Trong quá trình thiết kế đồ gỗ, yêu cầu phải lấy quan điểm khoa học để nghiên cứu mối quan hệ tương hỗ với tình cảm tâm lý và cơ năng sinh lý của con người, lấy việc nghiên cứu cơ sở và
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG CHUẨN NHÂN TRẮC HỌC TRONG THIẾT KẾ, CHẾ TẠO GIUỜNG NGỦ
MÃ SỐ: T2014-83
Tp Hồ Chí Minh, tháng 11 - 2014
S 0 9
S KC 0 0 5 5 6 9
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KH&CN CẤP TRƯỜNG
NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG CHUẨN NHÂN TRẮC HỌC TRONG THIẾT KẾ, CHẾ TẠO GIƯỜNG NGỦ
Mã số: T2014-83
Chủ nhiệm đề tài: ThS NGUYỄN VĂN TÚ
TP HCM, Tháng11 Năm 2014
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA CƠ KHÍ CHẾ TẠO MÁY
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KH&CN CẤP TRƯỜNG
NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG CHUẨN NHÂN TRẮC HỌC TRONG THIẾT KẾ, CHẾ TẠO GIƯỜNG NGỦ
Mã số: T2014-83
Chủ nhiệm đề tài: ThS NGUYỄN VĂN TÚ
TP HCM, Tháng11 Năm 2014
Trang 4ĐỀ TÀI KH&CN CẤP TRƯỜNG
NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG CHUẨN NHÂN TRẮC HỌC TRONG THIẾT KẾ, CHẾ TẠO GIƯỜNG NGỦ
Danh sách những thành viên tham gia nghiên cứu: ThS NGUYỄN VĂN TÚ
Trang 5
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC HÌNH 3
DANH MỤC CÁC BẢNG 4
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 3
MỞ ĐẦU 5
* Tổng quan tình hình nghiên thuộc lĩnh vực của đề tài ở trong và ngoài nước 5
- Trên thế giới 5
- Ở Việt Nam 6
* Tính cấp thiết của đề tài 6
* Mục tiêu đề tài 8
* Đối tượng nghiên cứu 8
* Phạm vi nghiên cứu 8
* Cách tiếp cận 8
* Phương pháp nghiên cứu 8
Chương 1 9
Kích thước cơ thể người và ứng dụng trong thiết kế đồ gỗ 9
1.1 Phương pháp đo cơ thể người, số liệu và ứng dụng 9
1.1.1 Tư thế người bị đo 9
1.1.2 Mặt chuẩn đo 9
1.1.3 Kích thước của cơ thể 10
1.1.4 Số liệu đo cơ thể người thường dùng 12
Chương 2 Sinh lý của cơ thể con người và đồ gỗ 23
2.1 Khái niệm về Ergonomics 23
2.1.1 Định nghĩa về Ergonomics 23
2.1.2 Tác dụng của Ergonomics trong thiết kế công năng đồ gỗ 23
2.2 Sinh lý của cơ thể con người và đồ gỗ 24
2.2.1 Sinh lý của cơ thể con người 24
2.2.2 Động tác cơ bản của cơ thể con người 25
2.2.3 Kích thước của cơ thể 27
2.2.4 Công năng của đồ gỗ và sinh lý của cơ thể con người 28
Chương 3 Thiết kế công năng các loại đồ gỗ dùng để nằm 31
3.1 Thiết kế công năng các loại đồ gỗ dùng để nằm 31
3.1.1 Yêu cầu và kích thước cơ bản của đồ gỗ dùng để nằm 31
Chương 4 Thiết kế chế tạo giường ngủ 36
4.1 Ứng dụng kích thước cơ thể người trong thiết kế công trình 36
Trang 64.2 Bản vẽ thiết kế 36
4.2.1 Phương án thiết kế 36
4.2.2 Bản vẽ thiết kế 36
4.3 Sản phẩm giường 37
4.4 Đánh giá sản phẩm 43
KẾT LUẬN VẦ KIẾN NGHỊ 44
Kết luận 44
Kiến nghị 44
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.6 Phạm vi lớn nhất tay có thể với tới ở các trạng thái tư thế 22
Trang 84
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1-3 Kích thước cơ thể người tư thế ngồi 15
Bảng 1-6 Quan hệ giữa chiều cao của dụng cụ sinh hoạt và thiết bị
với chiều cao cơ thể
21
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
H - Chiều cao người
L - Chiều dài giường
W - chiều rộng giường
Trang 9Ergonomics xuất hiện mới được khoảng 40 năm Phát triển của Ergonomics có thể chia làm 5 thời kỳ:
Từ cuối thế kỷ XIX đến Chiến tranh thế giới lần thứ nhất: F.W Taylor nghiên cứu mối quan hệ giữa đặc điểm thiết kế dụng cụ thủ công và hiệu suất tác nghiệp của con người; H Munsterberg, nghiên cứu ứng dụng tâm lý học vào thực tiễn sản xuất, dùng tâm lý học thực nghiệm để tuyển dụng và đề bạt nhân viên, huấn luyện và cải thiện điều kiện lao động Đây đều là manh nha của Ergonomics, mở ra triển vọng nghiên cứu lớn của Ergonomics
Từ chiến tranh thế giới thứ nhất đến chiến tranh thế giới thứ hai: Chiến tranh thế giới thứ nhất đã cung cấp mảnh đất cho nghiên cứu về hiệu suất làm việc của con người Do thiếu công nhân lành nghề, để nâng cao hiệu suất sản xuất không thể không tăng ca Thời kỳ đó, hầu hết đàn ông phải đi chiến đấu, rất nhiều phụ nữ phải tham gia lao động sản xuất Vì thế, vấn đề làm việc nặng nhọc và hiệu suất làm việc, và làm thế nào để phát huy tác dụng có hiệu của con người trong chiến tranh là nội dung nghiên cứu của thời kỳ đó Khi đó ở nước Anh thành lập cơ quan nghiên cứu mệt mỏi của cơ thể; Đức, Liên Xô và Nhật Bản lần lượt thành lập cơ quan nghiên cứu tâm lý công nghiệp; cơ quan nghiên cứu khoa học lao động và cơ quan nghiên cứu hiệu suất công việc Các nhà tâm lý học Mỹ, khoảng năm 1955 đã tiến hành một nghiên cứu nổi tiếng, nghiên cứu “Hoắc Sung”, ý đồ của nghiên cứu này là nghiên cứu ảnh hưởng của nhân
tố môi trường vật chất như chiếu sáng đến hiệu suất làm việc, nhưng trong quá trình nghiên cứu phát hiện nhân tố bên ngoài như tổ chức, quan hệ trên dưới, không khí làm
Trang 10có như thế mới giảm được mệt mỏi và sai sót của người, nâng cao hiệu suất tác nghiệp Trong thời kỳ này, Anh, Mỹ và Nhật lần lượt vào các năm 1950, 1957 và 1964 thành lập “Sociaty of Human Factors”, “Sociaty of Ergonomics”, “Nhân gian công học hội”
từ đó, Ergonomics từng bước hình thành tổ chức nghiên cứu và hệ thống khoa học tương đối hoàn chỉnh mang tính quốc tế
Ergonomics từ những năm 70 của thế kỷ XX đến nay: Sau những năm 70 của thế
kỷ XX, Ergonomics hình thành 2 đặc điểm: một là nghiên cứu của Ergonomics xâm nhập vào các lĩnh vực làm việc và sinh hoạt của con người; hai là Ergonomics được ứng dụng trong lĩnh vực kỹ thuật cao, tác dụng giám sát khống chế của con người trong hệ thống tự động hoá, trao đổi thông tin giữa người và máy đều có quan hệ mật thiết với Ergonomics
- Ở Việt Nam
Võ Thịnh Bảo, Lưu Quốc Kỳ, Nguyễn Minh Sang, Đặng Văn Tuấn; Trường Đại học Đà Nẵng, năm 2012 đã nghiên cứu ứng dụng Ergonomics vào thiết kễ, chế tạo xe lăn dùng điện cho người khuyết tật và người già
Những năm gần đây, ở nước ta việc nghiên cứu Ergonomics bắt đầu xuất hiện ở một số lĩnh vực nhưng so với các nước tiên tiến, lý luận cơ bản, phương pháp luận và ứng dụng thành quả của Ergonomics còn một khoảng cách tương đối lớn Do đó, công tác nghiên cứu và giảng dạy Ergonomics cần phải được đẩy mạnh hơn trong thời gian tiếp theo
* Tính cấp thiết của đề tài
Công nghệ sản xuất đồ gỗ ở nước ta đã có những bước tiến khá lớn, chiếm tỷ trọng đáng khích lệ trong kim ngạch xuất khẩu của đất nước và góp phần đáng kể vào
Trang 117
tốc độ tăng trưởng của đất nước, các sản phẩm công nghiệp từ thị trường trong nước
đã từng bước xâm nhập vào thị trường thế giới, tiến vào cuộc cạnh tranh thế giới Để sản phẩm mộc có sức cạnh tranh trên thị trường thế giới thì ngoài có mẫu mã đa dạng, đặc sắc và chất lượng cao đồng thời sản phẩm sử dụng phải có kết hợp hợp lý hữu cơ giữa người – sản phẩm, đem lại cảm giác thoải mái, dễ chịu khi sử dụng sản phẩm
Đối tượng phục vụ của đồ gỗ chính là con người, việc thiết kế hay sản xuất mỗi sản phẩm đồ gỗ đều là để con người sử dụng Do đó, nhân tố quan trọng đầu tiên cử thiết kế đồ gỗ là phải phù hợp với tính năng sinh lý của con người, đồng thời thỏa mãn được những nhu cầu về tâm lý của con người Trong quá trình thiết kế đồ gỗ, yêu cầu phải lấy quan điểm khoa học để nghiên cứu mối quan hệ tương hỗ với tình cảm tâm lý
và cơ năng sinh lý của con người, lấy việc nghiên cứu cơ sở và lý giải được tốt những đặc trưng về cơ năng của con người như kích thước, thao tác, tâm lý… của con người
để tiến hành thiết kế đồ gỗ có tính hệ thống hóa
Thiết kế công năng đồ gỗ là một trong nhứng nhân tố thiết kế quan trọng nhất trong thiết kế đồ gỗ Công năng có tác dụng chủ đạo và quyết định đối với kết cấu và tọa hình của đồ gỗ, công năng khác nhau thì việc tạo hình nó cũng khác nhau, trong điều kiện làm thỏa mãn được những nhu cầu rất đa dạng của con người chúng ta luôn mong muốn những loại đồ gỗ có được sự thích hợp và thuận tiện trong sử dụng, có tính vững chắc, đồng thời phải thỏa mãn được tất cả các yêu cầu về sử dụng Công năng nó sẽ quyết định đến việc tạo hình cơ bản của đồ gỗ, nó là cơ sở cho việc thiết kế
Mục đích của thiết kế đồ gỗ là nhằm thỏa mãn tốt nhất những yêu cầu về sử dụng của con người đối với đồ gỗ, các nhà thiết kế phải hiểu rõ mối quan hệ giữa cơ thể con người với đồ gỗ, phải biết ứng dụng những kiến thức về ergonomics vào thiết
kế đồ gỗ
Đối với đồ mộc trong kiến trúc nội thất nói chung và giường ngủ nói riêng thì việc nghiên cứu áp dụng các kiến thức về Ergonomics vào trong quá trình thiết kế, chế tạo là rất cần thiết Bởi vì các sản phẩm tạo ra phù hợp với hệ thống sinh lý của cơ thể con người, tạo cảm giác thoải mái, đảm bảo sức khỏe và năng suất làm việc khi sử dụng sản phẩm Ở các nước tiên tiến, lịch sử nghiên cứu vấn đề này tương đối dài và
có ứng dụng rộng rãi Nhưng đối với mỗi quốc gia, dân tộc có sự khác biệt lớn về do
đó không thể áp dụng các tiêu chuẩn Ergonomics đó đối với các sản phẩm gỗ mà
Trang 128
người Việt sử dụng Trong khi đó việc nghiên cứu ứng dụng Ergonomics vào trong kiến trúc nội thất và đồ mộc ở nước ta còn rất ít Do vậy, việc nghiên cứu ứng dụng Ergonomics trong thiết kế sản phẩm mộc phù hợp với con người Việt Nam là cần thiết
Xuất phát từ yêu cầu đó, tôi thực hiện đề tài: Nghiên cứu ứng dụng Ergonomics
trong thiết kế, chế tạo giường ngủ”
* Mục tiêu đề tài
Thiết kế, chế tạo được giường ngủ phù hợp với đặc tính sinh lý, tâm lý và kích thước cơ thể của người Việt Nam
* Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu giường ngủ phù hợp kích thước cơ thể người Việt Nam, cải thiện môi trường làm việc và nghỉ ngơi, nâng cao tính dễ chịu và hiệu quả
* Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi của đề tài, nghiên cứu, thiết kế, chế tạo giường dùng cho người
sử dụng có độ tuổi trưởng thành ở Việt Nam
* Cách tiếp cận
Tiếp cận lý luận khoa học, các kết quả nghiên cứu về Ergonomics ở các nước trên thế giới Ở giai đoạn nghiên cứu này, phương pháp nghiên cứu chủ yếu sử dụng là khảo sát thực tiễn và kế thừa các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước
Tiến hành chế tạo thử nghiệm kết quả nghiên cứu để kiểm tra, phân tích, đánh giá kết quả đạt được
* Phương pháp nghiên cứu
Tham khảo các tài liệu chuyên môn, kế thừa các kết quả liên quan đến ứng dụng Ergonomics vào thiết kế các sản phẩm mộc thông qua các nguồn: thư viện, giáo viên hướng dẫn, các chuyên gia, mạng internet,… để thiết kế giường ngủ phù hợp với
co thể con người Việt Nam
Trang 139
Chương 1
Kích thước cơ thể người và ứng dụng trong thiết kế đồ gỗ
1.1 Phương pháp đo cơ thể người, số liệu và ứng dụng
Số liệu cơ thể người là một trong những tài liệu cơ bản quan trọng nhất để thiết
kế kết cấu kiến trúc và thiết kế đồ mộc Khi tác nghiệp thiết kế phải phù hợp với sinh
lý và đặc tính của cơ thể người Các loại máy, thiết bị, thiết kế thi công, môi trường, kích thước đồ mộc, không gian hoạt động nội thất,… đều phải căn cứ vào số liệu cơ thể để tiến hành thiết kế Có như vậy mới đảm bảo công việc, nâng cao hiệu quả công việc, giảm sự cố
1.1.1 Tư thế người bị đo
Tư thế đứng Người bị đo ưỡn ngực thẳng đứng, phần đầu lấy mặt bằng mắt tai định vị, mắt nhìn thẳng về phía trước, vai thả lỏng, chi trên thả thẳng tự nhiên, bàn tay hướng về phía đo, ngón tay tựa vào mặt cạnh của đùi, đầu gối duỗi thẳng tự nhiên, gót chân phải trái khép vào, phía trước mở một góc khoảng 450, trọng lượng cơ thể phân đều lên 2 chân
Tư thế ngồi Chỉ người bị đo ưỡn ngực ngồi trên mặt phẳng bị điều tiết đến chiều cao của xương sườn, phần đầu định vị bằng mặt phẳng mắt tai, mắt nhìn thẳng
về phía trước, đùi trái phải gần như song song, đầu gối gập thành góc vuông, bàn chân
để phẳng trên mặt đất, tay thả lỏng trên đùi
1.1.2 Mặt chuẩn đo
Định vị mặt chuẩn đo cơ thể do 3 trục vuông góc với nhau tạo thành như hình 1.1
- Mặt phẳng chính giữa :Các mặt phẳng qua trục quả rọi và trục tung cùng các mặt phẳng song song với nó
- Mặt phẳng ngang Tất cả các mặt phẳng vuông góc với mặt phẳng chính giữa và song song với trục hoàng
- Mặt phẳng mắt tai Mặt phẳng đi qua sụn tai và hốc mắt gọi là mặt phẳng mắt tai
Trang 14Kích thước về cấu tạo là chỉ kích thước con người ở trạng thái tĩnh, nó có quan
hệ rất lớn đến những vật thể liên quan trực tiếp với con người như đồ gỗ, quần áo, các thiết bị sử dụng…, nó là nguồn cung cấp số liệu chủ yếu cho việc thiết kế các loại đò
gỗ và các thiết bị sử dụng khác
Kích thước về công năng là chỉ kích thước của con người trong trạng thái hoạt
động là con người khi tham gia hoạt động nào đó mà chân tay có thể đạt tới một phạm
vi về không gian nhất định Đối với phần lớn các hình thức thiết kế, kích thước về công năng cần nhấn mạnh là khi con người có thể hoàn thành được các hoạt động, các
bộ phận trên cơ thể con người là không thể tách rời ra với nhau, không thể thao tác độc lập được mà nó là một sự điều phối các thao tác kết hợp với nhau
Trang 1511
Để xác định kích thước của sản phẩm đồ gỗ gỗ là bao nhiêu thì phù hợp nhất cho quá trình sử dụng của con người thì điều đầu tiên là cần phải hiểu rõ được kích thước về cấu tạo đối với các bộ phận trên cơ thể con người như chiều cao cơ thể, độ rộng của vai, độ dài cánh tay, độ dài của chân…, đồng thời cũng hiểu được kích thước
về công năng khi con người sử dụng các loại đồ gỗ, túc là phạm vi hoạt động khi đứng, ngồi, hay nằm Kích thước của cơ thể con người có quan hệ mật thiết với kích thước của các loại đồ gỗ
Trong thiết kế đồ gỗ, để thỏa mãn được tất cả những nhu cầu của con người là không thể, thế nhưng cũng phải thỏa mãn được phần lớn những nhu cầu đó Do vậy khi chúng ta thiết kế đồ gỗ cần phải có được sự lựa chọn thích hợp về các số liệu của đối tượng thiết kế, cần xem xét đầy đủ đến sự khác nhau về kích thước của cơ thể con người bao gồm sự khác nhau về nòi giống, về lứa tuổi, sự khác nhau giữa cá khu vực,
sự khác nhau về giới tính hay sự khác nhau giữa một cơ thể bình thường và một cơ thể không bình thường (người tàn tật) Có được các số liệu về kích thước cơ thể một cách hoàn thiện cũng chỉ mới là bước đầu tiên, còn phải biết chính xác số liệu đó mới đạt được mục đích của việc vận dụng những kiến thức của Ergonomics vào thiết kế đồ gỗ Thông thường việc thống kê phạm vi các số liệu về kích thước của cơ thể con người được sử dụng 2 phương pháp, trong phần lớn trường hợp là xem xét đến con số 5 đơn
vị phần trăm và 95 đơn vị phần trăm (đơn vị phần trăm là tỷ lệ phần trăm giữa kích thước của một cơ thể nào đó và kích thước của những của những cỏ thể nhỏ hơn nó so với tổng số đối tượng thốn kê %) mà nó không phải là chỉ xem xét đến giá trị trung bình Một nguyên tắc cơ bản đó phải phù hợp với “nguyên tắc lớn nhất và nhỏ nhất” tức là trong phần lớn các trường hợp là sử dụng kết hợp giữa 5 đơn vị phần trăm và 95 đơn vị phần trăm mà rất ít khi sử dụng 50 đơn vị phần trăm Dùng một câu nói thì nó chính là “đủ cho khoảng cách, vừa cho không gian Một ví dụ về phương pháp lựa chọn số liệu như sau:
- Lấy tổng chiều cao và độ rộng của cơ thể để quyết định cho vật thể: lấy 95 đơn vị phần trăm làm căn cứ thỏa mãn được những yêu cầu cho một người có kích thước cơ thể lớn thì khi đó đối với người có kích thước cơ thể nhỏ hơn
sẽ không có vần đề gì cả Ví dụ như chiều dài và chiều rộng của giường nằm
- Lấy kích thước của một bộ phận nào đó của cơ thể con người để quyết định
Trang 16số người có chân ngắn không chạm đất được)
- Mục đích không phải là xác định về giới hạn mà quyết định được phạm vi tối
ưu nhất
- Trong trường hợp đặc thù hoặc đề cập đến vấn đề an toàn thì cần phải xem xét đến quần thể trong phạm vi nhỏ hơn, khi đó cần sử dụng các số liệu cực hạn, túc là 1 đơn vị phần trăm và 99 đơn vị phần trăm) Ví dụn như khoảng cách của lan can, độ rộng an toàn cho cửa ra vào…
1.1.4 Số liệu đo cơ thể người thường dùng
1.1.4.1 Kích thước kết cấu cơ thể người trưởng thành ở nước ta
Nước ta là nước có nhiều dân tộc, chênh lệch kích thước cơ thể giữa các địa phương rất lớn Bảng 1.1 là giá trị trung bình và sai tiêu chuẩn kích thước cơ thể Nếu muốn có được số liệu kích thước cơ thể của một quần thể đặc biệt nào
đó còn phải tiến hành đo riêng
Bảng 1-1 Kích thước chủ yếu của cơ thể người (mm)
Trang 172.5 Chiều cao hội
2.6 Chiều cao của
xương cẳng chân
Trang 201.4.1.2 Dùng công thức kinh nghiệm tính tham số cơ thể
- Thông qua chiều cao và cân nặng tính thể tích và diện tích bề mặt cơ thể
Công thức kinh nghiệm tính thể tích cơ thể:
V=1.015W-4.937 Trong đó: V - Thể tích cơ thể (lít)
Trang 2117
- Tỷ lệ gữa kích thước của các bộ phận cơ thể và chiều cao
Bảng 1-5 Quan hệ tỷ lệ kích thước cơ thể và chiều cao (H- Chiều cao cơ thể)
Chiều cao khuỷu
tay
Trang 22Chiều cao khuỷu
Trang 2319
- Quan hệ giữa chiều cao của dụng cụ sinh hoạt, thiết bị với chiều cao cơ thể
Dụng cụ sinh hoạt, thiết bị cơ khí và các giải pháp kiến trúc phải phù hợp với kích thước của người mới có thể có hiệu quả cao và dễ chịu
Tầm với (tầm cao lớn nhất để có thể lấy vật trên kệ ở tư thế
Chiều cao của trần nhà với cầu thang có độ dốc lớn (giá trị nhỏ
Chiều cao có thể phát huy được lực kéo lớn nhất (tư thế đứng) 3/5
Chiều cao của kệ sử dụng thuận tiện (giá trị dưới, tư thế đứng) 3/8
Chiều cao ghế làm việc của công việc nhẹ (không bao gồm giầy) 3/14
- Tính tham số lực sinh vật của cơ thể người
Khi biết chiều cao cơ thể H, thể tích cơ thể V và cân nặng W, có thể tính gần đúng tham số lực sinh vật của cơ thể người (Bảng 1.7) Khi tiến hành mô phỏng cơ thể người bằng máy tính, những số liệu này là những số liệu cơ sở không thể thiếu Trong bảng, Oi là vị trớ trọng tõm của cỏc chi (chỉ khoảng cỏch cỏc khớp trung tõm gần thõn); Ri là bỏn kớnh quay của cỏc chi (chỉ khoảng cỏch cỏc khớp trung tõm gần thõn)
Trang 24Để tiện cho nghiên cứu và thực nghiệm, nước ta quy định kích thước người tiêu chuẩn là: Chiều cao của nam 170cm, cân nặng 62kg; Chiều cao nữ 160cm, cân nặng 52kg
Quy định kích thước cơ thể người tiêu chuẩn có lợi cho việc quy phạm hoá thực nghiệm mô hình cơ thể người Thí dụ, khi tiến hành nghiên cứu thực nghiệm sự cố đâm xe ô tô, phải chế tạo mô hình người tiêu chuẩn Nhưng không phải tất cả thiết kế đều phải thiết kế theo kích thước này, hiển nhiên điều này không phù hợp với nguyên
lý Ergonomics
1.4.1.3 Tham số đo động thái cơ thể người
Từ đặc tính giải phẫu học cho biết phương hướng và phạm vi hoạt động của các khớp của cơ thể người không giống nhau Vì thế, khi thiết kế đồ mộc của người cần phải nghiên cứu xác định chúng
Hình 1.5 Phạm vi hoạt động của các bộ phận của cơ thể