Hệ thống phương tiện tham gia giao thông cơ giới đường bộ tại Việt Nam Phương tiện giao thông cơ giới đường bộ ở Việt Nam chủ yếu gồm xe ô tô, xe mô tô và xe gắn máy trong những năm gần
Trang 1THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
NGHIÊN CỨU ĐẶC TRƯNG SỞ HỮU PHƯƠNG
TIỆN GIAO THÔNG TẠI KHU VỰC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Tp Hồ Chí Minh, tháng 08/2018
SKC 0 0 6 9 6 1
MÃ SỐ:SV2018-80
Trang 2TRƯỜNG ĐH SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP HCM
Thuộc nhóm ngành khoa học:
Kỹ thuật xây dựng công trình giao thông
TP Hồ Chí Minh, 8/2018
BÁO CÁO TỔNG KẾT
CỦA SINH VIÊN
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
NGHIÊN CỨU ĐẶC TRƯNG SỞ HỮU PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG TẠI KHU VỰC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Mã số đề tài: SV2018-80
Trang 3MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 1
TỔNG QUAN 1
1.1 Tổng quan về giao thông Việt Nam 1
1.2 Hệ thống phương tiện tham gia giao thông cơ giới đường bộ tại Việt Nam 2
1.3 Tình hình tai nạn giao thông 11
1.4 Vấn đề ùn tắc giao thông 17
1.5 Tính cấp thiết của nghiên cứu 21
CHƯƠNG 2 25
CƠ SỞ LÝ THUYẾT 25
2.1 Đặc trưng sở hữu phương tiện 25
2.2 Lý thuyết khảo sát 28
2.3 Một số vấn đề cần lưu ý khi thiết kế bảng khảo sát 31
CHƯƠNG 3 34
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
3.1 Phương pháp thu thập số liệu 34
3.2 Phương pháp lấy mẫu 37
CHƯƠNG 4 40
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 40
4.1 Sự phân bố số lượng xe tại thành phố Hồ Chí Minh 40
4.2 Mối quan hệ giữa các thành phần 46
CHƯƠNG 5 51
KẾT LUẬN KIẾN NGHỊ 51
Trang 4DANH SÁCH CÁC HÌNH VẼ
Hình 1: Tình trạng giao thông ở Việt Nam 2
Hình 2: Xe mô tô 3
Hình 3: Một số loại xe ô tô 4
Hình 4: Biểu đồ số lượng ô tô các loại đang lưu hành 5
Hình 5: Xe buýt tại thành phố Hồ Chí Minh 7
Hình 6: Cấu tạo bên trong một chiếc xe buýt 9
Hình 7: Xe buýt hai tầng, bến xe Chợ Lớn – Đại học Nông Lâm 10
Hình 8: Biểu đồ so sánh TNGT năm 2015 – 2016 12
Hình 9: Biểu đồ phân tích tuyến đường xảy ra tai nạn giao thông 12
Hình 10: Phân tích nguyên nhân TNGT năm 2016 13
Hình 11: Khoảng thời gian xảy ra TNGT năm 2016 14
Hình 12: Phương tiện gây ra TNGT 15
Hình 13: Tuyến đường xảy ra TNGT 16
Hình 14: Độ tuổi xảy ra TNGT 16
Hình 15: Điểm đen ùn tắc giao thông tại TP Hồ Chí Minh năm 2010 18
Hình 16: Chỉ tiêu hiện trạng hệ thống giao thông TP HCM 18
Hình 17: Số liệu tăng trưởng phương tiện 20
Hình 18: Sự gia tăng chóng mặt của các phương tiện cá nhân 22
Hình 19: Sự gia tăng nhanh của các phương tiện các nhân 25
Hình 20: Xe máy là phương tiện khó có thể thay đổi 26
Hình 21: Khảo sát bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp 28
Hình 22: Bản đồ giao thông thành phố Hồ Chí Minh 36
Hình 23: Biểu đồ gia tăng của các phương tiện tại TP Hồ Chí Minh 37
Hình 24: Mẫu dữ liệu được sử dụng để thu thập số liệu 38
Hình 25: Mẫu số liệu sau khi được nhập vào excel 39
Hình 26: Biểu đồ tỷ lệ của các loại phương tiện tại TP Hồ Chí Minh 40
Hình 27: Sự phân bố số lượng xe máy tại TP Hồ Chí Minh 41
Hình 28: Sự phân bố số lượng xe tải tại TP Hồ Chí Minh 42
Hình 29: Sự phân bố số lượng xe ô tô tại TP Hồ Chí Minh 43
Trang 5Hình 30: Sự phân bố số lượng xe taxi tại TP Hồ Chí Minh 44
Hình 31: Sự phân bố số lượng xe đạp tại TP Hồ Chí Minh 45
Hình 32: Tỷ lệ sử dụng các phương tiện tại thành phố Hồ Chí Minh 46
Hình 33: Mối quan hệ giữa diện tích khu vực và phương tiện xe máy 48
Hình 34: Mối quan hệ giữa diện tích khu vực và các loại phương tiện khác 48
Hình 35: Mối quan hệ giữa số thành viên trong gia đình và phương tiện xe máy 49
Hình 36: Mối quan hệ giữa số thành viên trong gia đình và các phương tiện khác 50
Trang 6DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 1: Số lượng phương tiện cơ giới đường bộ 6 Bảng 2: Số lượng phương tiện ô tô và xe máy 19
Trang 7DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
ATGT : An toàn giao thông
CSGT : Cảnh sát giao thông
TNGT : Tai nạn giao thông
UTGT : Ùn tắc giao thông
Trang 8CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 Tồng quan về giao thông Việt Nam
Sau khi chuyển sang nền kinh tế thị trường thì nền kinh tế của Việt Nam đã có nhiều điểm mới, chất lượng cuộc sống của người dân được cải thiện từng bước Tuy mức tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đạt được là khá cao nhưng đi liền với nó là vấn đề về tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông, đặc biệt là giao thông đường bộ, số vụ giao thông không ngừng tăng cả về quy mô và số lượng
Các nguyên nhân chủ yếu được đưa ra thì có rất nhiều: Do sự lấn chiếm hành lang
an toàn giao thông, sự quy hoạch đô thị chưa hợp lý, sự gia tăng quá nhanh của các phương tiện giao thông cá nhân và ý thức của người tham gia giao thông quá kém và chưa được cải thiện nhiều trong những năm gần đây Bên cạnh đó cũng phải kể đến chất lượng đường xá
cơ sở hạn tầng giao thông của chúng ta còn kém, các con đường còn quá nhỏ hẹp chưa đáp ứng kịp nhu cầu sử dụng, nhiều nút thắt cổ chai, các khúc cua gấp 90 độ, trong khi đó trên một đoạn đường có quá nhiều các biển báo cấm và biển báo hiệu, vỉa hè thì bị lấn chiếm làm nơi kinh doanh bán hàng, để xe ô tô dẫn tới tình trạng người tham gia giao thông bị khuất tầm nhìn, nhiều đoạn đường xuống cấp quá nhanh có nguy cơ tiềm ẩn tai nạn giao thông
Theo thống kê của Cục CSGT đường bộ- đường sắt và Uỷ ban ATGT Quốc gia, trong 3 tháng đầu năm 2017, cả nước đã xảy ra tới 4.812 vụ TNGT làm 2.114 người chết
và 3.835 người bị thương Điều này dẫn đến hậu quả về kinh tế và gánh nặng cho xã hội là rất lớn Theo số liệu thống kê mới nhất, có tới 50% số người tham gia giao thông không dùng đèn báo khi chuyển hướng, 85% không dùng còi đúng quy định, 70% không dùng phanh tay, 90% không sử dụng đúng đèn chiếu sáng xa, gần và 72% không đội mũ bảo hiểm khi ngồi trên mô tô trên những tuyến đường bắt buộc Ngoài ra, tình trạng vượt đèn
đỏ, uống rượu bia say, chở quá tải, quá tốc độ trong thời gian qua vẫn luôn ở mức báo động
và rất khó kiểm soát
Trang 9Hình 1: Tình trạng giao thông ở Việt Nam [13].
Nhiều quốc lộ đang bị nhà dân, các hàng quán và các công trình xâm lấn hành lang
an toàn, các điểm đầu nối trái phép hệ quả của việc người dân tự ý mở đường dân sinh hoặc nhà máy khu công nghiệp Đặc biệt hành lang giao thông quốc lộ 5 đi qua tỉnh Hưng Yên
đã trở thành “phố” với nhà dân và các công trình bám hai bên đường Quốc lộ 1 với chiều dài 2.300 km đã có 194 khu công nghiệp, 2.101 khu dân cư, 1008 cây xăng và 2.363 điểm đấu nối khác.Qua khảo sát cụ thể 272,5 km trên quốc lộ 1 ở cả ba miền cho thấy: Về chiều rộng hành lang, chỉ 24% đủ theo quy định (15 m), phần còn lại có nhiều công trình, nhà ở nằm trên hành lang, có nhiều nơi bám sát mặt đường Về đường ngang, bình quân 3,3 đường ngang/km, nghĩa là 300 m có một đường ngang [8]
1.2 Hệ thống phương tiện tham gia giao thông cơ giới đường bộ tại Việt Nam
Phương tiện giao thông cơ giới đường bộ ở Việt Nam chủ yếu gồm xe ô tô, xe mô
tô và xe gắn máy trong những năm gần đây đã tăng một cách đáng kể về cả số lượng cũng như khối lượng vận chuyển hàng hóa trên toàn quốc, đặc biệt tại các đô thị và các khu vực kinh tế phát triển Việc phát triển nhanh chóng về số lượng các loại phương tiện cơ giới ngoài các tác dụng tích cực về mặt kinh tế, xã hội nhưng nếu không được kiểm soát tốt sẽ
Trang 10gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường, gây ô nhiễm và phát thải khí nhà kính, tiêu tốn nhiên liệu hóa thạch, gây ùn tắc, mất trật tự an toàn và đặc biệt là tai nạn giao thông
Cùng với quá trình công nghiệp hóa đất nước là quá trình cơ giới hóa các phương tiện giao thông đường bộ, đầu tiên là mô tô, xe gắn máy và hiện nay các loại ô tô cá nhân bắt đầu trở nên phổ biến Tính đến 31/3/2017, cả nước đã đăng ký 3.124.302 ô tô (chiếm 6,1%) và 47.931.557 mô tô, xe máy (chiếm 93,9%) Bình quân mỗi năm số xe ô tô tăng 10% và mô tô, xe máy tăng 12% so với năm trước
❖ Xe mô tô, xe gắn máy
Hình 2: Xe mô tô [20].
Hiện nay mô tô, xe máy mới chủ yếu là xe sản xuất, lắp ráp trong nước với 3.121.023 chiếc (chiếm 99 %) so với 20.713 chiếc được nhập khẩu (chiếm 1%) năm 2016 Xe nhập khẩu chủ yếu là xe có giá trị lớn và xe phục vụ nhu cầu giải trí từ Mỹ, Ý, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc Theo dự báo, số lượng xe máy sẽ còn tăng trong vòng 5 năm tới.Hầu như toàn bộ mô tô, xe máy hiện nay được lắp động cơ 4 kỳ, dung tích xi-lanh không lớn, phổ biến trong khoảng 80-125cc nên phát thải các chất ô nhiễm chủ yếu là CO, HC, phát thải rất ít PM và tiêu thụ nhiên liệu không lớn Nhưng xe tay ga đang trở nên phổ biến nên tiêu thụ nhiên liệu ở mức 2-3 lít/100 km Vì vậy mặc dù số lượng đông nhưng mô tô, xe
Trang 11máy chỉ tiêu thụ khoảng 60 % xăng dùng cho các xe cơ giới sử dụng xăng nhưng lại thải
ra đến 80-90 % lượng phát thải CO và HC
Với ưu điểm như cơ động, linh hoạt, phù hợp điều kiện kinh tế của đa phần người dân, xe mô tô, xe gắn máy đang là phương tiện di chuyển gần như không thể thiếu trong mỗi gia đình, nhưng lượng xe máy tăng nhanh sẽ gây ra nhiều hệ lụy rất đáng lo ngại Các con số thống kê cho thấy, 85% dân số Việt Nam đang sử dụng xe máy làm phương tiện đi lại hàng ngày và để mưu sinh với những canh cánh về nỗi lo tai nạn, tắc đường.Cũng theo các con số thống kê tại Việt Nam, tai nạn giao thông đối với người đi xe máy chiếm hơn 70% số vụ tai nạn giao thông đường bộ
Dự báo đến năm 2020 xe mô tô, xe gắn máy vẫn là loại phương tiện giao thông đường bộ quan trọng
❖ Xe ô tô
Hình 3: Một số loại xe ô tô [18].
Kinh tế ngày càng phát triển, mức thu nhập bình quân đầu người ngày càng tăng kéo theo đó là nhu cầu sử dụng các loại phương tiện với chất lượng tốt và ngày càng hiện đại hơn Những năm gần đây, ô tô con cá nhân đã bắt đầu phát triển đặc biệt tại các thành phố lớn khi thu nhập bình quân đầu người đạt gần 2.000 USD/người/năm Dự kiến trong 5-10 năm tới xe ô tô con cá nhân sẽ trở nên phổ biến tại các thành phố lớn ở Việt Nam
Trang 12Theo số liệu kiểm định, đến năm 2016 cả nước có 3.124.302 xe đang lưu hành Trong đó
ô tô con (từ 09 chỗ ngồi chở xuống) có 1.530.591 chiếc (chiếm 48,98%), ô tô khách (từ 10 chỗ ngồi chở lên) có 191.207 chiếc (chiếm 6,12 %), ô tô tải có 1.277.840 chiếc (chiếm 40,90 %), còn lại là xe chuyên dùng và các loại xe khác (hình 4) Số lượng xe đăng ký biển
số có thể lớn hơn do nhiều xe hết niên hạn sử dụng và tự giải bản chưa được thống kê
Hình 4: Biểu đồ số lượng ô tô các loại đang lưu hành
Số lượng ô tô tại 5 thành phố trực thuộc Trung ương (Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ và Tp Hồ Chí Minh) gồm 885.114 chiếc chiếm khoảng 48,17% tổng số xe cả nước.Nhiên liệu sử dụng chủ yếu là xăng và điêzen Các xe thương mại phần lớn sử dụng điêzen, chỉ một số ít loại xe tải cỡ nhỏ (tải trọng dưới 2 tấn) còn sử dụng xăng Trong khi
đó, ô tô con lại chủ yếu chạy bằng xăng, số lượng ô tô con chạy bằng điêzen còn hạn chế Nhiên liệu thay thế là LPG mới được sử dụng trong phạm vi hẹp Nhiên liệu CNG còn đang trong giai đoạn thử nghiệm Nhiên liệu sinh học hiện nay đã bắt đầu được áp dụng tại
08 địa phương: Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ, Quảng Ngãi, Quảng Nam và Bà Rịa - Vũng Tàu (xăng E5)
Tùy theo chính sách thuế mà số lượng ô tô được sản xuất, lắp ráp so với nhập khẩu nhiều hoặc ít Năm 2014 có 164.398 ô tô được sản xuất, lắp ráp trong nước Trong khi đó,
số lượng ô tô nhập khẩu năm 2014 là 76.780 chiếc với 69.756 xe mới chưa qua sử dụng và 7.024 xe đã qua sử dụng Số lượng xe được nhập khẩu chiếm tỷ trọng tương đối khoảng
Trang 1330% trong tổng số ô tô con và ô tô tải được đưa vào lưu thông, trong khi ô tô khách chủ yếu được sản xuất, lắp ráp trong nước.Xe ô tô nhập khẩu vào Việt Nam chủ yếu từ Mỹ, Nhật, Đức, Hàn Quốc và Trung Quốc [16]
Số lượng phương tiện cơ giới đường bộ tăng nhanh, mạnh trong thời gian qua; tốc
độ tăng trưởng các loại xe ô đạt 12%/ giai đoạn 2009- 2011, trong đó xe con có tốc độ tăng cao nhất là 17%/năm, xe tải khoảng 13%, xe khách tăng không đáng kể; xe máy tăng khoảng 15%, số lượng xe máy năm 2011 là 33.906.433 chiếc
Đơn vị: chiếc, theo Cục Đăng kiểm Việt Nam Loại phương tiện 2007 2009 2010 2011 Tổng ô tô 1.106.617 1.137.933 1.274.084 1.428.002
Xe con 301.195 483.566 556.945 659.452
Xe khách 89.240 103.502 97.468 102.805
Xe tải 316.914 476.401 552.244 609.200
Mô tô, xe máy 21.721.282 - - 33.906.433
Bảng 1: Số lượng phương tiện cơ giới đường bộ
Chất lượng phương tiện cơ giới đường bộ được cải thiện đáng kể đặc biệt là ô tô chở khách; tỷ lệ phương tiện có tuổi thọ dưới 12 năm đối với chủng loại ô tô chở khách tính đến hết năm 2011 chiếm 78% Số lượng phương tiện cũ, nát giảm hẳn, nhiều phương tiện mới, hiện đại đã được thay thế trong đó có một số lượng không nhỏ xe trung và cao cấp Phương tiện có trọng tải lớn (7-20T) chiếm 19-20%, loại trên 20T chiếm 0,55-0,6% tổng phương tiện vận tải hàng hóa [11]
Trang 14❖ Xe buýt
Hình 5: Xe buýt tại thành phố Hồ Chí Minh [5]
Xe buýt là một loại xe có bánh lớn, chạy bằng động cơ và được chế tạo để chở nhiều người ngoài lái xe Thông thường xe buýt chạy trên quãng đường ngắn hơn so với những loại xe vận chuyển hành khách khác và tuyến xe buýt thường liên hệ giữa các điểm đô thị với nhau Từ "buýt" trong tiếng Việt đến từ autobus trong tiếng Pháp; các từ bus, autobus trong các ngôn ngữ châu Âu có gốc từ omnibus trong tiếng Latinh, có nghĩa là
"dành cho mọi người"
Xe buýt nội đô Thành phố Hồ Chí Minh là hệ thống Giao thông công cộng duy nhất tại Thành phố Hồ Chí Minh, do Trung tâm Quản lý Giao thông Công cộng trực thuộc Sở Giao thông Vận tải Thành phố quản lý Mạng lưới xe buýt hiện tại của thành phố được tái
cơ cấu lại từ năm 2002 với 8 tuyến xe buýt thể nghiệm, và dần dần lan khắp các quận huyện
và các tỉnh lân cận tạo thành một mạng lưới rộng khắp Sau hơn 14 năm hình thành và phát triển, tính đến nay Thành phố đang duy trì khoảng 136 tuyến xe buýt, trong đó 105 tuyến
có trợ giá cùng 2.786 xe đang sử dụng
Trang 15Để khuyến khích người dân đi xe buýt và giảm phương tiện cá nhân trên đường, hầu hết các tuyến xe buýt đều được ưu đãi về giá (trợ giá), đồng thời, thành phố có chính sách miễn vé cho người già, người khuyết tật và học sinh sinh viên Tuy vậy, số lượng người đi
xe buýt vẫn còn khá ít so với kỳ vọng, đặc biệt từ năm 2013 đến nay, số lượng hành khách
đi xe có xu hướng giảm dần Năm 2015, sản lượng hành khách đi xe buýt chỉ đạt 334,5 triệu lượt, thấp hơn so với năm 2013 là 411,2 triệu
Sau ngày đất nước thống nhất, thực hiện chủ trương cải tạo Công thương nghiệp Tư bản tư nhân, các xe buýt và xe lam được cải tạo và tổ chức thành các hợp tác xã vận tải và
xí nghiệp hợp doanh Số lượng xe buýt vắng bóng dần do thiếu xăng và phụ tùng thay thế Trong khi đó, xe lam trở nên ngày càng hữu dụng với người dân Sài Gòn Năm 2004, nghị định 23/2004/NĐ-CP được ban hành quy định về niên hạn sử dụng đối với các loại ô tô tải
và ô tô chở người tham gia Giao thông trên hệ thống đường bộ Xe Lam từ đó bị hạn chế
và dần bị cấm hẳn
Vào những năm 1990, trước tình hình số phương tiện vận tải ngày càng gia tăng ở các thành phố lớn dẫn đến tắc nghẽn đường phố, Chính phủ Việt Nam và chính quyền thành phố bắt đầu có chủ trương xây dựng lại hệ thống Giao thông công cộng hiệu quả Theo đề nghị của Sở Giao thông Công chánh, Ủy ban Nhân dân Thành phố đã ra Quyết định số 4196/QĐ-UB-NC ngày 12 tháng 9 năm 1996 và Quyết định số 355/1998/QĐ-UB-
NC ngày 19 tháng 1 năm 1998 thành lập và quy định quy chế hoạt động của Trung tâm Quản lý và Điều hành Vận tải Hành khách Công cộng Đây là cơ quan sự nghiệp có thu trực thuộc Sở Giao thông Vận tải Thành phố, chịu trách nhiệm quản lý luồng tuyến xe buýt, còn các doanh nghiệp vận tải kinh doanh xe buýt Nhiều xí nghiệp, doanh nghiệp xe khách quốc doanh được đầu tư, đổi mới hoạt động để tham gia vận chuyển hành khách công cộng bằng xe buýt, như SaigonBus (chuyển thành doanh nghiệp công ích) Mặc dù vậy, số lượng hành khách vẫn thấp trong khi chất lượng dịch vụ không đảm bảo và cơ sở vật chất ngày càng xuống cấp
Tháng 11 năm 2001, Sở Giao thông Công chánh công bố kế hoạch nâng cao chất lượng dịch vụ xe buýt công cộng Đề án này bao gồm xây dựng 20 tuyến xe buýt với dịch
vụ tiện nghi và an toàn trong năm 2002 và nhiều năm tiếp theo Đồng thời, Nhà nước tạo điều kiện về lãi suất để các doanh nghiệp vận tải vay vốn, cũng như tài trợ chi phí (trợ giá)
Trang 16để thu hút hành khách Ngày 21 tháng 1 năm 2002, tám tuyến xe buýt mẫu đầu tiên đi vào hoạt động, với 141 xe của 9 đơn vị vận tải Các tuyến này bao gồm:
• Sài Gòn- Chợ Lớn,
• Sài Gòn- Nam Kỳ Khởi Nghĩa - An Sương,
• Sài Gòn- Bến xe Miền Đông
• Sài Gòn- Lý Thái Tổ- An Sương,
• Sài Gòn- Gò Vấp- Quang Trung
• Bến xe quận 8- Lý Thường Kiệt- Hoàng Văn Thụ- Thủ Đức
• Sài Gòn- Bến xe Miền Tây- Lê Minh Xuân
• Sài Gòn – Tân Sơn Nhất
Hình 6: Cấu tạo bên trong một chiếc xe buýt [5]
Trang 17Sau hai tuần hoạt động, 8 tuyến xe buýt mới đã thu hút gần 368.758 lượt hành khách
So với tuần đầu tiên, số hành khách tăng 18% và so với khi chưa thực hiện tuyến mẫu, hành khách đã tăng 59%
Ngày 31 tháng 5 khai trương thêm 17 tuyến xe buýt mẫu, trong đó có 5 tuyến mới Tổng số xe buýt đầu tư thay mới trong năm này là 1.318 xe cỡ lớn Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp tư nhân đã mua hơn 500 xe buýt loại nhỏ 12 chỗ do Daihatsu và Suzuki sản xuất Do được trợ giá, tiền vé đồng hạng 1.000 đồng/lượt trên tất cả các tuyến Lượng hành khách tăng rất mạnh
Để giảm tải tình trạng quá tải trên các tuyến, năm 2005, thành phố đưa xe buýt hai tầng vào hoạt động Lúc đầu chỉ có hai chiếc xe được cấp cho tuyến số 6: Bến xe Chợ Lớn
- Đại học Nông Lâm Tuy nhiên từ đó đến nay không đưa thêm xe mới nên hai chiếc xe này là hai chiếc duy nhất đang hoạt động hiện nay
Hình 7: Xe buýt hai tầng, bến xe Chợ Lớn – Đại học Nông Lâm [5]
Trang 18Tháng 8 năm 2011, Thành phố đưa vào sử dụng 21 xe buýt "sạch" đầu tiên, các xe chạy bằng khí nén thiên nhiên CNG trên tuyến Bến Thành - Bến xe Chợ Lớn (tuyến số 1) Cũng trong năm này, viện lý do các xe loại nhỏ không đủ phù hợp với quy định của Chính phủ, Thành phố bắt đầu chủ trương giảm dần số lượng xe buýt 12 chỗ bằng cách cắt giảm trợ giá
Trong Quy hoạch Phát triển Vận tải Hành khách Công cộng Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2025 công bố năm 2015, Thành phố sẽ có nhiều phương thức dịch vụ vận tải hành khách công cộng khác nhau cùng hoạt động và phương thức giữ vai trò chủ đạo là đường sắt đô thị và xe buýt Trong đó, đến năm 2025, xe buýt vẫn là phương thức vận tải hành khác cộng cộng trên địa bàn không gian đô thị thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt là giai đoạn đến năm 2020, xe buýt vẫn là phương thức chủ đạo
Hiện nay hệ thống xe buýt của Thành phố đang đối mặt với tình trạng xuống cấp với hơn 1.300 xe không đảm bảo chất lượng kỹ thuật và dịch vụ Thành phố đã lập Dự án đổi mới 1.680 xe buýt trong năm 2016 và 2017, riêng năm 2016 phải hoàn tất 500 xe [4]
1.3 Tình hình tai nạn giao thông
Trong năm 2016 vừa qua, tình hình trật tự an toàn giao thông trên khắpcả nước tiếp tục diễn biến phức tạp Mặc dù các cấp chính quyền và lực lượng công an đã có nhiều nỗ lực và triển khai nhiều biện pháp quyết liệt để lập lại trật tự, nhưng mối lo về thương vong
do tai nạn giao thông gây ra vẫn cứ ám ảnh thường trực lượng người tham gia giao thông,
từ trong gia đình đến ngoài xã hội luôn tiềm ẩn những bất an
Theo báo cáo của Cục CSGT, trong năm 2016 (tính từ ngày 16/12/2015 - 15/12/2016) toàn quốc xảy ra 21.568 vụ TNGT, làm chết 8.680 người, bị thương 19.280 người So với năm 2015, giảm 1.259 vụ (-5,52%), giảm 47 người chết (-0,54%), giảm 1.789 người bị thương (-8,49%), trong đó, đường bộ xảy ra 21.094 vụ, làm chết 8.417 người, bị thương 19.035 người; đường sắt xảy ra 360 vụ, làm chết 191 người, bị thương 229 người; đường thủy nội địa xảy ra 114 vụ, làm chết 72 người, bị thương 16 người Đa phần tai nạn giao thông xảy ra trên đường bộ với 97,8%, đường sắt chiếm 1,7%, đường thủy nội địa chiếm 0,5% tổng số vụ TNGT
Trang 19Hình 8: Biểu đồ so sánh TNGT năm 2015 – 2016
Hình 9: Biểu đồ phân tích tuyến đường xảy ra tai nạn giao thông
So với năm 2015, TNGT đường bộ giảm 1.232 vụ (-5,52%), giảm 18 người chết (-0,21%), giảm 1.780 người bị thương (-8,55%) Hầu hết các địa phương TNGT đường bộ đều giảm trên cả 03 tiêu chí Tuy nhiên, vẫn xảy ra 62 vụ TNGT đặc biệt nghiêm trọng,
Trang 20làm chết 196 người, bị thương 222 người.Trên các tuyến giao thông đường sắt xảy ra 360
vụ TNGT, làm chết 191 người, bị thương 229 người So với năm 2015, giảm 45 vụ (-11,11%), giảm 27 người chết (-12,38%), giảm 10 người bị thương (-4,18%) Tại Hà Nội
xảy ra 01 vụ TNGT đặc biệt nghiêm trọng, làm chết 06 người, bị thương 01 người.Đường
thủy nội địa xảy ra 114 vụ TNGT, làm chết 72 người, bị thương 16 người So với năm
2015, tăng 18 vụ (+18,75%), giảm 02 người chết (-2,7%), tăng 01 người bị thương
(+6,66%) Đường thủy nội địa xảy ra 07 vụ đặc biệt nghiêm trọng, làm chết 17 người, thiệt
hại về tài sản hàng trăm tỷ đồng.Phân tích nguyên nhân các vụ tai nạn giao thông, cho thấy
TNGT đường bộ chủ yếu xuất phát từ các hành vi vi phạm trật tự ATGT dẫn đến
TNGT như đi không đúng làn đường, phần đường quy định, không chấp hành tín hiệu đèn
giao thông, chạy quá tốc độ, chuyển hướng không đúng quy định Bên cạnh đó, các hành
vi không nhường đường, vượt xe sai quy định, sử dụng rượu bia cũng chiếm tỉ lệ đáng kể
Hình 10: Phân tích nguyên nhân TNGT năm 2016
Trên 40% số vụ TNGT xảy ra vào khoảng thời gian từ 18h đến 24h (Hình 10), thời
điểm tan ca của công nhân, nhân viên… đây là khoảng thời gian người điều khiển phương
tiện bị tác động tâm lý muốn nhanh chóng trở về với gia đình, sự mệt mỏi, căng thẳng sau
một ngày làm việc, sự chênh lệch về nhiệt độ, ánh sáng giữa ngày và đêm (đặc biệt đối với
Trang 21phương tiện vận tải hành khách, hàng hóa…) Điều đó cho thấy cần phải nghiên cứu về yếu tố này trong việc xem xét việc điều khiển phương tiện của người lái xe chứ không chỉ
ở tăng số lượng và thay người điều khiển phương tiện
Hình 11: Khoảng thời gian xảy ra TNGT năm 2016
Mô tô, xe máy là loại phương tiện chủ yếu trong các vụ tai nạn khi chiếm tới 66,7% (hình 12) Trong đó có rất nhiều mô tô, xe máy cũ hoặc không đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật và an toàn Hiện nay, số lượng mô tô, xe máy chiếm hơn 85% tổng số phương tiện giao thông hiện đang hoạt động trong cả nước, do nhiều ưu điểm như cơ động, linh hoạt, phù hợp điều kiện kinh tế của đa phần người dân Tuy nhiên, ý thức của một bộ phận người tham gia giao thông bằng phương tiện mô tô, xe máy còn chưa cao Vì vậy vấn đề tai nạn liên quan đến mô tô, xe máy đang là vấn đề rất báo động và cần được quan tâm hơn nữa trong thời gian tới
Trang 22Hình 12: Phương tiện gây ra TNGT
Tuyến đường thường xảy ra TNGT chủ yếu vẫn là các tuyến quốc lộ (36%) và nội thị (34%) Đây là các tuyến đường có mật độ dân cư đông đúc, người và phương tiện tham gia giao thông đa dạng với mật độ cao, đặc điểm đường giao cắt nhiều, phương tiện lưu thông hỗn hợp dễ xảy ra va chạm, gây khó khăn trong công tác bảo đảm trật tự ATGT.Bên cạnh đó, trong những năm gần đây, việc đưa vào vận hành, khai thác các tuyến đường cao tốc ở nước ta đã góp phần thay đổi bộ mặt, rút ngắn hành trình, thúc đẩy phát triển kinh tế,
xã hội tại những vùng miền trên cả nước Tuy nhiên, trong quá trình lưu thông của các phương tiên đã xảy ra các vụ TNGT thảm khốc do nhiều nguyên nhân khác nhau Do vậy,
để đảm bảo an toàn, phòng ngừa TNGT xảy ra cần phải nghiên cứu, đầu tư, xây dựng các điều kiện kết cấu hạ tầng giao thông trên các tuyến đường cao tốc Đặc biệt là hoạt động tuyên truyền pháp luật về trật tự ATGT cũng như những quy định, kỹ năng, kinh nghiệm cần thiết khi tham gia giao thông trên đường cao tốc
Trang 23Hình 13: Tuyến đường xảy ra TNGT
Tỷ lệ thương vong TNGT chủ yếu đều trong độ tuổi lao động và có đến 85% số vụ TNGT nguyên nhân bắt nguồn từ nam giới gây thiệt hại to lớn về người và tài sản Nguyên nhân xuất phát do người ở độ tuổi lao động là đối tượng chủ yếu tham gia giao thông phục
vụ nhu cầu bản thân và công việc và do người tham gia giao thông ở lứa tuổi này thường
có tâm lý chủ quan, thiếu ý thức chấp hành pháp luật bảo đảm trật tự ATGT.Cùng với hoạt động tuần tra kiểm soát và bằng nhiều biện pháp nghiệp vụ, CSGT đã trực tiếp và phối hợp với lực lượng chức năng kiểm tra, phát hiện 6.593 vụ, bắt giữ 5.228 đối tượng có dấu hiệu của tội phạm hoạt động trên các tuyến giao thông
Hình 14: Độ tuổi xảy ra TNGT
Trang 24Trong năm 2016, TNGT tuy có giảm nhưng thiếu bền vững, thiệt hại do TNGT gây
ra vẫn còn lớn và nghiêm trọng, trong đó xảy ra nhiều vụ TNGT đặc biệt nghiêm trọng trên đường bộ và đường thủy nội địa, gây bức xúc trong nhân dân.Bên cạnh đó, tình trạng UTGT
ở các khu đô thị đông dân cư, các tuyến quốc lộ trọng điểm đã từng bước được khắc phục, hạn chế, song vẫn đang là vấn đề thường trực, đe dọa nghiêm trọng đến trật tự ATGT, nhất
là tại các thành phố lớn Nguyên nhân là do lưu lượng phương tiện tham gia giao thông tăng quá nhanh trong khi hạ tầng giao thông không đáp ứng kịp; công tác tổ chức giao thông chưa phù hợp; ý thức chấp hành pháp luật về trật tự ATGT của người tham gia giao thông còn phần hạn chế… Đặc biệt, việc thi công, xây dựng mới các công trình giao thông vừa kéo dài, vừa chiếm diện tích mặt đường lớn, tổ chức giao thông kém đã ảnh hưởng lớn đến trật tự ATGT, cảnh quan và môi trường đô thị Năm 2016, toàn quốc đã xảy ra 41 trường hợp UTGT kéo dài trên 01h Để giảm thiểu TNGT trong thời gian tới, các lực lượng chức năng, nhất là lực lượng CSGT cần tăng cường công tác tuần tra kiểm soát, xử lý vi phạm tập trung các hành vi vi phạm chủ yếu về làn đường, phần đường, chạy quá tốc độ,
sử dụng nồng độ cồn khi điều khiển phương tiện; đẩy mạnh việc đảm bảo trật tự ATGT tại khu vực đông dân cư; thực hiện chiến dịch kêu gọi không sử dụng điện thoại di động khi điều khiển phương tiện….[12]
1.4 Vấn đề ùn tắc giao thông
Ùn tắc giao thông là khái niệm dùng để miêu tả sự hạn chế tốc độ của các phương tiện tham gia giao thông mà nguyên nhân chính là do mật độ phương tiện tham gia giao thông quá lớn Hiện tượng ùn tắc giao thông thường xảy ra tại các nút giao thông hẹp và
có lưu lượng phương tiện tham gia giao thông lớn.Ở Việt Nam ùn tắc giao thông tập trung chủ yếu tại thành thị, tại các thành phố lớn như Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh nơi có mật độ dân số đông và lượng phương tiện tham gia giao thông lớn.Ùn tắc giao thông xảy ra thường xuyên và tập trung vào các khung giờ 6 giờ đến 8 giờ (giờ đi làm đi học của công nhân viên, học sinh) và 17 giờ đến19 giờ (giờ tan tầm).Ùn tắc giao thông xảy ra thường xuyên tại các ngã tư, trường học, công sở, khu công nghiệp Theo số liệu năm 2010, Tại TP Hồ Chí Minh có đến 52 đi điểm đen về ùn tắc giao thông
Trang 25Hình 15: Điểm đen ùn tắc giao thông tại TP Hồ Chí Minh năm 2010 [7]
Hình 16: Chỉ tiêu hiện trạng hệ thống giao thông TP HCM
Dựa vào bảng biểu trên, theo báo cáo Quy hoạch tổng thể năm 2013 cho thấy mạng lưới giao thông ở TP.Hồ Chí Minh chưa đáp ứng được đúng tiêu chuẩn như vậy hiện tượng ùn
Trang 26tắc giao thông xảy ra là hiển nhiên.Bên cạnh đó theo báo cáo của Bộ Giao Thông Vận Tải phương tiện ô tô và xe máy cả nước giữa 2 năm 2003 và 2013:
2003 675.000 11.380.000
2013 1.850.000 33.600.00
Bảng 2: Số lượng phương tiện ô tô và xe máy
Có thể nói, từ năm 2003 đến năm 2013 số ô tô tăng 2.75 lần, xe máy tăng 2.96 lần
mà cơ sở hạ tầng thì chưa đáp ứng kịp Số lượng phương tiện tăng quá nhanh mà các tiêu chuẩn về mạng lưới giao thông chưa đáp ứng đủ.Một số nguyên nhân như cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng kịp nhu cầu phát triển, đường thì nhỏ trong khi lưu lượng người tham gia giao thông là quá lớn; quy hoạch kém, việc mở các đường ngang ở các phố có dải phân cách mềm không hợp lý, chỗ quá dày, chỗ thì quá thưa Chính những vị trí này đã gây nên
ùn tắc giao thông vì thường xuyên là chỗ để người điều khiển phương tiện đổi hướng đi,
rẽ trái, hoặc quay đầu xe, đi ngược đường để sang đường được nhanh; thi công và hoàn thiện chưa tốt, thi công chậm tiến độ, nhiều con đường vừa làm xong đã xuất hiện nứt, gãy, sập, lún… phải sửa chữa làm gián đoạn tắc nghẽn giao thông; dân số tăng nhanh, phân bố không đồng đều chủ yếu tập trung ở đô thị, gần các khu công nghiệp, trường học, bệnh viện…Việc phân luồng, phân làn xe chạy, điều phối giao thông, đèn tín hiệu ở nút giao nhau chưa tốt Đa số đường phố ở nước ta đều hẹp nhưng lại được lưu thông hai chiều, có đường tuy đã qui định ô tô chỉ lưu thông một chiều nhưng lại cho phép ô tô buýt được phép hoạt động hai chiều, mà ô tô buýt có loại đến 45 chỗ ngồi, bến đỗ qui định cho loại ô tô này lại đối diện nhau, gần nơi đường phố giao nhau, gây ùn tắc giao thông; Ý thức người dân còn hạn chế việc, lấn chiếm vỉa hè, lòng đường để bán hàng của một số đông người bán lẻ, chủ yếu là người bán hàng rong, hàng ăn uống, phụ huynh chờ đón con trước cổng các trường học, xe ôm, bến trông giữ phương tiện giao thông Thậm chí, ô tô, mô tô của
Trang 27Công an phường cũng đỗ, dừng ngay dưới lòng đường Giao thông công cộng chưa phát triển, chưa có biện pháp khích lệ người tham gia giao thông công cộng…
Hình 17: Số liệu tăng trưởng phương tiện [14]
Chính những hiện trạng giao thông này đã phát sinh một số hậu quả cho những tác động đến kinh tế, môi trường và xã hội Mỗi khi kẹt xe với thời gian trung bình là 45 phút, mức thiệt hại là 0,54USD/người Với 60 điểm ùn tắc giao thông hiện nay thì mỗi ngày TP
Hồ Chí Minh thiệt hại gần 1,3 triệu USD Ngoài ra, số xe máy tại TP HCM tiêu hao gần 217.000 lít xăng/năm, với giá 16.000 đồng/lít hiện nay thì tổng mức thiệt hại do ùn tắc giao thông mỗi năm ở TP HCM sẽ trên 15.000 tỷ đồng Đó là chưa kể lãng phí do tốn mặt bằng giữ xe máy ban ngày và ban đêm, ước tính khoảng 1.000 tỷ đồng/năm.Theo số liệu sơ bộ của Trung tâm Nghiên cứu cuộc sống phát triển bền vững (CSDP), chỉ riêng TP Hà Nội, chi phí tăng thêm do tiêu hao nhiên liệu và lãng phí công lao động vì ùn tắc giao thông ở nội thành khoảng 36,4 tỷ VNĐ/ngày (12.812 tỷ VNĐ/năm, tương đương khoảng 600 triệu USD/năm) Còn tại TP.HCM, mỗi năm thành phố thiệt hại khoảng 170 tỷ đồng do ùn tắc giao thông.Có thể thấy, ùn tắc giao thông đang gây thiệt hại không nhỏ cho sự phát triển
Trang 28kinh tế quốc gia, giảm hiệu suất lao động và tăng các chi phí không cần thiết trong quá trình sản xuất Trong bối cảnh kinh tế giảm phát và khó khăn như hiện nay, lãng phí trong giao thông lại đặt thêm một gánh nặng đối với đời sống kinh tế của người dân Hơn thế nữa, khi bị ùn tắc giao thông trong các đô thị thì sự lãng phí nhiên liệu tăng lên, sự ô nhiễm càng gia tăng do khối lượng phương tiện dồn ứ không di chuyển được Các thành phố lớn
ở Việt Nam đang bị ô nhiễm không khí nghiêm trọng, nguyên nhân chủ yếu là do khí thải
từ các phương tiện giao thông cơ giới đường bộ Một lượng không nhỏ các phương tiện giao thông ở TPHCM hiện nay có chất lượng khí thải không đạt tiêu chuẩn, trong khi đó hiện tượng ùn tắc giao thông lại làm tăng đáng kể lượng khí thải phát ra từ các phương tiện này.Ô nhiễm môi trường gây ra từ phương tiện giao thông ảnh hưởng trực tiếp đời sống dân sinh của mổi chúng ta Hơn thế, sự biến đổi khí hậu toàn cầu không thể thiếu sự “đóng góp” quan trọng từ số lượng quá lớn phương tiện giao thông ôtô, xe gắn máy do đốt cháy nhiên liệu hóa thạch “góp phần” làm gia tăng hiệu ứng nhà kính Ngoài ra, khi lưu thông trên quãng đường bị ùn tắc, chúng ta sẽ phải mất quá nhiều thời gian, gây ra cho con người
xu hướng ì ạch, ít vận động, hạn chế tham gia các hoạt động giao tiếp xã hội Thậm chí nếu thường xuyên rơi vào tình trạng ì ạch giao thông sẽ khiến cho con người mất đi kiểm soát, khả năng tự chủ, bực bội, và cảm thấy bản thân không có sự lựa chọn nhiều trong cuộc sống Việc đối mặt với tắc nghẽn thường xuyên khiến cho hơi thở của bạn nhanh hơn, tim đập gấp gáp, huyết áp tăng Người điều khiển xe sẽ trở nên cáu bẳn, lỗ mãng, hung hăng [21]
1.5 Tính cấp thiết của nghiên cứu
Với sự phát triển không ngừng của giao thông vận tải, ngày càng có nhiều loại phương tiện tham gia giao thông khác nhau, số lượng phương tiện ngày một tăng càng làm cho tình hình giao thông trở nên phức tạp hơn Đặc điểm giao thông ở Việt Nam thì lưu lượng phương tiện xe máy chiếm đa số Với các đặc điểm của xe máy là nhỏ, cơ động nên việc phân luồng để quản lý các xe máy rất khó, làm ảnh hưởng lớn đến năng lực thông hành của các tuyến đường
Chủ trương hạn chế phương tiện giao thông cá nhân, nhất là xe máy tại các đô thị lớn, đông dân như TP Hồ Chí Minh là đúng đắn và cần thiết, xuất phát từ yêu cầu thực tiễn,
Trang 29đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội Những năm gần đây, từ nhiều nguồn vốn, thành phố
Hồ Chí Minh đầu tư hàng nghìn tỷ đồng để xây dựng các công trình hạ tầng giao thông, các lực lượng chức năng triển khai nhiều giải pháp tổ chức giao thông, nhưng việc đi lại trên địa bàn thành phố vẫn khó khăn, lộn xộn, ùn tắc giao thông diễn ra thường xuyên Nguyên nhân chính là do số lượng phương tiện giao thông cá nhân, nhất là xe máy và xe ô-tô con quá lớn, tốc độ tăng quá nhanh
Hình 18: Sự gia tăng chóng mặt của các phương tiện các nhân [20]
Số lượng phương tiện tăng nhanh trong khi hạ tầng không phát triển tương xứng ở
TP Hồ Chí Minh, dẫn đến tình trạng quá tải, ùn tắc, tai nạn giao thông diễn biến phức tạp
ở địa bàn trọng điểm này Chính vì vậy, năm 2011, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu UBND thành phố Hồ Chí Minh phối hợp với các bộ, ngành chức năng thí điểm việc hạn chế, hoặc cấm lưu thông trong thời gian thích hợp đối với xe mô-tô, xe gắn máy trên một số tuyến phố trong đô thị, nhằm giảm ùn tắc giao thông tại hai thành phố lớn
Việc tìm ra các giải pháp nhằm hạn chế lượng phương tiện sở hữu cá nhân trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh đã khiến các chuyên gia, nhà quản lý đau đầu Sự quá tải này
đã được nhiều cơ quan hữu quan, chuyên gia trong và ngoài nước dự báo, tuy nhiên không
Trang 30thể hóa giải được, vì giải bài toán quá tải và ùn tắc giao thông chỉ có một lối đi là đầu tư xây dựng hạ tầng, nhưng quỹ đất đô thị của thành phố Hồ Chí Minh thì không vô tận Cấm các phương tiện cá nhân như xe máy vào thành phố có thể làm giảm các tình trạng kẹt xe hiện tại nhưng nó lại không giải quyết được vấn đề sở hữu phương tiện cá nhân Giảm số lượng phương tiện cá nhân đang là một xu thế tất yếu nếu muốn phát triển đô thị bền vững
Hạn chế phương tiện giao thông cá nhân để giải quyết các vấn đề giao thông đô thị như ùn tắc, tai nạn giao thông, ô nhiễm là giải pháp chung của các thành phố trên thế giới Để hạn chế xe cá nhân thì hạ tầng giao thông công cộng phải cung cấp được dịch vụ thay thế Tại Nhật Bản, các biện pháp cưỡng chế trực tiếp để hạn chế xe cá nhân không được sử dụng do có thể vi phạm Hiến pháp quy định về tự do đi lại của người dân Vì vậy, Nhật Bản thực hiện các biện pháp đánh vào kinh tế hoặc các biện pháp có sự hợp tác của các công ty, tổ chức Cụ thể, thu phí đỗ xe ở nội đô với mức cao, các cơ quan, doanh nghiệp đưa ra nội quy không sử dụng xe cá nhân đi làm Các công ty hỗ trợ chi phí cho nhân viên
sử dụng phương tiện công cộng và khoản hỗ trợ này không tính vào chi phí của công ty Hay tại Singapore, Chính phủ cũng thực hiện chủ trương thu tiền khi đi vào các khu vực quy định Các chính sách mang tính kinh tế đều nhằm mục tiêu làm người dân thấy việc sử dụng phương tiện giao thông công cộng có tính kinh tế cao hơn là sử dụng phương tiện giao thông cá nhân Thành phố hồ Chí Minh nên tham khảo các kinh nghiệm quốc tế để áp dụng phù hợp với điều kiện thực tiễn
Hạn chế phương tiện giao thông cá nhân tuy là giải pháp khó, nhưng nếu thực hiện tốt sẽ là tiền đề vững chắc để phát triển vận tải hành khách công cộng, giảm thiểu đáng kể các vụ tai nạn giao thông Trước hết cần hạn chế xe máy trên các tuyến đường đã có hệ thống xe buýt chạy qua, có các điểm gửi xe máy tại các trục đường chính dẫn vào thành phố Tuy vậy, việc xây dựng hạ tầng giao thông công cộng phải đồng thời cùng lúc với việc cấm phương tiện giao thông cá nhân Nếu không, người dân bỏ xe máy sẽ không biết
sử dụng phương tiện nào cho phù hợp Nói như các chuyên gia Nhật Bản, có hai nguyên tắc: "Một là toàn dân, hai là đồng bộ" Khi cả hai nguyên tắc cùng đồng nhất thì đó là một giải pháp hoàn hảo
Hiện có khoảng 60 điểm ùn tắc giao thông thường xuyên tại TP Hồ Chí Minh, gây thiệt hại khoảng 8.450 tỷ đồng mỗi năm Tuy nhiên, theo nhiều chuyên gia, gia tăng phương
Trang 31tiện cá nhân dẫn đến tắc đường và ô nhiễm môi trường là một xu thế tất yếu của nhiều nước trong quá trình hội nhập Hiện nay, Việt Nam mới chỉ có khoảng 25 xe/1.000 dân, trong khi Thái Lan có khoảng 220 xe/1.000 dân nên nhu cầu ở Việt Nam rất lớn Vì vậy, nếu giảm ách tắc chỉ bằng việc hạn chế người dân mua, sử dụng ô tô cá nhân là lạc hậu
Xác định được số lượng sở hữu các phương tiện, cách di chuyển và nhu cầu đi lại của người dân trong địa bàn thành phố Hồ Chí Minh là vô cùng quan trọng trong điều kiện hiện nay, từ đó nhằm nghiên cứu đề xuất các biện pháp phù hợp để giảm sở hữu các phương tiện các nhân trong khu vực