Mục tiêu đề tài: Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường đại học, cao đẳng ở TP.HCM của học sinh THPT ở tỉnh Đồng Nai, từ đó đề xuất giải pháp nâng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH CHỌN TRƯỜNG ĐH, CĐ
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐH SƯ PHẠM KỸ THUẬT TPHCM
BÁO CÁO TỔNG KẾT
Thuộc nhóm ngành khoa học: Kinh tế
TP Hồ Chí Minh, 8/2018
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH CHỌN TRƯỜNG
ĐH, CĐ Ở TP.HCM CỦA HỌC SINH THPT Ở TỈNH ĐỒNG NAI
Mã số đề tài: SV2018-91
Trang 3BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐH SƯ PHẠM KỸ THUẬT TPHCM
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH CHỌN TRƯỜNG
ĐH, CĐ Ở TP.HCM CỦA HỌC SINH THPT Ở TỈNH ĐỒNG NAI
Mã số đề tài: SV2018-91
Thuộc nhóm ngành khoa học: Kinh tế
SV thực hiện: Nguyễn Thị Đinh Thủy Nam, Nữ: Nữ
Trang 4LỜI CẢM ƠN:
Chúng tôi xin trân trọng cảm ơn Thầy Nguyễn Khắc Hiếu-Giảng viên khoa Kinh tế Trường ĐH Sư phạm Kỹ thuật cùng thầy Lê Minh Trường giảng viên trường ĐH Kinh tế TP.HCM, đã tận tình hướng dẫn chỉ bảo chúng tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu
Vì đây là lần đầu chúng tôi làm nghiên cứu nên không tránh khỏi những hạn chế, sai sót Kính mong quý thầy (cô) và những người quan tâm đóng góp ý kiến để nhóm tác giả có thể làm tốt hơn trong những nghiên cứu sau này
Trang 5LỜI CAM ĐOAN:
Tôi tên là: Nguyễn Thị Đinh Thủy cùng bạn Đỗ Thị Anh Thư
Là sinh viên khóa K16 đang theo học chuyên ngành Quản lí công nghiệp tại Trường Đại học Sư Phạm Kỹ Thuật TP Hồ Chí Minh
Chúng tôi xin cam đoan đây là phần nghiên cứu do chúng tôi thực hiện Các số liệu, kết luận nghiên cứu được trình bài trong bài báo cáo này là trung thực và chưa được công bố ở các nghiên cứu khác
Chúng tôi xin chịu trách nhiệm về đề tài nghiên cứu của mình
Trang 6MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 Đặt vấn đề nghiên cứu: 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu: 4
1.3 Câu hỏi nghiên cứu: 4
1.4 Dữ liệu nghiên cứu: 5
1.5 Phạm vi nghiên cứu: 5
1.5.1 Không gian 5
1.5.2 Thời gian 5
1.5.3 Đối tượng nghiên cứu 6
1.5.4 Phạm vi nghiên cứu 6
1.6 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu: 6
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 8
2.1 Giới thiệu: 8
2.2 Cơ sở lý thuyết: 8
2.3 Một số khái niệm: 10
2.3.1 Chọn trường: 10
2.3.2 Hướng nghiệp: 10
2.4 Lợi ích của việc chọn đúng Trường ĐH, CĐ để học: 11
2.5 Các nghiên cứu có liên quan: 12
2.5 Các giả thuyết nghiên cứu: 16
2.5.1 Yếu tố về đặc điểm trường đại học, cao đẳng: 16
2.5.2 Yếu tố về danh tiếng của trường đại học, cao đẳng: 16
2.5.3 Yếu tố về nỗ lực giao tiếp với học sinh của các trường đại học, cao đẳng: 16
2.5.4 Yếu tố về bản thân cá nhân học sinh: 17
2.5.5 Yếu tố về cơ hội trúng tuyển: 17
2.5.6 Yếu tố về sự đa dạng và hấp dẫn ngành đào tạo: 18
2.5.7 Yếu tố về cơ hội việc làm trong tương lai: 18
Trang 72.5.8 Yếu tố về các cá nhân có ảnh hưởng đến quyết định của học sinh: 18
2.6 Mô hình nghiên cứu: 20
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU, THIẾT KẾ VÀ ĐÁNH GIÁ THANG ĐO 21
3.1 Tổng quan địa bàn nghiên cứu: 21
3.2 Thang đo và mã hóa thang đo: 22
3.3 Nghiên cứu sơ bộ: 25
3.4 Nghiên cứu định tính: 26
3.4.1 Thiết kế nghiên cứu định tính: 26
3.4.2 Mục đích của nghiên cứu định tính: 26
3.5 Phương pháp nghiên cứu định lượng chính thức: 27
3.6 Bảng câu hỏi - Phương pháp thu thập dữ liệu: 27
3.6.1 Thiết kế bảng câu hỏi: 29
3.6.2 Phân tích dữ liệu: 30
CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 37
4.1 Kết quả thống kê mẫu nghiên cứu: 37
4.1.1 Về giới tính: 37
4.1.2 Về lớp: 37
4.1.3 Về trường trung học phổ thông: 38
4.2 Kết quả nghiên cứu định lượng chính thức: 39
4.2.1 Thống kê mô tả các nhân tố độc lập tác động đến quyết định chọn Trường ở TP.HCM của học sinh THPT trên địa bàn tỉnh Đồng Nai 39
4.2.2 Đánh giá thang đo bằng hê số tin cậy Cronbach’s Alpha 41
4.3 Phân tích thang đo quyết định chọn trường đại học, cao đẳng TP Hồ Chí Minh: 47
4.3.1 Phân tích độ tin cậy Cronbach’s Alpha: 47
4.3.2 Phân tích nhân tố EFA: 48
4.4 Phân tích nhân tố EFA: 50
4.5 Phân tích T-Test: 56
4.6 Kiểm định Anova: 57
4.6.1 Kiểm định sự khác biêt về quyết định chọn Trường thuộc năm học khác nhau: 57
Trang 84.6.2 Kiểm tra sự khác biêt về quyết định chọn trường giữa các nhóm Trường
học: 57
4.7 Kết quả phân tích hồi quy: 59
4.8 Kết quả kiêm định mô hình lý thuyết: 62
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 64
5.1 Kết luận: 64
5.2 Hạn chế của nghiên cứu và khuyến nghị: 65
5.3 Đề xuất các giải pháp để góp phần nâng cao hiệu quả công tác tư vấn hướng nghiệp cho học sinh THPT: 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
PHỤ LỤC 71
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Bảng tóm tắt các giả thuyết của mô hình nghiên cứu một cách cụ thể 19
Bảng 2: Bảng mã hóa các thang đo hiệu chỉnh 23
Bảng 3: Bảng thống kê mô tả các nhân tố độc lập 40
Bảng 4: Độ tin cậy Cronbach Alpha – Đặc điểm cố định của Trường (4 biến) 41
Bảng 5: Độ tin cậy Cronbach Alpha – Danh tiếng về Trường (4 biến) 42
Bảng 6: Độ tin cậy Cronbach Alpha –Nỗ lực giao tiếp của Trường (5 biến) 43
Bảng 7: Độ tin cậy Cronbach Alpha –Yếu tố tương thích với đặc điểm cá nhân (3 biến) 44
Bảng 8: Độ tin cậy Cronbach Alpha –Cơ hội trúng tuyển vào trường (3 biến) 44
Bảng 9: Độ tin cậy Cronbach Alpha –Mức độ hấp dẫn và đa dạng của ngành đào tạo (3 biến) 45
Bảng 10: Độ tin cậy Cronbach Alpha –Mức độ hấp dẫn và đa dạng của ngành đào tạo (3 biến) 46
Bảng 11: Độ tin cậy Cronbach Alpha –Các yếu tố cá nhân bên ngoài có ảnh hưởng (4 biến) 47
Bảng 12: Độ tin cậy Cronbach Alpha – Quyết định chọn trường ĐH, cao đẳng TP.HCM (3 biến) 48
Bảng 13: Bảng đánh giá chỉ số KMO (Kaiser – Meyer – Olkin) 49
Bảng 14: Tổng phương sai được giải thích 49
Bảng 15: Bảng ma trận xoay nhân tố cho phân tích EFA lần 1 51
Bảng 16: Bảng ma trận xoay nhân tố cho phân tích EFA lần 2 53
Bảng 17: Bảng đánh giá chỉ số KMO (Kaiser – Meyer – Olkin) 54
Bảng 18: Kết quả phân tích nhân tố khám phá (EFA) 55
Bảng 19: Phân tích kết quả bằng kiểm định T-test 56
Bảng 20: Kiểm định sự đồng nhất của phương sai của yếu tố năm học 57
Bảng 21: Kiểm định sự đồng nhất của phương sai nhóm Trường 58
Bảng 22: Kiểm định sau Anova 59
Bảng 23: Mô hình đầy đủ 60
Bảng 24: Bảng chạy trọng số hồi quy 61
Trang 10Bảng 25: Kiểm định về sự phù hợp của mô hình hồi quy ANOVA 62
Trang 11DANH MỤC HÌNH
Hình 1:Mô hình các yếu tố ảnh hưởng chọn trường ĐH của học sinh (D.W.Chapman) 9
Hình 2: Mô hình nghiên cứu của đề tài 20
Hình 3: Biểu đồ thể hiện mẫu theo giới tính 37
Hình 4: Biểu đồ thể hiện mẫu theo năm học 38
Hình 5: Biểu đồ thể hiện mẫu theo các trường……… 38
Hình 6: Mô hình hoàn chỉnh của bài nghiên cứu 62
Trang 12KT-XH Kinh tế - Xã hội
THCS Trung học cơ sở
THPT Trung học phổ thông
TPHCM Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 13BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐH SƯ PHẠM KỸ THUẬT TPHCM
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1 Thông tin chung:
- Tên đề tài: Phân tích các yếu tố tác động đến quyết định chọn Trường ĐH, CĐ ở
TP.HCM của học sinh THPT ở tỉnh Đồng Nai
- SV thực hiện: Nguyễn Thị Đinh Thủy Mã số SV: 16124068
Đỗ Thị Anh Thư Mã số SV: 16124069
- Lớp: 16124CL2 Khoa: Đào tạo chất lượng cao
Năm thứ: 2 Số năm đào tạo: 4
- Người hướng dẫn: T.S Nguyễn Khắc Hiếu
2 Mục tiêu đề tài:
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường đại học, cao đẳng ở TP.HCM của học sinh THPT ở tỉnh Đồng Nai, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao công tác hướng nghiệp nhằm giúp cho học sinh THPT chọn lựa đúng trường đại học cho chính mình
Đề xuất các giải pháp để góp phần nâng cao hiệu quả công tác tư vấn hướng nghiệp cho học sinh THPT trong việc quyết định chọn trường để theo học sau kỳ thi Tốt nghiệp THPT Quốc gia
3 Tính mới và sáng tạo:
Nền giáo dục Việt Nam ngày càng phát triển mạnh mẽ và chiếm vị trí quan trọng Nó không chỉ ảnh hưởng đến mặt giáo dục mà còn góp phần giúp kinh tế - xã hội đất nước phát triển hơn nữa Trong những năm gần đây, việc tuyển sinh học sinh xét tuyển vào các trường Đại học, Cao đẳng luôn là đề tài nóng hổi được nhiều quan tâm và rất đáng để mang ra nghiên cứu và bình luận sâu sắc Đào tạo ra một thế hệ trẻ
Trang 14tài năng là nhiệm vụ của tất cả các Trường trên cả nước Việc thi đại học của năm
2012 đã khác rất nhiều so với việc thi đại học của năm 2018, nhiều ngành nghề mới ra đời theo nhu cầu của xã hội và vì thế cánh cửa vào đại học cũng dần dần theo thời gian
mà mở rộng hơn, tạo nhiều cơ hội mới hơn cho các học sinh Do đó, nhóm tác giả đã
quyết định thực hiện đề tài nghiên cứu "Phân tích các yếu tố tác động đến quyết định chọn trường ĐH, CĐ ở TP HCM của học sinh THPT ở tỉnh Đồng Nai” Lý do tác
giả thực hiện khảo sát ở tỉnh Đồng Nai, và chọn TP Hồ Chí Minh để nghiên cứu vì các đề tài nghiên cứu khác đã thực hiện ở các tỉnh như như Tiền Giang, Đồng bằng sông Cửu Long hay các tỉnh miền trung và chưa có đề tài nào hướng đến TP HCM trong khi HCM là trung tâm kinh tế hàng đầu cả nước và là trụ cột của quốc gia, hằng năm có rất nhiều công ty nước ngoài đến đây hợp tác làm ăn Tác giả đã quyết định khảo sát ở tỉnh Đồng Nai, vì Đồng Nai là một trong ba góc nhọn của tam giác phát triển Thành phố Hồ Chí Minh – Bình Dương – Đồng Nai, có dân số đông thứ nhì ở miền Nam (sau TP.HCM)
4 Kết quả nghiên cứu:
- Kết quả nghiên cứu được biểu thị dưới dạng phương trình:
FA= -2,492-2,12*DT+0,146*TT+0,361*VL+0,277*AN
- Kết quả kiểm định mô hình lý thuyết được biểu thị dưới dạng sơ đồ:
Yếu tố tác động đến quyết định chọn trường ĐH, CĐ.
Danh tiếng về Trường
Nỗ lực giao tiếp của các
Trang 155 Đóng góp về mặt giáo dục và đào tạo, kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng và khả năng áp dụng của đề tài:
- Khoảng cách giữa các doanh nghiệp và trường đại học tiến gần nhau hơn
- Đào tạo ra thế hệ trẻ tài năng góp phần phát triển đất nước
- Nguồn lao động tri thức dồi dào
- Tránh tình trạng chảy máu chất xám
6 Công bố khoa học của SV từ kết quả nghiên cứu của đề tài (ghi rõ tên tạp chí
nếu có) hoặc nhận xét, đánh giá của cơ sở đã áp dụng các kết quả nghiên cứu (nếu có):
Ngày tháng năm
SV chịu trách nhiệm chính thực hiện đề tài
(kí, họ và tên)
Nhận xét của người hướng dẫn về những đóng góp khoa học của SV thực hiện đề
tài (phần này do người hướng dẫn ghi):
Ngày tháng năm
Xác nhận của Trường
(kí tên và đóng dấu)
Người hướng dẫn
(kí, họ và tên)
Trang 16Môi trường giáo dục cạnh tranh và mang tính toàn cầu đem đến cho sinh viên những điều kiện thuận lợi để tiếp cận, lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và nhiều cơ hội để khẳng định năng lực của bản thân Sinh viên có thể tiếp cận với môi trường giáo dục quốc tế, được học tập thông qua những công nghệ hiện đại, có được công việc tốt với mức thu nhập cao… Tuy nhiên, để hoạt động nhận thức đạt hiệu quả, ngoài việc biết nắm bắt, chuyển hóa tốt những cơ hội, sinh viên cần phải xác định rõ ràng động cơ học tập cho bản thân Động cơ học tập sẽ chi phối hoạt động nhận thức và ảnh hưởng đến kết quả của hoạt động ấy
Theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo (Vietnamnet.vn (2017)), tính đến
hết năm học 2016-2017, hệ thống hiện có 235 trường đại học, học viện (bao gồm 170 trường công lập, 60 trường tư thục và dân lập, 5 trường có 100% vốn nước ngoài), 37 viện nghiên cứu khoa học được giao nhiệm vụ đào tạo trình độ tiến sĩ, 33 trường cao đẳng sư phạm và 2 trường trung cấp sư phạm
Trang 172
Năm học 2016-2017, có thêm 1 cơ sở đào tạo được thành lập mới trên cơ sở đã
có quyết định chủ trương thành lập của Thủ tướng Chính phủ (Học viện dân tộc); 3 cơ sở đào tạo được cấp phép hoạt động và đều là các cơ sở có 100% vốn đầu tư nước ngoài (Trường ĐH Mỹ tại Việt Nam, Trường ĐH Y Khoa Tokyo, Trường ĐH Fulbright Việt Nam), 1 phân hiệu của ĐHQG TP.HCM được thành lập tại Bến Tre
Về quy mô đào tạo, năm học 2016-2017, tổng quy mô sinh viên đại học 1.767.879 sinh viên, giữ ổn định so với năm học 2015-2016; quy mô sinh viên cao đẳng sư phạm giảm 14,3%, chỉ còn 47.800 sinh viên
Phần lớn sinh viên tập trung theo học các ngành thuộc khối ngành V III: Toán
và thống kê; Máy tính và công nghệ thông tin; Công nghệ kỹ thuật; Kỹ thuật; Sản xuất chế biến; Kiến trúc và xây dựng, Nông lâm và thuỷ sản; Thú y và khối ngành: kinh doanh quản lý, pháp luật
Tính từ đầu năm 2016 đến 31/7/2017, tổng số ngành mở mới ở trình độ đại học
là 184 ngành, tập trung chủ yếu vào các nhóm ngành Kỹ thuật, Công nghệ kỹ thuật, Máy tính và Công nghệ thông tin, Khoa học xã hội và hành vi, Kinh doanh quản lý, Pháp luật
Tuy nhiên, theo đánh giá của Bộ Giáo dục và Đào tạo, nhiều trường vẫn chưa quan tâm đầu tư các điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo để đáp ứng quy mô tuyển sinh; đội ngũ giảng viên, đặc biệt là giảng viên cơ hữu chưa đáp ứng yêu cầu về trình
độ chuyên môn; nguồn lực tài chính phân tán; chưa đầu tư dự báo thị trường nên các ngành đào tạo còn trùng lặp, chồng chéo trong một địa bàn
Nhiều nơi mở ngành đào tạo vẫn dựa vào năng lực và kinh nghiệm vốn có, dẫn đến những ngành xã hội cần thì lại thiếu Đó là những nguyên nhân khiến cơ cấu ngành nghề chưa hợp lý và chất lượng đào tạo hạn chế, chưa đáp ứng nhu cầu phục vụ phát triển KT-XH của đất nước
Trang 183
Năm học 2016-2017, học sinh tốt nghiệp THPT vào đại học, cao đẳng khoảng 41%, vào cao đẳng nghề, trung cấp khoảng 23%, học nghề tại trung tâm đào tạo nghề khoảng 13%, đi làm khoảng 10%
Trong kỳ thi tốt nghiệp THPT và đăng ký xét tuyển đại học năm nay, tỷ lệ học sinh không đăng ký xét tuyển đại học là 26%
Thực tế cho thấy đã có sự chuyển biến về nhận thức của học sinh trong việc lựa chọn ngành nghề và hướng đi phù hợp với năng lực của mình
Tuy nhiên, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng nhìn nhận, hệ thống thông tin thị trường lao động còn thiếu và chậm cập nhật, chưa đáp ứng yêu cầu định hướng nghề nghiệp cho học sinh, nhất là đối với học sinh THCS trong bối cảnh tâm lý chạy theo bằng cấp còn nặng nề
Chính điều đó dẫn đến áp lực hết sức nặng nề cho các học sinh trong các kỳ thi tuyển sinh ĐH, CĐ Hầu hết các em có mơ ước vào các trường đại học (kể cả những
em có học lực yếu) trong khi xã hội đang cần rất nhiều công nhân kỹ thuật lành nghề tham gia trực tiếp trong một số lĩnh vực nghề nghiệp Ước mơ của các em đôi khi còn rất xa với thực tế lao động, hoạt động nghề nghiệp, chưa thấy được giá trị đích thực của các nghề Các em có kỳ vọng quá cao vào một số nghề nhưng khi tiếp xúc với nghề nghiệp trong thực tế thường làm các em thất vọng Chọn nghề mà hiểu biết quá ít, thậm chí không hiểu nghề định chọn thì sớm muộn sẽ gặp trở ngại lớn trong hoạt động nghề nghiệp của cá nhân, tạo sự hẫng hụt, bi quan chán nản, miễn cưỡng trong lao động Thực tế cho thấy, không phải bao giờ nam nữ thanh niên cũng có thể giải quyết đúng đắn vấn đề chọn nghề của mình Theo E.A.Klimốp có thể có hai nguyên nhân chính dẫn đến chọn nghề không phù hợp:
- Thứ nhất, do cá nhân có thái độ không đúng với các tình huống khác nhau của việc chọn nghề (đối với lĩnh vực hoạt động và sự khuyên bảo của người đi trước…) Những thành kiến và tiếng tăm nghề nghiệp do ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp của những người khuyên bảo, sự yêu thích nghề… mới chỉ là bề ngoài, cảm tính Cá nhân chưa thực sự hiểu được nghề đó
Trang 194
- Thứ hai, cá nhân thiếu tri thức, kinh nghiệm về những tình huống đó Có thể do sự đồng nhất môn học với nghề, không hiểu hết năng lực của bản thân, không biết hoặc không đánh giá đầy đủ những đặc điểm phẩm chất cá nhân, không hiểu được đặc điểm và yêu cầu của nghề đòi hỏi với người lao động, thao tác và trình tự của chúng khi giải quyết vấn đề chọn nghề
Việc chọn nghề, nơi đào tạo nghề của học sinh rất quan trọng Vì vậy, cần phải có sự hướng dẫn để các em khi chọn nghề, chọn trường biết kết hợp một cách lý tưởng ba yếu tố: nguyện vọng, năng lực của cá nhân, những đòi hỏi của nghề nghiệp và yêu cầu của xã hội Vì vậy nhóm tác giả quyết định thực hiện đề tài nghiên
cứu "Phân tích các yếu tố tác động đến quyết định chọn trường ĐH, CĐ ở TP HCM của học sinh THPT ở tỉnh Đồng Nai” nhằm tìm ra các giải pháp để góp phần
nâng cao hiệu quả công tác tư vấn hướng nghiệp và tuyển sinh cho học sinh THPT
Nhóm tác giả chọn học sinh trên địa bàn tỉnh Đồng Nai là do Đồng Nai là khu vực lân cận Thành Phố Hồ Chí Minh và thuận tiện cho đi lại Mặc khác, số lượng học sinh ở Đồng Nai chọn thi vào các trường ở những năm trước cũng khá đông đúc, do đó nhóm tác giả tiến hành khảo sát đối tượng học sinh trên tỉnh này
1.2 Mục tiêu nghiên cứu:
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường đại học, cao đẳng ở TP.HCM của học sinh THPT ở tỉnh Đồng Nai, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao công tác hướng nghiệp nhằm giúp cho học sinh THPT chọn lựa đúng trường đại học cho chính mình
Đề xuất các giải pháp để góp phần nâng cao hiệu quả công tác tư vấn hướng nghiệp cho học sinh THPT trong việc quyết định chọn trường để theo học sau kỳ thi Tốt nghiệp THPT Quốc gia
1.3 Câu hỏi nghiên cứu:
Nghiên cứu này tập trung trả lời cho 3 câu hỏi sau:
Trang 205
1) Những yếu tố nào tác động đến sự lựa chọn trường Đại Học, Cao Đẳng của học sinh THPT Mức tác động của những yếu tố này đối với việc chọn Trường của học sinh như thế nào?
2) Có sự khác biệt nào giữa việc chọn trường ĐH, CĐ TP.HCM đối với các trường khác hay không?
3) Gợi ý giải pháp nào có thể áp dụng để thu hút nhiều HS tham gia đăng ký xét tuyển vào Trường
Giới hạn nghiên cứu:
Nghiên cứu này tiến hành khảo sát và đánh giá mức độ tác động của các yếu tố đến quyết định chọn trường của học sinh lớp 12 THPT ở tỉnh Đồng Nai trong kì thi tuyển sinh ĐH-CĐ năm 2018
1.4 Dữ liệu nghiên cứu:
Dữ liệu có được thông qua phỏng vấn trực tiếp bằng phương pháp lấy mẫu thuận tiện với bảng câu hỏi chi tiết
1.5 Phạm vi nghiên cứu:
1.5.1 Không gian
Không gian nghiên cứu của đề tài là tỉnh Đồng Nai, ban đầu tác giả quyết định chọn 6 trường THPT: Trấn Biên, Nam Hà, Chu Văn An, Ngô Quyền, Long Thành và Long Khánh trong tổng số 68 trường nhưng do hạn chế về thời gian, phương tiện đi lại
và nhóm tác giả tiến hành làm khảo sát trong khoảng thời gian hè nên việc tiếp cận học sinh trực tiếp tại trường là rất khó khăn nên nhóm tác giả quyết định chỉ tập trung nghiên cứu đối tượng học sinh tại 4 Trường THPT: Trấn Biên, Nam Hà, Chu Văn An
và Ngô Quyền
1.5.2 Thời gian
-Thời gian thực hiện đề tài từ ngày 22/5/2018 đến 30/7/2018
- Số liệu sơ cấp được thu thập vào tháng 7/2018
Trang 216
1.5.3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu tập trung vào các vấn đề liên quan đến các yếu tố tác động đến động cơ chọn Trường, tầm quan trọng của các yếu tố đó cũng như những tác động lên các nhóm học sinh khác nhau
1.5.4 Phạm vi nghiên cứu
Thời gian: Thực hiện khảo sát từ ngày 15/6-1/7/2018
Không gian: Trên tỉnh Đồng Nai
Đối tượng khảo sát: Học sinh trung học phổ thông đang theo học trên tỉnh Đồng Nai
Các trường thực hiện khảo sát:
- Trường THPT Trấn Biên
- Trường THPT Nam Hà
- Trường THPT Chu Văn An
- Trường THPT Ngô Quyền
1.6 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu:
Ý nghĩa lý thuyết
Việc chọn trường đại học của học sinh luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của trường đại học nói chung và học sinh trung học phổ thông nói riêng Nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục đích xác định và đánh giá mức độ tác động của các yếu tố then chốt đến quyết định chọn trường đại học của học sinh tại các trường phổ thông trung học tại tỉnh Đồng Nai Nhóm tác giả thực hiện khảo sát các bạn học sinh trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Đồng Nai với bảng hỏi phỏng vấn định lượng Nhóm tác giả kết hợp các yếu tố như năng lực bản thân của học sinh, điều kiện kinh tế của gia đình, và các yếu tố liên quan đến nghề nghiệp và tương lai sau khi tốt nghiệp,
….Từ đó tác giả hểu rõ được vấn đề chọn trường Đại Học quan trọng như thế nào đối với bản thân các bạn học sinh và cả gia đình của các bạn Hiểu rõ được vấn đề đó, nhóm tác giả quyết định thực hiện khảo sát các bạn học sinh trên tỉnh Đồng Nai về vấn
Trang 227
đề chọn trường Đại Học, Cao Đẳng ở Thành Phố Hồ Chí Minh Nhóm tác giả thực hiện đề tài nhằm giúp các bạn học sinh phổ thông trung học định hướng được quyết định vào đại học của mình, cũng như giúp các trường ĐH, CĐ trên TP có thể nắm rõ được các yếu tố then chốt tác động đến quyết định chọn trường đại học của học sinh và
từ đó giúp các trường nâng cao chất lượng về danh tiếng, nâng cao chất lượng đầu vào sàng lọc đúng đối tượng Để không còn xảy ra tình trạng hối hận khi xác định ngành nghề và trường học, không tìm ra được định hướng và đam mê của bản thân mỗi học sinh
Nghiên cứu được thực hiện xây dựng, kiểm định mô hình lý thuyết và thang đo các yếu tố đo lường các yếu tố tác động đến quyết định chọn Trường ĐH, CĐ tại TP HCM Vì thế nghiên cứu này có đóng góp về mặt lý luận cho cơ sở lý thuyết để triển khai trong các nghiên cứu ứng dụng tương tự khác
Về mặt thực tiễn
Nghiên cứu nhằm đóng góp 2 nội dung sau:
+ Thứ nhất là, từ kết quả của ngiên cứu giúp cho Hội đồng tuyển sinh của các trường nhận diện được các yếu tố tác động và mức độ tác động của các yếu tố này đến quyết định lựa chọn Trường ĐH, CĐ là nơi để theo học và tiếp tục con đường học vấn tương lai cho sau này
+ Thứ hai là, cũng dựa trên kết quả của nghiên cứu này giúp cho các Ban lãnh đạo nhà trường lựa chọn các phương pháp, mức độ ưu tiên phù hợp trong việc xây dựng các chiến lượt bảng bá thương hiệu, hình ảnh cho Trường ngày một tốt hơn
Trang 232.2 Cơ sở lý thuyết:
Thuyết lựa chọn duy lý hay còn được gọi là lý thuyết lựa chọn hợp lý (Rational choice Theory), thuyết lựa chọn duy lý dựa vào tiên đề cho rằng con người luôn hành động một cách có chủ đích, có suy nghĩ để lựa chọn và sử dụng nguồn lực một cách duy lý nhằm đạt được kết quả tối đa với chi phí tối thiểu Định đề cơ bản của thuyết duy lý được Homans diễn đạt theo kiểu định lý toán học như sau: “Khi lựa chọn trong
số các hành động có thể có, cá nhân sẽ chọn cách mà họ cho là tích (C) của xác xuất thành công của hành động đó (ký hiệu là P) với giá trị mà phần thưởng của hành động
đó (V) là lớn nhất C = (P x V) = Maximum Còn theo John Elster: “Khi đối diện với một số cách hành động, mọi người thường làm cái mà họ tin là có khả năng đạt được
kết quả cuối cùng tốt nhất” Thuyết lựa chọn duy lý đòi hỏi phải phân tích hành động
lựa chọn của cá nhân trong mối liên hệ với cả hệ thống xã hội của nó bao gồm các cá nhân khác với những nhu cầu và sự mong đợi của họ, các khả năng lựa chọn và các sản phẩm đầu ra của từng lựa chọn cùng các đặc điểm khác
D.W Chapman (1987) đã đề nghị một mô hình tổng quát của việc lựa chọn
trường đại học của các học sinh Dựa vào kết quả thống kê mô tả, ông cho thấy có 2 nhóm yếu tố ảnh hưởng nhiều đến quyết định chọn trường đại học của học sinh Thứ nhất là đặc điểm của gia đình và cá nhân học sinh Thứ hai là một số yếu tố bên
Trang 249
ngoài ảnh hưởng cụ thể như: các cá nhân có ảnh hưởng, các đặc điểm cố định của trường đại học và nỗ lực giao tiếp của trường đại học với các học sinh
Hình 1: Mô hình các yếu tố ảnh hưởng chọn trường ĐH của học sinh (D.W.Chapman)
Bên cạnh đó, có rất nhiều nghiên cứu khác sử dụng kết quả nghiên cứu của
D.W Chapman (1981) và phát triển trên những mô hình khác để nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn trường đại học của học sinh Cabera và
La Nasa (được bởi trích M J Burn) đã nghiên cứu mô hình 3 giai đoạn lựa
chọn trường đại học của học sinh dựa trên nền tảng của mô hình chọn trường của
D.W.Chapman (1981) và K.Freeman (được trích bởi M J Burn) và từ kết quả
nghiên cứu, Cabera và La Nasa nhấn mạnh rằng những mong đợi về công việc trong tương lai của học sinh cũng là một nhóm yếu tố quan trong tác động đến quyết định lựa chọn trường đại học của học sinh
Trang 2510
M J Burn đã ứng dụng các kết quả từ các nghiên cứu của Chapman (1981) và Cabera và La Nasa (2000) vào một trường đại học cụ thể tại Mỹ một
lần nữa khẳng định các kết quả nêu trên, đó là mối quan hệ giữa các nhóm yếu
tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường đại học của học sinh
Mô hình nghiên cứu của Ruth E Kallio (1995) còn cho thấy rằng giới tính
cũng có tác động đến quyết định chọn trường Mức độ tác động của các nhóm yếu
tố trực tiếp sẽ bị ảnh hưởng không nhỏ của đặc trưng về giới tính của học sinh
R.E.Kallio (1995) cho rằng giới tính khác nhau sẽ có mức độ tác động gián tiếp khác
nhau lên quyết định lựa chọn trường đại học của học sinh
2.3 Một số khái niệm:
2.3.1 Chọn trường:
Các em học sinh lớp 12 trước khi chuẩn bị tốt nghiệp thường được nhà trường, gia đình, người thân tư vấn trong việc chọn trường, ngành học phù hợp với mục tiêu nghề nghiệp và học lực Sau khi chọn ngành, nghề mình thích, căn cứ vào các tiêu chí: năng lực bản thân, điểm chuẩn, chỉ tiêu tuyển, nhu cầu xã hội, việc làm sau khi ra trường, điều kiện vị trí địa lý học sinh xác định cấp học phù hợp với năng lực rồi chọn trường và làm các thủ tục đăng ký dự thi Trong nghiên cứu này, khái niệm chọn trường được hiểu là quyết định chọn trường đại học, cao đẳng (học
viện) để đăng ký dự thi và theo học sau khi tốt nghiệp THPT
2.3.2 Hướng nghiệp:
Tuỳ thuộc vào đặc trưng cho mỗi lĩnh vực hoạt động khoa học mà khi xem xét hoạt động hướng nghiệp có thể có những quan điểm khác nhau về khái niệm này Các nhà tâm lý học cho rằng đó là hệ thống các biện pháp sư phạm, y học giúp cho thế hệ trẻ chọn nghề có tính đến nhu cầu của xã hội và năng lực của bản thân; các nhà kinh tế học thì cho rằng đó là những mối quan hệ kinh tế giúp cho mỗi thành viên xã hội phát triển năng lực đối với lao động và đưa họ vào một lĩnh vực hoạt động cụ thể, phù hợp với việc phân bố lực lượng lao động xã hội Trong nghiên cứu này, dưới góc độ giáo dục phổ thông, hướng nghiệp là sự tác động của
Trang 2611
một tổ hợp các lực lượng xã hội, lấy sự chỉ đạo của hệ thống sư phạm làm trung tâm vào thế hệ trẻ, giúp cho các em có những hiểu biết cơ bản về một số ngành nghề phổ biến để khi tốt nghiệp ra trường, các em có thể lựa chọn cho mình một cách có ý thức nghề nghiệp tương lai
Giáo dục hướng nghiệp là một bộ phận của giáo dục toàn diện Thông qua giáo dục hướng nghiệp, mỗi học sinh có sự hiểu biết về tính chất và đòi hỏi của ngành nghề mà mình hướng tới, biết phân tích thị trường hoạt động và sự đào tạo nghề tương ứng, tự sàng lọc những nguồn tư vấn để tự mình tháo gỡ vướng mắc hoặc rèn luyện bản thân Từ đó, mỗi học sinh tự xác định được đâu là nghề nghiệp phù hợp hoặc không phù hợp với mình
2.4 Lợi ích của việc chọn đúng Trường ĐH, CĐ để học:
Sau khi kết thúc 12 năm học, từ tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông; nhiều thanh niên đứng trước ngưỡng cửa của cuộc đời và buộc mỗi bạn phải tự tìm cho mình một hướng đi, một con đường phù hợp nhất đối với bản thân Có những bạn chọn học lên đại học, có những bạn chọn đi học nghề, cũng có những bạn chọn đi làm luôn Cho đến nay, chẳng ai dám khẳng định con đường nào tốt hơn, con đường nào phù hợp hơn đối với sự trưởng thành của mỗi con người
Đối với các em học sinh THPT, đặc biệt là các em đang là học sinh lớp 12, đây
là giai đoạn quan trọng để các em quyết định lựa chọn con đường tương lai dẫn đến thành công theo đúng niềm đam mê, sở trường, năng lựa và sự yêu thích của các em Nhưng thực tế cho thấy rằng không phải ai cũng có thể làm được như vậy Với nhu cầu tuyển dụng khá gay gắt từ xã hội Đòi hỏi các em không chỉ phải chọn cho mình đúng ngành học để sau này không phải thất nghiệp mà yếu tố quan trọng hơn là tìm cho mình một môi trường học tập phù hợp cho bản thân
Môi trường đó có thể giúp em phát huy nhiều điểm mạnh tiềm ẩn trong con người mình mà còn giúp các em khắc phục điểm yếu Bên cạnh đó các trường cũng sẽ
là cầu nối để các em có thể dễ dàng hơn trong việc tiếp cận, tìm hiểu và đi sâu hơn về các hoạt động của doanh nghiệp của xã hội
Trang 27Bạn không chỉ được trang bị kiến thức về chuyên ngành bạn theo học; mà còn được tiếp thu những kiến thức ở các lĩnh vực khác có thể hỗ trợ bạn rất nhiều trong công việc tương lai Chẳng hạn như các bạn học kinh doanh, học y được trang bị kiến thức về tâm lý; các bạn học tâm lý được trang bị các kiến thức liên quan đến xã hội,…
Sau này khi ra trường, bạn có làm tốt được hay không; bạn có khẳng định được vị thế của mình hay không là phụ thuộc vào việc ý thức học tập, ý thức tìm tòi của bạn trong quãng thời gian bạn ngồi trên ghế nhà trường là như thế nào
2.5 Các nghiên cứu có liên quan:
Để cung cấp một cái nhìn tổng thể về vấn đề được nghiên cứu, nhóm tác giả sẽ trình bày tóm tắt một số nghiên cứu, các bài viết, sách, tư liệu có liên quan đến quá trình lựa chọn nghề nghiệp, cũng như chọn trường của học sinh
Trong nước:
Theo Nguyễn Phi Yến (2006) “Đại học là con đường tiến thân duy nhất”, hầu
hết các bạn học sinh lớp 12 đều mơ ước vào các trường đại học, kể cả những bạn học sinh có năng lực học tập không được tốt Có rất nhiều trường hợp các bạn học sinh đã lựa chọn ngành nghề không phù hợp với năng lực bản thân, chịu sự tác động của gia đình, bạn bè hoặc chọn ngành và trường vẫn còn theo tâm lý đám đông, do đó, việc chọn ngành và trường đại học là rất quan trọng, vì nó là một trong những yếu tố quyết định tương lai của một người
Theo Nguyễn Phương Toàn (2011) “Việc chọn nghề, nơi đào tạo nghề của học
sinh rất quan trọng Vì vậy, cần phải có sự hướng dẫn để các em khi chọn nghề, chọn
Trang 2813
trường biết kết hợp một cách lý tưởng ba yếu tố: nguyện vọng, năng lực của cá nhân, những đòi hỏi của nghề nghiệp và yêu cầu của xã hội”
Theo Trần Văn Quý (2009), “thực tế đã ghi nhận có không ít học sinh cuối cấp
3 ở Việt Nam chưa xác định rõ ngành học và trường mình sẽ dự thi Theo kết quả khảo sát của Báo Người Lao Động trên 60% học sinh thừa nhận rằng mình không được hướng nghiệp khi chọn ngành nghề đăng ký tuyến sinh đại học Việc định hướng như thế nào cho các công dân trẻ tuổi này nhận thấy sự quan trọng của công việc mình đã chọn, tương lai của họ sẽ như thế nào với sự lựa chọn đó cũng như tạo ra một lòng nhiệt tâm trong công việc là một trong những vấn đề đã và đang tồn tại Mục tiêu của đề tài nghiên cứu này sẽ xác định, đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố then chốt ảnh hưởng đến quyết định chọn trường đại học của học sinh và nhằm giúp các trường đại học, cao đẳng, có thêm các tổ chức hỗ trợ cho học sinh, có biện pháp thiết thực nhằm định hướng và tạo điều kiện tốt nhất cho học sinh THPT lựa chọn trường đại học”
Theo Nguyễn Trọng Bảo (1987) “Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ
thông là một trong những vấn đề quan trọng được Đảng ta quan tâm hiện nay Đây là một cột mốc quan trọng đánh dấu việc đưa công tác hướng nghiệp chương trình giáo dục của trường phổ thông Quyết định 126/CP đã khẳng định mục tiêu của hướng nghiệp là giúp học sinh định hướng chọn nghề phù hợp với hứng thú, năng lực và hoàn cảnh của cá nhân, đồng thời đáp ứng được sự phát triển của ngành nghề trong xã hội” Việc hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông là hết sức quan trọng để các em xác định đúng đắn được sở thích cũng như năng lực của mình trong việc chọn ngành
và chọn trường để học, Việc đó là một lợi thế để các tổ chức, các trường đại học tổ chức các buổi hướng nghiệp để giúp các em học sinh tối ưu nhất trong việc chọn trường, cũng như là quảng bá thương hiệu của trường Đại Học đến với các em học sinh
Theo Nguyễn Thị Nhân Ái (2011), “trong quá trình chọn nghề, học sinh gặp rất
nhiều khó khăn trong việc nhận thức và đánh giá bản thân, trong việc tìm thông tin ngành nghề, trường thi, mâu thuẫn giữa cha mẹ và con cái trong sự lựa chọn nghề
Trang 2914
Những khó khăn này không được giải quyết kịp thời sẽ gây nên sự lo lắng cho các em đưa ra những quyết định không đúng đắn trong chọn nghề Xu hướng hiện đại trong giáo dục nói chung và giáo dục phổ thông nói riêng là tiếp cận theo hướng hình thành các năng lực hoạt động thực tiễn, hoạt động trí tuệ cho học sinh” Các trường trung học phổ thông nói chung nên giúp đỡ học sinh của mình để các em có những cái nhìn về thực tiễn và nhận thức được năng lực bản thân, để các em lựa chọn đúng đắn về trường và ngành nghề của mình
Theo Tô Thị Đào (2010), “có thể thấy rằng việc chọn trường, chọn ngành thi cử
vào Đại Học – Cao Đẳng đang tồn tại vấn đề bất cập là làm sao nắm được các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường, chọn ngành của học sinh THPT, từ đó có các biện pháp tư vấn phù hợp để việc chọn trường, chọn ngành của học sinh phù hợp với nhu cầu lao động của xã hội” Nhu cầu lao động của xã hội là một trong những thành phần quan trọng dẫn đến việc chọn trường, chọn ngành của các em học sinh cuối cấp, để giúp các em nắm bắt rõ xu hướng của xã hội chứ không phải chỉ chạy theo những ngành nghề, những trường hot, các trường THPT nói chung cũng như trường Đại Học nói chung nên đưa ra các biện pháp hay các buổi hướng nghiệp để giúp các bạn học sinh hiểu rõ kĩ càng về vấn đề này
Theo GS Nguyễn Văn Hộ (2006) cũng là một trong những người rất tâm đắc
và nghiên cứu chuyên sâu về giáo dục hướng nghiệp Trong luận án tiến sĩ của mình tác giả đã đề cập đến vấn đề: “Thiết lập và phát triển hệ thống hướng nghiệp
34 cho HS Việt Nam” Tác giả đã xây dựng được luận chứng cho hệ thống giáo dục hướng nghiệp trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Gần đây (2006), ông cũng đã cho xuất bản cuốn sách: “Hoạt động giáo dục hướng nghiệp và giảng dạy kĩ thuật trong trường THPT”, cuốn sách đã trình bày một cách hệ thống về cơ sở lí luận của giáo dục hướng nghiệp, vấn đề tổ chức giáo dục hướng nghiệp trong trường THPT và giảng dạy kĩ thuật ở nhà trường THPT trong điều kiện kinh tế thị trường và sự nghiệp CNH - HĐH đất nước hiện nay
Trang 3015
Ngoài nước:
Theo Joseph Sia Kee Ming (2010), “cạnh tranh gay gắt trong lĩnh vực giáo dục
đại học ở Malaysia đã buộc nhiều trường đại học phải trở thành "doanh nhân" và thực hiện các chiến lược tiếp thị trong việc tuyển dụng sinh viên trong và ngoài nước
Joseph Sia Kee Ming đã đề xuất mô hình khái niệm các yếu tố ảnh hưởng đến quyết
định chọn trường đại học của sinh viên tại Malaysia Nghiên cứu này đã đưa ra được các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường của học sinh như sau: Nhóm yếu tố điều kiện của các trường đại học (vị trí, chương trình đào tạo, danh tiếng, cơ sở vật chất, chi phí học tập, hỗ trợ tài chính, cơ hội làm việc) Nhóm yếu tố nổ lực giao tiếp với học sinh (quảng cáo, đại diện tuyển sinh, giao lưu với các trường phổ thông, thăm khuôn viên trường đại học)”
Theo Dr Raja Irfan Sabir, W A, … (2013), “môi trường giáo dục đại học ở
Pakistan đã trở nên rất tích cực và các trường đại học phải đấu tranh để tuyển dụng những sinh viên trí thức Các sinh viên đã trở thành người tiêu dùng do tăng lệ phí của các cơ sở giáo dục đại học Trọng tâm chính của nghiên cứu này là để khám phá ra các yếu tố mà sinh viên cho là quan trọng liên quan đến sự lựa chọn của họ về trường đại học và các khóa học mong muốn”
Theo David W Chapman (1981) “Cách tiếp cận chẳng hạn như chi phí, kích cỡ,
khoảng cách, chất lượng của các chương trình và các yếu tố thường gặp nhất với sự lựa chọn của trường đại học toàn diện đặc điểm nền học sinh Ví dụ tại Úc tìm thấy lĩnh vực ưu tiên học tập, khóa học và danh tiếng của tổ chức, khóa học dễ dàng tiếp cận đến học sinh và các đặc điểm thể chế đáng kể trên Ngoài ra, danh tiếng của các trường đại học cho sinh viên đại học ở Anh với các nghiên cứu cho thấy rằng sinh viên xem xét các yếu tố kinh tế cẩn thận hơn trong thời kì khó khăn về tài chính và khó khăn Những yếu tố này bao gồm cơ hội việc làm để bổ sung thu nhập, chi phí chỗ ở
và khoảng cách gia đình Quá trình các quyết định nghiên cứu thường có liên quan chặt chẽ với các quyết định lựa chọn thể chế Một loạt các yếu tố ảnh hưởng đến sở thích môn học bao gồm: danh tiếng của khóa học giữa các nhà tuyển dụng; sự hài lòng
từ khóa học; công việc tốt nghiệp từ khóa học; chất lượng giảng dạy trong khóa học; phương pháp giảng dạy, khóa học bao gồm cơ hội học tập linh hoạt”
Trang 3116
Theo Ruth, E Kallio (1995), “xác định trình độ kinh nghiệm đại học ảnh hưởng
đến quyết định theo đuổi hoặc không theo đuổi một sự nghiệp trong một lĩnh vực liên quan đến nông nghiệp So sánh các cá nhân theo dân tộc về các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn nghề nghiệp Xác định mối quan hệ tương quan tồn tại giữa các sinh viên tốt nghiệp cá nhân và tình huống đặc điểm, lý do của họ tham gia vào các chương trình giáo dục trong nông nghiệp hoặc một lĩnh vực liên quan, và lý do của họ để lựa chọn hay không lựa chọn nghề trong nông nghiệp hoặc lĩnh vực liên quan”
2.5 Các giả thuyết nghiên cứu:
2.5.1 Yếu tố về đặc điểm trường đại học, cao đẳng:
Trong nghiên cứu của mình D.W.Chapman (1981) cho rằng các yếu cố định của
trường đại học, cao đẳng như học phí, vị trí địa lý, chính sách hỗ trợ về chi phí hay môi trường học sẽ có ảnh hưởng đến quyết định chọn trường của học sinh
Dựa vào nhóm yếu tố về đặc điểm trường đại học, giả thuyết H1 được phát biểu như sau:
Giả thuyết H1: Đặc điểm của trường đại học, cao đẳng càng tốt, xu hướng
chọn trường đó càng cao
2.5.2 Yếu tố về danh tiếng của trường đại học, cao đẳng:
M.J.Burns và các cộng sự (được trích bởi Quí và Thi) đã cho rằng mức
độ nổi tiếng và uy tín của trường, đội ngũ giáo viên danh tiếng cũng là những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường của học sinh Từ những yếu tố trên dẫn đến giả thuyết H2 được phát biểu như sau:
Giả thuyết H2: Trường đại học, cao đẳng có danh tiếng, thương hiệu càng
cao, học sinh sẽ chọn trường đó càng nhiều
2.5.3 Yếu tố về nỗ lực giao tiếp với học sinh của các trường đại học, cao đẳng:
D.W.Chapman (1981) sau nghiên cứu của mình cũng đặc biệt nhấn mạnh
sự ảnh hưởng của nỗ lực giao tiếp của các trường với học sinh đến quyết định chọn trường của các học sinh Trong những nỗ lực ấy, sự cải thiện hình ảnh của
Trang 32Hossler và Gallagher (được trích bởi Quí và Thi) còn cho rằng việc tham quan
trực tiếp trường học hay các buổi giới thiệu về trường cũng ảnh hưởng đến
quyết định chọn trường của học sinh D.W.Chapman (1981) còn cho rằng, các tài
liệu có sẵn cũng tác động đến quá trình chọn trường của học sinh Chọn trường là một quyết định không đầy đủ thông tin của học sinh Vì thế, chất lượng thông tin và
sự sẵn sàng của thông tin trong tài liệu có sẵn như Website hay các tài liệu in khác
sẽ là một hỗ trợ không nhỏ trong quyết định chọn trường của học sinh
Dựa trên các yếu tố về nỗ lựa giao tiếp của trường với học sinh như tham quan trường, tham gia các buổi giới thiệu về trường, giới thiệu học bổng, quảng cáo trên báo, tạp chí, ti vi và sự đầy đủ và chất lượng thông tin được cung cấp trong các tài liệu
có sẵn, giả thuyết H3 được phát biểu như sau:
Giả thuyết H3: Trường đại học, cao đẳng nỗ lực trong tư vấn tuyển sinh,
quảng bá hình ảnh đến học sinh càng nhiều, học sinh sẽ chọn trường đó nhiều hơn
2.5.4 Yếu tố về bản thân cá nhân học sinh:
D.W.Chapman (1981) cho rằng, các yếu tố của tự thân cá nhân học sinh là một
trong những nhóm yếu tố ảnh hưởng lớn đến quyết định chọn trường của bản thân họ Trong những yếu tố đó, yếu tố về năng lưa và sở thích của bản thân học sinh là 2 yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường ĐH rõ nhất Dựa trên cơ sở hai yếu tố năng lựa và sở thích của học sinh, giải thuyết H4 được phát biểu:
Giả thuyết H4: Sự phù hợp của ngành học với khả năng hay với sở thích
học sinh càng cao, học sinh sẽ có khuynh hướng chọn trường đó càng lớn
2.5.5 Yếu tố về cơ hội trúng tuyển:
D.W.Chapman (1981) và Cabrera và La Nasa (được trích bởi M.J.Burns) đều
đã khảo sát sự ảnh hưởng của sự mong đợi về học tập trong tương lai
Trang 3318
đến quyết định chọn trường của họ M.J.Burns và các cộng sự (được trích bởi Quí
và Thi) đã bổ sung thêm, “tỷ lệ chọi” đầu vào, điểm chuẩn của trường là những
yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường của học sinh Dựa trên cơ sở yếu tố mong đợi học tập trong tương lai của các học sinh, giả thuyết H5 được phát biểu như sau:
Giả thuyết H5: Trường đại học, cao đẳng có điểm tuyển sinh thấp, cơ hội
trúng tuyển càng cao, học sinh chọn trường đó càng nhiều
2.5.6 Yếu tố về sự đa dạng và hấp dẫn ngành đào tạo:
M.J.Burns và các cộng sự (được trích bởi Qúi và Thi) đã bổ sung thêm mức độ
hấp dẫn của ngành học sẽ là những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn Trường của học sinh Dựa trên cơ sở yếu tố đa dạng và hấp dẫn của ngành học giả thuyết H6 được phát biểu như sau:
Giả thuyết H6: Trường đại học, cao đẳng có ngành học đa dạng, hấp dẫn
cao hơn các trường khác, học sinh sẽ chọn trường đó nhiều hơn
2.5.7 Yếu tố về cơ hội việc làm trong tương lai:
Theo Cabera và La Nasa (được trích bởi M.J.Burns), ngoài mong
đợi về học tập trong tương lai thì mong đợi về công việc trong tương lai cũng
là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường của học
sinh S.G.Washburn và các cộng sự (được trích bởi Quí và Thi) còn cho rằng
sự sẵn sàng của bản thân cho công việc và cơ hội kiếm được việc làm sau khi tốt nghiệp cũng là những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường của học sinh Từ những yếu tố trên dẫn đến giả thuyết H7 được phát biểu như sau:
Giả thuyết H7: Trường đại học, cao đẳng đáp ứng sự mong đợi về việc làm,
thu nhập, địa vị của sinh viên sau khi tốt nghiệp cao hơn những trường khác, học sinh sẽ chọn trường đó nhiều hơn
2.5.8 Yếu tố về các cá nhân có ảnh hưởng đến quyết định của học sinh:
Cũng theo D.W.Chapman (1981), trong việc chọn trường, các bạn học sinh bị
tác động mạnh mẽ bởi sự thuyết phục, khuyên nhủ của bạn bè và gia đình Sự ảnh
Trang 3419
hưởng của các cá nhân này đến các học sinh có thể thực hiện theo 3 cách sau: (1) Ý kiến của họ ảnh hưởng đến mong đợi về một trường đại học cụ thể đó là như thế nào (2) Họ cũng có thể khuyên trực tiếp về nơi mà học sinh nên tham gia dự thi (3) Trong trường hợp là bạn thân, thì chính nơi mà bạn thân dự thi cũng ảnh hưởng đến quyết
chọn trường của học sinh Bên cạnh đó, Hossker và Gallagher (được trích bởi Qúi và Thi) còn cho rằng ngoài cha mẹ, anh chị và bạn bè, các cá nhân tại trường học cũng có
ảnh hưởng không nhỏ đến quyết định chọn trường của học sinh Xét trong điều kiện giáo dục của Việt Nam, cá nhân có ảnh hưởng đến quyết định chọn trường của học sinh chính là các thầy cô giáo Do vậy; gia đình, cha mẹ, anh chị, bạn thân và các thầy
cô giáo trong trung học học chính là những nhân tố ảnh hưởng đến quyết định của học sinh Dựa vào nhóm yếu tố về cá nhân này, giả thuyết H8 được phát biểu như sau:
Giả thuyết H8: Sự định hướng của các thân nhân của học sinh về việc dự thi
vào một trường đại học, cao đẳng nào đó càng lớn, xu hướng chọn trường đó của học sinh càng cao
Bảng 1: Bảng tóm tắt các giả thuyết của mô hình nghiên cứu một cách cụ thể
Giả
thuyết
động
H1 Các đặc điểm cố định của trường ĐH, CĐ ở TPHCM (+)
H4 Yếu tố tương thích với đặc điểm cá nhân (+)
H6 Mức độ đa dạng và hấp dẫn của ngành đào tạo (+)
Trang 3520
2.6 Mô hình nghiên cứu:
Tóm lại, tổng hợp các nhóm yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn trường ĐH, CĐ ở TP.HCM của học sinh đã tổng quan ở trên sẽ là cơ sở hình thành mô hình nghiên cứu của đề tài này
Hình 2: Mô hình nghiên cứu của đề tài
Tóm tắt: Dựa trên cơ sở 8 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn trường đại học của học sinh, mô hình nghiên cứu được đề xuất với 8 giả thuyết từ H1 đến H8 Trong đó, các nhóm yếu tố được giả thuyết từ H1 đến H8 là các biến độc lập định lượng tác động trực tiếp đến biến phụ thuộc là quyết định chọn trường đại học của học sinh Ngoài ra sẽ xem xét các yếu tố về nhân khẩu học: đặc điểm cá nhân và đặc điểm gia đình là các biến biến định tính kỳ vọng tác động gián tiếp lên mối quan hệ giữa các biến độc lập nêu trên và biến phụ thuộc trong mô hình
Trang 3621
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU, THIẾT KẾ VÀ ĐÁNH GIÁ
THANG ĐO
Chương 2 đã trình bày cơ sở lý thuyết và đề nghị một mô hình nghiên cứu cùng
8 giả thiết nghiên cứu Chương 3 này nhằm mục đich giới thiệu phương pháp nghiên cứu sử dụng để xây dựng và điều chỉnh thang đo, kiểm định mô hình nghiên cứu cùng các giả thuyết đề ra
3.1 Tổng quan địa bàn nghiên cứu:
TP.HCM là một trong 6 tỉnh (thành) vùng Đông Nam Bộ Có diện tích 2.095,06 km2 dân số khoảng 8.297.500 người
Hiện tại Thành phố Hồ Chí Minh có 50 trường đại học (36 công lập và 14 dân lập), 7 Học viện
Thành Phố Hồ Chí Minh nằm ở trung tâm của khu vực Đông Nam Á, nơi có tốc
độ phát triển nhanh nhất thế giới và thị trường của hơn 600 triệu người Ngoài ra, vị trí thuận lợi nằm lân cận các nước trong ASEAN chỉ cách Phnom Pênh, Campuchia, Thái Lan tạo nên cơ hội việc làm rộng mở đối với người lao động và giúp dễ dàng giao thương với các nước láng giềng
Với dân số trên 8 triệu dân và chiếm hơn 10% dân số Việt Nam, Thành Phố Hồ Chí Minh là thị trường tiềm năng để đầu tư vào kinh doanh kiếm lợi nhuận Tốc độ dân số ngày càng gia tăng bởi tỷ lệ người nhập cư cao, trung bình khoảng 2,9% / người một năm Trong đó có khoảng 83,1% dân số sống ở khu vực thành thị, phần lớn là những người trẻ dưới 35 tuổi Với thu nhập bình quân là 4300 USD/người/năm, gấp đôi mức trung bình toàn quốc, điều này không chỉ đáp ứng nhu cầu cơ bản của người dân Thành Phố
Hệ thống giáo dục Thành Phố hiện đại và toàn diện với hàng trăm trường mẫu giáo, tiểu học, trung học cơ sở với hơn 1,3 triệu học sinh Ngoài ra, thành phố có hơn
72 trường đại học và cao đẳng tuyển dụng hơn 116.000 sinh viên hàng năm, 370 trung tâm dạy nghề và trường trung học chuyên nghiệp Nhiều trường đại học quốc tế như RMIT, Trường Quốc tế Mỹ, Trường Quốc tế Singapore Có gần 30% số người có bằng
Trang 3722
sau đại học ở Việt Nam hiện đang sinh sống trong thành phố Chính quyền thành phố tạo điều kiện thuận lợi nhằm số lượng nhân viên có trình độ làm việc trong các lĩnh vực như công nghiệp công nghệ cao, công nghệ thông tin và các ngành dịch vụ khác Nhân viên có trình độ cao và được chú trọng đào tạo bài bản sẽ giúp các công ty khi đầu tư kinh doanh vào TPHCM có thể dễ dàng tuyển dụng nhân viên phù hợp
Thành phố Hồ Chí Minh khởi đầu có nền văn hoá độc đáo cùng với môi trường đầu tư tuyệt vời và cộng đồng doanh nhân mạnh Ước tính có hơn 25.000 doanh nghiệp trong nước mới được thành lập vào năm 2013 với tổng vốn đầu tư lên đến 114,6 nghìn tỷ đồng Thành phố cũng đã cấp giấy chứng nhận đầu tư cho 440 dự án FDI với tổng vốn cam kết là 963 triệu USD Con số này phản ánh số lượng doanh nghiệp thành lập ngày càng nhiều Qua đó, chính quyền thành phố đã thực hiện nhiều chương trình khác nhau để tạo thuận lợi cho quá trình đầu tư
Bên cạnh đó Hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại là một điểm cộng để thu hút các nhà đầu tư vào TPHCM Đó chính là lí do mà hằng năm có không ít dân nhập cư và đây sinh sống, và vào mỗi mùa tuển sinh thì số lượng sinh viên của các tỉnh thành trên cả nước đổ về đây ngày càng nhiều rất nhiều Đây là nơi mang lại cho người trẻ cơ hội để phát triển, học tập làm giàu cho quê hương và đất nước
3.2 Thang đo và mã hóa thang đo:
Để kiểm định mô hình, thang đo được sử dụng trong nghiên cứu này là thang đo Likert 5 mức độ cho tất cả các biến quan sát, biến độc lập lẫn biến phụ thuộc Mỗi câu hỏi Likert gồm môt câu hỏi đánh giá và một thang đo gồm 5 mức với sự lựa chọn số 1
là hoàn toàn không đồng ý với phát biểu và lựa chọn số 5 là hoàn toàn đồng ý với phát biểu
Đồng thời, nhóm tác giả mã hóa các biến trong thang đo Yếu tố quyết định đến chọn trường như sau:
Trang 3823
Bảng 2: Bảng mã hóa các thang đo hiệu chỉnh
Nhóm yếu tố các đặc điểm cố định của trường ĐH, CĐ ở TP.HCM (H1)
CD1 Trường ĐH, CĐ có vị trí địa lí thuận lợi cho việc đi lại và học tập CD2 Trường ĐH, CĐ có cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại phục vụ
giảng dạy tốt
CD3 Trường ĐH, CĐ thu học phí phù hợp với điều kiện kinh tế gia đình
CD4 Trường ĐH, CĐ có chế độ học bổng và các chính sách hỗ trợ tài chính
cho sinh viên theo học rất tốt
Danh tiếng về Trường ĐH, CĐ (H2)
DT1 Trường ĐH, CĐ là địa chỉ đào tạo danh tiếng, thương hiệu
DT2 Đội ngũ giảng viên giỏi có nhiều thành tích trong quá trình giảng dạy DT3 Hợp tác với nhiều trường danh tiếng ở nước ngoài
DT4 Có nhiều sinh viên đạt giải cao trong nhiều kì thi học thuật như
robocom, nghiên cứu khoa học
Nỗ lực giao tiếp của trường (H3)
TT1 Trường ĐH, CĐ thực hiện quảng cáo cung cấp đầy đủ thông tin về
trường qua các phương tiện truyền thông TT2 Trường ĐH, CĐ có các hoạt động tư vấn tuyển sinh, hướng nghiệp tốt TT3 Đã có thông tin về trường qua quảng cáo trên báo, tạp chí, các tài liệu
in ấn khác…
TT4 Đã được giới thiệu về trường qua hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở
trường THPT
Trang 3924
TT5 Được đến tham quan trực tiếp tại Trường ĐH, CĐ thông qua các ngày
hội hướng nghiệp
Yếu tố tương thích với đặc điểm cá nhân (H4)
CN1 Trường có ngành đào tạo phù hợp với năng lực
CN2 Trường có nhiều ngành phù hợp với sở thích
CN3 Tôi thích tham gia nhiều CLB đội nhóm và trường đáp ứng được điều
đó
Cơ hội trúng tuyển vào Trường ĐH, CĐ Ở TPHCM (H5)
YOU1 Trường có điểm chuẩn đầu vào phù hợp với bản thân
YOU2 Trường trích 10% xét hồ sơ bằng học bạ cho các bạn vào hệ CLC YOU3 Trường ưu tiên tuyển thẳng cho các bạn có thành tích cao trong kì thi
học sinh giỏi Quốc gia, hoặc học sinh các trường chuyên, năng khiếu
Mức độ đa dạng và hấp dẫn của ngành đào tạo (H6)
NN1 Trường có nhiều ngành đào tạo đa dạng
NN2 Trường có nhiều ngành đào tạo hấp dẫn
NN3 Trường có nhiều ngành giảng dạy bằng tiếng anh
Cơ hội việc làm sau khi ra trường (H7)
VL1 Có cơ hội tìm được việc làm sau khi tốt nghiệp tại Trường ĐH, CĐ VL2 Nhanh chóng tìm việc làm ổn định, lương cao, dễ thăng tiến sau khi
tốt nghiệp ĐH, CĐ VL3 Chuẩn đầu ra của trường ĐH, CĐ đáp ứng được yêu cầu của các công
ty tuyển dụng
Trang 4025
Các cá nhân bên ngoài có ảnh hưởng (H8)
AH1 Theo ý kiến của cha, mẹ, anh chị trong gia đình
AH2 Theo ý kiến của thầy/cô giáo chủ nhiệm, giáo viên hướng nghiệp ở
trường trung học AH3 Theo ý kiến của bạn bè
AH4 Theo ý kiến của các anh/chị sinh viên đã và đang học tại Trường ĐH,
CĐ
Quyết định chọn trường ĐH, CĐ ở TP.HCM (Y)
FA1 Tôi chọn trường ĐH, CĐ vì sở thích và ước mơ từ bé
FA2 Tôi chọn trường ĐH, CĐ vì sau này tôi muốn trở thành kỹ sư, bác sĩ,
giáo viên … FA3 Tôi chọn ĐH, CĐ này vì tôi đủ điểm để vào trường này chứ những
trường khác không đủ
3.3 Nghiên cứu sơ bộ:
Vì nhóm tác giả thực hiện khảo sát trong giai đoạn các bạn học sinh THPT đang gấp rút chuẩn bị cho kì thi quan trọng là tốt nghiệp THPT quốc gia, nên việc tiến hành khảo sát trực tiếp tại trường rất khó khăn Nên nhóm tác giả quyết định gửi online thông qua diễn đàn trường và một số người quen như thầy cô, bạn bè để giúp tác giả chuyển trực tiếp bảng khảo sát đến tay các em học tại ngôi trường đó
Bên cạnh đó có một số trường, khoảng cách địa lí khá xa nên nhóm tác giả quyết định chỉ chọn khảo sát 4 trường THPT thay vì 6 trường như dự định ban đầu
Bảng câu hỏi được nhóm tác giả gửi online đến các học sinh Tuy nhiên chỉ có
101 bảng câu hỏi được chấp nhận, 49 bảng câu hỏi bị loại bỏ do bị sai sót trong quá