thay đổi tỷ giá trên thị trường ngoại hối Thay đổi giá tương đối trên các thị trường sẽ điều chỉnh tỷ lệ tiết kiệm cũng như cơ cấu tiêu dùng của hộ gia đình và chính phủ, đầu tư của doanh nghiệp, sản lượng sản xuất của từng ngành, dịch chuyển lao động, vốn và đất đai sang các ngành có lợi thế - tạo ra hiệu ứng lan tỏa cho toàn bộ nền kinh tế Các nguồn lực được giải phóng từ ngành ít hoặc không còn lợi thế sẽ chuyển dịch đến các ngành có lợi thế phát triển

2.3 Cấu trúc cơ bản của mô hình DCGE

Mô hình CGE có nền tảng vững chắc dựa trên lý thuyết cân bằng kinh tế Walrasian Theo đó, các chủ thể trong nền kinh tế kinh tế luôn tìm cách tối đa hóa lợi ích của mình, tạo ra cơ chế ràng buộc, phụ thuộc lẫn nhau, thu nhập của chủ thể này chính là chi phí/ chi tiêu của chủ thể khác, không có một chủ thể nào có quyền lực tuyệt đối trên thị trường mà phụ thuộc lẫn nhau để tồn tại và phát triển; cung - cầu trên các thị trường quyết định mức giá cả của hàng hóa, lao động và chi phí sử dụng vốn làm cho nền kinh tế luôn có khuynh hướng trở về trạng thái ổn định, cân bằng Về nguyên lý, mô hình CGE thiết lập các giới hạn (ràng buộc) về thu nhập/tiêu dùng và nguồn lực sử dụng, nhằm bảo đảm rằng các hộ gia đình, chính phủ chỉ có thể chi tiêu trong phạm vi ngân sách/ thu nhập của mình và các doanh nghiệp sử dụng các yếu tố sản xuất không thể vượt quá tổng nguồn lực sẵn có Chính các ràng buộc về nguồn lực và ngân sách trong quá trình tối đa hóa lợi ích của các chủ thể trong nền kinh tế đã thiết lập nền tảng cho việc phân tích lợi ích của các chủ thể kinh tế trên các cân bằng thị trường thông qua sự liên kết

Trang 31

25

Hình 1 Cấu trúc cơ bản của mô hình DCGE

Theo mô hình này, nền kinh tế ban đầu được giả định đang ở vị trí cân bằng, nghĩa là với thuế suất và mức giá cả hiện tại, tổng cung trên tất cả các thị trường đang ở thế cân bằng với tổng cầu của nó Dưới tác động của các kịch bản thay đổi về thuế suất, nền kinh tế sẽ dịch chuyển từ điểm cân bằng cũ sang điểm cân bằng mới Tại điểm cân bằng mới của nền kinh tế có thể ước lượng được sự thay đổi của các ngành, tính toán được những ảnh hưởng lên từng ngành nói riêng và lên toàn bộ nền kinh tế nói chung Đối với mô hình DCGE, nền kinh tế không chỉ hướng đến cân bằng trong ngắn hạn mà còn chỉ ra xu hướng dịch chuyển theo thời gian để hướng đến cân bằng trong dài hạn

Mô hình CGE được sử dụng để tính toán trong nghiên cứu này là mô hình động, chuẩn cho nền kinh tế

mở, qui mô nhỏ, chấp nhận giá và cạnh tranh theo định hướng thị trường Cấu trúc lý thuyết của mô hình được xây dựng trên cơ sở các nghiên cứu của Dervis et al.(1982), Vargas & F.Schreiner et al (1999), Hosoe (2001); Chen (2004) và Toàn (2005)

Mô hình bao gồm ba khối cân bằng: Khối cân bằng động, khối cân bằng tạm thời và khối cân bằng dài hạn, cho phép mô phỏng hoạt động và mối quan hệ trong dài hạn của năm thực thể chủ yếu của nền kinh tế: doanh nghiệp, chính phủ, hộ gia đình, hoạt động đầu tư và phần còn lại của thế giới (ROW) (Hình 1) Trong

mô hình, có l thị trường lao động, n thị trường hàng hóa và một thị trường ngoại hối Tổ hợp giá cân bằng được xác định khi tất cả các thị trường đạt được trạng thái cân bằng

Nhân

tố SX

Hộ gia đình

Tổng thu Ngành

Trang 32

26

Nam, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (the Central Institution for Economic Management - CIEM) đã phối hợp với các tổ chức quốc tế dưới sự hỗ trợ của cơ quan phát triển quốc tế Đan Mạch (Danish International Development Agency - DANIDA) xây dựng và công bố các bảng SAM Việt Nam các năm

1999, 2000, 2003, 2007, 2011, 2012

VSAM2012 sử dụng trong nghiên này được chi tiết theo 63 ngành kinh tế, 7 nhân tố sản xuất (6 nhân tố lao động, 1 nhân tố vốn), 20 nhóm Hộ gia đình

2.5 Kịch bản mô phỏng

Dưới tác động của tự do hóa thương mại nói chung, các hàng rào thuế quan phải dần được gỡ bỏ theo

lộ trình cam kết Thuế suất thuế nhập khẩu trung bình năm cơ sở (năm 2012) của từng ngành được tính bằng giá trị thuế nhập khẩu trên giá trị nhập khẩu và được trình bày trên bảng 2

Bảng 2 Thuế suất thuế nhập khẩu (%) các ngành

Nguồn: Tính toán của tác giả từ VSAM2012

Có thể thấy rằng, việc nhập khẩu hàng hóa tiêu dùng bị hạn chế nhiều hơn so với việc nhập khẩu nguyên vật liệu phục vụ sản xuất và đầu tư cơ bản Đồ uống, thuốc lá, chế biến thủy sản, dệt may, giày da cũng còn chịu mức thuế suất cao

Trong xu thế hội nhập, thuế suất các mặt hàng nhập khẩu có xu hướng giảm mạnh Cụ thể:

Theo kết quả đàm phán thuế quan trong WTO của Việt Nam được VCCI, 2010 tổng hợp thì: Số dòng thuế có cam kết là 10.600 dòng và mức giảm thuế bình quân toàn biểu thuế khoảng 23% (từ mức là 17,4% năm 2006 xuống còn 13,4%) Trong đó: Số dòng thuế cam kết giảm khoảng 3.800 dòng thuế (chiếm 35,5% số dòng của biểu thuế); nhóm mặt hàng có cam kết cắt giảm thuế nhiều nhất bao gồm: dệt may, cá và sản phẩm cá, gỗ và giấy, hàng chế tạo khác, máy móc thiết bị điện, điện tử, thịt (lợn, bò), phụ phẩm Số dòng thuế giữ ở mức thuế hiện hành (cam kết không tăng thêm): khoảng 3.700 dòng (chiếm 34,5% số dòng của biểu thuế) Số dòng thuế ràng buộc theo mức thuế trần (cao hơn mức thuế suất hiện hành với 3.170 dòng thuế (chiếm 30% số dòng của biểu thuế), chủ yếu là đối với các nhóm hàng như xăng dầu, kim loại, hoá chất, một số phương tiện vận tải

Theo VCCI (2015), Việt Nam đã ký kết 10 FTA song phương và đa phương (tính đến năm 2015); trong đó, có 2 Hiệp định mới ký kết trong tháng 5/2015 là FTA giữa Việt Nam - Hàn Quốc (VKFTA) và FTA Việt Nam - Liên minh kinh tế Á - Âu (VCUFTA) Năm 2015 cũng là năm khởi đầu của lộ trình cắt giảm thuế quan ở mức cao nhất và tiến tới thực hiện cam kết cuối cùng về xóa bỏ thuế suất thuế nhập khẩu trong các Hiệp định Thương mại tự do (FTA) mà Việt Nam đã ký kết; bao gồm: Hiệp định ATIGA vào năm

2018, ASEAN - Trung Quốc (ACFTA) năm 2020 và ASEAN - Hàn Quốc (AKFTA) năm 2021 Lộ trình cắt giảm thuế quan trong các FTA đều được cam kết thực hiện trong vòng 10 năm cho từng giai đoạn và được quy định cụ thể đối với từng hiệp định (VCCI, 2015)

Riêng cam kết về thuế nhập khẩu của Việt Nam dành cho các nước trong Hiệp định TPP, Việt Nam sẽ cam kết xóa bỏ gần 100% số dòng thuế, theo đó: 65,8% số dòng thuế có thuế suất 0% ngay khi Hiệp định có hiệu lực; 86,5% số dòng thuế có thuế suất 0% vào năm thứ 4 kể từ khi Hiệp định có hiệu lực; 97,8% số dòng thuế có thuế suất 0% vào năm thứ 11 kể từ khi Hiệp định có hiệu lực; các mặt hàng còn lại cam kết xoá bỏ thuế nhập khẩu với lộ trình xóa bỏ thuế tối đa vào năm thứ 16 hoặc theo hạn ngạch thuế quan (Kim Thủy, 2015)

Trang 33

27

Trong các Hiệp định thương mại đã ký kết, các mặt hàng được giảm thuế suất được chi tiết theo ngành hẹp (theo từng loại sản phẩm) Tuy nhiên, trong VSAM2012 ngành được gộp thành 63 ngành sản phẩm Bên cạnh đó, mỗi Hiệp định ký kết lại giảm thuế suất cho các sản phẩm khác nhau và thời gian hiệu lực khác nhau Lộ trình giảm thuế của các hiệp định cũng khác nhau, do đó, trong nghiên cứu này, tác giả giả định là tất cả các dòng thuế sẽ tiến tới mức cuối cùng 0% Cho nên, kịch bản giảm thuế suất thuế nhập khẩu sẽ được

xây dựng như sau: Thuế suất thuế nhập khẩu sẽ giảm dần về 0% đến năm 2025, giả định các loại thuế còn

lại không đổi

3 Kết quả mô phỏng và bàn luận

3.1 Tác động của giảm thuế nhập khẩu đến tăng trưởng kinh tế, cơ cấu ngành kinh tế

Giảm thuế suất thuế nhập khẩu làm GDP tăng 7,87% trong dài hạn, GDP nông nghiệp giảm 6,67%, GDP công nghiệp tăng 13,73%, GDP dịch vụ tăng 6,4% Mặc dù GDP của nhóm ngành dịch vụ có tăng nhưng không theo kịp sự tăng lên mạnh mẽ về GDP trong nhóm ngành công nghiệp nên làm cho tỷ trọng GDP nhóm ngành dịch vụ trong toàn nền kinh tế có xu hướng giảm nhẹ Chính sự tăng giảm không đều về GDP trong các nhóm ngành mà làm cho cơ cấu ngành kinh tế Việt Nam thay đổi theo hướng tăng tỷ trọng nhóm ngành công nghiệp 2,54 điểm % (từ 46,75% lên 49,29%) và giảm tỷ trọng nhóm ngành nông nghiệp và dịch vụ tương ứng là 2,02 điểm% (từ 14,97% xuống 12,95%) và 0,52 điểm % (từ 38,28% xuống 37,76%) (Bảng 3) Trong nhóm ngành công nghiệp, có sự tăng lên mạnh mẽ GDP ngành sản xuất thiết bị phụ tùng (tăng 138,83%) làm tăng mạnh tỷ trọng ngành này trong nền kinh tế (từ 4,38% lên 9,70%) Điều này khẳng định được vai trò của nhóm ngành chế tạo trong nền kinh tế Việt Nam Nền kinh tế sẽ dần chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Có thể nhận thấy rằng, với kịch bản giảm thuế nhập khẩu, các ngành thâm dụng vốn có cơ hội phát triển hơn là các ngành thâm dụng lao động Kết quả này có các điểm khác biệt so với nghiên cứu trước đây của Nguyễn Mạnh Toàn (2005), David Vanzetti & Phạm Lan Hương (2006), Cassing & cộng sự (2010), Dordi & cộng sự (2015), Nguyễn Đức Thành & Nguyễn Thị Thu Hằng (2015) Sự khác biệt về kết quả nghiên cứu này là do: (1) thuế suất thuế nhập khẩu hiện nay đã giảm mạnh so với trước đây nên mức độ tác động của việc giảm thuế suất không nhiều, (2) các ngành thâm dụng lao động không còn lợi thế về lao động giá rẻ mà chịu áp lực của việc tăng chi phí tiền lương; trong khi đó các ngành thâm dụng vốn hưởng lợi do máy móc thiết bị nhập khẩu rẻ hơn khi giảm thuế nhập khẩu

Bảng 3 Tác động của giảm thuế nhập khẩu đến GDP

Trang 34

Nguồn: Kết quả mô phỏng từ mô hình

3.2 Tác động của giảm thuế suất thuế nhập khẩu đến nhập khẩu, xuất khẩu

Khi thuế suất thuế nhập khẩu giảm xuống, nhập khẩu sẽ tăng Tuy vậy, điều này không phải lúc nào cũng dẫn đến thâm hụt thương mại mà còn phụ thuộc vào xuất khẩu Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đển xuất khẩu: (1) giá một số mặt hàng nhập khẩu giảm xuống giúp giảm chi phí sản xuất hàng xuất khẩu, làm tăng năng lực cạnh tranh của hàng xuất khẩu; (2) các đối tác FTA cũng cắt giảm thuế quan, nên cũng sẽ gia tăng nhập khẩu từ các nước này (một phần nhu cầu gia tăng này sẽ được hàng xuất khẩu của Việt Nam đáp ứng) Cắt giảm thuế quan dự báo sẽ gây nên nhiều thách thức trong lĩnh vực nông nghiệp, GO nông nghiệp giảm, xuất khẩu giảm mạnh và nhập khẩu ngày càng tăng (Bảng 4) Như vậy, kết quả này là trùng hợp với các nghiên cứu định lượng cũng sử dụng mô hình CGE của Nguyễn Chân & Trần Kim Dung (2001), David Vanzetti & Phạm Lan Hương (2006) và Viện chiến lược phát triển (2008)

Cùng với sự tăng lên về kết quả sản xuất trong lĩnh vực công nghiệp, giá trị xuất khẩu trong lĩnh vực này cũng tăng mạnh trong dài hạn (38%); trong đó, có sự đóng góp đáng kể của ngành sản xuất thiết bị phụ tùng (tăng 180,76%), ngành luyện kim (tăng 9,26%), ô tô xe máy (tăng 6,26%) Do các ngành này sử dụng nguyên vật liệu, máy móc thiết bị đầu vào được nhập khẩu với chi phí thấp hơn làm giảm giá thành sản xuất của các sản phẩm, trong đó có sản phẩm xuất khẩu, điều này sẽ làm tăng khả năng cạnh tranh của các sản phẩm xuất khẩu

Theo kịch bản giảm thuế nhập khẩu, trong dài hạn, tốc độ tăng xuất khẩu (28,02%) cao hơn tốc độ tăng nhập khẩu (26,3%); vì vậy, có thể nói rằng Việt Nam càng hội nhập thì càng có khả năng thặng dư thương mại và có thể đạt được mục tiêu về tăng trưởng xuất, nhập khẩu như đã đề ra trong “Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa thời kỳ 2011 – 2020, định hướng đến 2030” là phải tăng trưởng khoảng 10% thời kỳ 2021-2030 về xuất khẩu và tăng trưởng dưới 10% về nhập nhẩu (Bộ Công Thương, 2011)

Như vậy, giảm thuế nhập khẩu có tác động rất mạnh lên tăng trưởng xuất khẩu một số ngành sản xuất tại Việt Nam, nhưng có thể làm tăng nhập khẩu trên diện rộng, đối với mọi loại hàng hóa Điều này, một mặt đem lại lợi ích lớn cho người tiêu dùng Việt Nam thông qua việc được tiêu dùng hàng hóa giá rẻ hơn, chất

Trang 35

29

lượng tốt hơn, nhưng mặt khác, cũng cảnh báo sự cạnh tranh gay gắt hơn trong tất cả các lĩnh vực sản xuất tại Việt Nam

Tóm lại, việc giảm thuế suất thuế nhập khẩu có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế cả trong

ngắn hạn và dài hạn, nền kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng nhóm ngành công nghiệp; giảm tỷ trọng nông nghiệp và dịch vụ Tỷ trọng dịch vụ giảm nhưng sản lượng trong lĩnh vực này có xu hướng tăng lên; trong đó, các ngành dịch vụ đóng vai trò động lực trong nền kinh tế tăng mạnh Điều đó cho thấy nền kinh tế đã có nhiều chuyển biến tích cực trong xu thế hội nhập; cơ cấu ngành không còn thiên về các dịch vụ truyền thống Trong công nghiệp, các ngành sản xuất tư liệu sản xuất đã phát huy được vai trò chủ lực và phát triển, nhất là ngành sản xuất máy móc thiết bị Kết quả giảm thuế nhập khẩu cũng hàm ý rằng, công nghiệp Việt Nam không còn dựa vào những ngành thâm dụng lao động và chế biến giản đơn mà dần chuyển sang nền công nghiệp theo hướng hiện đại hóa trong quá trình hội nhập

Bảng 4 Tác động của giảm thuế nhập khẩu đến nhập khẩu, xuất khẩu

Ngắn

hạn

Dài hạn

Năm gốc

Ngắn hạn

Dài hạn

Ngắn hạn

Dài hạn

Năm gốc

Ngắn hạn

Dài hạn

Trang 36

30

NK

T 2,36 26,30 100 100 100 -2,03 28,02 100 100 100

Nguồn: Kết quả mô phỏng từ mô hình

3.3 Tác động của giảm thuế nhập khẩu đến ngân sách Nhà nước và phúc lợi Hộ gia đình

Thuế nhập khẩu giảm làm cho ngân sách giảm là điều không thể tránh khỏi (giảm 1,44% trong ngắn hạn) Tuy nhiên, giảm thu thuế nhập khẩu lại đi kèm với gia tăng kim ngạch thương mại và mở rộng kinh tế,

từ đó lại tạo điều kiện tăng thu từ các sắc thuế khác Cho nên, trong dài hạn tuy rằng giảm thuế nhập khẩu nhưng ngân sách tăng 3,97% Kết quả ngân sách tăng là do tăng nguồn thu từ các sắc thuế khác: thuế GTGT tăng 19,33%, thuế TNDN tăng 12,40%, thuế TNCN tăng 8,18% Nguồn thu từ thuế TNDN, thuế GTGT chiếm trên 80% thu ngân sách Nhà nước (tính toán từ VSAM2012), vì vậy, tăng thu từ các sắc thuế này có thể bù đắp khoản thuế nhập khẩu giảm do hội nhập

Bảng 5 Tác động của giảm thuế nhập khẩu đến Ngân sách và phúc lợi

Nguồn: Kết quả mô phỏng từ mô hình

Việc thay đổi thuế suất thuế nhập khẩu có nhiều khả năng gây ra bất bình đẳng về thu nhập và sự biến đổi trong phúc lợi hộ gia đình Do đó, nghiên cứu tiến hành kiểm tra tác động của việc thay đổi thuế suất

thuế nhập khẩu đến phúc lợi hộ gia đình Kết quả cho thấy, trong dài hạn, phúc lợi hộ gia đình tăng (2,71%)

4 Kết luận và hàm ý chính sách

Sử dụng mô hình CGE động, bộ dữ liệu VSAM2012 cùng với phần mềm GAMS, nghiên cứu này đã lượng hóa mức độ tác động của của giảm thuế nhập khẩu đến các ngành và cả nền kinh tế trong dài hạn Giảm thuế suất thuế nhập khẩu cho kết quả phù hợp với định hướng của Chính phủ về chuyển dịch cơ cấu ngành, về tăng trưởng cũng như tình hình thặng dư thương mại, tăng phúc lợi Hộ gia đình Tuy nhiên, trước mắt cần thực hiện các giải pháp để khắc phục hậu quả của thâm hụt ngân sách nhà nước

Giảm thuế nhập khẩu làm cho nền kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng nhóm ngành công nghiệp; giảm tỷ trọng nông nghiệp và dịch vụ Nền công nghiệp Việt Nam không còn dựa vào những ngành

có lợi thế về lao động giá rẻ mà dần chuyển sang phát triển các ngành cần lao động có kỹ năng để không những tận dụng các lợi thế so sánh hiện có mà còn giúp tạo thêm những lợi thế mới Vì vậy, chính phủ cần

có các chính sách hỗ trợ hợp lý để thúc đẩy, phát triển những ngành có hàm lượng công nghệ cao nhằm tăng năng suất và tăng sức cạnh tranh của hàng hóa trong nước và đẩy mạnh xuất khẩu Chính phủ cũng cần cân nhắc các chính sách hỗ trợ cho các hoạt động nghiên cứu và phát triển, tạo điều kiện gia tăng giá trị cho hàng hóa xuất khẩu, thay vì gia công là chủ yếu như hiện nay Mặc khác, khi các nguồn lực được tập trung vào các

Trang 37

Do vậy, tùy từng giai đoạn và mục tiêu chính sách, các biện pháp cân bằng cán cân ngân sách này cần phải được cân nhắc để đảm bảo được sự ổn định vĩ mô và khuyến khích được sản xuất và tiêu dùng, tránh gây ra những mâu thuẫn với các nỗ lực chính sách khác Trước mắt, các chính sách nên tập trung vào cắt giảm chi tiêu thường xuyên

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Cassing, J và cộng sự (2010), Báo cáo Đánh giá tác động của các hiệp định thương mại tự do đối với kinh tế Việt Nam, Hà Nội, Việt Nam

[2] Chen, K (2004), An Illustrative CGE model, Graduate School of International Corporation Studies (GSICS), Kobe University

[3] CIEM (2016), Ma trận hạch toán xã hội (SAM) Việt Nam năm 2012, NXB Lao động xã hội, Hà Nội [4] Hosoe, N (2001) Computable General Equilibrium with GAMS, National Graduate Institute for Policy Studies

[5] Kim Thủy (2015) Những nội dung cam kết về thuế quan trong TPP [Trực tuyến] Địa chỉ:

tpp/1093124/ [Truy cập: 20/06/2016]

http://www.doanhnhansaigon.vn/thoi-su-trong-nuoc/nhung-noi-dung-cam-ket-ve-thue-quan-trong-[6] Krueger, A O (1997), "Free trade agreements versus customs unions", Journal of Development Economics, 54(1), 169–187

[7] Lê Quốc Phương, Đặng Huyền Linh (2009), “Tình hình xây dựng và ứng dụng mô hình kinh tế tại một số cơ quan, tổ chức ở Việt Nam”, Chuyên san dự báo Thông tin khoa học Thống kê, 21-30

[8] Nguyễn Đức Thành & Nguyễn Thị Thu Hằng (2015), Tác động của TPP và AEC lên nền kinh tế Việt Nam, NXB Thế giới, Hà Nội

[9] Nguyen Manh, T (2005), The Long-Term Effect of Trade Liberalization on Income Distribution in Vietnam: A Multi- Household Dynamic Computable General Equilibrium Approach, Kobe University, Japan

[10] Santos‐Paulino, A., & Thirlwall, A P (2004), "The impact of trade liberalisation on exports, imports and the balance of payments of developing countries", The Economic Journal, 114(493), 50–72

[11] Shoven and Whalley (1984), Applied General-Equilibrium Models of Taxation and International Trade:

An Introduction and Survey, 22(3), 1007-1051

[12] Tào Thị Hoàng Anh (2007), Đổi mới và hoàn thiện các chính sách thuế nhằm góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Việt Nam theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Luận án Tiến sĩ kinh tế, Mã số: 5.02.09, Chuyên ngành: Tài chính, lưu thông tiền tệ và tín dụng, Học viện Tài chính Hà Nội

[13] Thorbecke (2005), The use of social accounting matrices in modeling the 26th General Conference of The International Association for Research in Income and Wealth Cracow, Poland

[14] Trương Bá Thanh (2009), Mô hình cân bằng tổng thể ứng dụng trong nghiên cứu cơ cấu ngành và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, NXB Đà Nẵng, Đà Nẵng

Trang 38

32

[15] VCCI (2015), Lộ trình cắt giảm thuế quan trong các FTA [Trực tuyến] Địa chỉ: http://www.trungtamwto.vn/tin-tuc/lo-trinh-cat-giam-thue-quan-trong-cac-fta [Truy cập: 20/06/2016] [16] Viện Chiến lược phát triển (2008), Đánh giá tác động của gia nhập WTO tới nền kinh tế Việt Nam sử dụng mô hình cân bằng tổng thể (CGE), Diễn Đàn Kinh Tế và Tài Chính, Khóa Họp Lần 7, Triển Vọng Phát Triển Của Việt Nam Một Năm Sau Khi Gia Nhập WTO, Đà Nẵng

[17] World Bank (2002), Building institutions for markets, World Development Report 2002

Trang 39

mở cửa và công cuộc đổi mới do Đảng ta lãnh đạo và khởi xướng đã tạo nên những gam màu tươi sáng trong bức tranh kinh tế - xã hội của đất nước Tới nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ thương mại với hơn

200 quốc gia và vùng lãnh thổ, được xem là một trong những nước có nền kinh tế hướng xuất khẩu mạnh

mẽ nhất trong khối các nước ASEAN Trong tiến trình này có sự tác động không nhỏ của các hiệp định TMTD đã được ký kết Bài viết tập trung phân tích cơ sở lý thuyết về TMTD và làm rõ các tác động của các hiệp định TMTD đến nền kinh tế Việt Nam

Từ khóa: FTA, hiệp định thương mại tự do, Thương mại tự do

1 Đặt vấn đề

1.1 Sự cần thiết lựa chọn vấn đề nghiên cứu

Lý thuyết thương mại tự do (TMTD) là một hệ thống lý thuyết hoàn chỉnh, phát triển từ thấp lên cao,

từ đơn giản đến phức tạp Lý thuyết sau bao giờ cũng có sự kế thừa và phát triển của lý thuyết trước và mang tính khoa học ngày càng cao, ngày càng sát với thực tiễn minh họa là lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo là lý thuyết cơ sở cơ bản của thương mại quốc tế Tuy vẫn còn một số hạn chế, nhưng lý thuyết lợi thế so sánh có một ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn đối với mọi quốc gia Những nhà kinh tế đi sau và theo Ricardo đã bổ sung và hoàn thiện lý thuyết lợi thế so sánh sát với thực tiễn, làm phong phú lý thuyết lợi thế so sánh

Việc nghiên cứu và vận dụng lý thuyết TMTD vào tình hình cụ thể của Việt Nam là việc làm cần thiết, góp phần nhận diện lợi thế so sánh của Việt Nam; trên cơ sở đó có những định hướng và giải pháp thích hợp nhằm phát huy và phát triển lợi thế so sánh của Việt Nam trong phân công lao động quốc tế góp phần đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế đối ngoại trong bối cảnh mới Nghiên cứu các lý thuyết TMTD, vận dụng lý thuyết TMTD giải thích cho TMTD ở Việt Nam:

Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith: Việt Nam đã xác định được lợi thế của mình sản xuất nông nghiệp và sản xuất những mặt hàng sử dụng nhiều lao động Trong thời gian này Việt Nam chủ yếu tập trung xuất khẩu những mặt hàng nông sản, những mặt hàng thô chưa qua sơ chế và sau này là những mặt hàng như dệt may, giày dép… những mặt hàng sử dụng nhiều lao động

Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo: Việt Nam đã xác định XK những mặt hàng lợi thế của mình và những mặt hàng Việt Nam ít bất lợi nhất theo quan điểm của lợi thế so sánh, tham gia vào hoạt động ngoại thương Việt Nam chú trọng XK mặt hàng thế mạnh là nông sản và hàng tiêu dùng nhưng bên cạnh đó còn chú trọng những mặt hàng khác

Trang 40

34

Mô hình Heckscher-Ohlin: trước đây Việt Nam chủ yếu XK các mặt hàng thô có hàm lượng lao động cao như: than, cà phê, dầu thô, may mặc… đây là những mặt hàng Việt Nam có lợi thế do có nguồn nguyên vật liệu phong phú, đa dạng; nguồn nhân công dồi dào, giá nhân công rẻ… nhưng hiện tại Việt Nam đang tích cực và chủ trương thu hút vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến từ bên ngoài để thay thế mặt hàng XK theo hướng tăng mặt hàng có hàm lượng chất xám cao để tăng kim ngạch XK, đồng thời giảm các mặt hàng là nguyên liệu thô chưa qua sơ chế để sử dụng một cách có hiệu quả hơn các nguồn lực để phát triển kinh tế một cách bền vững

Việc nghiên cứu và vận dụng lý thuyết TMTD vào tình hình cụ thể của Việt Nam là việc làm cần thiết, góp phần nhận diện lợi thế so sánh của Việt Nam; trên cơ sở đó có những định hướng và giải pháp thích hợp nhằm phát huy và phát triển lợi thế so sánh của Việt Nam trong phân công lao động quốc tế góp phần đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế đối ngoại trong bối cảnh mới Nắm bắt được tình hình, Việt Nam đã chủ trương mở cửa nền kinh tế Sau khi gia nhập WTO (2007), Việt Nam chính thức bước chân vào trường quốc tế và đang nỗ lực hội nhập kinh tế thế giới Sự góp mặt của Việt Nam trên sân chơi kinh tế toàn cầu thể hiện qua việc Việt Nam đã ký kết các Hiệp định Thương mại tự do

Thương mại tự do là chính sách phổ biến giữa các chính trị gia, doanh nhân và các nhà kinh tế Các chuyên gia tin rằng thương mại tự do là một giải pháp hữu hiệu cho các nước bởi những lý do sau:

Thị trường mở rộng, cơ hội mở rộng

Hiệp định tự do thương mại khu vực tạo điều kiện cho hàng hóa và dịch vụ tự do qua biên giới bằng cách giảm các rào cản thương mại truyền thống như thuế quan, hạn ngạch và lệnh cấm Thiết lập một môi trường thương mại không hạn chế và không thiên vị đã thúc đẩy cạnh tranh, truyền cảm hứng cho đổi mới và tạo ra lợi ích cho tất cả các bên

Mặc dù cạnh tranh quốc tế có thể gây tổn hại cho một số ngành trong nước nhưng cuối cùng nó cũng mang lại sự ổn định kinh tế và xã hội lớn hơn cho các quốc gia, nhiều cơ hội tiếp cận với các thị trường mới

và tăng vốn cho các doanh nghiệp, đồng thời đưa ra các mức giá thấp hơn và nhiều sự lựa chọn hơn cho người tiêu dùng

Nền kinh tế mạnh mẽ hơn

Hiệp định tự do thương mại khu vực đặt các nước trên một con đường chung dẫn đến sự thịnh vượng

Từ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tới tăng cường an ninh khu vực, thương mại tự do cho phép các nước tham gia có được một loạt các lợi ích về kinh tế, xã hội và chính trị Cạnh tranh, đổi mới và chuyển giao kiến thức được kích thích bởi tự do thương mại đã tạo ra sự tăng trưởng ở các nước phát triển và cũng như đang phát triển Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Bhutan đã tăng hơn 77% kể từ khi ký kết Hiệp định tự do thương mại khu vực Nam Á (SAFTA) Các nước SAFTA khác như Ấn Độ và Sri Lanka cũng đã đạt được mức tăng trưởng tương tự Ngoài việc thúc đẩy nền kinh tế, thương mại tự do còn làm tăng mức độ hấp dẫn đầu tư của một quốc gia Bằng cách giảm thiểu các hạn chế thương mại và khuyến khích minh bạch hơn, các Hiệp định tự do thương mại khu vực đã tạo ra một khả năng tiên liệu về kinh tế, làm an lòng các nhà đầu tư và làm tăng khả năng đầu tư Ví dụ như, theo Ngân hàng Thế giới, dòng vốn ròng của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đến Kenya đã tăng hơn 250% sau khi nó góp phần hình thành khối thương mại Cộng đồng Đông Phi (EAC)

Mức sống được cải thiện

Thương mại tự do cũng tạo ra các lợi ích xã hội Những nước cởi mở hơn đối với thương mại quốc tế đều có tỉ lệ có việc làm cao hơn, thu nhập cao hơn và mức sống tốt hơn so với các quốc gia hạn chế thương mại Ví dụ, tỷ lệ hộ nghèo của Mê-hi-cô, theo Ngân hàng Thế giới định nghĩa là tỷ lệ dân số sống dưới mức

2 USD một ngày, đã giảm 63% kể từ khi nước này ký kết Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ (NAFTA) năm 1994 Hơn nữa, tại Mê-hicô, những ngành xuất khẩu từ 60% các sản phẩm của mình trở lên trả lương cao hơn 39% so với các ngành không xuất khẩu (XK) Canada cũng được hưởng các lợi ích xã hội của

Ngày đăng: 27/11/2021, 10:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[3] King, B. J. (1985). “What is a SAM?” In Social Accounting Matrices: A Basis for Planning. G. Pyatt &amp; J. Round, eds., Washington, D.C.: The World Bank Sách, tạp chí
Tiêu đề: What is a SAM
Tác giả: King, B. J
Năm: 1985
[1] Arrow, K. J. &amp; Debreu, G. (1954). Existence of an equilibrium for a competitive economy. Econometrica, 22(3), 265–290 Khác
[2] Hosoe, N., Gasawa, K. &amp; Hashimoto, H. (2010). Textbook of Computable General Equilibrium Modeling: Programming and Simulations Palgrave Macmillan, London Khác
[4] Lofgren, H., Harris, R. L. &amp; Robinson, S. (2002). A standard computable general equilibrium (CGE) model in GAMS International Food Policy Research Institute (IFPRI) Khác
[5] Pauw, K. (2003). Social accounting matrices and economic modelling. No.1852-2016-152552 Khác
[6] Pyatt, G. (1988). A SAM approach to modeling. Journal of Policy Modeling, 10(3), 327-352 Khác
[7] Santos, S. (2011). Constructing SAMs from the SNA. Technical University of Lisbon Khác
[8] Stone, R. (1961). Input-Output and National Accounts. OEEC, Paris Khác
[9] Stone, R. (1962). Multiple classifications in social accounting. Bulletin de l’Institut International de Statistique, 39(3), 215-233 Khác
[10] Sue Wing, I. (2004). Computable General Equilibrium Models and Their Use in Economy-Wide Policy Analysis. MIT Joint Program on the Science and Policy of Global Change Khác
[11] Trinh, T. H. (2017). A primer on GDP and economic growth. International Journal of Economic Research, 14(5), 13-24 Khác
[12] Trinh, T. H. (2018). Towards a paradigm on the value. Cogent Economics &amp; Finance, 6(1) Khác
[13] Trinh, T. H. (2019). General Equilibrium Modeling for Economic Policy Analysis: A Conceptual Framework. Proceedings of the 27th EBES Conference, Bali – Indonesia, 584-610 Khác
[14] United Nations. (1968). A System of National Accounts, Studies in Methods. New York Khác
[15] United Nations., European Commission., International Monetary Fund., Organisation for Economic Co- operation and Development. &amp; World Bank. (2009). System of national accounts 2008. United Nations, New York Khác
[16] Walras, L. (1874). Elements of Pure Economics. London: George Allen and Unwin (Reprinted: 1954) Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2: Tiếp cận đo lường GDP cho ngành i - Hội thảo Khoa học cấp quốc gia: Mô hình cân bằng tổng thể và các phương pháp phân tích tác động của các hiệp định thương mại tự do đến cơ cấu kinh tế quốc gia
Hình 2 Tiếp cận đo lường GDP cho ngành i (Trang 10)
Hình 3: Dòng luân chuyển của nền kinh tế - Hội thảo Khoa học cấp quốc gia: Mô hình cân bằng tổng thể và các phương pháp phân tích tác động của các hiệp định thương mại tự do đến cơ cấu kinh tế quốc gia
Hình 3 Dòng luân chuyển của nền kinh tế (Trang 13)
Bảng 1: Cấu trúc cơ bản của SAM - Hội thảo Khoa học cấp quốc gia: Mô hình cân bằng tổng thể và các phương pháp phân tích tác động của các hiệp định thương mại tự do đến cơ cấu kinh tế quốc gia
Bảng 1 Cấu trúc cơ bản của SAM (Trang 13)
Hình 1. Cấu trúc cơ bản của mô hình DCGE - Hội thảo Khoa học cấp quốc gia: Mô hình cân bằng tổng thể và các phương pháp phân tích tác động của các hiệp định thương mại tự do đến cơ cấu kinh tế quốc gia
Hình 1. Cấu trúc cơ bản của mô hình DCGE (Trang 31)
Bảng 2. Thuế suất thuế nhập khẩu (%) các ngành - Hội thảo Khoa học cấp quốc gia: Mô hình cân bằng tổng thể và các phương pháp phân tích tác động của các hiệp định thương mại tự do đến cơ cấu kinh tế quốc gia
Bảng 2. Thuế suất thuế nhập khẩu (%) các ngành (Trang 32)
Bảng 3. Tác động của giảm thuế nhập khẩu đến GDP - Hội thảo Khoa học cấp quốc gia: Mô hình cân bằng tổng thể và các phương pháp phân tích tác động của các hiệp định thương mại tự do đến cơ cấu kinh tế quốc gia
Bảng 3. Tác động của giảm thuế nhập khẩu đến GDP (Trang 33)
Bảng 4. Tác động của giảm thuế nhập khẩu đến nhập khẩu, xuất khẩu - Hội thảo Khoa học cấp quốc gia: Mô hình cân bằng tổng thể và các phương pháp phân tích tác động của các hiệp định thương mại tự do đến cơ cấu kinh tế quốc gia
Bảng 4. Tác động của giảm thuế nhập khẩu đến nhập khẩu, xuất khẩu (Trang 35)
Hình 2. Ảnh hưởng tràn và ảnh hưởng ngược liên vùng - Hội thảo Khoa học cấp quốc gia: Mô hình cân bằng tổng thể và các phương pháp phân tích tác động của các hiệp định thương mại tự do đến cơ cấu kinh tế quốc gia
Hình 2. Ảnh hưởng tràn và ảnh hưởng ngược liên vùng (Trang 67)
Bảng 1 cho thấy hiệu quả lan tỏa từ cầu cuối cùng đến sản lượng của khu vực Đông Nam Bộ là cao  nhất (1,62), tiếp theo là vùng ĐBSCL (1,4) và phần còn lại của Việt Nam (1,38) - Hội thảo Khoa học cấp quốc gia: Mô hình cân bằng tổng thể và các phương pháp phân tích tác động của các hiệp định thương mại tự do đến cơ cấu kinh tế quốc gia
Bảng 1 cho thấy hiệu quả lan tỏa từ cầu cuối cùng đến sản lượng của khu vực Đông Nam Bộ là cao nhất (1,62), tiếp theo là vùng ĐBSCL (1,4) và phần còn lại của Việt Nam (1,38) (Trang 69)
Bảng  1. Ảnh hưởng liên vùng - Hội thảo Khoa học cấp quốc gia: Mô hình cân bằng tổng thể và các phương pháp phân tích tác động của các hiệp định thương mại tự do đến cơ cấu kinh tế quốc gia
ng 1. Ảnh hưởng liên vùng (Trang 69)
Bảng 2. Interregional effects by sector - Hội thảo Khoa học cấp quốc gia: Mô hình cân bằng tổng thể và các phương pháp phân tích tác động của các hiệp định thương mại tự do đến cơ cấu kinh tế quốc gia
Bảng 2. Interregional effects by sector (Trang 70)
Bảng 3. Ảnh hưởng lan tóa của các nhân tố của cầu cuối cùng đến sản lượng và thu nhập - Hội thảo Khoa học cấp quốc gia: Mô hình cân bằng tổng thể và các phương pháp phân tích tác động của các hiệp định thương mại tự do đến cơ cấu kinh tế quốc gia
Bảng 3. Ảnh hưởng lan tóa của các nhân tố của cầu cuối cùng đến sản lượng và thu nhập (Trang 70)
Bảng 4. Ảnh hưởng về giá trị tăng thêm khi thay đổi sản lượng nông nghiệp vùng Tây nam bộ - Hội thảo Khoa học cấp quốc gia: Mô hình cân bằng tổng thể và các phương pháp phân tích tác động của các hiệp định thương mại tự do đến cơ cấu kinh tế quốc gia
Bảng 4. Ảnh hưởng về giá trị tăng thêm khi thay đổi sản lượng nông nghiệp vùng Tây nam bộ (Trang 71)
Bảng 1. Sơ đồ SAM dùng trong tính toán nhân tử - Hội thảo Khoa học cấp quốc gia: Mô hình cân bằng tổng thể và các phương pháp phân tích tác động của các hiệp định thương mại tự do đến cơ cấu kinh tế quốc gia
Bảng 1. Sơ đồ SAM dùng trong tính toán nhân tử (Trang 82)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w