Trong khi đó, các nhà tâm lý học Liên Xô cũ nghiên cứu về thái độ cho rằng, thái độ được hiểu là sự biến dạng hoàn chỉnh của chủ thể, là trạng thái sẵn sàng hướng tới một hoạt động nhất
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
TÌM HIỂU SỰ THAY ĐỔI THÁI ĐỘ HỌC TẬP CỦA
SINH VIÊN TRONG QUÁ TRÌNH HỌC TẬP
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP.HCM
SKC 0 0 6 4 9 1
MÃ SỐ: T2018 – 87 TĐ
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT
Mã số: T2018 – 87 TĐ
Trang 3DANH SÁCH CÁC THÀNH VIÊN THAM GIA ĐỀ TÀI
1 Th.S Đỗ Thị Mỹ Trang – Chủ nhiệm đề tài
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG 4
DANH MỤC HÌNH 5
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 6
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 7
PHẦN MỞ ĐẦU 1
I Tổng quan một số công trình nghiên cứu về thái độ học tập của sinh viên trên Thế giới và Việt Nam 1
1 Nghiên cứu làm rõ khái niệm thái độ 1
2 Nghiên cứu về mối quan hệ giữa thái độ và hành vi 2
3 Nghiên cứu thái độ học tập và các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ 3
II Tính cấp thiết của đề tài 5
III Mục tiêu nghiên cứu 6
IV Phương pháp nghiên cứu 7
1 Câu hỏi nghiên cứu 7
2 Phương pháp nghiên cứu 7
V Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
1 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 8
2 Phạm vi nghiên cứu 8
VI Giới hạn nghiên cứu 8
VII Nội dung nghiên cứu 8
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THÁI ĐỘ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN 10
1.1 Khái niệm có liên quan 10
1.1.1 Thái độ 10
1.1.2 Thái độ học tập của sinh viên 17
1.1.3 Sự thay đổi thái độ học tập của sinh viên 18
1.1.4 Đặc điểm chương trình học của sinh viên, hệ thống cơ sở vật chất, không gian học tập tại trường Đại học Sư Phạm Kỹ Thuật TP.HCM 18
1.2 Hình thành thái độ và thay đổi thái độ 19
1.2.1 Hình thành thái độ 19
1.2.2 Thay đổi thái độ 21
1.3 Tầm quan trọng của thái độ và sự cần thiết nâng cao TĐHT cho SV 22
1.4 Những biểu hiện thái độ học tập tích cực của SV 23
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến thay đổi thái độ học tập của SV 26
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 32
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THÁI ĐỘ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN 33
Trang 52.1 Giai đoạn 1: Xây dựng mô hình đánh giá thái độ học tập của SV 33
2.2 Giai đoạn 2: Thiết kế bảng hỏi đánh giá về thái độ học tập 35
2.2.1 Xây dựng các tiêu chí đánh giá 35
2.2.2 Thiết kế bảng hỏi 36
2.2.3 Thử nghiệm bảng hỏi 36
2.3 Giai đoạn 3: Tiến hành khảo sát 42
2.3.1 Đối tượng khảo sát 42
2.3.2 Hình thức khảo sát 42
2.4 Giai đoạn 4: Xử lý số liệu, đánh giá và tìm hiểu sự thay đổi thái độ của SV 42
2.4.1 Đánh giá sự thay đổi thái độ học tập của SV ở các năm học 43
2.4.2 Tìm mối tương quan giữa thái độ học tập và kết quả học tập 48
2.4.3 Tìm hiểu nguyên nhân về sự thay đổi TĐHT của SV các năm 52
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 58
CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP KÍCH THÍCH SINH VIÊN CÓ THÁI ĐỘ HỌC TẬP TÍCH CỰC 59
3.1 Cơ sở định hướng đề xuất giải pháp 59
3.1.1 Tính thực tiễn 59
3.1.2 Tính khả thi 59
3.1.3 Tính khoa học 59
3.2 Đề xuất giải pháp kích thích sinh viên học tập tích cực 60
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 64
PHẦN KẾT LUẬN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 65
1 Một số kết quả đạt được của nghiên cứu 65
2 Một số kiến nghị 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Độ tin cậy của bảng hỏi 36
Bảng 2: Kết quả kiểm định tính thích hợp để phân tích nhân tố 37
Bảng 3: Kết quả thực hiện phép xoay nhân tố 37
Bảng 4: Các thang đo đánh giá thái độ học tập của sinh viên 40
Bảng 5: Thống kê số lượng sinh viên tham gia khảo sát 42
Bảng 6: Kết quả phân tích sâu ANOVA về sự khác biệt của nhận thức và niềm tin của SV 44
Bảng 7: Kết quả phân tích sâu ANOVA về sự khác biệt niềm yêu thích học tập của SV 45
Bảng 8: Kết quả phân tích sâu ANOVA về sự khác biệt của sự thực hiện và nỗ lực trong học tập của SV 46
Bảng 9: Kết quả phân tích sâu ANOVA về sự khác biệt thái độ học tập của sinh viên các năm 47
Bảng 10: Kết quả phân tích sâu ANOVA về sự khác biệt thái độ học tập của các nhóm SV có học lực khác nhau 48
Bảng 11: Mối tương quan giữa kết quả học tập và thái độ học tập 49
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 1: Cấu trúc thái độ - Gồm ba bộ phận hợp thành: Nhận thức – Cảm xúc –
Hành động 12
Hình 2: Cấu trúc thái độ - Gồm ba bộ phận riêng biệt: Nhận thức – Cảm xúc – Ý định hành vi 13
Hình 3: Mô hình đánh giá sự thay đổi thái độ học tập của SV 34
Hình 4: Biểu đồ điểm TB về nhận thức và niềm tin của SV trong học tập 43
Hình 5: Biểu đồ điểm TB về niềm yêu thích của SV trong học tập 45
Hình 6: Biểu đồ điểm TB về sự thực hiện và nỗ lực của SV trong học tập 46
Hình 7: Biểu đồ điểm TB về thái độ của SV trong học tập 47
Hình 8: Biểu đồ thống kê về số lần đánh giá điểm quá trình của GV 50
Hình 9: Biểu đồ điểm TB về đánh giá chương trình học của SV 53
Hình 10: Biểu đồ điểm TB về đánh giá phương pháp giảng dạy của GV 55
Hình 11: Biểu đồ điểm TB về sự yêu thích ngành học của SV 56
Trang 9TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VIỆN SƯ PHẠM KỸ THUẬT
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Tp HCM, Ngày 10 tháng 4 năm 2019
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1 Thông tin chung:
- Tên đề tài: Tìm hiểu sự thay đổi thái độ học tập của sinh viên trong quá trình học tập tại trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp.HCM
- Mã số: T2018 – 87 TĐ
- Chủ nhiệm: Th.S Đỗ Thị Mỹ Trang
- Cơ quan chủ trì: Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh
- Thời gian thực hiện: 12 tháng
- Xây dựng mô hình đánh giá, tiêu chí đánh giá về thái độ học tập của SV
- Xác định thực trạng về thái độ học tập của SV trường Đại học SPKT.TP.HCM bằng các phương pháp nghiên cứu tin cậy và khách quan
- Đánh giá sự thay đổi thái độ học tập của SV trong quá trình học tập tại trường ĐHSPKT.TP.HCM bằng phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi và phỏng vấn sâu
- Đề xuất giải pháp nâng cao thái độ học tập tích cực cho SV
4 Kết quả nghiên cứu:
Trang 10- Báo cáo thực trạng đánh giá về sự thay đổi thái độ học tập của SV trường
ĐH SPKT.TP.HCM
- Báo cáo đề xuất giải pháp khuyến khích thái độ học tập tích cực của SV trường ĐHSPKT.TP HCM
5 Sản phẩm:
- Công bố một bài báo đăng Tạp chí Khoa học trường ĐHSP HÀ NỘI:
Đỗ Thị Mỹ Trang, Đỗ Mạnh Cường, Đoàn Thị Huệ Dung, Đánh Giá Sự
Thay Đổi Thái Độ Học Tập Của Sinh Viên Trường ĐHSPKT.TP.HCM,
Địa chỉ ứng dụng: Các khoa của trường ĐH SPKT.TP.HCM; Viện sư phạm kỹ thuật, trường đại học sư phạm kỹ thuật TP.HCM.
Trang 11INFORMATION ON RESEARCH RESULTS
1 General information:
Project title: Research on changes of students’ learning attitude at HCM
UTE
- Code number: T 2018 – 87 TĐ
- Coordinator: ĐO THI MY TRANG
- Implementing institution: HCM UTE
- Duration: 12 months
2 Objective(s):
- Building assessing criteria of students’ learning attitude
- Evaluating in changing of students’ learning attitude at HCM UTE
- Recommending solutions for enhancing students’ active learning attitude
at HCM UTE
3 Creativeness and innovativeness:
- Finding out model of evaluating in students’ learning attitude
- Finding out status of students’ learning attitude at HCM UTE via reliable and unbiased researching methods
- Evaluating in changing of students’ learning attitude at HCM UTE by survey and deep interview
- Recommending solutions for enhancing students’ active learning attitude at HCM UTE
4 Research results:
- The report on the overview of students’ learning attitude at HCM UTE
- The report on status of students’ learning attitude changing at HCM UTE
- The report on recommending solutions for enhancing students’ learning attitude at HCM UTE
5 Products:
Trang 12Do Thi My Trang, Do Manh Cuong, Doan Thi Hue Dung, Evaluating in
changing of students’ learning attitude at HCM UTE Journal of HaNoi
University of Education, Volume 64, Issue 4, 2019
- The reporting volumes of studing result of students’ learning attitude at HCM UTE
6 Effects, transfer alternatives of reserach results and applicability:
Learning attitude plays an important role to decide working success Therefore, evaluating in changing of students’ learning attitude at HCM UTE in order to find out suitable solutions that aim learning quality enhancing These results is able to apply for all faculties at HCM UTE
Trang 13PHẦN MỞ ĐẦU
I Tổng quan một số công trình nghiên cứu về thái độ học tập của
sinh viên trên Thế giới và Việt Nam
Có nhiều công trình nghiên cứu về thái độ, thái độ học tập của sinh viên (như: W.I.Thomas và F.Znaniecki (1918); I.L.Bogiovic (1951); Bem (1970); G Allport (1935, 1976); Fishbein & Ajzen (1975); Eagly & Chaiken (1993); …), các nghiên cứu tập trung ở các vấn đề sau:
1 Nghiên cứu làm rõ khái niệm thái độ
Năm 1918, hai nhà tâm lý học người Mỹ là W.I.Thomas và F.Znaniecki là những người người đầu tiên đưa ra và sử dụng khái niệm về thái độ thông qua những nghiên cứu của mình về nông dân Ba Lan Trong nghiên cứu của mình hai ông chú ý đến sự thích ứng của nông dân tới sự thay đổi các giá trị trong môi trường xã hội thay đổi Hai ông cho rằng thái độ là trạng thái tinh thần của cá nhân đối với một giá trị
Trong khi đó, các nhà tâm lý học Liên Xô cũ nghiên cứu về thái độ cho rằng, thái độ được hiểu là sự biến dạng hoàn chỉnh của chủ thể, là trạng thái sẵn sàng hướng tới một hoạt động nhất định, là cơ sở của tính tích cực có sự lựa chọn của chủ thể Thái độ xuất hiện khi có sự xuất hiện của hai yếu tố là nhu cầu và hoàn cảnh thỏa mãn nhu cầu Về vấn đề này, V.N.Miasixer, tác giả của thuyết
“thái độ nhân cách” xem nhân cách như một hệ thống thái độ Ông cho rằng thái
độ là hệ thống chủ quan bên trong, là hệ thống toàn vẹn của mối liên hệ có chọn lọc, có ý thức của nhân cách với các khía cạnh khác nhau của hiện thực khách quan Ông chỉ ra rằng cơ sở sinh lý học của thái độ có ý thức của con người là
các phản xạ có điều kiện “…thái độ là điều kiện khái quát bên trong hệ thống
các hành động của con người” [ 4] Và, ông cũng chú ý đến thái độ trong mối
quan hệ với các hành vi và cho rằng: nhu cầu, hứng thú, tình cảm,…cũng là thái
độ Tuy nhiên, về vấn đề này, ông coi các thuộc tính tâm lý cũng là thái độ chưa thực sự được thuyết phục bởi các nhà tâm lý học khác
G Allport (1935, 1976) cho rằng thái độ là một trạng thái sẵn sàng về tinh
Trang 14hoặc ảnh hưởng năng động trong phản ứng của cá nhân đối với mọi đối tượng và tình huống có liên quan Nhấn mạnh ở khía cạnh đánh giá, Eagly & Chaiken (1993) xem thái độ là một xu hướng tâm lý được thể hiện bằng cách đánh giá một đối tượng cụ thể với một mức độ ủng hộ hoặc không ủng hộ Fishbein & Ajzen (1975) xem thái độ là những khuynh hướng có được/học được để đáp ứng một cách ủng hộ hay không ủng hộ đối với một sự vật, một con người hoặc một
sự kiện nhất định Thái độ còn được hiểu là sự thích hay không thích (Bem, 1970) [2]
Có nhiều quan điểm định nghĩa về thái độ, nhưng các định nghĩa trên đều cho thấy rằng thái độ có chức năng định hướng hành vi ứng xử của con người, thúc đẩy tính sẵn sàng của những phản ứng của con người hướng đến đối tượng
2 Nghiên cứu về mối quan hệ giữa thái độ và hành vi
Thái độ là sự đáp ứng yêu thích hoặc không yêu thích đến một đối tượng, một người hoặc sự kiện Thái độ được hiểu dưới nhiều quan điểm khác nhau, nhưng điểm chung về định nghĩa của thái độ là sự sẵn sàng đáp ứng (Allport, 1935) Đáp ứng theo cách có lợi hay không có lợi, thuận hay không thuận đến đối tượng cụ thể (Eagly & Chaiken, 1993; Fishbein & Ajzen, 1975), hoặc đơn giản là thích hay không thích khi nhấn mạnh về trạng thái cảm xúc theo quan điểm của Bem (1970) [2]
Nghiên cứu về mối quan hệ giữa thái độ và hành vi, Allport cho rằng thái
độ có mối quan hệ chặt chẽ với hành vi, nó còn có chức năng thúc đẩy hành vi, hướng dẫn cách thức hành vi (Allport (1935)
Trong một nghiên cứu nổi tiếng để xem xét thái độ và hành vi có liên quan với nhau hay không, La Pière (1934) chứng tỏ rằng cách người ta nói đến thái độ
mà họ có rất khác với thái độ dùng giải thích hành vi của họ Một thí nghiệm
được ông thực hiện đó là: “La Pière và hai bạn người Trung Quốc đi khắp nước
Mỹ, lưu lại ở các khách sạn, ăn uống trong những nhà hàng Trên 90 % chỗ chấp nhận khách không do dự, ngay cả thiên kiến chống lại người Trung Quốc là sự thiên vị về sắc tộc chính ở xã hội Mỹ lúc bấy giờ Nhưng sáu tháng sau, La Pière liên lạc với những khách sạn và nhà hàng khắp nước Mỹ để hỏi xem họ có tiếp
Trang 15nhận khách người Trung Quốc không, và hầu hết toàn bộ những chủ khách sạn nói rằng họ không tiếp nhận” [3] Từ thí nghiệm này, tác giả đưa ra ý kiến là
thông qua thái độ mà con người có không nhất thiết cho phép chúng ta tiên đoán hành vi của họ Tuy nhiên, ý kiến này bị Ajzen (1988) đưa ra chứng cứ cho rằng
đó là sự sai lầm, ông cho rằng hành động của con người thống nhất với thái độ của họ được xem xét một cách thống nhất và tổng quát Những thái độ đó có thể thay đổi dựa vào mức độ tổng quát hoặc cụ thể của chúng Fishbein và Ajen (1975); Reid (2006) cho rằng thái độ có ba thành tố có quan hệ với nhau là: niềm tin, xúc cảm và ý định hành vi Theo Fishbein and Ajen (1975), hành vi của một người được xác định bởi ý định hành vi để thực hiện nó và ý định này được xác định bởi thái độ của người đó
Vì vậy, từ kết quả nghiên cứu của các tác giả trên cho thấy rằng khi nghiên cứu về thái độ là phức tạp ở những mức độ khác nhau, bao gồm ba thành phần liên quan đến nhau để tạo nên tính toàn diện của thái độ: [4]
- Nhận thức – liên quan tới niềm tin và ý tưởng mà một người có hướng về mục tiêu thái độ
- Tình cảm – có liên quan tới cách con người cảm nhận về mục tiêu thái độ; nói cách khác, xúc cảm và những đáp ứng xúc cảm của họ
- Hành vi – có liên quan đến khuynh hướng hành động của cá nhân, hoặc để hành động dựa vào mục tiêu thái độ
3 Nghiên cứu thái độ học tập và các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ
Thái độ học tập không được nghiên cứu riêng rẽ mà lồng vào trong nghiên cứu động cơ, hứng thú học tập Có thể kể đến các tác giả tiêu biểu đã có các công trình nghiên cứu về động cơ học tập của học sinh là: I.L.Bogiovic (1951) nghiên cứu động cơ, thái độ học tập của học sinh nhỏ; A.K.Marcova (1983) nghiên cứu hình thành động cơ học tập của học sinh; Machikhina và đồng tác giả nghiên cứu quan hệ giữa động cơ và thái độ học tập của học sinh; A.I.Kovaliov (1987) nghiên cứu động cơ lựa chọn nghề nghiệp của học sinh, sinh viên v.v Ở những nghiên cứu trên, các tác giả thường coi thái độ học tập là một trong những nhân
tố đóng vai trò động cơ thúc đẩy tính tích cực của học sinh với giáo viên, với
Trang 16G.Witzlack nghiên cứu phân tích thái độ học tập trong các hình thức học tập khác nhau như: thái độ học tập trên lớp và thái độ tự học Tác giả cũng đưa ra các tiêu chuẩn đánh giá về thái độ học tập tích cực như: [1]
- Sự nỗ lực nhận thức
- Sự sẵn sàng thực hiện những nhiệm vụ học tập
- Tự đặt ra những yêu cầu cao về thành tích học tập của bản thân
- Sự phản ứng với những kết quả học tập thành công hay thất bại
- Tinh thần vận dụng kiến thức
N.P.Levitop nghiên cứu mặt biểu hiện của thái độ trên hành vi học tập của người học trên lớp học cũng như tự học Tác giả cho rằng thái độ học tập tích cực của người học thể hiện ở chỗ: người học chú ý, hứng thú và sẵn sàng gắng sức vượt khó khăn S.Frans đã đưa ra các tiêu chuẩn đánh giá về thái độ học tập, theo tác giả người học có thái độ học tập tích cực được biểu hiện qua mười dấu hiệu sau: [1]
- (1).Chú ý nghe giảng trên lớp học;
- (2).Học bài và làm bài đầy đủ;
- (3).Cố gắng vươn lên trong học tập;
- (4).Không vội vàng phản ứng khi chưa hiểu hoặc không đồng tình với bài giảng;
- (5).Đảm bảo tính kỷ luật;
- (6).Cố gắng đạt kết quả học tập tốt và có phấn đấu đạt thành tích cao hơn một cách trung thực;
- (7).Thực hiện nhiệm vụ một cách độc lập;
- (8).Nhiệt tình trong giờ sửa bài hoặc thảo luận;
- (9).Hoàn thành nhiệm vụ học tập một cách nghiêm túc;
- (10).Giữ gìn tài liệu một cách cẩn thận
Các nghiên cứu về thái độ học tập tại Việt Nam:
Về khía cạnh này, nghiên cứu về học tập, cũng được nhiều nhà nghiên cứu Việt nam quan tâm, như:
Phan Hữu Tín, Nguyễn Thúy Quỳnh Loan (2011) nghiên cứu xác định nhũng yếu tố ảnh hưởng đến thái độ học tập của sinh viên (SV) Các tác giả cho
Trang 17rằng có bảy yếu tố tác động đến thái độ học tập của SV bao gồm: Giảng viên; Phương pháp giảng dạy; Hệ thống cơ sở vật chất; Giáo trình, nội dung môn học; Thực hành; thực tập thực tế; Động lực học tập; Điều kiện ăn ở sinh hoạt Trong bảy yếu tố này đều có tác động tích cực đến thái độ học tập của SV nhưng trong
đó yếu tố về động lực học tập và giáo trình, nội dung môn học có ảnh hưởng mạnh nhất
Hoàng Đức Nhuận và Lê Đức Phúc cũng đã nêu ra những chỉ số như: chú
ý, hăng hái tham gia vào mọi hình thức của hoạt động học tập, hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao, học thêm và làm các bài tập, vận dụng hoặc chuyển tải những gì đã học vào thực tế, hình thành và phát triển quan hệ thầy trò, quan hệ tình bạn nhằm giúp bản thân học tốt hơn, nâng cao chất lượng và kết quả học tập [1]
Đào Lan Hương (1998) cho rằng thái độ học tập là bộ phận cấu thành, đồng thời là một thuộc tính cơ bản vẹn toàn của ý thức học tập của chủ thể, là yếu tố quy định tính tự giác, tích cực học tập và thể hiện bằng những cảm xúc, hành động tương ứng Thái độ học tập còn được coi là một trong những biểu hiện của động cơ học tập (Phạm Minh Hạc (1988) [6] Điều này nhấn mạnh thái độ ảnh hưởng đến tính tích cực của người học mà các tác giả trên đã chỉ ra ở những nghiên cứu của mình
Một số tác giả khác cũng nghiên cứu về thái độ học tập của SV như: Dương Bá Vũ (2016); Đoàn Văn Điều (2012); Quỳnh Anh (2008); Vũ Mộng Đóa (2005); v.v…Các nghiên cứu trên đều có một điểm chung là chỉ tập trung tìm hiểu thái độ học tập của SV ở một lĩnh vực cụ thể và các yếu tố ảnh hưởng, chứ chưa phản ánh được thái độ học tập của SV trong cả quá trình học tập Vì vậy, mục đích của nghiên cứu này là tìm hiểu thái độ học tập của SV qua các năm, tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến sự thay đổi thái độ và đề xuất giải pháp, nhằm đóng góp vào khoảng trống mà các nghiên cứu trước chưa thực hiện về lĩnh vực thái độ học tập của sinh viên
II Tính cấp thiết của đề tài
Mục tiêu giáo dục phát triển con người toàn diện về mặt tri thức, hình
Trang 18việc lĩnh hội tri thức thì khả năng tập trung chú ý, tâm thế, thái độ, là những nhân
tố quan trọng ảnh hưởng đến kết quả học tập Thái độ học tập là một trong những
cơ sở hình thành động cơ học tập – là nguyên nhân trực tiếp để giúp người học duy trì hứng thú và vượt qua mọi khó khăn để đạt được mục đích đề ra Người học có thái độ tích cực dẫn đến hành vi học tập tích cực
Nâng cao chất lượng đào tạo là một trong những định hướng phát triển giáo dục đại học trong giai đoạn hiện nay Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh (ĐHSPKT.TP.HCM) đang từng bước phát triển để nâng cao chất lượng và vào tốp 50 các trường đại học tốt nhất Châu Á, bằng nhiều cách thức như: Phát triển chương trình đào tạo; Bồi dưỡng năng lực giảng dạy, năng lực chuyên môn cho giảng viên; Tổ chức các buổi hội thảo, diễn đàn chia sẻ kinh nghiệm, tham gia các dự án đào tạo; Nâng cao chất lượng và đa dạng về phương tiện học tập, điều kiện học tập; v.v…Tuy nhiên, chất lượng học tập không chỉ bị ảnh hưởng bởi yếu tố “giáo viên, nhà trường” mà còn bị ảnh hưởng bởi yếu tố “bản thân” người học như: kinh nghiệm, phương pháp học, thái độ, niềm tin,… Về vấn đề này, nhà trường chưa thực sự quan tâm sâu đến mong muốn, tình cảm, thái độ học tập của người học Vì đây là một trong những yếu tố ảnh hưởng chính đến kết quả học tập
Ngoài ra, thông qua quan sát nhận thấy rằng sinh viên các năm cuối tại trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TPHCM không thật sự tích cực và có những biểu hiện như mệt mỏi, chán nản, vắng lớp nhiều, v.v Vì vậy, để có những điều chỉnh phù hợp nếu chỉ thông qua quan sát ban đầu thì chưa đủ cơ sở khoa học để đánh giá về thái độ học tập của người học Cho nên, nghiên cứu này là cần thiết
để thông qua đó xác định được nguyên nhân và đề xuất các giải pháp khơi gợi niềm say mê, sự hứng thú trong học tập ở người học
III Mục tiêu nghiên cứu
- Xây dựng mô hình đánh giá, tiêu chí đánh giá về thái độ học tập của SV
- Đánh giá sự thay đổi thái độ học tập của SV trong quá trình học tập tại trường ĐHSPKT.TP.HCM
- Đề xuất giải pháp nâng cao thái độ học tập tích cực của SV
Trang 19IV Phương pháp nghiên cứu
1 Câu hỏi nghiên cứu
Vấn đề nghiên cứu của đề tài là sự thái đổi thái độ học tập của SV Vì vậy,
để đánh giá về thái độ học tập, sự thái đổi thái độ học tập, đề tài tập trung giải quyết các câu hỏi chính sau:
- Mô hình đánh giá thái độ học tập của SV như thế nào?
- Thái độ học tập của SV hiện nay như thế nào và yếu tố nào ảnh hưởng đến
sự thay đổi thái độ của SV tại trường ĐHSPKT.TPHCM?
2 Phương pháp nghiên cứu
Để tìm hiểu về sự thay đổi thái độ học tập của SV qua các năm, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: phân tích, tổng hợp các vấn đề liên
quan đến thái độ học tập Nghiên cứu cơ sở luận về cấu trúc thái độ học tập và các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ học tập
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
(1) Phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi: sử dụng phương pháp khảo sát
bằng bảng hỏi để tìm hiểu về thái độ học tập của SV Bảng hỏi tập trung tìm hiểu
ở những phần sau:
Nhận thức, niềm tin của SV về việc học;
Niềm yêu thích của SV với học tập;
Sự thực hiện và nỗ lực của SV trong học tập;
Phương pháp giảng dạy của GV;
Hình thức kiểm tra đánh giá của GV;
Phương pháp học tập của SV;
Chương trình học tập của SV;
Cơ sở vật chất của nhà trường, phương tiện học tập;
(2) Phương pháp phỏng vấn: đề tài thực hiện phỏng vấn sâu về việc học
tập của SV, nội dung phỏng vấn tập trung vào những vấn đề như đã đề cập ở phần trên (phần (1)) để tìm hiểu về nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi về thái độ học tập
Trang 20(3).Phương pháp thống kê toán học: đề tài sử dụng phần mềm SPSS 23 để
tính toán độ tin cậy, thống kê tỷ lệ phần trăm, Mean, tương quan Pearson, phân tích sâu ANOVA
V Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là: thái độ học tập
- Khách thể nghiên cứu là: sinh viên của trường ĐH SPKT.HCM
2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu là sinh viên của trường ĐH SPKT.HCM
VI Giới hạn nghiên cứu
Đối tượng khảo sát của đề tài này là sinh viên năm nhất, SV năm hai, SV năm ba và SV năm tư tại trường ĐH SPKT.HCM
Về nội dung nghiên cứu: nghiên cứu đã tập trung tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến sự thay đổi thái độ học tập của SV qua các năm dựa trên các thành tố cấu trúc cơ bản của quá trình dạy học: Người học, người dạy, nội dung dạy học
và môi trường học tập Tuy nhiên, nghiên cứu này chưa tìm hiểu sâu các yếu tố khách quan khác tác động đến thái độ học tập của SV như: điều kiện ăn ở, hoàn cảnh gia đình, cũng như vấn đề đi làm thêm mà có thể ảnh hưởng đến sự tập trung dành cho việc học tập cũng như thái độ học tập
VII Nội dung nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu của đề tài bao gồm những phần sau:
- Nghiên cứu tổng quan về thái độ học tập của SV trên thế giới và ở Việt Nam
- Nghiên cứu về cơ sở lý luận của đề tài: Các khái niệm liên quan; Cấu trúc của thái độ học tập; Chức năng của thái độ; Đặc điểm chương trình học của SV tại trường; Hình thành thái độ và thay đổi thái độ; Tầm quan trọng
và sự cần thiết nâng cao thái độ học tập tích cực; Những biểu hiện của thái
độ học tập tích cực; Các yếu tố ảnh hưởng đến thay đổi thái độ học tập; Một số giải pháp – Kinh nghiệm kích thích thay đổi thái độ học tập
- Đánh giá thái độ học tập của SV được thực hiện qua các giai đoạn:
1) Giai đoạn 1: Xây dựng mô hình đánh giá
Trang 212) Giai đoạn 2: Thiết kế công cụ đánh giá
3) Giai đoạn 3: Tiến hành khảo sát
4) Giai đoạn 4: Xử lý số liệu và đánh giá về sự thay đổi thái độ học tập của SV
- Đề xuất giải pháp kích thích thái độ học tập tích cực của SV tại trường ĐHSPKT.TP.HCM
- Kết luận đề tài
Trang 22CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THÁI ĐỘ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN
1.1 Khái niệm có liên quan
1.1.1 Thái độ
Định nghĩa thái độ
Khái niệm thái độ được xem là phổ biến và sử dụng nhiều trong cuộc sống Thái độ có thể hiểu đơn giản như là tình yêu gia đình: thể hiện sự quan tâm, yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau Thái độ cũng còn được xem là nguyên nhân dẫn đến hành vi của một người đối với một đối tượng nào đó, thái độ còn giúp để giải thích tính nhất quán hành vi của con người, v.v Thái độ được xem là quyền riêng tư của mỗi con người đối với các cá nhân, tổ chức, các vấn đề xã hội, v.v…
Nó phản ánh cách con người đó nhìn nhận thế giới xung quanh như thế nào Ngoài ra, thái độ là một khái niệm liên ngành, không chỉ được sử dụng cho các nhà xã hội học, tâm lý học, mà khái niệm thái độ còn sử dụng cho những nhà khoa học nghiên cứu về chính sách, nhà giao tiếp học,…Vì vậy thái độ là một khái niệm rộng, có nhiều định nghĩa khác nhau trong nhiều lĩnh vực Trong một cách chung, thái độ được nhiều nhà nghiên cứu định nghĩa như sau: [12]
- Nhà Tâm lý học người Mỹ là V.I Thomas và PH Znanheski (1918) xem thái độ như là một trong những thuộc tính quan trọng của các vấn đề xã hội Họ cho rằng: Thái độ là trạng thái tinh thần của cá nhân đối với một giá trị
- Theo một cách đơn giản, Bem (1970) định nghĩa thái độ là sự thích và không thích
- Nhà tâm lý học xã hội Hoa kỳ G.V Onparte thì cho rằng thái độ là trạng thái thần kinh và tâm lý của sự sẵn sàng, nó được tạo ra trên cơ sở kinh nghiệm có ảnh hưởng và điều khiển năng động đến những khách thể và tình huống gắn liền với cá nhân đó
- G Allport (1935, 1976) cho rằng thái độ là một trạng thái sẵn sàng về tinh thần và thần kinh, được tổ chức thông qua kinh nghiệm, có khả năng điều chỉnh hoặc ảnh hưởng năng động trong phản ứng của cá nhân đối với mọi đối tượng và tình huống có liên quan
Trang 23- Nhấn mạnh ở khía cạnh đánh giá, Eagly & Chaiken (1993) xem thái độ là một xu hướng tâm lý được thể hiện bằng cách đánh giá một đối tượng cụ thể với một mức độ ủng hộ hoặc không ủng hộ Thái độ được hiểu là sự đáp ứng có tính đánh giá và đáp ứng thuộc lĩnh vực tình cảm và chính thái
độ làm nảy sinh động cơ hay các hành vi có chủ đích Thái độ nảy sinh bên trong con người và sau đó mới biểu hiện ra bên ngoài Thái độ là sản phẩm của sự đánh giá tâm lý và nhận thức về đối tượng xuất phát từ nhu cầu của chủ thể
- Fishbein & Ajzen (1975) xem thái độ là những khuynh hướng có được/học được để đáp ứng một cách ủng hộ hay không ủng hộ đối với một
sự vật, một con người hoặc một sự kiện nhất định
- Thái độ được hiểu là một khuynh hướng đáp ứng theo cách có lợi (thuận) hoặc bất lợi (không thuận) đối với một đối tượng nhất định (Oskamp, 2005)
Có thể nhận thấy rằng đặc điểm trung tâm của các định nghĩa về thái độ là
là sự sẵn sàng đáp ứng (Allport, 1935), thái độ không phải là hành vi mà nó được xem như một sự chuẩn bị cho hành vi (Oskamp, 2005), một khuynh hướng đáp ứng theo một cách cụ thể đối với một đối tượng [12]
Một điểm khác được nhấn mạnh bởi Allport là động lực của thái độ Đó
là, thái độ không chỉ là kết quả thụ động của kinh nghiệm trong quá khứ, mà nó
có hai chức năng hoạt động được Allport mô tả là "tạo ra ảnh hưởng trực tiếp hoặc năng động" “Năng động” chỉ ra rằng chúng thúc đẩy hành vi Thái độ hướng dẫn hình thức và cách thức hành vi
Ngoài ra, về vấn đề này, Dương Thiệu Tống cho rằng thái độ là mức cảm nghĩ tiêu cực hay tích cực (thuận hay không thuận) liên hệ đến một đối tượng tâm
lý Một cá nhân có cảm nghĩ tích cực đối với một đối tượng tâm lý được coi như
là thích đối tượng ấy hay là có thái độ thuận lợi đối với nó Ngược lại, một cá nhân có cảm nghĩ tiêu cực được coi như không thích đối tượng tâm lý ấy hay có thái độ không thuận lợi đối với nó (Dương Thiệu Tống, 1981).[4]
Trang 24Theo từ điển tiếng Việt: Thái độ được hiểu là “cách nghĩ, cách nhìn và cách hành động theo một hướng nào đó trước một vấn đề, một tình hình”
Theo từ điển các thuật ngữ tâm lý và phân tâm học (1996) định nghĩa:
“Thái độ là một trạng thái ổn định bền vững, do tiếp thu được từ bên ngoài hướng đến sự ứng xử một cách nhất quán đối với một đối tượng cụ thể Một thái
độ được nhận biết ở sự nhất quán của các phản ứng đối với một nhóm đối tượng Trạng thái sẵn sàng có ảnh hưởng trực tiếp lên cảm xúc và hành động có liên quan đến đối tượng.” [1]
Từ các định nghĩa trên đều cho thấy rằng thái độ có chức năng định hướng hành vi ứng xử của con người, thúc đẩy tính sẵn sàng những phản ứng của con người hướng đến đối tượng Hay “ Thái độ là cách ứng xử của cá nhân đối với các tình huống, các vấn đề xã hội” Như vậy, khái niệm thái độ là một khái niệm mang tính phức tạp Thái độ của con người là toàn bộ hệ thống các mối quan hệ
có tính đánh giá, có ý thức của cá nhân đối với các mặt khác nhau của đối tượng
Nó thể hiện qua kinh nghiệm cá nhân và yếu tố bên trong (nhận thức, niềm tin, yêu thích…) qui định thành hành vi, cảm xúc của con người đối với đối tượng
đó
Cấu trúc của thái độ
Có ba khuynh hướng lý thuyết khi xem xét cấu trúc thái độ: [12]
- Khuynh hướng thứ nhất xem thái độ như một thực thể (entity) đơn nhất gồm ba bộ phận hợp thành là nhận thức (cognitive), xúc cảm/tình cảm (affective) và hành vi (behaviour) (Allport, 1985; Herbert Spencer 1962; McGuire, 1969)
Nhận thức
THÁI
ĐỘ
Hình 1: Cấu trúc thái độ - Gồm ba bộ phận hợp thành: Nhận thức – Cảm xúc – Hành động
Trang 25Ở khuynh hướng này, các tác giả đưa ra khung cấu trúc chung của thái độ
là thành phần hợp nhất của nhận thức, cảm xúc và hành động, có tính nhất quán cao giữa ba thành phần Có nghĩa là để hình thành thái độ phải xuất hiện cả ba thành phần trên.Tuy nhiên, đối với khuynh hướng này nhiều người phản biện cho rằng, liệu rằng mọi thái độ phải có đủ cả ba thành phần khi có kết quả nghiên cứu cho thấy rằng một số thái độ không cần có
đủ ba khía cạnh khác biệt này [12] Ví dụ một số phản ứng cảm xúc đối với một đối tượng thái độ như về một số hiện tượng tự nhiên có thể không
có bất kỳ nền tảng kiến thức nhận thức nào Trong khi thái độ về một vấn
đề xã hội có thể hoàn toàn cần nhận thức
- Khuynh hướng thứ hai xem thái độ như một thực thể tạo thành bởi ba thành tố riêng biệt (separate) có quan hệ với nhau là niềm tin, xúc cảm và hành vi (Fishbein and Ajen, 1975)
Quan điểm này đã được Fishbein và Ajzen (1975) ủng hộ mạnh mẽ Trong
lý thuyết của họ, thuật ngữ thái độ chỉ khía cạnh tình cảm, biểu thị sự đánh giá đối với một đối tượng Vì vậy, thái độ có thể được xem là những đánh giá về mặt cảm xúc của một người đối với một đối tượng cụ thể, những đánh giá này có được bởi nhận thức, niềm tin của người đó về đối tượng
Sự kết hợp giữa nhận thức, niềm tin và cảm xúc giúp hình thành khuynh hướng thực hiện hành vi
- Khuynh hướng thứ ba là xem thái độ như một quá trình ẩn (latent process)
Niềm tin (nhận thức)
Cảm xúc (tình cảm)
Ý định hành vi
Hình 2: Cấu trúc thái độ - Gồm ba bộ phận riêng biệt: Nhận thức – Cảm xúc – Ý định
hành vi
Trang 26(stimulus event) tới nhận thức, xúc cảm và hành vi tạo thành thái độ, và cuối cùng dẫn tới các nhận thức, xúc cảm và hành vi đáp lại đối tượng Trong quan niệm này, một thái độ có trạng thái của một biến can thiệp (sự kiện kích thích), một cấu trúc lý thuyết không thể quan sát được, nhưng nó làm trung gian hoặc giúp giải thích mối quan hệ giữa các sự kiện kích thích quan sát được và các phản ứng hành vi nhất định Mô hình này chỉ ra rằng các sự kiện kích thích có thể khơi dậy các quá trình nhận thức, tình cảm hoặc hành vi của một người, nhiều trong số đó không thể quan sát được
Có thể nhận thấy rằng điểm chung của ba khuynh hướng này là các quá trình này bao gồm ba thành phần (Nhận thức/niềm tin – Tình cảm – Hành vi/Ý định hành vi) hợp nhất hoặc riêng biệt có thể tạo ra một thái độ đối với các đối tượng liên quan Các tác giả cũng đều đồng ý rằng thái độ là một cấu trúc không thể quan sát được Tuy nhiên, sự hiện diện của một thái độ sẽ làm phát sinh và có thể được đo lường bằng các phản ứng có thể quan sát được, có thể là phản ứng nhận thức, tình cảm và / hoặc hành vi đối với đối tượng thái độ
Tóm lại, mặc dù cấu trúc thái độ được tồn tại với ba quan điểm tiếp cận khác nhau, nhưng các tác giả đều có điểm chung là thành phần của thái độ luôn bao gồm ba thành phần: Nhận thức/niềm tin; Cảm xúc/Tình cảm; Hành vi Các thành phần này có tương tác với nhau và tùy vào mức độ tương tác mà hình thành mức độ của thái độ đối với đối tượng cụ thể Ngoài ra, các nhà lý thuyết cũng đều đồng ý rằng thái độ là những cấu trúc được suy luận, chúng không phải hành vi, vì vậy, chỉ thông qua những quan sát được để đánh giá về thái độ của một các nhân đối với một đối tượng [12]
Các thành phần thái độ được giải thích như sau:
Nhận thức
Nhận thức về đối tượng là quá trình tìm tòi, khám phá những thuộc tính bên ngoài và thuộc tính bản chất của đối tượng Nhận thức là sự hiểu biết của cá nhân về đối tượng của thái độ Vì vậy, nhận thức là cơ sở cho việc hình thành thái độ
Trang 27Cảm xúc – Tình cảm
Tình cảm thể hiện cảm xúc của cá nhân đối với đối tượng của thái độ Tình cảm có vai trò quan trọng trong cấu trúc của thái độ Tình cảm là sự rung cảm của chủ thể đối với đối tượng có liên quan đến sự thỏa mãn hay không thỏa mãn nhu cầu và động cơ của họ Vì vậy, tình cảm tích cực có thể kích thích chủ thể hành động tích cực, từ đó hình thành nên thái độ tích cực Và, ngược lại, tình cảm tiêu cực có thể kìm hãm tính tích cực hoạt động của chủ thể
Hành vi
Hành vi là hành động mà chủ thể đáp ứng lại với đối tượng Thái độ và hành vi luôn có sự quy định lẫn nhau Thái độ dẫn đến ý định hành vi, tuy nhiên thái độ biểu hiện ra bên ngoài thông qua hành vi Hành vi là hình thức biểu hiện
cụ thể nhất của thái độ
Ba thành phần trên trong cấu trúc của thái độ có quan hệ với nhau, sự thống nhất giữa chúng (mối quan hệ càng mạnh thì thái độ hình thành càng nhất quán) tạo nên thái độ xác định đối với đối tượng của chủ thể Để có thái độ đối với một đối tượng cụ thể, con người thường phải: Thông qua nhận thức (hiểu biết) về đối tượng, nhận thức định hướng làm xuất hiện những tình cảm dành cho đối tượng như: yêu, ghét, thích, không thích,…Và, với nhận thức và tình cảm đối với đối tượng, cá nhân sẽ có những hành vi cụ thể đối với đối tượng đó
Đặc điểm của thái độ
Theo G.Allport (1935), từ định nghĩa ông đưa ra cho thấy có các đặc trưng của thái độ, đó là:
- Trạng thái của tinh thần và hệ thần kinh
- Biểu hiện sự sẵn sàng hành động
- Thái độ là trạng thái có tính tổ chức (sắp xếp theo thứ bậc, trạng thái có tổ chức)
- Hình thành trên cơ sở kinh nghiệm
- Gây ảnh hưởng và điều khiển hành vi
Theo định nghĩa chung về thái độ, thái độ có những đặc điểm sau:
Trang 28- Thái độ là thuộc tính cốt lõi của nhân cách, vì vậy thái độ có tính ổn định tương đối
- Đặc điểm của thái độ là cảm xúc đối với đối tượng và ý định hành động Hành động đối xử với một đối tượng nhất định Đó là mặt trong, mặt chủ quan của thái độ hay còn gọi là thái độ bên trong, thái độ bên không phải lúc nào cũng thể hiện một cách trọn vẹn, thẳng thắn Thái độ có thể được biểu hiện một cách chân thực, rõ ràng nhưng cũng có thể biểu hiện một cách không chân thực
- Thái độ mang tính chủ thể Thái độ luôn đối với một đối tượng cụ thể, nhưng thái độ lại thể hiện rất rõ nét tính chủ thể vì với cùng một đối tượng nhưng mỗi người lại có thái độ khác nhau, thậm chí ngay khi con người có thái độ tương đối giống nhau thì cách thức và mức độ biểu hiện cũng khác nhau
- Thái độ đã được hình thành có tác dụng điều khiển, điều chỉnh hành vi của con người
- Ba mặt biểu hiện của thái độ: nhận thức – xúc cảm – tình cảm – hành vi có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Sự thống nhất giữa ba mặt này quy định mức độ phát triển cao hay thấp của thái độ
- Biểu thị thái độ có thể bị chi phối bởi những yếu tố xã hội, dư luận xã hội, phong tục tập quán,… Thái độ đối với một đối tượng tồn tại ở mỗi người khác nhau, song việc biểu thị thái độ con người thường xem xét những yếu tố xã hội xung quanh để xem có cho phép hay có phù hơp không? Vì vậy, thái độ có thể được biểu thị đúng với thái độ thực của con người đối với đối tượng đó, hoặc cũng có thể là thái độ biểu thị không đúng với thái
độ thực
Chức năng của thái độ
Thái độ có bốn chức năng chính (Daniel Katz (1960); (cf Eagly & Chaiken, 1998): [12]
- Hiểu biết: nhiều thái độ giúp chúng ta hiểu thế giới và ý nghĩa về những
sự kiện xảy ra quanh chúng ta Thái độ cung cấp một khung tham chiếu để hiểu thông tin hoặc các sự kiện mới Trong mỗi trường hợp, niềm tin, cảm
Trang 29xúc hay thái độ của một người sẽ hỗ trợ cho việc giải thích thông tin và đồng hóa vào hệ thống niềm tin của người đó
- Thỏa mãn nhu cầu: nhiều thái độ được hình thành từ những việc làm trong quá khứ, ví dụ như từ việc được nhận phần thưởng, lời khen ngợi khi đã làm một việc Với một thái độ tích cực, điều này thường có tác dụng giúp chúng ta thỏa mãn nhu cầu của mình hoặc đạt được mục tiêu Và thái độ cũng được điều chỉnh theo cách giúp chúng ta điều chỉnh các tình huống cuộc sống và đạt mục tiêu
- Bảo vệ bản ngã: thái độ giúp nâng cao lòng tự trọng và bảo vệ chúng ta trước những điều xấu, những “cú đá” của cuộc sống, cũng như sự xung đột
- Thể hiện các giá trị: thái độ giúp thiết lập bản sắc của một người, nó miêu
tả dạng người mà người đó là ai Thái độ thường thể hiện giá trị cơ bản của một cá nhân Điều này cũng được gọi là chức năng nhận dạng xã hội
về thái độ
1.1.2 Thái độ học tập của sinh viên
Thuật ngữ sinh viên được dùng cho những người đang theo học ở các trường Đại học, Cao đẳng Ở đó, SV được truyền đạt về kiến thức, hình thành kỹ năng cũng như thái độ của ngành nghề Phần lớn SV ở trong độ tuổi từ 18 đến 25 tuổi – độ tuổi có sự trưởng thành về mặt tâm sinh lý Đặc điểm tâm lý nổi bật nhất trong giai đoạn này của SV là sự phát triển tự nhận thức Trong giai đoạn này hoạt động tư duy của sinh viên rất tích cực, có tính độc lập, có khả năng khái quát vấn đề, có nhu cầu hiểu biết về thế giới, hiểu biết xã hội và đặc biệt trong nghề nghiệp họ có khả năng định hướng để chọn cho mình một hướng đi
Hoạt động học tập của sinh viên nhằm hình thành kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp để tham gia vào lao động sản xuất đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội Hoạt động học tập là hoạt động lĩnh hội tri thức, kỹ năng và bao gồm cả phương pháp học tập Trong đó người học đóng vai trò chủ thể, thể hiện tính chủ động, tích cực, tự giác, tự lực, sáng tạo trong việc tiếp nhận tri thức Hoạt động học tập là hoạt động có mục đích, có kế hoạch, nội dung chương trình
Trang 30và phương pháp dạy học cụ thể, có thời hạn, có sự gắn kết chặt chẽ giữa hoạt động nghề nghiệp và nghiên cứu khoa học
Mục tiêu học tập là SV phải đạt được mục tiêu về kiến thức, mục tiêu kỹ năng, mục tiêu thái độ để hình thành năng lực nghề nghiệp Để đạt được mục tiêu này thì SV phải hoàn thành nhiệm vụ học tập của họ thông qua các hoạt động học tập Theo lý luận dạy học, cũng như các nhà giáo dục học đều cho rằng quá trình học tập của SV trải qua ba giai đoạn học tập: chuẩn bị (trước khi đến lớp); trong khi đến lớp; và sau khi đến lớp Các hình thức học tập cũng khác nhau như học trên lớp hay học ở nhà (học ngoài lớp) Vì vậy, SV phải thực hiện các hoạt động học tập cụ thể như: tham dự lớp, ghi chép, trao đổi – chia sẻ học tập, hoàn thành các bài tập, thực hiện các dự án học tập, chuẩn bị bài học trước khi đến lớp, ôn tập, hệ thống lại bài, v.v…
Thái độ được xem là khuynh hướng đáp ứng có lợi (thích) hay không có lợi (không thích) đối với một đối tượng cụ thể Trong học tập, đối tượng của hoạt động học là nội dung học tập, vậy, thái độ học tập của SV được hiểu là sự đáp ứng sẵn sàng (thích) hay không sẵn sàng (không thích) hoặc hợp tác hay không hợp tác của SV đối với việc học Điều này được hiểu là thái độ học tập của SV là trạng thái tâm lý bên trong được biểu hiện ra bên ngoài bằng những hoạt động học tập tích cực hoặc không tích cực
1.1.3 Sự thay đổi thái độ học tập của sinh viên
Sự thay đổi là quá trình chuyển đổi từ trạng thái này sang trạng thái khác,
từ đối tượng này sang đối tượng khác một cách có chủ ý hay không chủ ý để đạt một trạng thái tốt hơn, xấu hơn hay khác đi so với trạng thái ban đầu Vậy, sự thay đổi thái độ học tập của SV là sự thay đổi về mặt nhận thức, niềm tin, cảm xúc trong học tập dẫn đến sự thay đổi hành vi học tập một cách tích cực hơn hoặc không tích cực hơn so với trạng thái/cảm xúc ban đầu
1.1.4 Đặc điểm chương trình học của sinh viên, hệ thống cơ sở vật chất,
không gian học tập tại trường Đại học Sư Phạm Kỹ Thuật TP.HCM
Trang 31Chương trình đào tạo tại trường đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM được xây dựng và triển khai theo phương pháp tiếp cận CDIO (Conceive – Design – Implement – Operate) Người học được đào tạo bốn năm tại trường và chương trình đào tạo được thiết kế theo hệ thống tín chỉ, vì vậy, SV có thể học vượt hoặc kéo dài so với bốn năm Ở chương trình này, SV phải đạt được các kết quả học tập mà có thể đảm đương các nhiệm vụ của người kỹ sư như là hình thành ý tưởng, thiết kế, triển khai và vận hành hệ thống để đem lại những giá trị mong muốn và để phát triển sản phẩm hoặc đào thải sản phẩm Điều này cho thấy, ngoài tri thức lý thuyết SV còn được trang bị tri thức thực hành, vì vậy, SV phải tham gia thực hành công việc nhiều Hơn nữa, chương trình đào tạo hiện nay cũng đang được định hướng dạy học thông qua dự án, cho nên sự thực hành trong học tập của SV lại càng nhiều hơn Chương trình học được thiết kế ở năm đầu SV học các môn đại cương, năm hai học các môn cơ sở ngành, năm ba học các môn chuyên ngành và năm tư là dành cho thực tập tốt nghiệp và làm khóa luận
Hệ thống cơ sở vật chất của nhà trường được trang bị đầy đủ để phục vụ cho việc dạy học như: tất cả phòng học có máy chiếu, đảm bảo hệ thống âm thanh ánh sáng tốt, máy lạnh; Kết nối mạng wifi dễ dàng, có trung tâm dạy học
số, có bốn phòng máy tính đều kết nối mạng; Thư viện nhiều đầu sách, có nhiều khu tự học rộng, thoáng, yên tĩnh Ngoài ra, các khoa đều được trang bị phòng Lab mở cửa 24/24 để phục vụ cho việc học tập và nghiên cứu của SV
1.2 Hình thành thái độ và thay đổi thái độ
1.2.1 Hình thành thái độ
Theo hầu hết các định nghĩa được trình bày ở trên, thái độ được định nghĩa về bản chất là sự đánh giá, nghĩa là chúng liên quan đến cảm xúc tích cực hoặc tiêu cực đối với đối tượng thái độ Đánh giá của thái độ là xác định mức độ thuận lợi (thích) hoặc bất lợi (không thích) của cá nhân đối với đối tượng Như là: Từ thành phần nhận thức của cá nhân với đối tượng, niềm tin về đối tượng đó
có thể là đơn giản hay phức tạp và thành phần tình cảm của thái độ có thể bao
Trang 32xúc phức tạp về đối tượng đó Tương tự thành phần thứ ba của thái độ, khuynh hướng hành vi đối với đối tượng, cũng có thể đi từ hành vi đơn giản như ý định
để thực hiện đến một loạt các hành động phức tạp Vì vậy, thái độ được xem là những đánh giá về mặt cảm xúc của một người đối với một đối tượng cụ thể, những đánh giá này có được bởi nhận thức, niềm tin của người đó về đối tượng
Sự kết hợp giữa nhận thức, niềm tin và cảm xúc giúp hình thành khuynh hướng thực hiện hành vi Điều này có được cũng được dựa trên một cơ sở dữ liệu thông tin lớn, bao gồm cả hành vi trong quá khứ, tâm trạng, môi trường xung quanh, bối cảnh câu hỏi được đặt ra và một loạt niềm tin về đối tượng Thái độ được tổ chức mạnh mẽ thường khá ổn định theo thời gian, thái độ yếu hơn có thể bao gồm nhiều niềm tin và cảm giác không nhất quán với nhau
Về phương pháp hình thành thái độ, hai nhà tâm lý học người Đức, N.Hipso và M.Forvec đã đưa ra bốn cách (cơ chế) hình thành thái độ là: Cơ chế bắt chước; Cơ chế đồng nhất hóa; Cơ chế giảng dạy; và Cơ chế chỉ dẫn [1]
- Cơ chế bắt chước: Thái độ có thể hình thành bằng con đường tự phát, trong đó con người học các thể hiện hành vi mà không cần sử dụng những phương pháp giáo dục theo một phương hướng nào đó
- Cơ chế đồng nhất hóa: Đó là sự bắt chước một cách tự phát, nhưng có ý thức Đồng nhất hóa là quá trình chủ thể thống nhất bản thân mình với các
cá nhân khác của nhóm dựa trên mối liên hệ cảm xúc và qua đó chuyển những chuẩn mực, những giá trị vào thế giới nội tâm của mình Đồng nhất hóa là sự nhìn nhận, hình dung của chủ thể về người khác như sự kéo theo của chính bản thân mình, gán cho người đó những đặc tính, tình cảm, mong muốn của mình Và, tự đặt mình vào người khác, chuyển dịch bản thân mình vào phạm vi không gian và hoàn cảnh của người khác để dẫn đến việc đồng nhất hóa ý nghĩa cá nhân người đó
- Cơ chế giảng dạy: Là cách thức hình thành thái độ trong đó cá nhân được người khác tác động đến một cách chủ động, có mục đích Cơ chế này được thực hiện bằng cách trực tiếp thông báo, truyền thụ những vấn đề cần thiết đến đối tượng thái độ, đến cá nhân
Trang 33- Cơ chế chỉ dẫn: Đây là hình thức hình thành thái độ đòi hỏi chủ thể phải tiến hành hành động một cách tích cực theo sự hướng dẫn nào đó
Quá trình hình thánh thái độ thường không hẳn được tách biệt theo từng
cơ chế riêng biệt mà có sự kết hợp, đan xen giữa các cơ chế với nhau Tùy vào từng hoàn cảnh, điều kiện cụ thể mà cơ chế này hay cơ chế khác chiếm vị trí chủ đạo trong việc hình thành thái độ
1.2.2 Thay đổi thái độ
Thái độ có thể được thay đổi thông qua thuyết phục: trong nghiên cứu
của Petty, R E., & Wegener, D T (1998) đưa ra các yếu tố ảnh hưởng đến thay đổi thái độ đó là: nguồn thông tin, đặc điểm thông tin, sự tiếp nhận và tuyến nhận thức [12]
- Nguồn thông tin: Các đặc điểm chính của nguồn thông tin là trình độ chuyên môn, sự tin cậy, sự lôi cuốn hoặc hấp dẫn mang tính cá nhân Thông tin đến từ nguồn đáng tin cậy dễ dàng bị thuyết phục hơn Độ tin cậy của thông tin được tiếp nhận là biến số chính ảnh hưởng đến sự thay đổi thái độ
- Đặc điểm thông tin: Thông tin được trình bày rõ ràng, đầy đủ, bao quát có hữu ích để giúp thay đổi thái độ
- Sự tiếp nhận: Đây là những đặc điểm tham chiếu cho người nhận và xử lý thông tin Một trong những đặc điểm như sự thông minh của người nhận ít
dễ bị thuyết phục bởi thông tin một chiều Hoặc đặc điểm về lòng tự trọng của người nhận cũng ảnh hưởng đến sự thuyết phục để thay đổi thái độ
- Tuyến nhận thức: Một thông báo được trình bày với các dữ liệu và tạo động lực để cá nhân đánh giá các dữ liệu và đi đến một kết luận thay đổi thái độ Một thông báo có thể hấp dẫn với sự đánh giá nhận thức của một
cá nhân để giúp thay đổi thái độ Vì vậy, bằng nhiều cách tiếp cận để thông tin được chuyển đến người nhận, có thể bằng tuyến trung tâm (tập trung vào thông tin, dữ liệu) hoặc tuyến ngoại vi (tập trung vào các phương diện khác, rộng) để tác động đến người nhận thông tin làm thay đổi thái độ
Trang 34Cảm xúc và thay đổi thái độ: Cảm xúc là một thành phần phổ biến trong
thuyết phục, ảnh hưởng xã hội và thay đổi thái độ Cảm xúc hiện diện song song với quá trình nhận thức, các thành phần tình cảm và nhận thức có xu hướng gắn
bó với nhau, vì vậy, bằng cách kích thích cảm xúc, sự thay đổi thái độ có thể diễn
1.3 Tầm quan trọng của thái độ và sự cần thiết nâng cao TĐHT cho
SV
Trong học tập, mục tiêu học tập bao gồm mục tiêu kiến thức, kỹ năng và thái độ Mục tiêu thái độ có tầm quan trọng cho SV cũng như người kỹ sư tương lai Nó đóng vai trò là chất xúc tác, là điều kiện để SV học tập tích cực hơn Thái
độ tích cực giúp SV tập trung và tiếp thu thông tin nhanh hơn và hiệu quả hơn
Và, thái độ tích cực còn giúp tăng động lực và mức độ hoàn thành công việc giúp
SV làm việc hiệu quả hơn, duy trì và nhớ lại cũng như mở rộng thêm thông tin
Ngoài ra trong học tập, thái độ của SV đối với một tình huống học tập có thể giúp giáo viên nhận được phản hồi về tác động của tình huống đến quá trình học tập Thái độ cần được đo lường để biết mức độ người học bị ảnh hưởng hoặc nhìn nhận về một vấn đề như thế nào Theo kết quả đánh giá định lượng và định tính về ý kiến của SV đối với các hoạt động học tập mà họ tham gia, từ đó có thể điều chỉnh để nâng cao chất lượng
Trong quá trình học tập, theo ý nghĩa thang mức độ của Krathwohl, Bloom và Masia (1973) cho thấy càng tiếp cận sâu vào việc học SV càng phải có thái độ tích cực hơn, thể hiện một cảm xúc tích cực, yêu thích đối tượng học tập
để có thể đạt được năng lực thực sự Học tập là nhiệm vụ quan trọng của mỗi SV,
Trang 35đặc biệt trong nền công nghiệp 4.0 ngày nay thì học tập còn được xem là cơ hội
để người học tìm kiếm được việc làm tốt cũng như đáp ứng được sự thay đổi nhanh chóng của khoa học kỹ thuật Vì vậy, để đạt được kết quả tốt, SV không chỉ hiểu rõ về việc học của chính mình, lựa chọn phương pháp học tập phù hợp
mà còn học tập với một thái độ tích cực Bởi vì, thái độ học tập tích cực sẽ dẫn đến các hành vi học tập tích cực Thái độ học tập tích cực cũng còn ảnh hưởng tích cực đến việc SV lựa chọn cách học sâu (Biggs, 1987) – đó là cách học hiểu, khám phá, vận dụng giải quyết vấn đề - một cách học rất cần cho SV hiện nay, đặc biệt là SV ngành kỹ thuật
1.4 Những biểu hiện thái độ học tập tích cực của SV
Nhiều công trình nghiên cứu tâm lý học cho rằng thái độ học tập là những tâm thế được hình thành nhờ học tập, mang nặng màu sắc xúc cảm, tạo ra sự phản ứng dễ chịu hay không dễ chịu đối với tình huống hoặc có thể là một ý tưởng nào đó [1] Thái độ tác động dẫn đến hành vi: nếu thái độ thích thú với việc học thì sẽ tạo cho SV có những hoạt động vươn lên chiếm lĩnh tri thức tạo nên sự hứng thú, say mê trong học tập Mặt khác, nếu thái độ không thích thú thì
sẽ dẫn đến sự thiếu tập trung chú ý, uể oải, thiếu nỗ lực trong học tập
G.Witzlack phân tích thái độ học tập trong các hình thức học tập khác nhau như: thái độ học tập trên lớp và thái độ tự học Tác giả cũng đưa ra các tiêu chuẩn đánh giá về thái độ học tập tích cực như: [1]
- Sự nỗ lực nhận thức;
- Sự sẵn sàng thực hiện những nhiệm vụ học tập;
- Tự đặt ra những yêu cầu cao về thành tích học tập của bản thân;
- Sự phản ứng với những kết quả học tập thành công hay thất bại;
- Tinh thần vận dụng kiến thức
N.P.Levitop cho rằng thái độ học tập tích cực của người học thể hiện ở chỗ: người học chú ý, hứng thú và sẵn sàng gắng sức vượt khó khăn S.Frans đã đưa ra các tiêu chuẩn đánh giá về thái độ học tập, theo tác giả người học có thái
độ học tập tích cực được biểu hiện qua mười dấu hiệu sau: [1]
Trang 36- (2).Học bài và làm bài đầy đủ;
- (3).Cố gắng vươn lên trong học tập;
- (4).Không vội vàng phản ứng khi chưa hiểu hoặc không đồng tình với bài giảng;
- (5).Đảm bảo tính kỷ luật;
- (6).Cố gắng đạt kết quả học tập tốt và có phấn đấu đạt thành tích cao hơn một cách trung thực;
- (7).Thực hiện nhiệm vụ một cách độc lập;
- (8).Nhiệt tình trong giờ sửa bài hoặc thảo luận;
- (9).Hoàn thành nhiệm vụ học tập một cách nghiêm túc;
- (10).Giữ gìn tài liệu một cách cẩn thận
Theo Thái Duy Tuyên khi đề cập về tính tích cực của SV, thái độ học tập tích cực được ông đưa ra một số dấu hiệu thông qua các câu hỏi sau: [14]
- Sinh viên có chú ý học tập không?
- Sinh viên có hăng hái tham gia vào mỗi hình thức hoạt động học tập không?
- Sinh viên có hoàn thành nhiệm vụ được giao không?
- Sinh viên có ghi nhớ tốt những điều đã học không?
- Sinh viên có thể trình bày lại nội dung bài học theo ngôn ngữ riêng của mình không?
- Sinh viên có vận dụng được những kiến thức đã học vào thực tiễn không?
- Sinh viên có đọc thêm, làm thêm các bài tập khác không?
- Sinh viên có quyết tâm, có ý chí vượt khó khăn trong học tập không?
- Sinh viên có sáng tạo trong học tập không?
Trong nghiên cứu đánh giá thực trạng về thái độ học tập của SV, Hoàng Đức Nhuận và Lê Đức Phúc đã nêu ra các chỉ số đánh giá về thái độ học tập tích cực như là:[8]
- Chú ý;
- Hăng hái tham gia vào mọi hình thức của hoạt động học tập;
- Hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao;
- Đọc thêm và làm các bài tập khác;
Trang 37- Vận dụng hay chuyển tải những gì đã học vào thực tế;
- Hình thành và phát triển các mối quan hệ với thầy cô, bạn bè nhằm mục đích giúp đỡ bản thân học tập tốt hơn;
- Chất lượng sản phẩm, kết quả học tập tốt
Theo Bùi Thị Mùi (2009) cho rằng thái độ học tập tích cực của SV là sự huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lý như: sự tập trung chú ý; nhu cầu, hứng thú học tập; các phẩm chất đạo đức; các phẩm chất trí tuệ; các phẩm chất thể chất,… để giúp việc học tập đạt hiệu quả Tác giả cho rằng thái độ học tập tích cực thể hiện đặc trưng ở sự tập trung chú ý và nhất là ở hứng thú của SV đối với đối tượng học Vì vậy, theo tác giả kích thích SV tích cực trong học tập là kích thích sự tập trung chú ý của SV, làm cho họ có hứng thú trong học tập, ý thức được việc học là nhu cầu, là niềm vui và là trách nhiệm của mỗi người Từ
đó SV sẽ chủ động, tích cực, chuyên cần học tập, biết tìm cách khắc phục khó khăn để học tốt Thái độ học tập tích cực của SV được coi là điều kiện, động lực thúc đẩy quá trình học tiến bộ
Tóm lại, có thể nhận thấy rằng các tác giả đưa ra các dấu hiệu về tính tích cực của SV thể hiện ở sự tham gia các hoạt động học tập với một tinh thần học hỏi, cầu tiến, có khả năng tự quản, khả năng vận dụng và tự thực hiện công việc một cách độc lập và chủ động Vì vậy, nghiên cứu dựa vào các thành phần cấu trúc của thái độ, đưa ra một số dấu hiệu biểu hiện về thái độ học tập tích cực của
SV như là:
- Biểu hiện trong nhận thức: đó là sự hiểu biết, niềm tin trong việc học Như là: Nhận thức về mục đích, tầm quan trọng và ý nghĩa của việc học; Xác định mục tiêu học tập rõ ràng; Nhận thức được về khả năng học tập của bản thân,…
- Biểu hiện trong xúc cảm – tình cảm: thái độ học tập tích cực được biểu hiện trong việc chủ động, độc lập, sáng tạo trong học tập Sinh viên thể hiện sự yêu thích, hăng say trong việc học Như là: Cảm thấy tiếc khi nghỉ học; Luôn muốn giáo viên giao thêm, dạy thêm nội dung học tập; Hăng
Trang 38bạn; Biết chia sẻ, lắng nghe, cởi mở, tin tưởng và sẵn sàng giúp đỡ lẫn nhau; Hăng say phát biểu ý kiến; Hoàn thành các bài tập được giao một cách nhanh chóng;…
- Biểu hiện trong hành động: từ nhận thức và tình cảm đối với việc học, SV thực hiện các hoạt động học tập tích cực như là: Như là: 1) Thái độ trên lớp: Chăm chú nghe giảng; Ghi chép bài đầy đủ; Tham gia phát biểu ý kiến, hợp tác với các bạn và chủ động đưa ra các vấn đề giải quyết liên quan đến nội dung môn học; 2) Thái độ ở nhà: Lập kế hoạch học tập hợp lý; Tham gia tích cực có hiệu quả bài tập của nhóm; Thực hiện các dự án học tập có kết quả đạt yêu cầu; Chủ động mở rộng các kiến thức mới liên quan đến môn học, …
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến thay đổi thái độ học tập của SV
Lý luận dạy học cho thấy mối quan hệ cấu trúc các thành tố quá trình dạy học bao gồm ba thành tố chính, cơ bản có mối quan hệ tương tác với nhau đó là: Người học – Người dạy – Nội dung dạy học; quá trình này được diễn ra trong một môi trường học tập Vì vậy, các nhà tâm lý, giáo dục học cho rằng các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ học tập tích cực của SV bao gồm: môi trường học tập; yêu cầu nhiệm vụ học tập; nội dung học tập; phương pháp giảng dạy của giảng viên
và từ chính bản thân của SV
Tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến thái độ học các môn chung của SV trường ĐH Ngoại ngữ - ĐHQGHN, Nguyễn Thị Chi, Nguyễn Thị Phương Hoa cũng cùng quan điểm với nhóm tác giả trên khi cho rằng các nhân tố sau ảnh hưởng đến thái độ học tập của SV đó là: Phương pháp giảng dạy, cách thức tổ chức hoạt động của GV Tác giả cho rằng GV có phương pháp dạy tích cực sẽ ảnh hưởng tích cực đến thái độ học của SV; Giáo trình, nội dung bài học; Điều kiện, cơ sở vật chất; Nhận thức về ý nghĩa học tập của SV; Động cơ học tập; Thói quen và năng lực tự học
Để nâng cao hiệu quả học tập, hứng thú được xem là điều kiện giúp SV yêu thích, say mê, tìm tòi, khám phá tri thức Đây cũng là một thành tố cấu thành nên thái độ học tập tích cực Vì vậy, trong bài báo cáo về những yếu tố ảnh
Trang 39hưởng đến hứng thú học tập, Phạm Thị Hồng Thái (2016) cho rằng có những yếu
tố ảnh hưởng đến sự hứng thú học tập đó là:
- Trình độ phát triển trí tuệ của người học: Đây là yếu tố quan trọng giúp sinh viên nhận thấy tầm quan trọng của việc học môn học này có ý nghĩa như thế nào đối với cuộc sống và nghề nghiệp của mình
- Đặc điểm môn học: là cơ cấu, nội dung, tính chất, sự sắp xếp chương trình môn học theo đặc điểm của ngành học
- Người dạy: bộc lộ qua trình độ chuyên môn, năng lực sư phạm, thái độ trong việc tổ chức, điều khiển quá trình dạy - học Đây được xem là yếu tố quan trọng tạo nên hứng thú ở người học
- Điều kiện cơ sở vật chất: tài liệu, sách vở, phương tiện dạy học Tuy không phải là yếu tố quyết định nhưng là yếu tố cần thiết tác động đến kết quả học tập của người học Nếu được học tập trong điều kiện vật chất đầy
đủ người học thấy thoải mái, dễ chịu, giúp họ học tập tốt hơn
- Môi trường học tập: là không khí lớp học, mối quan hệ với bạn bè, thầy cô… Trong tập thể có nề nếp, có sự thi đua học tập cũng là yếu tố giúp từng cá nhân vươn lên trong học tập
Về vấn đề này, nhiều nhà nghiên cứu khác cũng đã xác định những yếu tố trong môi trường giáo dục có ảnh hưởng đến thái độ học tập của SV Môi trường giáo dục bao gồm rất nhiều yếu tố cả bên ngoài lẫn bên trong tác động đến người học, như Nguyễn Hữu Tín, Nguyễn Thúy Quỳnh Loan (2011) đưa ra một số yếu
tố ảnh hưởng đến thái độ học tập của SV là:
- Giảng viên: giảng viên là người đóng vai trò chủ đạo trong suốt quá trình học, là người tổ chức, hướng dẫn, gợi mở, kiểm tra đánh giá người học,
Vì vậy, năng lực chuyên môn sâu rộng, kiến thức vững vàng của GV có ảnh hưởng đến thái độ học tập của người học Ngoài ra, việc xây dựng hình ảnh và mối quan hệ giao tiếp sư phạm của GV đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng nhận thức cho SV; Sự nhiệt tình trong giảng dạy của GV cũng đều có tác động đến thái độ học tập của SV
Trang 40- Phương pháp giảng dạy: phương pháp dạy học tích cực, dạy học trải nghiệm có thể tạo cho SV nhiều cảm xúc trong học tập đó là sự hứng thú, niềm say mê trong học tập, sự tiến bộ,… góp phần nâng cao thái độ tích cực cho người học
- Hệ thống cơ sở vật chất: trong đánh giá chất lượng đào tạo, hệ thống cơ sở vật chất là một tiêu chuẩn rất quan trọng Hệ thống cơ sở vật chất tốt đầy
đủ có thể đáp ứng nhu cầu học tập của người học mới có thể kích thích sự hứng thú, say mê học tập của SV
- Giáo trình, nội dung môn học: giáo trình đầy đủ, cập nhật; nội dung môn học đảm bảo tính khoa học, thực tiễn, có tính ứng dụng cao sẽ thúc đẩy thái độ học tập tích cực của SV cũng như sự nỗ lực của họ để có năng lực nghề nghiệp đáp ứng nhu cầu xã hội hiện nay
- Thực hành, thực tập: các hoạt động thực hành, thực tập giúp cho SV hiểu thấu lý thuyết, tiếp cận thực tiễn thông qua đó hình thành năng lực làm việc Khi người học thấy được ý nghĩa cũng như tính ứng dụng những lý thuyết đã học vào cuộc sống sẽ làm cho họ ý thức hơn và dẫn đến sự tích cực hơn trong học tập
- Động lực học tập: chính sự hứng thú, khả năng hiểu biết về học tập, niềm tin vào những tri thức nhận được, nhu cần nâng cao hiểu biết sẽ giúp cho
SV có động lực học tập Và chính điều này tạo cho SV thái độ học tập tích cực
- Điều kiện sinh hoạt hằng ngày: đa phần SV học tập xa nhà, vì vậy, điều kiện về ăn ở, làm thêm, … cũng có thể ảnh hưởng thái độ học tập của SV
- Yếu tố gia đình: SV đến từ nhiều vùng miền khác nhau, từ các nền tảng gia đình khác nhau, do đó, nhận thức về học tập cũng khác nhau cho nên đều này cũng dẫn đến các thái độ học tập khác nhau
Các yếu tố trên được cho rằng có ảnh hưởng đến thái độ học tập của SV Tuy nhiên, nhóm tác giả đã chỉ ra những yếu tố như: Động lực học tập; Giáo trình, nội dung môn học; Giảng viên và phương pháp giảng dạy có ảnh hưởng nhiều đến thái độ học tập của người học Các yếu tố còn lại chỉ ảnh hưởng một phần nhất định