Bài viết đi sâu phân tích thực trạng, các cơ hội, triển vọng, các thách thức và rủi ro cho ngành du lịch khi Việt Nam gia nhập Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC). Trên cơ sở các phân tích chuyên sâu, bài viết cũng đề xuất một số chính sách cho cơ quan chức năng nhằm phát triển mạnh mẽ, bền vững hơn nữa ngành du lịch trong bối cảnh Việt Nam gia nhập AEC trong thời gian tới.
Trang 1CƠ HỘI – THÁCH THỨC CHO NGÀNH DU LỊCH KHI VIỆT NAM GIA NHẬP CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT CHÍNH SÁCH
OPPORTUNITIES - CHALLENGES FOR THE TOURISM INDUSTRY WHEN VIETNAM PARTICIPATES IN ASEAN ECONOMIC COMMUNITY AND THE PROPOSAL OF SOME
POLICY
TS Lê Thanh Tùng
Khoa Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Tôn Đức Thắng
lethanhtung@tdt.edu.vn
TÓM TẮT
Trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam thì du lịch luôn được coi là một trong những ngành kinh
tế dịch vụ quan trọng hàng đầu Số liệu về thực trạng cho thấy du lịch Việt Nam đã có bước phát triển mạnh trong hai thập kỷ trở lại đây, tuy nhiên vẫn còn nhiều tiềm năng chưa được khai thác hết Bài viết đi sâu phân tích thực trạng, các cơ hội, triển vọng, các thách thức và rủi ro cho ngành du lịch khi Việt Nam gia nhập Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) Trên cơ sở các phân tích chuyên sâu, bài viết cũng đề xuất một số chính sách cho cơ quan chức năng nhằm phát triển mạnh mẽ, bền vững hơn nữa ngành du lịch trong bối cảnh Việt Nam gia nhập AEC trong thời gian tới
Từ khóa: Ngành du lịch, AEC, Cơ hội – thách thức
ABSTRACT
In the social - economic development strategy of Vietnam, tourism has always been regarded as one of the most important economics - services industries Data on the current situation shows that Vietnam's tourism has significantly grown in the past two decades, however, there is still much untapped potential before The article deeply analyzes the situation, opportunities, prospects, challenges and risks for the tourism industry when Vietnam participates in ASEAN Economic Community (AEC) Based on in-depth analysis, the article also proposes a number
of policies for authorities to develop tourism industry more considerably and sustainably in the context of the participation of Vietnam in AEC in the future
Keywords: Tourism, AEC, Opportunity – Challenges
1 Đặt vấn đề
Trong chiến lược phát triển của nhiều quốc gia trong khu vực và trên thế giới, du lịch được xem là ngành ―công nghiệp không khói‖ với những đóng góp to lớn về thu nhập, việc làm và phúc lợi xã hội Từ năm 2001 ngành du lịch Việt Nam đã được Nhà nước quy hoạch là ngành dịch vụ mũi nhọn trong cơ cấu tổng sản phẩm quốc nội của đất nước Trong chiến lược phát triển ngành du lịch Chính phủ đã đề ra mục tiêu đến năm 2020, Việt Nam đón 10-10,5 triệu lượt khách du lịch quốc tế và 47-48 triệu lượt khách du lịch nội địa, tổng thu từ lĩnh vực du lịch đạt 18-19 tỷ USD, đóng góp từ 6,5-7% GDP cả nước, tạo ra 3 triệu việc làm, trong đó có 870.000 lao động trực tiếp làm trong ngành du lịch Cũng theo dự báo của Chính phủ thì vào năm 2030 tổng thu từ ngành du lịch sẽ tăng gấp hai lần năm 202022
Tuy nhiên mặc dù có nhiều tiềm năng nhưng những năm qua ngành du lịch của Việt Nam vẫn chưa phát huy được nhiều thế mạnh và nhìn chung sự phát triển cũng chưa tương xứng với các nguồn lực đang
có Cùng với xu hướng đẩy mạnh hội nhập của nền kinh tế thì Việt Nam đang chuẩn bị gia nhập Cộng đồng kinh tế ASEAN (ASEAN Economic Community, viết tắt: AEC) với 10 quốc gia trong khu vực, sự kiện này đã đặt ngành du lịch Việt Nam cũng đứng trước nhiều cơ hội to lớn để phát triển cũng như cả các thách thức cấp bách đang đặt ra
22
Quyết định 2473/QĐ-TTg/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ―Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030‖
Trang 2Do đó, bài viết này hướng mục tiêu nghiên cứu vào giải quyết ba vấn đề: (1) Đánh giá tổng quan thực trạng ngành du lịch Việt Nam trong những năm qua, (2) Nhận diện các cơ hội và thách thức từ việc Việt Nam gia nhập AEC và (3) đề xuất một số giải pháp cho các nhà quản lý và các doanh nghiệp trong bối cảnh AEC được thành lập trong thời gian tới
Bảng 1 Dự báo chỉ tiêu phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030
Nguồn: Quyết định 2473/QĐ-TTg/2011
Tuy nhiên mặc dù có nhiều tiềm năng nhưng những năm qua ngành du lịch của Việt Nam vẫn chưa phát huy được nhiều thế mạnh và nhìn chung sự phát triển cũng chưa tương xứng với các nguồn lực đang
có Cùng với xu hướng đẩy mạnh hội nhập của nền kinh tế thì Việt Nam đang chuẩn bị gia nhập Cộng đồng kinh tế ASEAN (ASEAN Economic Community, viết tắt: AEC) với 10 quốc gia trong khu vực, sự kiện này đã đặt ngành du lịch Việt Nam cũng đứng trước nhiều cơ hội to lớn để phát triển cũng như cả các thách thức cấp bách đang đặt ra
Do đó, bài viết này hướng mục tiêu nghiên cứu vào giải quyết ba vấn đề: (1) Đánh giá tổng quan thực trạng ngành du lịch Việt Nam trong những năm qua, (2) Nhận diện các cơ hội và thách thức từ việc Việt Nam gia nhập AEC và (3) đề xuất một số giải pháp cho các nhà quản lý và các doanh nghiệp trong bối cảnh AEC được thành lập trong thời gian tới
2 Thực trạng phát triển ngành du lịch Việt Nam trong những năm gần đây
Trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 của Việt Nam thì ngành du lịch được xem như ngành mũi nhọn trong lĩnh vực dịch vụ Với ưu thế của một quốc gia có chiều sâu văn hóa hơn 4000 năm lịch sử, nhiều danh lam thắng cảnh, có bờ biển trải dài gần 3300 km và nhiều vịnh, đảo dọc lãnh hải nên ngành du lịch Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ trong hơn hai thập kỷ qua Theo số liệu của Tổ chức du lịch thế giới (UNWTO) thì năm 2013 tăng trưởng du lịch thế giới bình quân ở mức 5%, tuy nhiên khu vực Đông Nam Á lại có mức tăng trưởng trên 8% Trong đó, Việt Nam hiện đang nằm trong danh sách 5 điểm đến hàng đầu khu vực Đông Nam Á và danh sách 100 điểm đến hấp dẫn nhất của du lịch thế giới.23
Trên thực tế trong hơn hai thập kỷ qua ngành du lịch Việt Nam đã có những bước phát triển rõ rệt
Cụ thể nếu 1990 mới chỉ có 260 ngành lượt khách du lịch quốc tế đến Việt Nam thì đến năm 2000 con số
23
http://mkt.unwto.org/
Trang 3này đã đạt 2,1 triệu lượt khách, năm 2010 đón được 5 triệu lượt và năm 2013 là 7,5 triệu lượt Đồng thời, lượng khách du lịch nội địa cũng ngày càng tăng: năm 2000 là 11,2 triệu lượt, 2005 là 16,1 triệu lượt, năm 2010 là 28 triệu lượt và năm 2013 là 35 triệu lượt Trong đó, tổng nguồn thu từ du lịch cũng có sự tăng trưởng mạnh mẽ khi năm 2000 mới chỉ đạt 17,4 nghìn tỷ, đến năm 2010 đạt 96 nghìn tỷ nhưng năm
2013 đã là 200 nghìn tỷ đồng Tuy nhiên, theo số liệu từ Tổng cục thống kê thì trong năm 2014 ngành du lịch đã thu hút khoảng 7,8 triệu lượt khách quốc tế (gấp 30 lần năm 1990) với doanh thu đạt khoảng hơn
230 nghìn tỷ đồng (tương đương 10,05 tỷ USD), chiếm gần 6% GDP toàn nền kinh tế.24 Mục tiêu của ngành du lịch Việt Nam là đạt 12 triệu khách quốc tế vào năm 2020 với doanh thu dự kiến khoảng 18-19
tỷ USD
Hình 1 Số lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam giai đoạn 2000-2014
Nguồn: Tổng cục thống kê
Hiện tại, du lịch là một trong 5 ngành kinh tế mang lại nguồn thu ngoại tệ lớn nhất cho quốc gia đất nước, chiếm trên 55% cơ cấu xuất khẩu dịch vụ của nền kinh tế Ngành du lịch không những có sự đóng góp quan trọng vào gia tăng tổng cầu, sản lượng quốc gia mà còn tạo ra nhiều công ăn việc làm, góp phần giải quyết vấn đề an sinh xã hội Tại thời điểm năm 2013, ngành du lịch Việt Nam đã giải quyết việc làm cho khoảng 1,75 triệu lao động, trong đó 550 nghìn lao động trực tiếp và 1,2 triệu lao động gián tiếp Hoạt động du lịch còn góp phần tạo sự lan tỏa trong phát triển kinh tế xã hội từ đô thị đến nông thôn,
từ vùng ven biển, hải đảo đến vùng núi, cao nguyên Sự phát triển du lịch đã góp phần thay đổi diện mạo
đô thị và nông thôn, giảm chênh lệch, phân hóa giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư Theo số liệu dự báo của Tổng cục du lịch thì đến năm 2020 ngành du lịch sẽ giải quyết việc làm cho hơn 4 triệu lao động và năm 2030 là hơn 6 triệu lao động
Tuy nhiên, mặc dù có nhiều tiềm năng phát triển nhưng hiện tại Việt Nam vẫn chỉ đứng thứ 5 trong
số các quốc gia ASEAN về thu hút khách du lịch quốc tế Cụ thể trong năm 2014, Việt Nam đón được 7,8 triệu khách du lịch quốc tế thấp hơn nhiều khi so sánh với Malaysia đón 27,4 triệu, Thái Lan là 24,8 triệu lượt, Singapore với 15,1 triệu lượt và Indonesia là 9,4 triệu lượt khách quốc tế Bên cạnh đó, trong những năm gần đây các quốc gia như Lào, Campuchia và Myanma cũng đang phát triển ngành du lịch mạng mẽ với tốc độ gia tăng khách quốc tế cao hơn Việt Nam
Một vấn đề tiếp theo là tỷ lệ khách quốc tế tiếp tục quay lại du lịch Việt Nam còn hạn chế, cụ thể theo số liệu từ Tổng cục Thống kê cho thấy tỷ lệ khách quốc tế đến Việt Nam lần đầu và khách đến từ hai
24
Tổng cục thống kê
Trang 4lần trở lên lần lượt là 72% và 28% (năm 2003); 65,3% và 24,7% (năm 2005), 56,3% và 43,7% (năm 2006); 60,4% và 39,6% (năm 2009); 61,1% và 38,9% (năm 2011); 66,1% và 33,9% (năm 2013) Số liệu
đã cho thấy lượng khách quay trở lại không những không tăng lên mà lại đang có biểu hiện giảm đi theo thời gian khi từ mức 43,7% quay lại vào năm 2006 đã sụt xuống mức 33,9% năm 2013, đây là biểu hiện tiêu cực đáng chú ý của ngành du lịch hiện nay
Đặc biệt lưu ý là hiện tượng sụt giảm khách du lịch đang diễn ra, từ mức tăng trưởng số lượng khách hàng năm luôn đạt hai con số thì năm 2014 số lượng khách du lịch quốc tế chỉ tăng 4% so với năm
2013 Tuy nhiên, tính chung trong 6 tháng đầu năm 2015 thì khách du lịch quốc tế đến Việt Nam ước tính chỉ đạt 3,8 triệu lượt người, giảm 11,3% so với cùng kỳ năm 2014 Đáng chú ý tháng 06 năm 2015 đã là tháng thứ 13 liên tiếp có sự sụt giảm của số lượng khách du lịch đến Việt Nam, trong đó phần lớn là giảm
ở mức hai con số
Hiện tượng sụt giảm số lượng khách du lịch trong hai năm trở lại đây chịu sự tác động rất lớn từ số lượng khách đến từ Trung Quốc Cụ thể, số liệu thống kê đã cho thấy khách du lịch đến từ Trung Quốc có mức sụt giảm lớn nhất Trong 6 tháng đầu năm 2015, Việt Nam đón 814 nghìn lượt khách đến từ Trung Quốc, giảm tới 30% so với cùng kỳ năm trước Cùng với các diễn biến đáng lo ngại về quan hệ biển đảo, lãnh thổ giữa Trung Quốc và các quốc gia ASEAN thì dự báo sự sụt giảm lượng khách du lịch từ Trung Quốc sẽ vẫn tiếp tục diễn ra trong thời gian tới Bên cạnh đó mặc dù rất gần gũi về mặt địa lý nhưng trong năm 2014 khu vực ASEAN chỉ có 3 quốc gia là Campuchia, Malaysia và Thái Lan là nằm trong danh sách 10 quốc gia có khách du lịch tới Việt Nam nhiều nhất Đây là minh chứng cho thấy nếu tận dụng, khai thác tốt các tiềm năng, cơ hội từ AEC được thành lập thì chắc chắn số lượng khách du lịch từ ASEAN tới Việt Nam sẽ tăng lên nhanh trong thời gian tới
Hình 2 Mười quốc gia có lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam nhiều nhất trong năm 2014
Nguồn: Tổng cục thống kê
Cũng cần chú ý là trong vài năm gần đây, số lượt khách quốc tế đến Việt Nam tăng chậm hơn nhiều nhiều so với một số quốc gia nước trong khu vực Năm 2014, lượng khách tới Việt Nam thấp hơn nhiều so với Malaysia, Thái Lan, Singapore hay Indonesia Theo điều tra của Tổng cục du lịch năm 2013 thì có 68,5% tổng số khách đánh giá Việt Nam có phong cảnh đẹp nhưng khi được hỏi về mức độ hài lòng về sự phục vụ thì chỉ có 39% tổng số khách được phỏng vấn đánh giá tốt
Do đặc điểm gần gũi về địa lý nên trong những năm qua các quốc gia ASEAN luôn đóng góp lượng một lượng lớn khách du lịch đến Việt Nam Kể từ năm 1995 khi Việt Nam gia nhập vào ASEAN
Trang 5thì số khách du lịch từ các quốc gia trong vùng Đông Nam Á tăng lên mạnh, thường chiếm khoảng từ 60%-75% lượng khách hàng năm, tuy nhiên khi quá trình hội nhập của Việt Nam ngày càng mạnh mẽ thì
tỷ trọng du khách đến từ các quốc gia ASEAN có chiều hướng giảm dần về mức khoảng 45% vào năm
2014
Cụ thể, theo số liệu của Tổng cục thống kê thì năm 2005 Việt Nam thu hút được 3,5 triệu khách du lịch quốc tế thì số khách đến từ các quốc gia ASEAN là hơn 2,5 triệu (chiếm khoảng 73%), đến năm 2010 trong số 5 triệu lượt khách thì từ ASEAN là khoảng 3 triệu (chỉ còn chiếm 60%) Tuy nhiên vào năm
2014 khi số lượng khách du lịch thu hút được đạt hơn 7,8 triệu thì số lượng khách từ ASEAN là 3,5 triệu, chỉ còn chiếm 44% tổng lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam trong năm Nếu so sánh năm 2005 với năm2005 thì số liệu của ngành du lịch đã cho thấy mức độ gia tăng khách từ ngoài ASEAN đã tăng từ 0,9 triệu lên mức 4,3 triệu (tăng 4,7 lần) nhưng số khách đến từ ASEAN chỉ tăng từ 2,5 triệu lên 3,5 triệu (chỉ tăng 1,3 lần)
Hình 3 Tăng trưởng số lượng khách từ các quốc gia ASEAN và ngoài ASEAN, giai đoạn 2005-2014
Nguồn: Tổng cục thống kê
Cũng từ Hình 3 cho thấy mặc dù các quốc gia ASEAN đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của du lịch Việt Nam nhưng đang có sự chững lại nhất định trong những năm gần đây Số lượng khách tăng chậm và tỷ lệ khách du lịch từ ASEAN chiếm tỷ trọng ngày càng thấp đã cho thấy ngành du lịch Việt Nam vẫn chưa phát huy được các thế mạnh trong việc biến các quốc gia khu vực ASEAN thành địa bàn phát triển then chốt Do đó sự kiện Cộng đồng kinh tế ASEAN được thành lập vào cuối năm 2015 được kỳ vọng sẽ tạo động lực cho sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch Việt Nam trong thời gian tới
3 Cơ hội và thách thức cho ngành du lịch Việt Nam khi AEC được thành lập
Cộng đồng kinh tế ASEAN (ASEAN Economic Community, viết tắt: AEC) là tên gọi một khối kinh tế khu vực của các quốc gia thành viên ASEAN dự kiến sẽ được thành lập vào cuối năm 2015 Trên thực tế, AEC là một trong ba trụ cột quan trọng của Cộng đồng ASEAN nhằm thực hiện các mục tiêu đề
Trang 6ra trong Tầm nhìn ASEAN 202025 AEC được thành lập nhằm mục đích hướng đến việc tạo dựng một thị trường chung và cơ sở sản xuất thống nhất cho các quốc gia thành viên ASEAN, từ đó hình thành dòng chu chuyển tự do của hàng hóa, dịch vụ, vốn đầu tư, lao động trong ASEAN Bên cạnh đó, mục tiêu của AEC còn là thúc đẩy phát triển kinh tế một cách công bằng, thiết lập một khu vực kinh tế có năng lực cạnh tranh cao để tạo nền tảng giúp ASEAN có thể hội nhập đầy đủ vào nền kinh tế toàn cầu
Nhìn tổng thể thì AEC là chính là tự do hóa thương mại có thế hiểu là một quá trình loại bỏ từng bước các phân biệt đối xử, giảm dần và tiến tới xóa bỏ các hàng ráo thuế quan và phi thuế quan, giấy phép xuất nhập khẩu, quy định về tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa, yêu cầu kiểm dịch và phương pháp đánh thuế giữa các quốc gia Sự kiện AEC được thành lập vào cuối năm 2015 sẽ đánh dấu sự hội nhập toàn diện các nền kinh tế 10 nước Đông Nam Á, tạo ra thị trường chung của một khu vực có dân số 600 triệu người và GDP hàng năm khoảng 2.000 tỉ USD Bên cạnh đó, AEC ra đời cùng với việc Việt Nam
mở rộng các hiệp định tự do thương mại sẽ tạo động lực giúp các doanh nghiệp mở rộng giao thương, thu hút đầu tư, đẩy mạnh xuất khẩu, cắt giảm chi phí nhập khẩu, hạ giá thành sản phẩm, tiếp cận các thị trường rộng lớn hơn
Kết quả phân tích, đánh giá từ tổ chức Deloitte đã cho thấy Indonesia, Thái Lan và Việt Nam sẽ là
3 quốc gia trong khu vực hưởng lợi lớn nhất từ AEC Cụ thể, Indonesia và Thái Lan đứng đầu với 17% cơ hội, xếp thứ 2 là Việt Nam với 15% cơ hội Sau đó lần lượt Singapore, Malaysia, Campuchia, Philipines, Myanmar, Lào và Brunei là các quốc gia thụ hưởng lợi ích từ AEC Chủ động hội nhập đang là xu thế tất yếu trong của nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam Tuy nhiên quá trình hội nhập không chỉ mang lại các cơ hội, triển vọng phát triển mà còn cả các nguy cơ, thách thức cho từng quốc gia Nhận diện chính xác các triển vọng và cả thách thức để từ đó đưa ra các giải pháp là biện pháp hiệu quả nhất nhằm thực hiện hội nhập thành công
Đứng trước ngưỡng cửa của việc thành lập AEC thì ngành du lịch Việt Nam sẽ có những cơ hội, triển vọng phát triển như sau:
Thứ nhất: AEC được thành lập thì ngành du lịch Việt Nam sẽ có một thị trường mục tiêu có gần
600 triệu người, rất gần gũi về mặt điạ lý, nhiều nét tương đồng về văn hóa; các quốc gia AEC đã có một lịch sử lâu dài gắn kết cả về chính trị, kinh tế, giáo dục, văn hóa nên chắc chắn sẽ tạo đà cho sự phát triển của nguồn khách du lịch tiềm năng cho thị trường Việt Nam Bên cạnh đó, các Chính phủ khu vực ASEAN luôn ủng hộ hợp tác nội khối, thúc đẩy phát triển các mối quan hệ giữa các quốc gia nội khối cũng giúp việc truyền thông hình ảnh của du lịch Việt Nam đến các quốc gia này dễ dàng hơn
Thứ hai: Khi AEC được thành lập sẽ thúc đẩy mạnh mẽ sự luân chuyển của vốn đầu tư, hàng hóa,
dịch vụ trong các quốc gia ASEAN do đó cùng với sự phát triển của dòng chảy kinh tế thì bao giờ cũng kéo theo sự phát triển của dòng chảy dịch vụ du lịch, đây là điều tất yếu đã được chứng minh tại các quốc gia thuộc liên minh Châu Âu EU Việt Nam là một quốc gia đang phát triển năng động, có sự hấp dẫn đầu
tư do đó trong tương lại ngành du lịch Việt Nam sẽ được hưởng lợi nhiều từ sự hấp dẫn của nền kinh tế Việt Nam trong quá trình thu hút các nguồn lực để phục vụ phát triển kinh tế
Thứ ba: Cùng với sự thành lập của AEC thì mạng lưới đường giao thông, cơ sở hạ tầng giao thông
giữa các quốc gia trong khu vực sẽ được đẩy mạnh đầu tư xây dựng, nâng cấp nhằm tạo sự kết nối ngày càng sâu rộng giữa các quốc gia trong khối Cơ sở hạ tầng giao thông phát triển, giao thương ngày càng
25
Tầm nhìn ASEAN 2020 được hoạch định tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 9 đề ra mục tiêu thành lập cộng đồng ASEAN gồm ba trụ cột chính là Cộng đồng An ninh – Chính trị ASEAN (APSC), Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) và Cộng đồng Văn hóa – Xã hội ASEAN (ASCC)
Trang 7thuận tiện giữa các quốc gia sẽ thúc đẩy ngành du lịch Việt Nam phát triển Bên cạnh đó, khi dòng du khách đến du lịch một quốc gia ASEAN thì họ cũng sẽ dễ dàng chuyển dịch qua quốc gia khác trong khối nhờ lộ trình giảm thủ tục hành chính và tăng kết nối hạ tầng trong tương lai Bên cạnh đó, thủ tục hành chính đơn giản hóa sẽ giúp Việt Nam có lợi thế vì mặt bằng giá sinh hoạt, lưu trú tại nước ta tương đối rẻ
so với một số quốc gia trong khu vực từ đó sẽ là điểm lựa chọn du lịch được ưu tiên nếu tạo được các khu
du lịch, điểm du lịch của Việt Nam phát triển ngang tầm với một số điểm du lịch thu hút được nhiều khách tại Thái Lan hoặc Malaysia
Thứ tư: Việc AEC ra đời cũng sẽ tạo thuận lợi cho ngành du lịch Việt Nam trong việc thu hút
nguồn vốn đầu tư từ các nước ASEAN vào xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch như khu du lịch, khách sạn, nhà hàng… Từ đó, các tiềm năng, thế mạnh của Việt Nam sẽ được các đối tác nước ngoài phát huy trong mục tiêu biến các khu du lịch Việt Nam thành các trung tâm du lịch tầm cỡ trong khu vực Thời gian gần đây ngày càng nhiều dự án FDI từ các quốc gia ASEAN vào thị trường bất động sản Việt Nam (đặc biệt là bất động sản nghỉ dưỡng) là dấu hiệu cho thấy FDI vào du lịch sẽ tăng mạnh trong thời gian tới vì trong thị trường bất động sản vì dự án bất động sản muốn tiêu thụ mạnh đều phải gắn với các điểm khu lịch hoặc điểm nghỉ dưỡng lân cận
Thứ năm: Với sự luân chuyển tự do của nhân lực trong ngành du lịch, nhà hàng khách sạn khi
AEC được thành lập cũng tạo cơ hội cho ngành du lịch Việt Nam có được nguồn lao động chất lượng cao
từ các quốc gia có thế mạnh về du lịch trong khu vực Bên cạnh đó, các doanh nghiệp du lịch Việt Nam cũng được tiếp cận với các phương pháp quản trị hiện đại hiện đang được áp dụng tại một số quốc gia trong khu vực nhưng đang phát triển mạnh về lĩnh vực du lịch lữ hành
Quá trình hội nhập luôn tồn tại cả hai mặt của một vấn đề, do đó bên cạnh các cơ hội, triển vọng thì ngành du lịch Việt Nam cũng đồng thời phải đối mặt với các nguy cơ, thách thức từ một số điểm còn tồn tại dưới đây:
Thứ nhất: Ngành du lịch Việt Nam mặc dù đã có những bước phát triển đáng ghi nhận trong
những năm qua nhưng nhìn chung vẫn chưa đáp ứng được sự mong đợi và chưa tương xứng với các tiềm năng sẵn có Bên cạnh một số doanh nghiệp điển hình tiên tiến thì nhìn tổng quan ngành du lịch Việt Nam chung và các doanh nghiệp du lịch vẫn còn mang dáng dấp của mô hình kinh tế tập trung, bao cấp với sở hữu nhà nước và cơ chế bộ chủ quản vẫn còn được duy trì Do đó khi AEC được thành lập kéo theo sự cạnh tranh tăng cao sẽ tạo áp lực lên ngành du lịch và các doanh nghiệp Việt Nam khi phải cạnh tranh bình đẳng với các quốc gia có thế mạnh về du lịch và cộng đồng doanh nghiệp kinh doanh du lịch chuyên nghiệp từ các quốc gia này
Thứ hai: Là một ngành dịch vụ mũi nhọn, rất quan trọng đối với nền kinh tế khi năm 2013 tạo ra
doanh thu chiếm hơn 5% GDP, giải quyết việc làm cho 1,7 triệu lao động nhưng hiện tại ngành du lịch vẫn chỉ có cơ quan chuyên trách là Tổng cục du lịch và Bộ chủ quản ngoài chức năng quản lý du lịch còn
có các chức năng quản lý văn hóa và thể thao Từ đó cho thấy mặc dù đã xác định được tầm quan trọng của ngành du lịch nhưng Nhà nước vẫn chưa thực sự đặt ngành du lịch tương xứng với tầm vóc của ngành trong thời kỳ đẩy mạnh hội nhập quốc tế hiện nay Nếu Việt Nam không thay đổi mạnh mẽ cơ chế thì AEC sẽ mang lại nhiều áp lực, nguy cơ cho cộng đồng doanh nghiệp du lịch trong nước khi phải đối mặt với cộng đồng doanh nghiệp từ ASEAN vốn đã có nhiều thế mạnh trong kinh doanh du lịch
Thứ ba: Nội lực của cộng đồng doanh nghiệp du lịch Việt Nam còn hạn chế, trình độ quản trị còn
non kém, thiếu hụt đội ngũ chuyên gia mang tầm quốc tế, chất lượng nguồn nhân lực chưa cao (hiện mới
có khoảng 40% tổng số lao động được đào tạo hoặc bồi dưỡng nghiệp vụ du lịch), thủ tục hành chính rườm rà, công tác truyền thông còn yếu… là những rào cản làm hạn chế việc hội nhập thành công của
Trang 8Việt Nam trong thời gian tới Theo Báo cáo xếp hạng về năng lực cạnh tranh của các quốc gia thì điểm số đánh giá về du lịch Việt Nam còn thấp, cụ thể năm 2012-2013 Việt Nam xếp thứ 80/140 nước, trong khi
đó khá nhiều nước trong khu vực ASEAN như Singapore xếp thứ 10, Malaysia xếp thứ 34, Thái Lan xếp thứ 4326… Trong số các tiêu chí này thì các chỉ số của Việt Nam về cơ sở hạ tầng, khả năng tiếp cận điểm đến, visa cửa khẩu, môi trường pháp lý, mức độ ưu tiên cho du lịch, nguồn nhân lực du lịch… còn thấp Việc AEC được hình thành sẽ ngày càng làm nổi rõ các yếu kém của ngành du lịch Việt Nam trong thời gian tới nếu chúng ta không quyết liệt khắc phục các yếu kém này
Thứ tư: Mặc dù đã được quan tâm đầu tư mạnh mẽ trong những năm gần đây nhưng cơ sở hạ tầng
nói chung và cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch của Việt Nam vẫn còn hạn chế, sự kết nối hạ tầng giao thông như đường bộ, cảng biển, cảng hàng không của Việt Nam với các quốc gia trong khu vực chưa thuận lợi
Cơ sở hạ tầng yếu kém là một trong những nguyên nhân khiến khách du lịch quốc tế không hài lòng nhất khi tới Việt Nam Cùng với tình trạng tắc nghẽn giao thông, quy định tốc độ giao thông không hợp lý, kém an toàn trên một số tuyến du lịch đã làm cho chỉ số cạnh tranh về cơ sở hạ tầng của Việt Nam thấp Tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng cũng đặt ngành du lịch trước những nguy cơ khi gia nhập AEC do Việt Nam bị đánh giá thấp về chỉ tiêu chất lượng môi trường so với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới.27 Đây là một vấn đề nan giải nói chung không chỉ đối với ngành du lịch mà còn đang là điểm nghẽn của nền kinh tế Việt Nam hiện nay khi mà việc cải thiện điều kiện cơ sở hạ tầng cần
có thời gian và nguồn vốn đầu tư lớn
Thứ năm: Các hiện tượng tiêu cực như lừa đảo, ―chặt chém‖, vòi vĩnh, chèo kéo… khách du lịch
diễn ra phổ biến nhưng vẫn chưa được xử lý triệt để, chưa có các chế tài răn đe đủ mạnh đã tạo các ấn tượng không đẹp trong lòng du khách Từ đó tỷ lệ khách du lịch quốc tế quay lại Việt Nam là chưa cao, đang có xu hướng sụt giảm khi so với tổng lượng khách là minh chứng rõ nét nhất về sự thiếu chuyên nghiệp của công tác quản lý du lịch tại Việt Nam trong thời gian qua Bên cạnh đó, số lượng khách từ ASEAN có xu hướng bão hòa, đi ngang từ năm 2011 (Hình 3) đã cho thấy dường như du lịch Việt Nam đang ngày càng giảm tính hấp dẫn đối với du khách từ khu vực Đông Nam Á
4 Một số giải pháp chính sách thúc đẩy phát triển cho ngành du lịch Việt Nam trong bối cảnh AEC được thành lập thời gian tới
Sự kiện thành lập AEC đang là một trong các tâm điểm về quan hệ đối ngoại của Việt Nam trong năm 2015 Sự kiện này chắc chắn sẽ đem lại một triển vọng phát triển mới, mang tính đột phá trên nhiều lĩnh vực kinh tế xã hội cho tất cả các quốc gia khu vực ASEAN Thực tế, AEC mang đến cho ngành du lịch Việt Nam nhiều cơ hội, triển vọng phát triển nhưng cũng đồng thời đặt ngành nay trước những thách thức không nhỏ mà nếu không quan tâm, chủ động giải quyết thì AEC lại trở thành một áp lực lớn đối với
du lịch Việt Nam trong thời gian tới Dựa trên các phân tích thực trạng, cơ hội và nguy cơ ở phần trước, tác giả bài viết đề xuất một số giải pháp gửi tới nhà quản lý ngành cũng như cộng đồng doanh nghiệp của ngành du lịch nhằm tận dụng tốt các cơ hội và triệt tiêu các thách thức như sau:
Thứ nhất: Xây dựng và điều chỉnh chiến lược phát triển ngành du lịch cho phù hợp với thực tiễn
phát triển mới về hội nhập, gắn chiến lược phát triển với việc thành lập AEC Việc làm đầu tiên cần cập nhật, hiệu chỉnh chiến lược phát triển ngành du lịch trong bối cảnh mới, trong đó cần điều chỉnh các mục
26
Báo cáo về du lịch tại Diễn đàn kinh tế thế giới năm 2013
27
Báo cáo The Environmental Performance Index (EPI) của Đại học Yale và Đại học Columbia
của Mỹ thực hiện năm 2012, trong đó chỉ số về ảnh hưởng của chất lượng không khí, Việt Nam đứng thứ
123 trong bảng xếp hạng 132 quốc gia khảo sát, được xem là có không khí bẩn thứ 10 thế giới
Trang 9tiêu và đánh giá lại điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và nguy cơ phù hợp với tình hình mới của đất nước và các biến chuyển mau lẹ của tiến trình hợp tác giữa các nước trong khu vực, giữa cộng động ASEAN và thế giới Hoạch định một chiến lược phát triển đúng đắn là bước đi đầu tiên để có một ngành du lịch phát triển trong tương lai Trong chiến lược phát triển ngành du lịch cần phải làm rõ những lợi thế cạnh tranh của du lịch Việt Nam, những lĩnh vực du lịch tạo sự khác biệt cho ngành du lịch Việt Nam khi so sánh với các quốc gia trong khu vực
Thứ hai: Nâng tầm của cơ quan chuyên trách cho phát triển ngành du lịch Việt Nam Hiện tại cơ
quan chuyên trách cho phát triển du lịch là Tổng cục du lịch, nằm trong biên chế của Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch Việc đưa ngành du lịch là một ngành mang lại nhiều doanh thu cho ngân sách vào trong một Bộ phụ trách cả văn hóa và thể thao (là những lĩnh vực thường có chi tiêu ngân sách lớn) là một điều bất cập Trong thời gian tới cần nâng tầm cho cơ quan chuyên trách này lên một bậc bằng việc thành lập
Bộ du lịch như một số quốc gia trong khu vực đã thực hiện Tiếp theo cần thành lập Ủy ban cấp quốc gia chỉ đạo phát triển du lịch và Ủy ban này nên đứng đầu là một Phó thủ tướng và thành viên là các Thứ trưởng của một số Bộ, ngành có liên quan
Thứ ba: Cần tạo sự liên kết toàn diện giữa bộ, ngành với địa phương nhằm phát triển nhiều loại
hình du lịch, nhiều điểm du lịch đa dạng, phong phú Trên thực tế chỉ có nỗ lực từ phía Bộ chủ quản là chưa đủ mà cần có sự phối hợp, chung tay của toàn thể hệ thống chính trị từ trung ương đến địa phương thì mới có thể phát triển du lịch một cách đồng bộ Cần có chính sách đào tạo cho đội ngũ cán bộ quản lý
du lịch tại các địa phương nhằm theo kịp với xu hướng phát triển của ngành du lịch trong khu vực và trên thế giới Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh triển khai việc hình thành các chuỗi liên kết vùng trong phát triển du lịch giữa các địa phương nhằm khai thác tối đa lợi thế của du lịch trong cả một vùng lãnh thổ rộng lớn bao gồm nhiều tỉnh, thành phố Đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế gắn chặt với phát triển du lịch
Thứ tư: Khuyến khích vốn đầu tư tư nhân, đầu tư nước ngoài trong phát triển du lịch Trên thực tế,
một số khu vực phát triển du lịch thành công thì phần lớn do các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế
tư nhân đầu tư phát triển, điển hình như Nha Trang với Vinpearl Land hay đảo Tuần Châu tại Quảng Ninh… Nghiên cứu, đẩy mạnh cổ phần hóa các doanh nghiệp Nhà nước hoạt động trong lĩnh vực du lịch, cần có chính sách hạn chế đầu tư vốn ngân sách vào ngành du lịch mà thay vào đó là các nguồn vốn huy động từ xã hội hóa Phải xác định rõ trong chiến lược phát triển là du lịch không phải là ngành cần Nhà nước đóng vai trò chủ đạo hoặc phục vụ điều tiết vĩ mô, do đó cần giảm dần sự can thiệp của Nhà nước vào thị trường thông qua đội ngũ doanh nghiệp Tiếp tục thu hút thành phần kinh tế từ nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tham gia vào ngành du lịch, dùng các nguồn lực từ xã hội để phát triển thị trường du lịch
Thứ năm: Tăng cường đầu tư cho công tác nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong lĩnh vực du
lịch Có chính sách khuyến khích, ưu đãi cho một số trường đại học công lập, tư thục có đào tạo chuyên
ngành du lịch, nhà hàng khách sạn nhằm tận dụng cơ sở vật chất sẵn có của hệ thống đào tạo hiện hành nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của ngành du lịch Đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất của hệ thống các trường đào tạo nghề thuộc ngành du lịch quản lý nhằm đáp ứng các đòi hỏi về nhân lực chất lượng cao trong thời gian tới Nghiên cứu xây dựng, phát triển một số cơ sở đào tạo trọng điểm quốc gia
về du lịch, có cơ sở vật chất kỹ thuật, thiết bị giảng dạy đồng bộ, hiện đại Trong thời gian tới, ngành du lịch cần tiếp tục đẩy mạnh chuẩn hóa chất lượng giảng viên, chuẩn hóa giáo trình khung đào tạo du lịch
theo hướng tiên tiến, hiện đại và bắt kịp xu hướng phát triển thế giới
Thứ sáu: Tiếp tục đẩy mạnh cải cách công tác quản lý Nhà nước, thủ tục hành chính trong lĩnh
vực du lịch theo hướng thông thoáng, thân thiện với người nước ngoài nói chung và du khách quốc tế nói
Trang 10riêng Xây dựng hình ảnh thương hiện du lịch của Việt Nam thông qua các hình thức quảng cáo, tài trợ sự kiện, đại sứ thương hiệu để thế giới biết đến Việt Nam nhiều hơn (năm 2014 Việt Nam mới dành 3 triệu USD cho quảng bá du lịch, nhưng Thái Lan là khoảng 80 triệu USD, Malaysia là 100 triệu USD và Singapore đạt 130 triệu USD).28 Quảng bá hình ảnh các điểm du lịch tiêu biểu của Việt Nam như Vịnh
Hạ Long, Quần thể động Phong Nha-Kẻ Bàng, Vịnh Nha Trang… cũng như các điểm du lịch nhiều tiềm năng như Quần thể danh thắng Tràng An, hang động Sơn Đoòng… Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng cần có các biện pháp xử lý thật nghiêm nhằm tăng khả năng răn đe đối với các hiện tượng chèn ép, vòi vĩnh, ―chặt chém‖ khách du lịch đã xảy ra trong thời gian qua Phát động các chương trình quốc gia về phát triển du lịch tương tự như cuộc vận động khá thành công ―người Việt ưu tiên dùng hàng Việt‖ thời gian qua Nghiên cứu mở rộng việc miễn thị thực đơn phương cho khách du lịch vào Việt Nam (Thái Lan
đã miễn thị thực cho 61 nước, trong đó miễn thị thực đơn phương 49 nước; Malaysia là 155 nước, trong
đó miễn thị thực đơn phương là 85 nước; Singapore miễn thị thực cho 180 nước, thị thực đơn phương là
80 nước…)29
Thứ bảy: Nâng cao chất lượng hoạt động của các Hiệp hội trong ngành du lịch Cần định hướng
phát triển cho các Hiệp hội chính là nơi tạo lập và phát triển rộng rãi các diễn đàn để cộng đồng doanh nghiệp du lịch gặp gỡ, giao lưu và hợp tác phát triển Đẩy mạnh hợp tác giao lưu giữa cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam với cộng đồng doanh nghiệp ASEAN cũng như thế giới Đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước kinh doanh loại hình dịch vụ du lịch, từ đó kết hợp đưa các doanh nghiệp này thành công ty đại chúng để tiến tới niêm yết ngày càng nhiều mã cổ phiếu của ngành du lịch trên sàn giao dịch chứng khoán nhằm huy động các nguồn vốn đầu tư từ tư nhân, nước ngoài thông qua thị trường chứng khoán Đẩy mạnh quảng bá, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành du lịch tại Việt Nam nhằm tận dụng các cơ hội từ việc tham gia AEC trong thời gian tới
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Chính phủ (2011), Quyết định 2473/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển ngành du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, Hà Nội
[2] Đỗ Hồng Thuận (2015), Phát triển du lịch bền vững - Đâu là giải pháp cho Việt Nam? truy cập ngày 20/07/2015 tại http://www.hanoitourist.com.vn /kinhnghiemtour/kinhnghiem /kn-quan-ly/1807-phat-trien-ben-vung
[3] Nguyễn Đức Thành (2014), Việt Nam và AEC 2015, Thời báo Kinh tế Sài Gòn
[4] Tổng cục du lịch (2013), Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn
đến năm 2030, Nhà xuất bản Lao động và Xã hội, Hà Nội
[5] Tổng cục du lịch (2015), Phát triển du lịch Việt Nam hướng tới ba giải pháp chiến lược, truy cập
ngày 20/07/2015 tại http://www.ttcgroup.vn/vi/linh-vuc/du-lich/tin-tuc/phat-trien-du-lich-viet-nam-huong-toi-ba-giai-phap-chien-luoc/
[6] Tổng cục thống kê, Niên giám thống kê các năm 2010 và 2014, Hà Nội
[7] http://mkt.unwto.org/
28
Số liệu của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch báo cáo tại phiên thảo luận tại Quốc hội ngày 08/06/2015
29
Số liệu của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch báo cáo trong phiên thảo luận tại Quốc hội ngày 08/06/2015