1.2 Mục tiêu của đề tài Qua việc phân tích sẽ cho thấy cái nhìn tổng quát về thị trường khi lãi suất giảm và nhận định được chính sách giảm lãi suất như vậy có phá được rào cản giữa do
MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Lãi suất là một trong những đòn bẩy kinh tế quan trọng của nền kinh tế thị trường Nó tác động đến tất cả các doanh nghiệp có sử dụng vốn tín dụng nói riêng và đến tất cả các lĩnh vực của nên kinh tế nói chung Đây là một biến số nhạy cảm đối với đời sống và sức khỏe của nền kinh tế Đã có nhiều nghiên cứu, tranh luận về lãi suất được đưa tin liên tục trên các phương tiện thông tin đại chúng, báo, tạp chí và tập san chuyên ngành Do đó lãi suất là một vấn đề nóng bỏng rất được xã hội quan tâm
Từ 2005, lãi suất ngân hàng tăng liên tục đến 2011; thị trường đón nhận nhiều sóng gió không ngừng biến động và những xáo trộn từ những thỏa thuận ngầm, những giao dịch ủy thác Từ 2012, Ngân hàng Nhà nước đã siết chặt lãi suất, liên tiếp hạ trần huy động nhằm thực hiện chính sách tiền tệ thận trong, linh hoạt, chỉnh đốn lại kỷ cương ngân hàng, quản lý thị trường vàng và tìm đòn bẩy cho thị trường chứng khoán vốn đìu hiu trong những năm vừa qua Và gần đây nhất, vào cuối tháng 3 năm 2013 Ngân hàng Nhà nước vừa mới chính thức ban hành chính sách giảm lãi suất huy động xuống mức 7.5% với mục tiêu vực dậy nền kinh tế Mặc dù vậy, các ngân hàng thương mại vẫn vắng khách vay, các doanh nghiệp muốn đầu tư trung và dài hạn vẫn phải chấp nhận lãi suất cao, lo ngại về tính ổn định của đồng tiền sẽ nổi lên khiến tiền đồng chịu nhiều áp lực hơn và dấu hiệu hồi phục chậm Các ngân hàng thương mại đồng loạt hạ lãi suất xuống mức thấp và như vậy sẽ dễ dàng dính bẫy thanh khoản, rồi lại lao vào cuộc đua lãi suất mới để bù đắp thanh khoản Như vậy, đây là vấn đề cần được cân nhắc cẩn trọng, là bước đi cho việc lãi suất trở về đúng với lãi suất thị trường nhằm tháo gỡ những khó khăn hiện tại trong nền kinh tế nước ta.
Mục tiêu của đề tài
Qua việc phân tích sẽ cho thấy cái nhìn tổng quát về thị trường khi lãi suất giảm và nhận định được chính sách giảm lãi suất như vậy có phá được rào cản giữa doanh nghiệp và ngân hàng, giải quyết được nợ xấu, khơi thông dòng tiền giúp nền
7 kinh tế hoạt động trở lại mà vẫn đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát hay không Đề tài đặt ra mục tiêu:
- Hệ thống các vấn đề liên quan đến lãi suất và mối liên hệ giữa lãi suất với thị trường
- Tìm ra những tác động tích cực và tiêu cực của việc hạ lãi suất lên thị trường, đặc biệt là thị trường tài chính
- Đề xuất những giải pháp liên quan đến điều chỉnh lãi suất nhằm cải thiện tình hình kinh tế.
Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài
Đã có một số nghiên cứu ban đầu về các ảnh hưởng của lãi suất đến thị trường tiền tệ và nền kinh tế Năm 2010, trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách thuộc trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội đã có những phân tích về sự ảnh hưởng của lãi suất và các chính sách về lãi suất đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam [1] Thêm vào đó, Học viện Chính sách Phát triển cũng đã có các quan sát trong giai đoạn 2011-2012 về lãi suất và các chính sách tiền tệ trong nước để dự báo về chính sách cho giai đoạn tiếp theo [2] Năm 2013, tác giả Ansgar Belke thuộc Tổng cục chính sách Châu Âu cũng đã đề cập đến sự ảnh hưởng của việc hạ lãi suất đến trần thanh khoản toàn cầu [3].
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: lãi suất và các biến số vĩ mô để làm rõ mức độ ảnh hưởng của việc hạ lãi suất lên nền kinh tế Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu: đề tài được nghiên cứu tập trung vào thị trường tài chính ở nước ta từ đầu năm 2012 đến quý III năm 2014.
Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở lý thuyết về ý nghĩa của lãi suất tín dụng trong nền kinh tế thị trường Từ đó xem xét cụ thể những tác động từ chính sách vĩ mô của ngân hàng nhà nước cụ thể là việc điều chỉnh lãi suất lên các hoạt động khác nhau ở nước ta trong thời gian vừa qua
Phương pháp nghiên cứu: đề tài nghiên cứu dựa trên phương pháp phi thực nghiệm, lấy việc hệ thống hóa cơ sở lý luận sẽ làm nền tảng cho quá trình phân tích, lập luận Sau đó dựa trên quan sát sự việc đang tồn tại để tìm ra được vấn đề cần nghiên cứu Việc quan sát và phân tích sẽ thông qua số liệu và thông tin thu thập được từ thị trường từ năm 2012 đến quý III năm 2014 của tổng cục thống kê, của các ngân hàng thương mại lớn, của các tổ chức có uy tín và qua những cổng thông tin điện tử
1.6 Cấu trúc của đề tài Đề tài được chia thành 5 chương:
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu tác động của việc hạ lãi suất lên thị trường tài chính
Việt Nam từ 2012 đến nay
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Khái niệm và ý nghĩa của lãi suất
Trong nền kinh tế thị trường lãi suất là một trong những biến số được theo dõi một cách chặt chẽ nhất bởi nó quan hệ mật thiết đối với lợi ích kinh tế của từng người trong xã hội Lãi suất tác động đến quyết định của mỗi cá nhân: chi tiêu hay tiết kiệm để đầu tư Sự thay đổi lãi suất có thể dẫn tới sự thay đổi quyết định của mỗi doanh nghiệp: vay vốn để mở rộng sản xuất hay cho vay tiền để hưởng lãi suất, hoặc đầu tư vào đâu thì có lợi nhất Thông qua những quyết định của các cá nhân, doanh nghiệp lãi suất ảnh hưởng đến mức độ phát triển cũng như cơ cấu của nền kinh tế đất nước
J.M Keynes (1833-1946) nhà kinh tế học nổi tiếng người Anh cho rằng lãi suất không phải là số tiền trả công cho việc tiết kiệm hay nhịn chi tiêu vì khi tích trữ tiền mặt người ta không nhận được một khoản trả công nào, ngay cả khi trường hợp tích trữ rất nhiều tiền trong một khoảng thời gian nhất định nào đó Vì vậy:
“Lãi suất chính là sự trả công cho số tiền vay, là phần thưởng cho “sở thích chi tiêu tư bản”; lãi suất do đó còn được gọi là sự trả công cho sự chia lìa với của cải, tiền tệ.”
Sự phân tích bản chất lãi suất như trên cho thấy nếu lãi suất thấp thì tổng số nhu cầu về tiền mặt của dân cư sẽ vượt quá số cung tiền và nếu lãi suất cao thì sẽ có một lượng tiền mặt dư khi đó không ai muốn giữ tiền
M.Friedman, đại diện tiêu biểu của trường phái trọng tiền hiện đại, cũng có quan điểm tương tự J.M Keynes rằng lãi suất là kết quả của hoạt động tiền tệ Tuy nhiên quan điểm của M Friedman khác cơ bản với Keynes ở việc xác định vai trò của lãi suất Nếu Keynes cho rằng cầu tiền là một hàm của lãi suất còn M.Friedman dựa vào nghiên cứu các tài liệu thực tế được thống kê trong một thời gian dài để khẳng định mức lãi suất không có ý nghĩa tác động đến lượng cầu về tiền mà cầu tiền biểu hiện là một hàm của thu nhập và đưa ra khái niệm tính ổn định cao của cầu tiền tệ
Có thể thấy rằng: quan điểm coi lãi suất là kết quả hoạt động của tiền tệ đã rất thành công trong việc xác định các nhân tố cụ thể ảnh hưởng đến lãi suất tín
10 dụng Tuy nhiên hạn chế của cách tiếp cận này là suy bản chất của lợi tức là bản chất của tiền và dừng lại ở việc nghiên cứu cụ thể
Tóm lại, lãi suất là tỷ lệ % giữa khoản tiền người đi vay phải trả thêm cho người cho vay trên tổng số tiền vay đầu một thời hạn nhất định để được sử dụng tiền vay đó
Căn cứ vào các tiêu chí khác nhau, có thể chia lãi suất ra làm nhiều loại Tuy nhiên có một số loại lãi suất cơ bản sau:
- Lãi suất cơ bản: là lãi suất do Ngân hàng Nhà nước đưa ra để các ngân hàng thương mại căn cứ vào đó để hình thành lãi suất kinh doanh của mình
- Lãi suất chiết khấu: áp dụng khi ngân hàng cho khách vay dưới hình thức chiết khấu thương phiếu hoặc giấy tờ có giá khác chưa đến hạn thanh toán của khách hàng
- Lãi suất tái chiết khấu: áp dụng khi NHTW cho các ngân hàng trung gian vay dưới hình thức chiết khấu lại thương phiếu hoặc giấy tờ có giá ngắn hạn chưa thanh toán của các ngân hàng này
- Lãi suất liên ngân hàng: là lãi suất mà các ngân hàng áp dụng khi cho nhau vay trên thị trường liên ngân hàng
- Lãi suất danh nghĩa: là lãi suất tính theo giá trị danh nghĩa của tiền tệ vào thời điểm xem xét, mà chưa loại trừ yếu tố lạm phát
- Lãi suất thực: là số lãi mà người vay phải trả tính theo hàng hoá và dịch vụ thực tế (đã được loại trừ yếu tố lạm phát).
Vai trò của lãi suất
a Lãi suất với quá trình huy động vốn
Lý thuyết và thực tiễn đều cho thấy để phát triển kinh tế cần phải có vốn và thời gian Các nước tư bản phát triển phải mất hàng trăm năm phát triển công nghiệp và quá trình lâu dài tích tụ vốn từ sản xuất và tiêu dùng Đối với Việt Nam trên con đường phát triển kinh tế thì vấn đề tích luỹ và sử dụng vốn có tầm quan trọng đặc biệt cả về phương pháp nhận thức và chỉ đạo thực tiễn Vì vậy chính sách lãi suất có vai trò hết sức quan trọng trong việc huy động nguồn vốn nhàn
11 rỗi trong xã hội và các tổ chức kinh tế đảm bảo đúng định hướng vốn trong nước là quyết định, vốn ngoài nước là quan trọng trong chiến lược công nghiệp hoá – hiện đại hoá nước ta hiện nay
Việc áp dụng một chính sách lãi suất hợp lý đảm bảo nguyên tắc: lãi suất phải bảo tồn được giá trị vốn vay, đảm bảo tích luỹ cho cả người cho vay và người đi vay Cụ thể:
+ Tỷ lệ lạm phát< lãi suất tiền gửi < lãi suất tiền vay < tỷ suất lợi nhuận bình quân
+ Lãi suất ngắn hạn < lãi suất dài hạn (đối với cả tiền gửi và tiền vay) b Lãi suất với quá trình đầu tư
Quá trình đầu tư của doanh nghiệp vào tài sản cố định được thực hiện khi mà họ dự tính lợi nhuận thu được từ tài sản cố định này nhiều hơn số lãi phải trả cho các khoản đi vay để đầu tư Do đó khi lãi suất xuống thấp các hãng kinh doanh có điều kiện tiến hành mở rộng đầu tư và ngược lại Trong môi trường tiền tệ hoàn chỉnh, ngay cả khi một doanh nghiệp thừa vốn thì chi tiêu đầu tư có kế hoạch vẫn bị ảnh hưởng bởi lãi suất, bởi vì thay cho việc đầu tư vào mở rộng sản xuất doanh nghiệp có thể mua chứng khoán hay gửi vào ngân hàng nếu có được lãi suất cao Đặc biệt trong thời kỳ nền kinh tế bị đình trệ, hàng hoá ứ đọng và xuống giá, có dấu hiệu thừa vốn và áp lực lạm phát thấp cần phải hạ lãi suất vì nguyên tắc cơ bản là lãi suất phải nhỏ hơn lợi nhuận bình quân của đầu tư, sự chênh lệch này sẽ tạo động lực cho các doanh nghiệp mở rộng quy mô đầu tư c Lãi suất với tiêu dùng và tiết kiệm:
Thu nhập của một hộ gia đình thường được chia thành hai bộ phận: tiêu dùng và tiết kiệm Tỷ lệ phân chia này phụ thuộc vào nhiều nhân tố như thu nhập, vấn đề hàng hoá lâu bền và tín dụng tiêu dùng, hiệu quả của tiết kiệm trong đó lãi suất có tác dụng tích cực tới các nhân tố đó
Khi lãi suất thấp chi phí tín dụng tiêu dùng thấp, người ta vay nhiều cho việc tiêu dùng hàng hoá nghĩa là tiêu dùng nhiều hơn Khi lãi suất cao đem lại thu nhập từ khoản tiền để dành nhiều hơn sẽ khuyến khích tiết kiệm, do đó tiết kiệm tăng
12 d Lãi suất với tỷ giá hối đoái và hoạt động xuất nhập khẩu
Tỷ giá là giá cả tiền tệ của nước này thể hiện bằng đơn vị tiền tệ của nước khác Tỷ giá do quan hệ cung cầu trên thị trường ngoại hối quy định và chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố như giá cả thuế quan, năng suất lao động… Ngoài ra trong ngắn hạn tỷ giá còn chịu ảnh hưởng của lãi suất tiền gửi nội tệ và ngoại tệ Sự thay đổi lãi suất tiền gửi nội tệ ở đây là sự thay đổi trong lãi suất danh nghĩa Nếu lãi suất danh nghĩa tăng do tỷ lệ lạm phát tăng (lãi suất thực không đổi) thì tỷ giá giảm Nếu lãi suất danh nghĩa tăng do lãi suất thực tế tăng (tỷ lệ lạm phát không đổi) thì tỷ giá tăng Khi tỷ giá đồng ngoại tệ tăng đồng nội tệ sẽ giảm giá (tỷ giá giảm) và ngược lại
Tỷ giá rất quan trọng trong hoạt động xuất nhập khẩu (XNK) Do vậy một sự biến động của lãi suất trong nước và ngoại tệ ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động XNK:
+Vai trò của lãi suất trong nước với quá trình XNK: khi lãi suất thực tế tăng lên làm cho tỷ giá hối đoái tăng lên Tỷ giá hối đoái cao hơn làm hàng hoá của nước đó ở nước ngoài trở nên đắt hơn lên và hàng hoá nước ngoài ở nước đó sẽ trở nên rẻ hơn, dẫn đến giảm xuất khẩu ròng
+ Vai trò của lãi suất nước ngoài với xuất khẩu ròng: Khi lãi suất tiền gửi bằng ngoại tệ tăng lên, đường lợi tức dự tính của đồng ngoại tệ dịch chuyển sang phải làm giảm tỷ giá hối đoái Hàng xuất khẩu trở nên rẻ hơn so với các quốc gia khác e Lãi suất với lạm phát
Lý luận và thực tiễn đã thừa nhận mối quan hệ chặt chẽ giữa lãi suất và lạm phát Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng lãi suất tăng cao trong thời kỳ lạm phát Những nước trải qua lạm phát cao cũng chính là những nước có mức lãi suất cao Lạm phát là hiện tượng mất giá của đồng tiền, là tình trạng tăng liên tục của mức giá chung trong nền kinh tế do nhiều nguyên nhân khác nhau Do vậy cũng có nhiều biện pháp khác nhau để kiểm soát lạm phát, trong đó giải pháp về lãi suất có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
Trong thời kỳ lạm phát, tăng lãi suất sẽ cho phép hệ thống ngân hàng có thể
13 thu hút phần lớn số tiền có trong lưu thông, khiến cho đồng tiền trong lưu thông giảm, cơ số tiền và lượng tiền cung ứng giảm, lạm phát được kiềm chế Như vậy lãi suất cũng góp phần vào việc khắc phục lạm phát
Tuy nhiên, dùng lãi suất để chống lạm phát không thể duy trì lâu dài vì nó sẽ làm giảm đầu tư, tổng cầu, sản lượng Do vậy cần phải kết hợp lãi suất với các công cụ khác f Lãi suất với quá trình phân bổ các nguồn lực
Tất cả các nguồn lực đều có tính khan hiếm Vấn đề là xã hội phải phân bổ và sử dụng các nguồn lực sao cho hiệu quả Nghiên cứu trong nền kinh tế thị trường cho thấy giá cả đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc phân bổ các nguồn lực giữa các ngành kinh tế Như ta đã biết, lãi suất là một loại giá cả, nghĩa là lãi suất có vai trò phân bổ hiệu quả các nguồn lực khan hiếm của xã hội Để quyết định đầu tư vào một ngành kinh tế một dự án hay một tài sản nào đó chúng ta đều phải quan tâm đến sự chênh lệch giữa giá trị tỷ suất lợi tức thu được với chi phí ban đầu Điều này có nghĩa là phải xem việc đầu tư này có mang lại lợi nhuận hay không và có đảm bảo hiệu quả kinh doanh để trả khoản tiền lãi của số tiền vay cho chi phí ban đầu hay không Khi quyết định đầu tư vào một ngành kinh tế, một dự án hay một tài sản ta phải quan tâm tới chênh lệch giữa lợi nhuận đem lại và số tiền vay phải trả Khi chênh lệch này là dương, thì nguồn lực sẽ được phân bổ tới đó và là sự phân bổ hiệu quả g Lãi suất vai trò của nó đối với Ngân hàng thương mại (NHTM)
Lãi suất với vai trò là đòn bẩy kinh tế cực kỳ lợi hại,có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả hoạt động kinh doanh của một ngân hàng và quan trọng hơn là công cụ điều hành cực kỳ nhạy bén trong hệ thống ngân hàng
Vai trò của lãi suất với NHTM thể hiện ở bốn khía cạnh:
Các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất
Như chúng ta đã biết lãi suất tín dụng ngân hàng được xác định trên cơ sở cân bằng cung cầu tiền gửi, tiền cho vay trên thị trường Do đó những nhân tố ảnh hưởng tới hình thái diễn biến của lãi suất chính là những nhân tố tác động làm thay đổi cung cầu tiền vay
Phân tích diễn biến lãi suất trên thị trường trái phiếu (khuôn mẫu tiền vay) và trên thị trường tiền tệ (khuôn mẫu ưa thích tiền mặt) tuy có những đặc điểm khác nhau nhưng đều mang lại những kết quả tương đương nhau trong việc xem xét vấn đề lãi suất được xác định như thế nào
Bây giờ sẽ sử dụng tổng hợp hai phương pháp: khuôn mẫu tiền vay và khuôn mẫu tiền mặt, đồng thời chú ý đến những đặc điểm của nền kinh tế hiện đại để phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới lãi suất
Phân tích khuôn mẫu tiền mặt cho thấy khi của cải tăng lên trong thời kỳ tăng trưởng kinh tế của một chu kỳ kinh tế, lượng cầu tiền sẽ tăng do mọi người gia tăng tiêu dùng hoặc đầu tư hay chỉ đơn giản là muốn giữ thêm tiền làm nơi trữ giá trị Như vậy khuôn mẫu tiền mặt phân tích diễn biến lãi suất trên thị trường tiền tệ đưa đến kết luận: “Khi của cải tăng lên trong giai đoạn tăng trưởng của chu kỳ kinh tế (các biến số khác không đổi) lãi suất sẽ tăng lên và ngược lại” b Khả năng sinh lời dự tính của các cơ hội đầu tư
Càng có nhiều cơ hội đầu tư sinh lợi mà một doanh nghiệp dự tính có thể làm thì doanh nghiệp sẽ càng có nhiều ý định vay vốn và tăng số dư vay nợ nhằm tài trợ cho các cuộc đầu tư này Khi nền kinh tế đang phát triển nhanh có rất nhiều cơ hội đầu tư được trông đợi là sinh lợi, do đó lượng cầu tiền cho vay ở mỗi giá trị lãi suất tăng lên c Lạm phát dự tính
Như ta đã biết, chi phí thực của việc vay tiền được đo một cách chính xác hơn bằng lãi suất thực là lãi suất danh nghĩa trừ đi lạm phát dự tính Do đó một lãi suất cho trước, khi lạm phát dự tính tăng lên, chi phí thực hiện việc vay tiền giảm xuống nên cầu tiền vay tăng lên Mặt khác khi lạm phát dự tính tăng lên thì lợi tức dự tính của những khoản tiền gửi giảm xuống Những người cho vay lập tức chuyển vốn tiền tệ vào một thị trường khác như thị trường bất động sản hay dự trữ hang hoá, vàng bạc… Kết quả lượng cung tư bản cho vay giảm đối với bất kỳ lãi suất nào cho trước
Như một sự thay đổi về lạm phát dự tính sẽ tác động đến cung cầu tư bản cho vay Cụ thể, tăng lạm phát dự tính sẽ làm tăng lãi suất do giảm lượng cung ứng và tăng cầu về tư bản
Khi mức giá tăng lên, cùng với một lượng tiền như cũ hàng mà nó mua được sẽ ít hơn, nghĩa là giá trị đồng tiền bị giảm xuống Để khôi phục lại tài sản của mình dân chúng muốn giữ một lượng tiền danh nghĩa lớn hơn do đó chứng tỏ rằng khi mực giá tăng lên, các biến số khác không đổi, lãi suất sẽ tăng
16 d Hoạt động thu, chi của Nhà nước
Ngân sách Nhà nước vừa là nguồn cung tiền gửi vừa là nguồn cầu tiền vay đối với ngân hàng Do đó, sự thay đổi giữa thu, chi ngân sách Nhà nước là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất Ngân sách bội chi hay thu không kịp tiến độ sẽ dẫn đến lãi suất tăng Để bù đắp, chính phủ sẽ vay dân bằng cách phát hành trái phiếu Như vậy lượng tiền trong dân chúng sẽ bị thu hẹp làm tăng lãi suất
Ngoài ra khi thâm hụt ngân sách đã trực tiếp làm cầu về quỹ cho vay trong các định chế tài chính tăng lên, trong khi cung lại giảm và nâng cao lãi suất hoặc người dân dự đoán lạm phát sẽ tăng cao do Nhà nước tăng khối lượng cung ứng tiền tệ, dẫn tới việc găm tiền lại để mua tài sản khác làm cung quỹ cho vay bị giảm một cách tương ứng và lãi suất tăng lên
Trường hợp bội thu ngân sách sẽ dẫn đến lãi suất giảm do sự vận động ngược lại với trường hợp chi ngân sách e Tỷ giá hối đoái
Tỷ giá là giá cả tiền tệ của nước này thể hiện bằng đơn vị tiền tệ của nước khác Tỷ giá do quan hệ cung cầu trên thị trường ngoại hối quyết định và chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố như giá cả, thuế… trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay làm cho không một quốc gia nào, nếu muốn tồn tại và phát triển, lại không tham gia thực hiện phân công lao động và thương mại quốc tế Thông qua quá trình trao đổi buôn bán giữa các nước tỷ giá hối đoái giảm, xuất khẩu tăng lên nguồn thu ngoại tệ tăng lên Điều đó làm tăng cung ngoại tệ, tương đương với việc tăng cầu nội tệ kết quả là làm lãi suất tăng lên
Bằng cách lập luận tương tự, chúng ta sẽ thu được một mức lãi suất nội tệ thấp hơn nếu tỷ giá hối đoán tăng lên, đồng nội tệ có giá hơn Tóm lại, khi mức giá của đồng tiền một nước so với các nước khác giảm xuống thì một ước đoán hợp lý là lãi suất trong nước sẽ tăng lên và ngược lại f Lượng tiền cung ứng
Qua phân tích trên cho thấy có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất nhưng nhân tố ảnh hưởng lớn và nhạy cảm với lãi suất là lượng tiền cung ứng
Vậy lượng tiền cung ứng thay đổi thì nó có tác động đến lượng tiền cung ứng như thế nào?
Một sự tăng lên của lượng tiền cung ứng gây ra 4 tác động đối với lãi suất: tác dụng tính lỏng, tác dụng tính thu nhập, tác dụng mức giá, tác dụng lạm phát dự tính
+ Tác dụng tính lỏng cho biết một sự tăng lên của lượng tiền cung ứng sẽ làm giảm nhẹ lãi suất
+ Tác dụng thu nhập chỉ ra rằng do tăng lượng tiền cung ứng sẽ có ảnh tốt đến nền kinh tế, sẽ làm tăng thu nhập khi đó lãi suất sẽ tăng lên
+ Tác dụng mức giá cho biết một sự tăng lượng tiền cung ứng sẽ làm mức giá chung tăng lên và kết qủa lãi suất cân bằng tăng
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng kết hợp với các dữ liệu thống kế, và các phương pháp so sánh, phân tích, khái quát hoá… nhằm làm rõ vấn đề nghiên cứu Đề tài cũng tham chiếu các quan điểm về lãi suất của các nhà kinh tế học hiện đại trong và ngoài nước cùng với các đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước qua từng giai đoạn để phân tích, lý giải các chỉ số để phát hiện những tác động tích cực và tiêu cực của việc hạ lãi suất lên thị trường, đặc biệt là thị trường tài chính, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm giúp nâng cao hiệu quả tình hình kinh tế.
Cơ sở dữ liệu
Các dữ liệu phục vụ nghiên cứu được tổng hợp và phân tích từ nhiều nguồn khác nhau bao gồm dữ liệu từ các cổng thông tin điệu tử của Chính phủ và Bộ kế hoạch và đầu tư; báo cáo thường niên của Ngân hàng nhà nước Việt Nam và các ngân hàng thương mại trong giai đoạn 2012 đến nay; dữ liệu của các sàn giao dịch và công ty đầu tư chứng khoán; số liệu thống kê do Tổng cục Thống kê điều tra và phát hành; các báo cáo định kỳ hàng quý và hàng năm của các tổ chức nghiên cứu, các cơ quan làm công tác dự báo; các tạp chí kinh tế, website, báo điện tử về thông tin kinh tế chính trị, xã hội liên quan
Chi tiết về cơ sở dữ liệu phục vụ nghiên cứu được thể hiện trong phần Tài liệu tham khảo của báo cáo này
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC HẠ LÃI SUẤT LÊN THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH VIỆT NAM TỪ 2012 ĐẾN NAY
Diễn biến nền kinh tế Việt Nam từ 2012 đến nay
a Tình hình kinh tế xã hội
Năm 2012 nền kinh tế - xã hội nước ta vẫn tiếp tục bị ảnh hưởng do những bất ổn kinh tế thế giới vì cuộc khủng hoảng tài chính và cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu vẫn chưa được giải quyết Sự suy giảm trong tăng trưởng của các nước kinh tế đầu tàu kéo theo những tác động về hoạt động sản xuất thương mại của nhiều nền kinh tế khác Thị trường tiêu thụ hàng hoá bị thu hẹp, tỷ lệ nợ xấu ngân hàng ở mức đáng lo ngại Nhiều doanh nghiệp phải thu hẹp sản xuất, dừng hoạt động hoặc giải thể Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2012 ước tính tăng
5,03% so với năm 2011 Mức tăng trưởng năm nay tuy thấp hơn mức tăng 5,89% của năm 2011 nhưng trong bối cảnh kinh tế thế giới gặp khó khăn, cả nước tập trung thực hiện mục tiêu ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô thì mức tăng như vậy là hợp lý và thể hiện xu hướng cải thiện qua từng quý Đến 2013 kinh tế thế giới vẫn biến động phức tạp và chưa có dấu hiệu chuyển biến tích cực rõ ràng Khủng hoảng tài chính và khủng hoảng nợ công ở châu Âu vẫn chưa hoàn toàn chấm dứt Việc tạo công ăn việc làm được xem là một thách thức lớn đối với các nền kinh tế phát triển Những yếu tố không thuận lợi đó tiếp tục ảnh hưởng đến nền kinh tế xã hội nước ta Các khó khăn và bất cập trong nước chưa được giải quyết gây áp lực lớn cho việc sản xuất kinh doanh GDP năm
2013 ước tính tăng 5,42% so với năm 2012 Mức tăng trưởng năm nay tuy thấp hơn mục tiêu tăng 5,5% đề ra nhưng cao hơn mức tăng 5,25% của năm 2012 và có tín hiệu phục hồi do đóng góp của khu vực dịch vụ, trong đó một số ngành chiếm tỷ trọng lớn có mức tăng khá là: Bán buôn và bán lẻ tăng 6,52%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 9,91%; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 6,89% Về cơ cấu trong quy mô nền kinh tế cả năm, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 18,4%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 38,3% và khu vực dịch vụ chiếm 43,3% (Năm 2012 các tỷ trọng tương ứng là: 19,7%; 38,6% và 41,7%)
Kinh tế xã hội nước ta năm 2014 từng bước phục hồi theo sự phục hồi chậm sau suy thoái của kinh tế thế giới Các nền kinh tế lớn phát triển theo hướng đẩy nhanh tăng trưởng nhưng có nhiều yếu tố rủi ro trong việc điều chỉnh chính sách tiền tệ GDP năm 2014 ước tính tăng 5,98% so với năm 2013 Mức tăng trưởng năm nay cao hơn mức tăng 5,25% của năm 2012 và mức tăng 5,42% của năm 2013 cho thấy dấu hiệu tích cực của nền kinh tế Tình hình trong nước tuy có khởi sắc nhưng vẫn vấp phải những khó khăn từ những năm trước chưa được giải quyết triệt để như áp lực về khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế chưa cao, sức ép nợ xấu còn nặng nề, hàng hoá trong nước tiêu thụ chậm, năng lực quản lý và cạnh tranh của doanh nghiệp thấp Cơ cấu nền kinh tế năm nay tiếp tục theo hướng tích cực Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 18,12%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 38,50%; khu vực dịch vụ chiếm 43,38% (Cơ cấu tương ứng của năm
Tuy nhiên với mức độ tăng trưởng GDP năm 2014 thì đây là mức được đánh giá tốt nhất trong vòng 4 năm trở lại đây, đưa Việt Nam trở thành nước có tốc độ tăng trưởng GDP cao thứ 2 thế giới sau Trung Quốc Nền kinh tế nước ta đã cho thấy những tín hiệu phục hồi rõ nét Tỷ lệ tăng trưởng theo quý ngày càng tăng, xếp hạng tín nhiệm của nền kinh tế đã tăng từ B+ lên BB-, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng cao nhất và chỉ số hàng tồn kho tăng thấp, chỉ số PMI gần đạt mức đỉnh của tháng 5, vốn đầu tư của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng cao nhất và là khu vực đóng góp hơn 2/3 kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam
Bảng 1: Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước các năm 2012, 2013 và 2014
Tốc độ tăng so với năm trước (%) Đóng góp của các khu vực vào tăng trưởng năm 2014 (Điểm phần trăm)
Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 2,68 2,64 3,49 0,61
Công nghiệp và xây dựng 5,75 5,43 7,14 2,75
Nguồn: cổng thông tin điện tử nước CHXHCNVN
21 b Cơ chế điều hành lãi suất qua các thời kỳ
Biểu đồ 1: Lãi suất trung bình 12 tháng
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Từ 2012 đến 2014, việc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) điều hành linh hoạt trần lãi suất đã giúp giảm mặt bằng lãi suất huy động, qua đó giảm lãi suất cho vay; trần lãi suất huy động đã được dỡ bỏ từng phần nhưng mặt bằng lãi suất vẫn ổn định, kỷ luật thị trường được thiết lập
Năm 2012, để định hướng thị trường, ngay từ đầu năm, NHNN đã đưa ra lộ trình giảm trung bình mỗi quý 1%/năm Và trước xu hướng giảm nhanh của lạm phát, cơ quan này đã điều chỉnh nhanh và mạnh các mức lãi suất điều hành, lãi suất huy động từ mức trần 14%, sau 6 lần điều chỉnh liên tiếp còn 8% và dài hạn theo cơ chế thả nổi Lãi suất cho vay giảm mạnh từ 3-8%/năm Việc điều chỉnh trên được xem là động thái tích cực để hỗ trợ nền kinh tế và doanh nghiệp Đến 2013, lãi suất huy động VNĐ vẫn trong xu hướng giảm nhưng tốc độ đã chậm lại so với năm 2012 Thay vì bám sát trần lãi suất cho phép như thời gian trước, một số NHTM đã chủ động điều chỉnh lãi suất trên cơ sở cân đối nguồn vốn Trong khi trần lãi suất huy động giảm 0.5-1%, mặt bằng lãi suất trên thị trường có mức giảm mạnh hơn, vào khoảng 0.8-1.5% đối với các kỳ hạn dưới 1 năm và lên tới 2.5-3.5% đối với các kỳ hạn trên 1 năm so với cuối năm 2012 Vào thời điểm cuối năm 2013, lãi suất huy động ở các tổ chức tín dụng (TCTD) phổ biến ở mức 1- 1.2%/năm với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng, 5.5-7%/năm kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng, 6.5-7.5%/năm kỳ hạn 6 tháng đến dưới 12 tháng và
Jan -11 Apr- 11 Ju l- 11 Oct- 11 Jan -12 Ap r- 12 Ju l- 12 Oct- 12 Jan -13 Ap r- 13 Ju l- 13 Oct- 13 Jan -14 Ap r- 14 Ju l- 14
Lãi suất huy động bình quân VNĐ
Lãi suất cho vay ngắn hạn bình quân VNĐ
8-9%/ năm đối với kỳ hạn từ 12 tháng trở lên Diễn biến cùng chiều với lãi suất huy động, lãi suất cho vay VNĐ cũng được điều chỉnh giảm thêm 3-4% để hỗ trợ khách hàng Đến cuối 2013, lãi suất cho vay phổ biến trong khoảng 8-11.5%/năm kỳ hạn ngắn và 11.5-13%/năm trung dài hạn Đến cuối quý 3/2014, các mức lãi suất huy động tối đa bằng VNĐ, lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VNĐ tiếp tục được giảm Đến thời điểm 30/9/2014, mặt bằng lãi suất huy động và cho vay bằng VNĐ đã giảm 0.5-1.5%/năm so với cuối năm 2013, góp phần tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh nhưng vẫn đảm bảo mục tiêu kiểm soát lạm phát Động thái hạ trần lãi suất huy động dưới 6 tháng của VNĐ từ 6% xuống 5.5% và hạ lãi suất trần cho vay ngắn hạn với 5 lĩnh vực ưu tiên từ 8%/năm xuống còn 7%/năm của NHNN càng làm cho tính ổn định của thị trường được củng cố hớn Về định hướng điều hành chính sách tiền tệ những tháng cuối năm 2014, NHNN quyết định giữ ổn định các mức lãi suất điều hành (gồm lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt trong thanh toán bù trừ của NHNN đối với các ngân hàng), tiếp tục điều chỉnh giảm lãi suất tiền gửi và cho vay của các tổ chức, cá nhân tại các TCTD và chi nhánh ngân hàng nước ngoài
Như vậy, lãi suất huy động và cho vay của hệ thống ngân hàng đã giảm khá sâu trong năm 2014 Việc NHNN kêu gọi NHTM điều chỉnh lãi suất cho và trung và dài hạn đối với 5 lĩnh vực ưu tiên về mức không quá 10%/năm đã nhận được sự ủng hộ giúp mặt bằng lãi suất cho vay của thị trường giảm Hiện nay mức chênh lệch giữa trần lãi suất của VNĐ và USD được cho là đủ hấp dẫn để người gửi tiếp tục duy trì gửi tiền VNĐ Điều này đã tiếp thêm nguồn lực cho nên kinh tế, thúc đầy khu vực tài chính tăng trưởng và tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong bối cảnh chiều hướng kinh tế vĩ mô có chiều hướng ổn định hơn.
Tương quan giữa lạm phát và lãi suất
Tỷ lệ lạm phát ở nước ta thời gian vừa qua được đánh giá là khống chế hiệu quả Từ 2004 đến 2011 lạm phát nước ta có xu hướng gia tăng, cao điểm lên mức 2 con số, do đó chống lạm phát là nhiệm vụ quan trọng cấp bách trong điều hành chính sách kinh tế vĩ mô Đến thời điểm 2012 đến 2014, lạm phát xuống còn một
23 con số và đặc biệt 2014 đạt mức thấp nhất trong 10 năm trở lại đây Đây là một sự kiện ngoài dự báo của các chuyên gia kinh tế và là một trong những sự kiện kinh tế nổi bật nhất của Việt Nam trong năm 2014 Cụ thể: CPI năm 2012 là 6.81%, năm
Biểu đồ 2: Tỷ lệ lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2010-2014
Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam
Nhờ lạm phát thấp, mặt bằng lãi suất được kéo dần xuống mức thấp, doanh nghiệp và cá nhân dễ thở hơn khi đi vay, giảm chi phí đầu vào, giảm giá thành sản phẩm Đồng thời doanh thu bán lẻ cũng tăng trưởng tốt hơn, nhờ đó thúc đầy tăng trưởng toàn nền kinh tế
Lạm phát giảm do sự tác động của nhiều yếu tố Nguyên nhân là do giá cả các mặt hàng đều được giữ ổn định, đặc biệt là sự giảm mạnh của giá xăng dầu trong dịp cuối năm khiến chỉ số giá nhóm giao thông giảm mạnh Công tác quản lý, điều hành giá được chú trọng, triển khai nhiều ông tác quản lý, điều tiết và bình ổn giá một số mặt hàng quan trọng thiết yếu Tuy nhiên, do mức cầu trong dân yếu dù sức mua được cải thiện nhưng mức tăng thấp và đầu tư vẫn phục hồi chậm, tỷ lệ vốn đầu tư/GDP giảm còn khoảng 31%/GDP nên tốc độ tăng cầu của nội địa chưa đạt được mức tiềm năng và lạm phát vẫn có xu hướng giảm Bên cạnh đó, Chính phủ đã thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ và tài khoá, ổn định kinh tế vĩ mô trong
3 năm qua (2012, 2013, 2014) Lãi suất cho vay của ngân hàng giảm khá nhanh, tỷ giá ổn định làm cho giá hàng nhập khẩu tính bằng USD giảm Vì vậy, lạm phát đã được kiềm chế và kiểm soát ở mức thấp dần Tuy nhiên cũng sẽ dẫn đến hoạt động của doanh nghiệp, việc làm, tăng trưởng kinh tế và tác động ngược lại đến chính sách tài khoá và hoạt động của NHTM Lạm phát thấp tạo điều kiện cho lãi suất
Tỷ lệ lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2010-2014
24 giảm tuy nhiên cung chưa gặp cầu Doanh nghiệp không thể tiếp cận các khoản vay do không đáp ứng các tiêu chuẩn của ngân hàng, phía ngân hàng có thể hạ lãi suất chứ không thể hạ tiêu chuẩn cho vay
Mức độ tăng cầu nội địa chưa đạt được mức tiềm năng và lạm phát tiếp tục giảm trong thời gian vừa qua có liên hệ mật thiết với mức lãi suất cho vay trên thị trường Mặc dù mức lãi suất danh nghĩa đã giảm về mức thấp kỷ lục của hơn 10 năm trước đây, nhưng mức lãi suất cho vay thực (lãi suất cho vay danh nghĩa trừ đi tốc độ lạm phát) cũng lại tăng lên mức cao Nguyên nhân khách quan là do sự thu hẹp tín dụng kinh tế trong năm 2013 và nguyên nhân chủ quan là chính sách nới lỏng tiền tệ được NHNN thực hiện rất thận trọng Do vậy khi lạm phát giảm nhanh ngoài dự đoán mà lãi suất huy động và cho vay không giảm theo một cách kịp thời Năm 2014, chính sách tiền tệ được hoạch định theo phương châm lãi suất theo sau lạm phát, chứ không đi trước lạm phát tương tự như trong 2 năm trước Điều này được thể hiện qua việc NHNN điều hành lãi suất dựa trên mức lạm phát trung bình nhiều hơn là mức lạm phát cùng kỳ Việc ổn định các mức lãi suất điều hành nhằm đảm bảo tính ổn định của chính sách, được NHNN cân nhắc trên cơ sở không chỉ kỳ vọng lạm phát của năm 2014 và còn tính đến cả kỳ vọng lạm phát của năm 2015 Với mức lạm phát dự báo của năm 2015 là 4,5 - 5%, trần lãi suất huy động ở mức 5,5% là hợp lý Tuy nhiên, các ngân hàng có thể giảm sâu thêm lãi suất cho vay để hỗ trợ doanh nghiệp.
Tác động của lãi suất lên hoạt động tín dụng
Biểu đồ 3: Tỷ lệ tăng trưởng tín dụng ở Việt Nam giai đoạn 2010-2014
Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam
Tỷ lệ tăng trưởng tín dụng
Việc điều hành lãi suất đã định hướng dẫn dắt thị trường phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô và tiền tệ Tín dụng năm 2012 thấp ở mức kỷ lục 8.91%, đây là lần đầu tiên từ năm 1992, mức tăng trưởng tín dụng ở mức một chữ số Nguyên nhân tín dụng tăng thấp là cầu yếu, khả năng tiêu thụ sản phẩm khó khăn, hàng tồn kho cao nên nhiều doanh nghiệp không đủ điều kiện vay vốn, các TCTD phải kiểm soát chặt chẽ nhằm ngăn chặn nợ xấu Tuy nhiên hệ thống ngân hàng cũng quyết liệt thực hiện nhiều giải pháp theo chỉ đạo của Chính phủ để tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh về chi phí vay vốn và khả năng tiếp cận vốn vay ngân hàng Đến hết năm 2013, tăng trưởng tín dụng tăng 12.51%, đặc biệt trong quý 4/2013 tín dụng tăng trưởng 4%, thanh khoản của hệ thống ngân hàng được cải thiện, đảm bảo khả năng thanh toán và chi trả của hệ thống Mặc dù có những tín hiệu tốt nhưng tỷ lệ nợ xấu có giảm nhưng vẫn ở mức cao, chất lượng tín dụng chưa thực sự được cải thiện, nợ xấu chưa được phân loại và đánh giá đầy đủ, chính xác Tuy mức tăng không cao nhưng theo NHNN, đảm bảo chất lượng và tín dụng tăng rất sát với tăng GDP Đây cũng là yếu tố quan trọng để hạn chế dòng tiền trong lưu thông, không chạy theo mục tiêu bằng mọi giá Từ đó, hạn chế tác động bất lợi đối với lạm phát Động thái giảm lãi suất cho thấy mục đích của NHNN là nhằm thúc đầy tăng trưởng tín dụng Nhưng bản thân lãi suất không phải là vấn đề vì lãi suất đã được đưa về khung hợp lý Các điều kiện cấp vốn tiền đồng rẻ cho thấy lãi suất không phải là nguyên nhân gay hiện tượng tăng trưởng tín dụng trì trệ của Việt Nam Vấn đề chính yếu của việt Nam là nợ xấu mà phần lớn chưa được giải quyết rốt ráo Tháng 7/2013 công ty khai thác và quản lý tài sản (VAMC) ra đời Tuy VMAC không phải là cây đũa thần” nhưng với việc bắt đầu mua lại nợ xấu của các TCTD từ tháng 10/2013, tác động của VAMC lên bản cân đối sổ sách các ngân hàng rõ rệt Đến cuối tháng 11/2013, tỷ lệ nợ xấu theo báo cáo của các tổ chức tín dụng là 4,55%, chỉ tăng 19% so với mức tăng tới 67% cùng kỳ 2012 Năm 2013 hệ thống ngân hàng tự xử lý được 70 nghìn tỷ đồng nợ xấu từ nguồn trích lập dự phòng rủi ro VAMC tính đến hết ngày 27/12/2013 đã mua được 36 nghìn tỷ động nợ xấu Kế hoạch cả năm 2014 VAMC dự kiến mua 70 - 80.000 tỷ đồng nợ xấu từ các tổ chức
26 tín dụng nhưng đến 24/12/2014, con số này đạt 81.600 tỷ đồng, với giá mua 67.275 tỷ; phát hành trái phiếu đặc biệt khoảng 58.000 tỷ đồng Từ nay đến hết năm, dự kiến doanh số mua đạt mức 90 - 95.000 tỷ đồng với giá mua 70.000 tỷ đồng
Tuy nhiên theo nhiều chuyên gia trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, VAMC ra đời là cần thiết, có điều sự eo hẹp về đồng vốn hoạt động (chỉ với 500 tỷ đồng vốn điều lệ từ trái phiếu đặc biệt), sự chưa hoàn thiện về cơ cấu tổ chức, các quy chế hoạt động còn nhiều bất cập khiến năng lực của VAMC bị hạn chế nhiều Vì vậy, muốn xử lý được nợ xấu hiệu quả thì việc tăng quyền lực đủ mạnh cho VAMC để cơ quan này có đầy đủ khả năng xử lý được các khoản nợ có rắc rối về mặt pháp lý, giúp các ngân hàng thương mại đẩy nhanh tiến trình xử lý nợ xấu là cực kỳ quan trọng
Hết quý 3/2014, tín dụng toàn hệ thống của các TCTD với nền kinh tế tăng 7.26% so với cuối năm 2013 Cơ cấu tín dụng tiếp tục chuyển dịch theo hướng tập trung vào các ngành, lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ Theo số liệu đến 24/10/2014 thì tổng phương tiện thanh toán tăng 11.85%, huy động vốn tăng 11.88% so với cuối năm 2013; trong đó huy động vốn VNĐ tăng 13.17% chủ yếu ở khu vực dân cư trong điều kiện lãi suất VNĐ giảm cho thấy tiền gửi vào hệ thống ngân hàng đang là kênh lựa chọn của người dân Trên cơ sở theo dõi sát tình hình tăng trưởng tín dụng của từng TCTD và toàn hệ thống, NHNN xem xét điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng cho một số TCTD, chỉ đạo các TCTD tiếp tục triển khai các giải pháp tháo gỡ khó khăn trong quan hệ tín dụng và lãi suất với khách hàng Đến cuối năm 2014, con số tăng trưởng là 12.62%, thanh khoản của các TCTD được đảm bảo, hoạt động của các TCTD ổn định, lãi suất trên thị trường nội tệ liên ngân hàng giảm và ổn định ở mức thấp.
Tác động của lãi suất lên thị trường ngoại hối
Thị trường ngoại hối ổn định tỷ giá ở mức tăng thấp Cụ thể 2012 giảm 0.96% so với 2011, 2013 tăng 1.09% so với cuối năm 2012 và 2014 tăng 1.03% so với cùng kỳ năm 2013 Tỷ giá bình quân liên ngân hàng được duy trì ổn định mở mức biến động không quá 1% Cuối 2012 là 20.828 VND, 2013 lên 21.036 (mức điều chỉnh 1%), 2014 là 21.245 (điều chỉnh tăng 1%) Việc điều chỉnh tỷ giá tăng 1% nhằm hỗ trợ xuất khẩu, qua đó hỗ trợ tăng trưởng kinh tế thị trường còn kém
Tỷ giá ổn định, chênh lệch lãi suất giữa VND và ngoại tệ rất lớn với trần lãi suất tiền gửi USD chỉ còn 0.75% đi đôi với các biện pháp chuyển dần từ huy động – cho vay ngoại tệ sang mua bán ngoại tệ
Tỷ giá thị trường tự do không còn chênh lệch đáng kể so với tỷ giá của các NHTM Nếu như trước đây tỷ giá giữa thị trường chính thức và tự do chênh lệch đáng kể (tháng 12/2010 chênh lệch 2.000 đồng, tương đương hơn 10%) thì từ cuối năm 2011 đến nay, tỷ giá được duy trì ổn định, sự hoạt động công khai của thị trường ngoại tệ tự do đã bị thu hẹp Nguồn dự trữ ngoại hối tiếp tục được củng cố, tăng từ 7 tỷ USD năm 2011 lên 35 tỷ USD vào tháng 9/2014 Tình trạng đô la hoá được khắc phục căn bản, sức ép tỷ giá giảm, lòng tin vào đồng Việt Nam được củng cố
Việc quy định lãi suất tối đa áp dụng với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 6 tháng ở mức trần giảm dần xuống còn 5.5% kết hợp với điều chỉnh giảm lãi suất tối đa tiền gửi bằng USD của tổ chức từ 2% xuống 0.25%/năm và của cá nhân từ 2% xuống 1%/năm tại các TCTD để duy trì được mức chênh lệch lợi tức giữa việc nắm giữ VND và USD nhằm bảo đảm việc điều chỉnh tỷ giá không gây biến động trên thị trường Thời gian qua, lãi suất liên ngân hàng thấp khiến một số TCTD mua ngay ngoại tệ để giảm mức âm trạng thái Tuy nhiên áp lực tăng tỷ giá từ nguyên nhân này không đáng kể bởi trên thực tế tín dụng đang tăng trưởng trở lại
Từ quý 4/2011 đến nay, điều hành lãi suất phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, đặc biệt là diễn biến lạm phát, đồng thời hài hoà trong mối quan hệ tỷ giá đã phát huy được tác dụng trong việc hỗ trợ sự ổn định thị trường ngoại hối và tỷ giá Trong vòng 3 năm, thị trường ngoại hối về cơ bản là ổn định do được sự hỗ trợ của các yếu tố vĩ mô như cán cân thương mại tiếp tục thặng dư, các dòng vốn đầu tư nước ngoài tương đối ổn định bên cạnh chính sách duy trì tỷ giá ổn định Bên cạnh đó, sự điều chỉnh tỷ giá không tạo rủi ro lớn lên lạm phát Bởi hiện nay cầu nội địa còn yếu, tăng giá đầu vào của các doanh nghiệp nhưng khó tăng giá đầu ra Thời gian tới, NHNN tiếp tục theo dõi sát thị trường điều hành đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ để đảm bảo ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối và ổn định tỷ giá, trường hợp cần thiết, NHNN sẵn sàng bán ngoại tệ can thiệp để ổn định tỷ giá
28 trong biên độ đề ra Trong điều hành, NHNN sẽ điều tiết vốn khả dụng của hệ thống một cách hợp lý để hỗ trợ ổn định tỷ giá; ổn định các mức lãi suất điều hành như hiện nay.
Tác động của lãi suất lên thị trường chứng khoán
Biểu đồ 4: Chỉ số VN-Index giai đoạn 2005-2015
Mối tương quan giữa xu hướng lãi suất và chứng khoán đã được kiểm chứng khá rõ trên TTCK Việt Nam trong các năm qua Lãi suất giảm tạo ra tiền rẻ và chứng khoán thường được hưởng lợi nhờ tính thanh khoản cao hơn so với các thị trường đầu tư khác Với việc hạ lãi suất, người dân sẽ cân nhắc hơn trong việc chi tiêu và gửi tiết kiệm, họ có thể rút tiền ra đầu tư, kinh doanh hoặc tiêu dùng Bối cảnh hiện tại, khi mà thị trường bất động sản và các kênh đầu tư vàng, USD đều kém hấp dẫn thì điều này càng dễ xảy ra hơn
Lịch sử chỉ số VN-Index
Biểu đồ 5: Tương quan lãi suất (huy động, cho vay) và VN-Index
Trong quá khứ, quá trình tăng/ giảm của VN-Index thường chậm hơn so với quá trình giảm/tăng của lãi suất Nhưng độ dốc của các đường lãi suất và VN-Index thì khá giống nhau, tức là mức độ tăng/giảm của VN-Index tương đồng với mức độ giảm/tăng của lãi suất
Vào năm 2008, khi chính sách tiền tệ có những thay đổi theo hướng thắt chặt, TTCK bắt đầu lao dốc khá nhanh Sau một nhịp điều chỉnh dài, thị trường hồi phục đôi chút để rồi tìm về mức đáy mới (2/2009), bất chấp việc chính sách tiền tệ dần được nới lỏng Tuy nhiên, ngay sau đó, chính sách tiền tệ có tín hiệu thắt chặt trở lại, khiến thị trường phục hồi chưa được bao lâu rơi vào trạng thái lình xình (10/2009 - 1/2011) Từ tháng 10/2011, chính sách tiền tệ của NHNN một lần nữa thắt chặt, với lãi suất tái cấp vốn và lãi suất chiết khấu tăng lên bằng mức cao nhất năm 2008 Từ tháng 3/2012 trở lại đây, các mức lãi suất này bắt đầu giảm, mặc dù mức giảm chưa nhiều, nhưng cũng mang những tín hiệu tích cực
Năm 2012 khép lại với mức VN-Index tại 413.73 điểm, tăng 17.67% Sau một loạt những thông tin vĩ mô tốt, thị trường được hỗ trợ đáng kể và kéo các chỉ số tăng mạnh trong phiên giao dịch tháng 3/2013 Cụ thể, với việc giảm phát tại Hà Nội và TPHCM, tín dụng tăng trở lại cũng như một số ngân hàng công bố hạ lãi
30 suất đã giúp hơn 160 cổ phiếu trên hai sàn tăng giá, đặc biệt là ở các mã vốn hóa lớn Qua đó giúp VN-Index tăng 4,13 điểm tương ứng 0,85%, xuyên mốc 490 lên 491,17 điểm HNX-Index tăng nhẹ 0,02 điểm tương ứng 0,03% lên 61,56 điểm Khi thông tin về tín dụng cho thấy tăng trưởng tín dụng đã tăng trở lại chứng tỏ khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp đã được cải thiện, và đây là một trong những điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp tăng trưởng tốt hơn trong thời gian tới, dẫn đến niềm tin về sức phục hồi của TTCK cũng tăng lên
Thị trường chứng khoán Việt Nam đã khép lại năm 2013 với sự tăng trưởng khá tốt về mặt chỉ số của cả hai sàn khi VN-Index tăng 22.2% lên 504.63 điểm và HNX-Index tăng 18.9% lên 67.84 điểm Thị trường chứng khoán đã trải qua năm
2013 khá yên ả, không phải đối mặt với những vụ bê bối, bắt bớ giống như năm trước Ngược lại, thị trường nhận được sự hỗ trợ tích cực từ vĩ mô như gói cứu trợ bất động sản 30,000 tỷ đồng và phương án xử lý nợ xấu thông qua VAMC, hai yếu tố này đã giúp thị trường khởi sắc trong nửa đầu năm Và nửa cuối năm còn lại thị trường nhận được hỗ trợ từ việc lãi suất tiền gửi ngân hàng các kỳ hạn giảm, dòng tiền đầu cơ đổ vào chứng khoán, cũng như sự trở lại của khối ngoại trước thông tin nới room đã trình lên Chính phủ Ngoài ra, các kênh đầu tư khác như gửi tiết kiệm, vàng và bất động trở nên kém hấp dẫn so với chứng khoán cũng là một nhân tố giúp dòng tiền được đổ vào thị trường trong năm qua Mặc dù vậy, thị trường cũng chứng kiến hàng loạt doanh nghiệp rời sàn và có quá ít doanh nghiệp niêm yết mới (có đến 43 doanh nghiệp hủy niêm yết và chỉ 14 doanh nghiệp niêm yết mới) Cùng với đó, năm 2013 cũng không có những trường hợp niêm yết bổ sung lớn Cho nên, tổng số lượng cổ phiếu niêm yết tăng thêm trên cả hai sàn rất thấp khoảng 5.7%, ứng với 1.9 tỷ đơn vị Năm 2013 được coi là một năm thành công của TTCK Việt Nam, nếu như nửa năm đầu là năm của các bluechips vốn hóa lớn và các cổ phiếu trong VN30 thì đến cuối năm làn sóng penny và midcap đã khiến nhiều cổ phiếu
“ruồi” từ mức 2.000 đồng/cp tăng 3-4 lần và chạm mệnh giá Nhiều nhà đầu tư có thể đạt mức lợi nhuận cao hơn rất nhiều lãi suất tiết kiệm trong năm 2013 và kênh đầu tư chứng khoán vẫn là một kênh hấp dẫn nhất thời điểm hiện tại
Năm 2014 VN-Index đã tích luỹ được 41 điểm, tương ứng mức 8.13% so với phiên giao dịch cuối cùng của năm 2013 Trong suốt năm qua, VN-Index đóng cửa
31 cao nhất là vào ngày 3/9, đạt 640.75 điểm Vào thời điểm tháng 10, không chỉ các tổ chức, cá nhân trên, mà rất nhiều nhà đầu tư có cái nhìn lạc quan về TTCK Tác động của giá dầu và Thông tư 36/NHNN đã làm thay đổi không khí lạc quan của thị trường Việc ban hành Thông tư 36 về giới hạn và tỷ lệ an toàn của các TCTD đến tâm lý thị trường do lo ngại thanh khoản của thị trường sẽ giảm mạnh Thông tư 36 giới hạn các khoản vay để đầu tư chứng khoán Thông tư này cũng bổ sung quy định siết chặt tỷ lệ vốn ngắn hạn ngân hàng để mua trái phiếu nên đã khiến một vài ngân hàng nước ngoài bán ra trái phiếu và khiến lợi suất trái phiếu tăng lên Rất nhiều nhà đầu tư đã đứng vững trước sự cố biển Đông hồi tháng 5, nay lại chịu thua lỗ khá đậm trong đợt sụt giảm cuối năm của thị trường Ngoài nhà đầu tư nắm giữ cổ phiếu dầu khí, khá nhiều nhà đầu tư nắm các cổ phiếu kỳ vọng dài hạn như SSI hay HAG đã phải cắt lỗ, chấp nhận lỗ vốn năm nay Cơ sở cho kỳ vọng là các yếu tố cơ bản của thị trường vẫn còn nguyên giá trị, nền kinh tế ổn định, các doanh nghiệp vẫn tăng trưởng ổn định và đặc biệt giảm giá xăng mới chỉ tác động tiêu cực đến thị trường, còn tác động tích cực vẫn chưa phản ánh Tác động tích cực là giảm chi phí đầu vào của nhiều ngành sản xuất, kích thích sức mua, tiêu dùng của nền kinh tế cần có độ trễ 3 đến 6 tháng để thể hiện rõ ràng hơn Khối công ty chứng khoán cần có thời gian để huy động nguồn vốn mới thay thế các nguồn vốn nóng bị rút về do quy định của Thông tư 36
Như vậy, từ những nhận định về thị trường và số liệu từ biểu đồ ta có thể nhận thấy có những đợt giảm VN-Index mặc dù xu thế chung là tăng Yếu tố gây sụt giảm là ảnh hưởng tiêu cực của tình hình kinh tế thị trường của Việt Nam trong bối cảnh thị trường thế giới cũng có những yếu tố biến động gây tác động lên thị trường nội địa Dự báo năm 2015 TTCK có thể tăng lên mức 680 điểm dựa trên quan điểm giá CP chịu ảnh hưởng lớn từ lợi suất trái phiếu Chính phủ, lãi suất huy động và cho vay tại các ngân hàng Các nguồn thu nhập cố định là những khoản đầu tư thay thế cho cổ phiế Vì vậy, nếu lãi suất giảm, dòng tiền sẽ chảy vào TTCK
Thực tế cho thấy lãi suất giảm và VN-Index đã tăng khoảng 50% trong xu hướng kéo dài từ cuối năm 2012 đến nay Điều này có thể chỉ kết thúc khi mà các cổ phiếu không còn được coi là tài sản giá rẻ trên thị trường Thông tin lãi suất giảm lại một lần nữa khẳng định chứng khoán vẫn là một kênh thu hút dòng tiền đầu tư
Về dài hạn, có thể thấy, khi lãi suất bắt đầu giảm nhanh cũng là lúc TTCK bắt đầu vào vùng đáy Do độ trễ của chính sách, nên tác động tích cực của nó cần thời gian để chứng minh Vì vậy, căn cứ vào tín hiệu lãi suất có thể nhận định rằng, VN- Index đang trong xu thế điều chỉnh giảm để xác lập mức đáy, sau đó có khả năng tăng trưởng Như vậy, NĐT có thể kỳ vọng TTCK VN sẽ có sự tăng trưởng mạnh mẽ nếu các mức lãi suất trên được điều chỉnh giảm