1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu nguyên nhân tạo nên sự khác biệt giữa báo cáo tài chính trước và sau kiểm toán

72 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 3,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Báo cáo tài chính theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 21 VAS 21 là một hệ thống bao gồm 4 báo cáo phản ánh theo một cấu trúc chặt chẽ tình hình tài chính, kết quả kinh doanh của một đơn v

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG

NGHIÊN CỨU NGUYÊN NHÂN TẠO NÊN

SỰ KHÁC BIỆT GIỮA BÁO CÁO TÀI CHÍNH

TRƯỚC VÀ SAU KIỂM TOÁN

MÃ SỐ: T2015-123

Tp Hồ Chí Minh, 10/2015

S 0 9

S KC0 0 5 5 9 7

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

NGHIÊN CỨU NGUYÊN NHÂN TẠO NÊN SỰ KHÁC BIỆT GIỮA

BÁO CÁO TÀI CHÍNH TRƯỚC VÀ SAU KIỂM TOÁN

Mã số: T2015 - 123

Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Thị Hoàng Anh

TP.HCM - Tháng 10/2015

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT

NGHIÊN CỨU NGUYÊN NHÂN TẠO NÊN SỰ KHÁC BIỆT GIỮA

BÁO CÁO TÀI CHÍNH TRƯỚC VÀ SAU KIỂM TOÁN

Mã số: T2015 - 123

Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Thị Hoàng Anh

TP.HCM - Tháng 10/2015

Trang 4

MỤC LỤC

CHƯƠNG MỞ ĐẦU

i TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THUỘC LĨNH VỰC CỦA ĐỀ TÀI Ở TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC

ii TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

iii MỤC TIÊU ĐỀ TÀI

iv CÁCH TIẾP CẬN, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

v ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU

vi NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BÁO CÁO TÀI CHÍNH 4

1.1 TỔNG QUAN VỀ BÁO CÁO TÀI CHÍNH 4

1.1.1 Khái niệm và mục đích lập Báo cáo tài chính 4

1.1.2 Trình bày báo cáo tài chính 5

1.2 KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 10

1.2.1 Khái niệm kiểm toán báo cáo tài chính 10

1.2.2 Mục tiêu kiểm toán báo cáo tài chính 10

1.2.3 Nội dung của kiểm toán báo cáo tài chính 11

1.2.4 Phương pháp thực hiện 12

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 12

Chương 2: SỰ KHÁC BIỆT GIỮA BÁO CÁO TÀI CHÍNH TRƯỚC VÀ SAU KIỂM TOÁN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP 13

2.1 VAI TRÕ CỦA KIỂM TOÁN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 13

2.2 THỰC TRẠNG CHÊNH LỆCH THÔNG TIN GIỮA BÁO CÁO TÀI CHÍNH TRƯỚC VÀ SAU KIỂM TOÁN 16

2.2.1 Trên thế giới 16

2.2.2 Tại Việt Nam 17

2.3 NGUYÊN NHÂN TẠO NÊN SỰ CHÊNH LỆCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH TRƯỚC VÀ SAU KIỂM TOÁN 22

2.3.1 Từ phía doanh nghiệp 23

2.3.2 Từ phía Nhà nước 32

2.3.2 Từ phía nhà đầu tư 324

Trang 5

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 34

Chương 3: GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ SỰ KHÁC BIỆT GIỮA BÁO CÁO TÀI CHÍNH TRƯỚC VÀ SAU KIỂM TOÁN 35

3.1 HẬU QUẢ CỦA VIỆC CÔNG BỐ THÔNG TIN SAI LỆCH TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP 35

3.2 GIẢI PHÁP 35

3.2.1 Về phía công ty 35

3.2.2 Về phía Nhà nước 37

3.2.3 Về phía nhà đầu tư 39

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 39 KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT

THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1 Thông tin chung:

- Tên đề tài: NGHIÊN CỨU NGUYÊN NHÂN TẠO NÊN SỰ KHÁC BIỆT GIỮA BÁO CÁO TÀI

CHÍNH TRƯỚC VÀ SAU KHI KIÊM TOÁN

- Mã số: T2015 – 123

- Chủ nhiệm: Ths Nguyễn Thị Hoàng Anh

- Cơ quan chủ trì: trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh

- Thời gian thực hiện: 12/2014 – 10/2015

2 Mục tiêu:

Trên cơ sở nghiên cứu nguyên nhân tạo nên sự khác biệt giữa báo cáo tài chính trước và sau kiểm toán, tác giả đưa ra những giải pháp nhằm tránh lấy lại niềm tin cho nhà đầu tư vào thị trường và tránh gây thiệt hại cho nhà đầu tư

3 Tính mới và sáng tạo:

Tài liệu tham khảo cho các đối tượng nghiên cứu về lĩnh vực kế toán, kiểm toán

4 Kết quả nghiên cứu:

- Hoàn thành nghiên cứu về sự khác biệt của báo cáo tài chính trước và sau kiểm toán

- Đưa ra những giải pháp nhằm hạn chế sự sai lệch trên báo cáo tài chính sau kiểm toán

5 Sản phẩm:

Bài phân tích về những nguyên nhân tạo nên sự khác biệt của báo cáo tài chính trước và sau kiểm toán

6 Hiệu quả, phương thức chuyển giao kết quả nghiên cứu và khả năng áp dụng:

- Sử dụng làm tài liệu tham khảo trong quá trình giảng dạy môn Kế toán và môn Kiểm toán dùng chung cho các cán bộ giảng dạy bộ môn Kế toán-Tài chính khoa Kinh tế - trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM

- Giúp sinh viên nắm bắt lý thuyết trên lớp và có cái nhìn tổng quát về các hoạt động thực tế bên ngoài liên quan đến môn học đó

Trưởng Đơn vị Chủ nhiệm đề tài

Trang 7

- Luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản trị kinh doanh với đề tài “Nghiên cứu về sai sót trong báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” của Trần Nguyễn Nguyên Trân, ĐH Đà Nẵng, nghiên cứu về những sai sót trên báo cáo tài chính và vận dụng mô hình nghiên cứu về phát hiện gian lận báo cáo tài chính để dự đoán khả năng sai sót trong báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

- Nghiên cứu của Beasley và các cộng sự (2001) tập trung phân tích các yếu tố có ảnh hưởng đến hoạt động gian lận báo cáo tài chính của công ty Bên cạnh việc nhận diện thuộc tính của các công ty có gian lận báo cáo tài chính, các tác giả đã tập trung làm

rõ chức năng, vai trò và hiệu lực của các nhân tố (i) thù lao và động cơ của các cá nhân có liên quan, (ii) quản trị công ty, (iii) kiểm soát, (iv) văn hóa và đạo đức

- Nghiên cứu của Beneish (1999) là nghiên cứu tiên phong về xây dựng mô hình dự đoán khả năng gian lận báo cáo tài chính Dựa vào các kỹ thuật gian lận thường được

sử dụng, Beneish thiết lập một mô hình dự đoán (gọi là tỷ số M-Score) để đánh giá có hay không khả năng công ty gian lận báo cáo tài chính

ii TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Thế kỷ 21 mở ra kỷ nguyên phát triển vượt bậc của công nghệ và cũng là kỷ nguyên của những thông tin tài chính Nhu cầu cho và nhận thông tin, đặc biệt là các thông tin tài chính luôn giữ vai trò tối quan trọng để đưa ra những quyết định kinh doanh then chốt Tính minh bạch, tính trung thực của thông tin tài chính đóng vai trò lớn trong việc ổn định thị trường chứng khoán và ổn định xã hội Trong thế giới ấy, gian lận Báo cáo tài chính đại diện cho chi phí khổng lồ của nền kinh tế toàn cầu Sự

Trang 8

sụp đổ của những công ty hàng đầu trên thế giới (Enron, WorldCom, Tyco, Adelphia, Olympus,…) đã để lại một vết ố trên hiệu quả quản trị doanh nghiệp, chất lượng của các báo cáo tài chính và uy tín của chức năng kiểm toán Sai lệch trên các báo cáo tài chính đã trở thành một vấn đề quan trọng của các doanh nghiệp trên toàn thế giới, tác động sâu sắc tới lòng tin của các nhà đầu tư Vì vậy, tìm hiểu các nguyên nhân làm sai lệch báo cáo tài chính là một công việc cần thiết và có ý nghĩa

iii MỤC TIÊU ĐỀ TÀI

- Hệ thống hóa lý luận về báo cáo tài chính và kiểm toán báo cáo tài chính

- Tổng hợp những nguyên nhân tạo nên sự khác biệt giữa báo cáo tài chính trước và sau kiểm toán

- Trên cơ sở lý luận và cơ sở nghiên cứu các nguyên nhân, tác giả đưa ra những giải pháp hạn chế những sai lệch trên báo cáo tài chính trước và sau kiểm toán nhằm lấy lại niềm tin cho nhà đầu tư vào thị trường

iv CÁCH TIẾP CẬN, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Tiếp cận Báo cáo tài chính của các doanh nghiệp có niêm yết trên thị trường chứng khoán

- Phương pháp thu nhập dữ liệu: Thu thập từ những website chuyên về lĩnh vực tài chính, kế toán như vietstock.vn, cafef.vn, finance.vn

- Phương pháp phân tích: Dựa vào các dữ liệu thu thập được, tác giả tiến hành phân tích và đưa ra các giải pháp nhằm hạn chế các sai lệch trên báo cáo tài chính sau kiểm toán

v ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đề tài nghiên cứu nguyên nhân tạo nên sự khác biệt của BCTC trước và sau kiểm toán của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán ở Việt Nam

▫ Về thời gian: Báo cáo tài chính của doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán từ năm 2000 trở lại đây

Trang 9

▫ Về không gian: Báo cáo tài chính của doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán trên phạm vi toàn quốc (Việt Nam)

vi NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

Ngoài phần mở đầu, nội dung đề tài gồm 3 chương:

 Chương 1: Lý luận chung về báo cáo tài chính

 Chương 2: Sự khác biệt giữa báo cáo tài chính trước và sau kiểm toán của các doanh nghiệp hiện nay

 Chương 3: Giải pháp nhằm hạn chế sự khác biệt giữa báo cáo tài chính trước và sau kiểm toán

Trang 10

Chương 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ BÁO CÁO TÀI CHÍNH

1.1 TỔNG QUAN VỀ BÁO CÁO TÀI CHÍNH

1.1.1 Khái niệm và mục đích lập Báo cáo tài chính

Báo cáo tài chính là sự trình bày một cách hệ thống về các thông tin tài chính quá khứ, bao gồm các thuyết minh có liên quan, phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính Báo cáo tài chính theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 21 (VAS 21) là một hệ thống bao gồm 4 báo cáo phản ánh theo một cấu trúc chặt chẽ tình hình tài chính, kết quả kinh doanh của một đơn vị:

 Bảng cân đối kế toán

 Báo cáo kết quả kinh doanh

 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

 Thuyết minh báo cáo tài chính Mục đích của BCTC là cung cấp các thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và các luồng tiền của doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầu hữu ích cho số đông những người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế Để đạt được mục đích này, BCTC phải cung cấp những thông tin của một doanh nghiệp về:

Trang 11

1.1.2 Trình bày báo cáo tài chính

1.1.2.1 Trách nhiệm lập và trình bày BCTC

Giám đốc (hoặc người đứng đầu) doanh nghiệp chịu trách nhiệm về lập và trình bày báo cáo tài chính

1.1.2.2 Môi trường pháp lý của lập và trình bày BCTC

Khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính thường bao gồm:

1.1.2.3 Yêu cầu lập và trình bày BCTC

Báo cáo tài chính phải trình bày một cách trung thực và hợp lý tình hình tài chính, tình hình và kết quả kinh doanh và các luồng tiền của doanh nghiệp Để đảm bảo yêu cầu trung thực và hợp lý, các báo cáo tài chính phải được lập và trình bày trên

cơ sở tuân thủ các chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán và các quy định có liên quan hiện hành

Doanh nghiệp cần nêu rõ trong phần thuyết minh báo cáo tài chính là báo cáo tài chính được lập và trình bày phù hợp với chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam Báo cáo tài chính được coi là lập và trình bày phù hợp với chuẩn mực và chế độ kế

Trang 12

toán Việt Nam nếu báo cáo tài chính tuân thủ mọi quy định của từng chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành hướng dẫn thực hiện chuẩn mực kế toán Việt Nam của Bộ Tài chính

Trường hợp doanh nghiệp sử dụng chính sách kế toán khác với quy định của chuẩn mực và chế độ kế toán Việt Nam, không được coi là tuân thủ chuẩn mực và chế

độ kế toán hiện hành dù đã thuyết minh đầy đủ trong chính sách kế toán cũng như trong phần thuyết minh báo cáo tài chính

1.1.2.4 Nguyên tắc lập và trình bày BCTC

Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 21 “Trình bày Báo cáo tài chính”, khi

lập và trình bày báo cáo tài chính phải tuân theo một số giả định và nguyên tắc sau:

Khi lập và trình bày báo cáo tài chính, Giám đốc (hoặc người đứng đầu) doanh nghiệp cần phải đánh giá về khả năng hoạt động liên tục của doanh nghiệp Báo cáo tài chính phải được lập trên cơ sở giả định là doanh nghiệp đang hoạt động liên tục và

sẽ tiếp tục hoạt động kinh doanh bình thường trong tương lai gần, trừ khi doanh nghiệp có ý định cũng như buộc phải ngừng hoạt động, hoặc phải thu hẹp đáng kể qui

mô hoạt động của mình Khi đánh giá, nếu Giám đốc (hoặc người đứng đầu) doanh nghiệp biết được có những điều không chắc chắn liên quan đến các sự kiện hoặc các điều kiện có thể gây ra sự nghi ngờ lớn về khả năng hoạt động liên tục của doanh nghiệp thì những điều không chắc chắn đó cần được nêu rõ Nếu báo cáo tài chính không được lập trên cơ sở hoạt động liên tục, thì sự kiện này cần được nêu rõ, cùng với cơ sở dùng để lập báo cáo tài chính và lý do khiến cho doanh nghiệp không được coi là đang hoạt động liên tục

Để đánh giá khả năng hoạt động liên tục của doanh nghiệp, Giám đốc (hoặc người đứng đầu) doanh nghiệp cần phải xem xét đến mọi thông tin có thể dự đoán được tối thiểu trong vòng 12 tháng tới kể từ ngày kết thúc niên độ kế toán

Cơ sở dồn tích

Doanh nghiệp phải lập báo cáo tài chính theo cơ sở kế toán dồn tích, ngoại trừ các thông tin liên quan đến các luồng tiền

Trang 13

Theo cơ sở kế toán dồn tích, các giao dịch và sự kiện được ghi nhận vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực thu, thực chi tiền và được ghi nhận vào sổ kế toán và báo cáo tài chính của các kỳ kế toán liên quan

Phù hợp

Các khoản chi phí được ghi nhận vào Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh theo nguyên tắc phù hợp giữa doanh thu và chi phí Tuy nhiên, việc áp dụng nguyên tắc phù hợp không cho phép ghi nhận trên Bảng cân đối kế toán những khoản mục không thoả mãn định nghĩa về tài sản hoặc nợ phải trả

để có thể trình bày một cách hợp lý hơn các giao dịch và các sự kiện;

- Chuẩn mực kế toán khác yêu cầu có sự thay đổi trong trình bày

Doanh nghiệp có thể trình bày báo cáo tài chính theo một cách khác khi mua sắm hoặc thanh lý lớn các tài sản, hoặc khi xem xét lại cách trình bày báo cáo tài chính Việc thay đổi cách trình bày báo cáo tài chính chỉ được thực hiện khi cấu trúc trình bày mới sẽ được duy trì lâu dài trong tương lai hoặc nếu lợi ích của cách trình bày mới được xác định rõ ràng Khi có thay đổi, thì doanh nghiệp phải phân loại lại các thông tin mang tính so sánh cho phù hợp với các quy định của đoạn 30 của VAS

21 và phải giải trình lý do và ảnh hưởng của sự thay đổi đó trong phần thuyết minh báo cáo tài chính

Từng khoản mục trọng yếu phải được trình bày riêng biệt trong báo cáo tài chính Các khoản mục không trọng yếu thì không phải trình bày riêng rẽ mà được tập hợp vào những khoản mục có cùng tính chất hoặc chức năng

Khi trình bày báo cáo tài chính, một thông tin được coi là trọng yếu nếu không trình bày hoặc trình bày thiếu chính xác của thông tin đó có thể làm sai lệch đáng kể báo cáo tài chính, làm ảnh hưởng đến quyết định kinh tế của người sử dụng báo cáo tài chính Tính trọng yếu phụ thuộc vào quy mô và tính chất của các khoản mục được

Trang 14

đánh giá trong các tình huống cụ thể nếu các khoản mục này không được trình bày riêng biệt Để xác định một khoản mục hay một tập hợp các khoản mục là trọng yếu phải đánh giá tính chất và quy mô của chúng Tuỳ theo các tình huống cụ thể, tính chất hoặc quy mô của từng khoản mục có thể là nhân tố quyết định tính trọng yếu Ví

dụ, các tài sản riêng lẻ có cùng tính chất và chức năng được tập hợp vào một khoản mục, kể cả khi giá trị của khoản mục là rất lớn Tuy nhiên, các khoản mục quan trọng

có tính chất hoặc chức năng khác nhau phải được trình bày một cách riêng rẽ

Nếu một khoản mục không mang tính trọng yếu, thì nó được tập hợp với các khoản đầu mục khác có cùng tính chất hoặc chức năng trong báo cáo tài chính hoặc trình bày trong phần thuyết minh báo cáo tài chính Tuy nhiên, có những khoản mục không được coi là trọng yếu để có thể được trình bày riêng biệt trên báo cáo tài chính, nhưng lại được coi là trọng yếu để phải trình bày riêng biệt trong phần thuyết minh báo cáo tài chính

Theo nguyên tắc trọng yếu, doanh nghiệp không nhất thiết phải tuân thủ các quy định về trình bày báo cáo tài chính của các chuẩn mực kế toán cụ thể nếu các thông tin đó không có tính trọng yếu

Các khoản mục tài sản và nợ phải trả trình bày trên báo cáo tài chính không được bù trừ, trừ khi một chuẩn mực kế toán khác quy định hoặc cho phép bù trừ

Các khoản mục doanh thu, thu nhập khác và chi phí chỉ được bù trừ khi:

- Được quy định tại một chuẩn mực kế toán khác; hoặc

- Các khoản lãi, lỗ và các chi phí liên quan phát sinh từ các giao dịch và các sự kiện giống nhau hoặc tương tự và không có tính trọng yếu Các khoản này cần được tập hợp lại với nhau phù hợp với quy định của đoạn 21 của VAS 21

Các tài sản và nợ phải trả, các khoản thu nhập và chi phí có tính trọng yếu phải được báo cáo riêng biệt Việc bù trừ các số liệu trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh hoặc Bảng cân đối kế toán, ngoại trừ trường hợp việc bù trừ này phản ánh bản chất của giao dịch hoặc sự kiện, sẽ không cho phép người sử dụng hiểu được các giao dịch hoặc sự kiện được thực hiện và dự tính được các luồng tiền trong tương lai của doanh nghiệp

Trang 15

Chuẩn mực kế toán số 14 “Doanh thu và thu nhập khác” quy định doanh thu phải được đánh giá theo giá trị hợp lý của những khoản đã thu hoặc có thể thu được, trừ đi tất cả các khoản giảm trừ doanh thu Trong hoạt động kinh doanh thông thường, doanh nghiệp thực hiện những giao dịch khác không làm phát sinh doanh thu, nhưng

có liên quan đến các hoạt động chính làm phát sinh doanh thu Kết quả của các giao dịch này sẽ được trình bày bằng cách khấu trừ các khoản chi phí có liên quan phát sinh trong cùng một giao dịch vào khoản thu nhập tương ứng, nếu cách trình bày này phản ánh đúng bản chất của các giao dịch hoặc sự kiện đó Chẳng hạn như :

- Lãi và lỗ phát sinh trong việc thanh lý các tài sản cố định và đầu tư dài hạn, được trình bày bằng cách khấu trừ giá trị ghi sổ của tài sản và các khoản chi phí thanh lý có liên quan vào giá bán tài sản;

- Các khoản chi phí được hoàn lại theo thoả thuận hợp đồng với bên thứ

ba (ví dụ hợp đồng cho thuê lại hoặc thầu lại) được trình bày theo giá trị thuần sau khi

đã khấu trừ đi khoản được hoàn trả tương ứng;

Các khoản lãi và lỗ phát sinh từ một nhóm các giao dịch tương tự sẽ được hạch toán theo giá trị thuần, ví dụ các khoản lãi và lỗ chênh lệch tỷ giá, lãi và lỗ phát sinh

từ mua, bán các công cụ tài chính vì mục đích thương mại Tuy nhiên, các khoản lãi

và lỗ này cần được trình bày riêng biệt nếu quy mô, tính chất hoặc tác động của chúng yêu cầu phải được trình bày riêng biệt theo qui định của Chuẩn mực “Lãi, lỗ thuần trong kỳ, các sai sót cơ bản và các thay đổi trong chính sách kế toán”

Các thông tin bằng số liệu trong báo cáo tài chính nhằm để so sánh giữa các kỳ

kế toán phải được trình bày tương ứng với các thông tin bằng số liệu trong báo cáo tài chính của kỳ trước Các thông tin so sánh cần phải bao gồm cả các thông tin diễn giải bằng lời nếu điều này là cần thiết giúp cho những người sử dụng hiểu rõ được báo cáo tài chính của kỳ hiện tại

Khi thay đổi cách trình bày hoặc cách phân loại các khoản mục trong báo cáo tài chính, thì phải phân loại lại các số liệu so sánh (trừ khi việc này không thể thực hiện được) nhằm đảm bảo khả năng so sánh với kỳ hiện tại, và phải trình bày tính chất, số liệu và lý do việc phân loại lại Nếu không thể thực hiện được việc phân loại

Trang 16

lại các số liệu tương ứng mang tính so sánh thì doanh nghiệp cần phải nêu rõ lý do và tính chất của những thay đổi nếu việc phân loại lại các số liệu được thực hiện

Trường hợp không thể phân loại lại các thông tin mang tính so sánh để so sánh với kỳ hiện tại, như trường hợp mà cách thức thu thập các số liệu trong các kỳ trước đây không cho phép thực hiện việc phân loại lại để tạo ra những thông tin so sánh, thì doanh nghiệp cần phải trình bày tính chất của các điều chỉnh lẽ ra cần phải thực hiện đối với các thông tin số liệu mang tính so sánh Chuẩn mực “Lãi, lỗ thuần trong kỳ, các sai sót cơ bản và các thay đổi trong chính sách kế toán" đưa ra quy định về các điều chỉnh cần thực hiện đối với các thông tin mang tính so sánh trong trường hợp các thay đổi về chính sách kế toán được áp dụng cho các kỳ trước

1.2 KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH

1.2.1 Khái niệm kiểm toán báo cáo tài chính

Kiểm toán báo cáo tài chính là việc kiểm tra và xác nhận về tính trung thực và hợp lý của các tài liệu, số liệu kế toán và báo cáo tài chính của đơn vị kế toán phục vụ đối tượng có nhu cầu sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính của đơn vị

Công việc kiểm toán báo cáo tài chính thường do các doanh nghiệp kiểm toán thực hiện để phục vụ cho các nhà quản lý, chính phủ, các ngân hàng và nhà đầu tư, cho người bán, người mua

1.2.2 Mục tiêu kiểm toán báo cáo tài chính

Mục tiêu chung

Mục tiêu của kiểm toán báo cáo tài chính là làm tăng độ tin cậy của người sử dụng đối với báo cáo tài chính, thông qua việc kiểm toán viên đưa ra ý kiến về việc liệu báo cáo tài chính có được lập, trên các khía cạnh trọng yếu, phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng hay không

Đối với hầu hết các khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính cho mục tiêu chung, kiểm toán viên phải đưa ra ý kiến về việc liệu báo cáo tài chính có được lập và trình bày trung thực và hợp lý, trên các khía cạnh trọng yếu, phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày BCTC được áp dụng hay không Một cuộc kiểm toán được thực hiện theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam, chuẩn mực và các quy định về đạo đức nghề nghiệp có liên quan sẽ giúp kiểm toán viên hình thành ý kiến kiểm toán đó

Mục tiêu cụ thể

Trang 17

Mục tiêu cụ thể của kiểm toán báo cáo tài chính là giúp cho đơn vị được kiểm toán thấy rõ những tồn tại, sai sót để khắc phục nhằm nâng cao chất lượng thông tin tài chính của đơn vị mình

1.2.3 Nội dung của kiểm toán báo cáo tài chính

Báo cáo tài chính sử dụng để kiểm toán là báo cáo đã được Ban Giám đốc đơn

vị được kiểm toán lập với sự giám sát của Ban quản trị đơn vị, đã ký tên, đóng dấu theo quy định của pháp luật Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam không áp đặt các trách nhiệm đối với Ban Giám đốc hoặc Ban quản trị đơn vị được kiểm toán và có hiệu lực không cao hơn so với pháp luật và các quy định khác chi phối trách nhiệm của Ban Giám đốc và Ban quản trị Tuy nhiên, một cuộc kiểm toán theo các chuẩn mực kiểm toán Việt Nam được thực hiện với giả thiết rằng Ban Giám đốc và Ban quản trị đơn vị được kiểm toán (trong phạm vi phù hợp) đã thừa nhận những trách nhiệm nhất định làm cơ sở cho việc tiến hành cuộc kiểm toán

Nội dung của kiểm toán báo cáo tài chính thường tập trung vào:

 Việc quản lý, sử dụng tài sản, nguồn vốn của đơn vị

 Việc chấp hành các chế độ quản lý kinh tế tài chính - kế toán thống kê của Nhà nước

Cuộc kiểm toán phải làm rõ được các vấn đề sau:

 Các thông tin tài chính có được lập trên cơ sở các chế độ tài chính, kế toán hiện hành của Nhà nước Việt Nam hay không? Các chế độ này có được áp dụng một cách nhất quán và kịp thời không?

 Các thông tin trên Báo cáo tài chính có phản ánh một cách trung thực và hợp

lý trên các khía cạnh trọng yếu về tình hình tài chính của đơn vị tại thời điểm kết thúc niên độ kế toán; về tình hình hoạt động của đơn vị trong niên độ kế toán

 Cuộc kiểm toán cũng đòi hỏi phải đưa ra các ý kiến nhận xét về hệ thống kiểm soát nội bộ, hệ thống kế toán của đơn vị, bao gồm các nhận xét về:

+ Công tác ghi chép chứng từ kế toán, luân chuyển chứng từ kế toán, ghi

sổ kế toán và công tác quản lý, lưu trữ các chứng từ kế toán

+ Phương pháp lập Báo cáo tài chính và các Báo cáo quản trị, các tài liệu kế toán có liên quan

+ Công tác hạch toán kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ

Trang 18

1.2.4 Phương pháp thực hiện

Trong quá trình thực hiện kiểm toán, người ta chia các phương pháp kiểm toán thành hai loại:

Các thử nghiệm cơ bản: đây là việc thẩm tra lại các thông tin biểu hiện bằng

tiền phản ánh trên các bảng tổng hợp thông qua việc thực hiện các phương pháp kiểm toán chứng từ và kiểm toán ngoài chứng từ theo trình tự xác định

Thử nghiệm kiểm soát: là phương pháp dựa vào kết quả của hệ thống kiểm

soát nội bộ khi hệ thống này tồn tại và có hiệu lực (để biết được hệ thống kiểm soát nội bộ tồn tại có hiệu lực thì phải khảo sát và đánh giá hệ thống này)

Trang 19

Chương 2

SỰ KHÁC BIỆT GIỮA BÁO CÁO TÀI CHÍNH TRƯỚC VÀ SAU KIỂM TOÁN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP

2.1 VAI TRÕ CỦA KIỂM TOÁN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

Trên thế giới hầu hết các nước đi theo kinh tế thị trường đều có hoạt động kiểm toán độc lập Trái lại ở các nước đi theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung đều không có kiểm toán, thậm chí không truyền bá kiến thức về kiểm toán độc lập

Thật vậy, ở nước ta có thể nói hoạt động kiểm toán được hình thành và phát triển từ trước ngày giải phóng miền Nam Sau thống nhất đất nước, với cơ chế kế hoạch hoá tập trung, kiểm toán độc lập không tồn tại nữa Mãi cho đến khi Đảng và Nhà nước ta chủ trương đa dạng hoá các loại hình sở hữu và đa phương hoá các loại hình đầu tư đã đặt ra những đòi hỏi cấp thiết của kiểm toán độc lập thì loại hình kiểm toán độc lập mới thực sự xuất hiện Điều này cho thấy kiểm toán độc lập có vai trò to lớn trong nền kinh tế thị trường Nền kinh tế thị trường đòi hỏi các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế quản lý và điều hành sản xuất kinh doanh cần phải có thông tin chính xác kịp thời và tin cậy Để đáp ứng yêu cầu này phải có bên thứ ba độc lập khách quan có trình độ chuyên môn cao, được pháp luật cho phép cung cấp thông tin tin cậy cho các bên quan tâm Bên thứ ba này chính là kiểm toán độc lập

Ở nhiều quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển quy định chỉ có các báo caó tài chính đã được kiểm toán độc lập mới có giá trị pháp lý và đáng tin cậy.Ý nghĩa

và tầm quan trọng của kiểm toán độc lập thể hiện trên các mặt sau:

 Thứ nhất, kiểm toán độc lập tạo niềm tin cho những người quan tâm

Dù hoạt động trong bất kì lĩnh vực kinh tế nào, thì kết quả hoạt động hàng năm của doanh nghiệp đều thể hiện trên báo cáo tài chính (gồm bảng cân đối kế toán, báo cáo kế quả kinh doanh, bảng lưu chuyển tiền tệ, thuyết minh báo cáo tài chính) Vì nhiều nguyên nhân khác nhau, các chủ doang nghiệp- người có trách nhiệm lập báo cáo tài chính đều muốn che dấu các phần yếu kém hoặc khuyếch trương kết quả kinh doanh của mình trên BCTC đó Trái lại những người quan tâm đến kết quả kinh doanh

và tình hình tài chính của doanh nghiệp lại đòi hỏi sự trung thực chính xác của thông

Trang 20

tin tài chính đó Vì thế cần có sự kiển tra xác nhận của người thứ ba Kiểm toán viên độc lập -những người hoạt động theo nguyên tắc bắt buộc và có đủ năng lực uy tín với

cả chủ doanh ngiệp và người quan tâm đến bản báo cáo tài chính

Những người quan tâm có thể kể đến là :

▫ Các cơ quan Nhà nước cần có thông tin trung thực để điều tiết vĩ mô nền

kinh tế Nhà nước căn cứ vào báo cáo tài chính đã được kiểm toán để xem xét các doanh nghiệp sử dụng ngân sách Nhà nước, tài sản quốc gia để hoạt động kinh doanh

có đem lại hiệu quả không, có phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của Đất nước hay không Cơ quan thuế sẽ căn cứ vào báo cáo tài chính đã được kiểm toán để tính và thu thuế trừ khi có nghi vấn mới kiểm tra lại Về nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước, các doang nghiệp thường muốn nộp ít để chiếm chiếm dụng phần thuế phải nộp Nhà nước nên họ sẽ khai tăng các khoản chi phí để làm giảm lợi nhuận và như thế thuế phải nộp

sẽ ít đi Tuy nhiên nếu được kiểm toán thì sai phạm này sẽ bị phát hiện và điều chỉnh

▫ Các cổ đông góp vốn kinh doanh hoặc mua cổ phiếu của doanh nghiệp tuy

không có trình độ để kiểm tra kỹ lưỡng bản BCTC, do đó khi có trên tay bản BCTC

đã được kiểm toán viên độc lập xác nhận là trung thực hợp lý thì họ có thể yên tâm ăn chia lợi tức và quyết định tiếp tục đầu tư hoặc không đầu tư vào doanh nghiệp đó

▫ Các ngân hàng và các tổ chức tín dụng cho doanh nghiệp vay vốn cũng

phải nắm chắc tình hình kinh doanh và khả năng trả nợ của khách hàng để quyết định cho vay, thu hồi vốn hoặc không cho vay Kiểm toán viên sẽ giúp ngân hàng hoặc những người cho vay làm việc đó

▫ Trong quan hệ kinh doanh các khách hàng có thể mua chịu.Tuy nhiên nếu có báo cáo tài chính của người mua hàng được kiểm toán viên có danh tiếng kiểm tra xác

nhận là tốt thì người bán sẵn sàng bán chịu Ngược lại xác nhận là tình hình tài chính

khó khăn thì không gì người mua mua được hàng khi chưa có tiền

▫ Trong kinh tế thị trường, người lao động có quyền lựa chọn nơi làm việc ổn

định và có mức thu nhập cao Bản báo cáo tài chính của một doang nghiệp làm ăn có lãi được kiểm toán viên xác nhận sẽ hấp dẫn được người lao động có chuyên môn trình độ và năng lực

▫ Việt Nam đang thực hiện chính sách mở cửa, đa phương hoá đầu tư không chỉ trong nước mà còn nước ngoài Việc thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài (cả trực tiếp và

Trang 21

gián tiếp) đang được Nhà nước rất quan tâm, cụ thể là đã ban hành Luật đầu tư nước

ngoài tại Việt nam nhằm khuyến khính các nhà đầu tư vào Việt Nam Những nhà đầu

tư nước ngoài luôn đòi hỏi một báo cáo tài chính được kiểm toán xác nhận về tình

hình kinh doanh của doanh nghiệp mà họ dự định đầu tư

▫ Các nhà quản trị doang nghiệp và các nhà quản lý khác cũng cần thông

tin trung thực không chỉ riêng trên các bản BCTC để có những quyết định trong mọi giai đoạn quản lý kể cả tiếp nhận vốn liếng, chỉ đạo và điều hành các hoạt động kinh doanh và hoạt động quản lý Những thông tin đó chỉ có được thông qua kiểm toán

 Thứ hai, kiểm toán độc lập góp phần hướng dẫn nghiệp vụ và củng cố nề

nếp hoạt động tài chính kế toán

Mọi hoạt động, đặc biệt là hoạt động tài chính đều bao gồm những mối quan hệ

đa dạng, luôn luôn biến đổi và được cấu thành bởi hàng loạt nghiệp vụ cụ thể Để hướng các nghiệp vụ này vào mục tiêu giải quyết tốt các quan hệ trên không chỉ cần

có định hướng đúng và thực hiện tốt mà cần thường xuyên soát xem việc thực hiện để hướng các nghiệp vụ vào quỹ đạo mong muốn Hơn nữa chính định hướng và tổ chức thực hiện tốt trên cơ sở những bài học thực tiễn soát xét và luôn uốn nắn thường xuyên những lệch lạc trong quá trình thực hiện

Nước ta đang trong quá trình chuyển đổi cơ chế kinh tế trong đó các quan hệ tài chính, chế độ kế toán thay đổi nhiều lần Trong khi đó công tác kiểm tra kiểm soát chưa chuyển hướng kịp thời, dẫn tới tình trạng vi phạm các nguyên tắc chế độ tài chính kế toán Đã có ý kiến cho rằng chưa thể cải cách công tác kiểm tra trong khi chưa triển khai toàn diện và rộng khắp công tác kế toán Tuy nhiên kinh nghiệm thực

tế đã chỉ rõ chỉ có triển khai tốt hơn công tác kiểm toán mới có thể nhanh chóng đưa công tác tài chính kế toán đi vào nề nếp

 Thứ ba, kiểm toán góp phần nâng cao hiệu quả và năng lực quản lý

Rõ ràng kiểm toán không chỉ có chức năng xác minh mà còn có chức năng tư vấn Các chủ doang nghiệp không thể kiểm soát hàng ngàn, hàng vạn nghiệp vụ tài chính kế toán đã xảy ra trong doanh nghiệp Vì vậy các chủ doanh nghiệp thường kiểm soát các nghiệp vụ tài chính kế toán cho người phụ tá Để biết được một cách chính xác, trung thực tình hình tài chính kế toán của mình vào kì hạn nào đó, người chủ doanh nghiệp thường mời các kiểm toán viên chuyên nghiệp độc lập có uy tín

Trang 22

thực hiện việc kiểm tra và nhận xét bản báo cáo tài chính của doang nghiệp mình do người phụ trách kế toán lập ra Những nhận xét của kiểm toán viên sẽ giúp cho các chủ doanh nghiệp kịp thời phát hiện những sai sót, lãng phí hoặc vi phạm pháp luật do

cố ý hay vô ý để xử lý kịp thời hay ngăn ngừa các tổn thất Điều đó giúp doanh nghiệp hạn chế được những rủi ro hay phát hiện ra thế mạnh những tiềm năng tài chính nội tại

có trong doanh nghiệp

 Từ tất cả những điều trình bày trên, có thể thấy kiểm toán có ý nghĩa trên

nhiều mặt : “Đó là quan toà công minh của quá khứ, người dẫn dắt cho hiện tại và người cố vấn sáng suốt cho tương lai”

2.2 THỰC TRẠNG CHÊNH LỆCH THÔNG TIN GIỮA BÁO CÁO TÀI CHÍNH TRƯỚC VÀ SAU KIỂM TOÁN

Từ trước đến nay, báo cáo tài chính doanh nghiệp, dù đã kiểm toán hay chưa, luôn là một trong những thông tin quan trọng và tin cậy để nhà đầu tư phân tích, đánh giá cổ phiếu và ra quyết định đầu tư Tuy nhiên trong những năm gần đây, tình trạng chênh lệch về lợi nhuận giữa báo cáo tài chính trước và sau khi kiểm toán lại khá phổ biến Việc doanh nghiệp đang từ lãi nhiều thành lãi ít, đang từ lãi thành lỗ đã làm giảm sút nghiêm trọng niềm tin của nhà đầu tư vào doanh nghiệp, vào thị trường chứng khoán, nhất là khi hiện tượng này gây thiệt hại cho nhà đầu tư

2.2.1 Trên thế giới

Công ty Viễn thông WorldCom (Hoa Kỳ)

Năm 2002, cả thế giới chấn động với vụ phá sản của cty Viễn thông WorldCom Công ty viễn thông đường dài lớn thứ hai Hoa Kỳ (WorldCom) đã bùng

nổ thần tốc thông qua 65 vụ thôn tính đạt tới giá trị thị trường 180 tỷ USD trong vòng

15 năm, sở hữu 80.000 lao động Tuy nhiên, công ty này phải nộp đơn phá sản vào ngày 21/7/2002 vì nợ nần và gian lận kế toán Vụ phá sản của WorldCom với số tài sản 110 tỷ đô, lớn gấp đôi kỷ lục của Enron năm 2001

Với phương thức chủ yếu dùng cổ phiếu thay tiền, trong nửa đầu thập niên

1990, Ebbers đã sáp nhập được trên 35 công ty, vươn sang lĩnh vực internet, dữ liệu, giao dịch thương mại điện tử Công ty được đổi tên thành WorldCom để thể hiện địa

vị mới

Trang 23

Cho đến tháng 6 năm 2002, ban kiểm toán nội bộ WorldCom phát hiện công ty này che giấu khoản chi phí 3,8 tỷ USD kể từ năm 2001, đồng thời, lợi nhuận 1,4 tỷ USD năm 2001 và 130 triệu USD trong quý 1 năm 2002 đều là báo cáo sai Ủy ban Chứng khoán và Hối đoái (SEC) buộc tội WorldCom gian lận và Bộ Tư pháp bắt đầu một cuộc điều tra hình sự các hành vi của WorldCom Giá trị cổ phiếu WorldCom từ đỉnh 63,5 USD/cổ phiếu vào ngày 18/6/1999 đã lao dốc xuống 6,74 USD/cổ phiếu và tiếp tục giảm chỉ còn 20 cent/cổ phiếu cho đến khi tuyên bố phá sản vào đêm

Không chỉ vậy, Tập đoàn Toshiba cũng phát hiện ra con số sai lệch khi thuê một tổ chức thứ ba độc lập để tiến hành điều tra việc hạch toán sổ sách kế toán Nguyên nhân được xác định là trước đó tập đoàn này đã không thể khóa sổ kế toán trong năm 2014 cũng như hoãn việc chi trả cổ tức

Ngoài ra, kết quả điều tra cũng cho thấy các sai lệch trong báo cáo lợi nhuận của Toshiba đã được che giấu rất “bài bản và điệu nghệ” Cụ thể, Chủ tịch kiêm Giám đốc điều hành (CEO) của Toshiba, ông Hisao Tanaka và hai người tiền nhiệm đã tìm cách trì hoãn đưa các khoản thua lỗ vào sổ sách Trong khi đó, cấp dưới của họ thì không thể nào chống lại chỉ đạo của cấp trên Với kết quả điều tra này, Toshiba cho biết sẽ cắt giảm lợi nhuận đã được báo cáo của hơn 6 năm

Mặc dù bị lỗ nhưng tập đoàn này vẫn liên tục đưa ra thông báo lợi nhuận ròng

đã tăng gấp 6 lần, lên 54,52 tỉ yen, tương đương khoảng 600 triệu USD nhờ doanh số bán thiết bị bán dẫn và các thiết bị cho nhà máy điện tăng mạnh [2]

2.2.2 Tại Việt Nam

 Thực trạng chênh lệch số liệu trên BCTC sau kiểm toán năm 2008

Trang 24

Sau khi trang web Stox.vn thống kê về sai lệch giữa báo cáo tài chính năm

2008 chưa kiểm toán với báo cáo đã kiểm toán thì nhà đầu tư đều giật mình xem xét lại Trong 357 doanh nghiệp niêm yết trên cả hai sàn, ít nhất 194 doanh nghiệp có sự chênh lệch về chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế trước và sau khi kiểm toán, trong đó 47 doanh nghiệp có sự chênh lệch trên 50% Chẳng hạn, FPC công bố lỗ 44,4 tỷ đồng, nhưng sau khi kiểm toán thì lỗ 83,2 tỷ đồng Tương tự, TPC từ lỗ 51 tỷ đồng thành lỗ 61,6 tỷ đồng; KDC từ lãi 142,3 tỷ đồng thành lỗ 60,6 tỷ đồng; NVC từ lãi 0,5 tỷ đồng thành lỗ 44,4 tỷ đồng; MPC từ lãi 4 tỷ đồng thành lỗ 38,1 tỷ đồng; NKD từ lãi hơn 38

tỷ đồng thành lãi chưa đầy 1 tỷ đồng; NTL từ lãi 98,7 tỷ đồng về 61,8 tỷ đồng; SJS từ lãi 175,1 tỷ đồng về 118,8 tỷ đồng [3]

 Thực trạng chênh lệch số liệu trên BCTC sau kiểm toán từ năm 2010 đến

năm 2012

Năm 2010 số lượng tổng công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam là

428 công ty trong đó theo chỉ tiêu lợi nhuận có đến 197 công ty chiếm tỷ lệ 45% có lợi nhuận giảm sau kiểm toán so với trước kiểm toán Qua năm 2011 số lượng công ty

đã có sự nhảy vọt đáng kể, tổng số công ty trên thị trường chứng khoán đã là 628 công

ty và số lượng công ty có lợi nhuận sau kiểm toán giảm so với trước kiểm toán đạt mốc 311 công ty với tỷ lệ là 50% Năm 2012 số lượng công ty niêm yết trên sàn chứng khoán đã tăng lên 652 công ty trong đó theo chỉ tiêu lợi nhuận có khoảng 314 công ty có lợi nhuận sau kiểm toán giảm so với trước kiểm toán chiếm tỷ lệ 48% Có thể nhận thấy rằng qua 3 năm từ 2010 đến năm 2012 tỷ lệ các công ty có sự thay đổi

về 11 lợi nhuận sau kiểm toán so với trước kiểm toán luôn xấp xỉ 50% Điều này cho thấy thị trường chứng khoán Việt Nam cần có nhiều biện pháp hơn nữa để hạn chế hoặc giảm bớt mức tỷ lệ này [4]

 Thực trạng chênh lệch số liệu trên BCTC sau kiểm toán năm 2014

Tính đến hết ngày 25/03/2015, có 330 doanh nghiệp công bố báo cáo tài chính kiểm toán 2014 đầy đủ, trong đó có tới 196 đơn vị có số liệu chênh lệch so với trước kiểm toán, tức chiếm tới 59% [5] , trong đó, một số doanh nghiệp đang lãi chuyển thành lỗ hoặc đang lỗ chuyển thành lãi Chẳng hạn như:

Cty Than Đèo Nai (HNX: TDN) sau kiểm toán 2014 công ty đột ngột chuyển

từ lỗ 14.4 tỷ đồng sang lãi hơn 28 tỷ đồng Theo lý giải của TDN cho việc lỗ trước

Trang 25

kiểm toán do năm 2014, các loại thuế, phí tăng trong kỳ (thuế tài nguyên tăng 2%, tiền cấp quyền khai thác…) làm chi phí sản xuất tăng Trong khi đó, Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV) chưa tổ chức nghiệm thu chi phí năm

2014 cho Công ty, do vậy Tập đoàn chưa bổ sung khoản chi phí nói trên Nếu được Tập đoàn bổ sung chi phí, Công ty đảm bảo đạt lợi nhuận năm 2014 theo kế hoạch Bởi thế, TDN có lý do phù hợp để giải trình cho việc chênh lệch lớn sau kiểm toán vì tại thời gian đó TKV chưa tổ chức nghiệm thu, quyết toán khoán chi phí năm 2014

Do vậy Công ty lập báo cáo tài chính theo số dự kiến và điều chỉnh số liệu chính thức tạo báo cáo tài chính kiểm toán năm 2014

Tương tự, sau khi có báo cáo kiểm toán, từ mức lỗ 39 tỷ đồng trong năm 2014, Hacisco (HOSE: HAS) đã lật ngược thế cờ khi lãi 4.5 tỷ đồng Nguyên do là nhờ chi phí quản lý doanh nghiệp được điều chỉnh hồi tố những khoản dự phòng các năm trước gần 42 tỷ đồng

Trang 26

Top DNNY tăng lãi và thoát lỗ sau kiểm toán 2014 (Đvt: Triệu đồng)

Nguồn: VietstockFinance

Ngoài ra, HPS, CLW, VTB, HLC, VPH, V12, PVC, PVV và MDC cũng đều là những doanh nghiệp có kết quả lãi ròng tăng từ 12% trở lên sau kiểm toán Đối với Dung dịch Khoan và Hóa phẩm Dầu khí (HNX: PVC), lãi tăng thêm gần 41 tỷ đồng sau kiểm toán nhờ lợi nhuận sau thuế tại công ty con là Công ty TNHH Dung dịch khoan M-I Việt Nam tăng 26.6 tỷ đồng Bên cạnh đó PVC giảm lợi nhuận chưa thực hiện trong hàng tồn kho tiêu thụ nội bộ mà năm 2014 đã tiêu thụ số tiền là 6.9 tỷ đồng, Công ty cũng giảm hơn 7 tỷ đồng chi phí thuế thu nhập hoàn lại tại M-I Việt Nam

Lãi ròng của Than Hà Lầm (HNX: HLC) tăng thêm hơn 8 tỷ đồng để lên mức 36.5 tỷ đồng do khi thực hiện báo cáo nghiệm thu khoán với TKV, công ty đã thực hiện tiết kiệm một số chỉ tiêu giao khoán và được TKV bù phụ các chi phí đã thực hiện

Ở chiều ngược lại, kết quả kinh doanh năm 2014 sau kiểm toán của công ty Ntaco (HOSE: ATA) chuyển từ lãi 187 triệu đồng sang lỗ 14.4 tỷ đồng Thêm vào đó, thông tin giải trình của ban lãnh đạo ATA cũng rất mơ hồ: “Năm 2014 doanh thu hoạt động kinh doanh, doanh thu tài chính có tăng so với cùng kỳ nhưng chi phí về giá vốn,

Trang 27

chi phí quản lý, chi phí tài chính vẫn duy trì ở mức cao đã làm lợi nhuận bị âm” mà không hề đề cập đến việc vì sao có sự chênh lệch quá lớn giữa trước và sau kiểm toán

Top DNNY giảm lãi và tăng lỗ sau kiểm toán 2014

Đvt: Triệu đồng

Nguồn: VietstockFinance

Bên cạnh đó cũng có những trường hợp lỗ nặng thêm sau kiểm toán như CID, SAV, S12, VNH,PFL, PVG, BTH Trong đó, sau khi công bố lỗ thêm 1 tỷ đồng tức âm 15 tỷ đồng, Dầu khí Đông Đô (HNX: PFL) đã cầm chắc án hủy niêm yết bắt buộc khi lỗ 3 năm liên tiếp do “tình hình kinh tế nói chung và thị trường kinh doanh bất động sản nói riêng có nhiều biến động không thuận lợi, lãi suất cho vay đối với lĩnh vực bất động sản vẫn còn cao và sức mua thấp dẫn đến doanh thu từ các hoạt động sản xuất kinh doanh thấp, chi phí tăng cao và một số khoản đầu tư phải trích lập

dự phòng”

Trang 28

Còn Kinh doanh Khí hóa lỏng miền Bắc (HNX: PVG) lần đầu tiên báo lỗ 3.4 tỷ đồng từ khi thành lập đến nay (2007) do biến động mạnh về giá bán LPG, rồi kiểm toán cũng lưu ý về việc PVG đang làm việc với Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN)

và cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về khoản lãi chậm nộp tiền thu về cổ phần hóa hơn 49 tỷ đồng vào năm 2012 Sau đó vào năm 2014 PVN đã xác định lại là con số 13.88 tỷ đồng và đề nghị PVG không phải thực hiện nghĩa vụ nộp số tiền trên

Trong khi các doanh nghiệp cùng ngành hồ hởi báo lãi đậm trong năm 2014 thì Thủy hải sản Việt Nhật (HOSE: VNH) lại báo lỗ thêm 4 tỷ đồng, tức âm tới 43.5 tỷ đồng sau kiểm toán Theo VNH, sở dĩ có sự chênh lệch này do công ty kiểm toán trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho chậm luân chuyển, rồi đánh giá lại chênh lệch tỷ giá nợ phải thu gốc ngoại tệ và tiền gửi ngân hàng gốc ngoại tệ…

Hay như Sông Đà 12 (HNX: S12) cũng lần đầu tiên báo lỗ 15 tỷ đồng (tăng 1.6

tỷ đồng sau kiểm toán) sau 9 năm hoạt động Và dù các năm trước doanh nghiệp này đều ghi nhận lãi nhưng vẫn “không đủ” chi trả cổ tức 3% của năm 2011 mà phải hoãn thêm 6 tháng nữa, tức tới 30/09/2015

 Từ thực trạng trên cho thấy, việc sai lệch trên báo cáo tài chính sau kiểm toán đang

là một vấn đề nan giải cho các nhà đầu tư-người chịu thiệt hại trực tiếp Khi quyết định "xuống tiền" mua hay bán cổ phiếu, nhà đầu tư cần phải tìm hiểu các thông tin

về doanh nghiệp mà báo cáo tài chính là một kênh quan trọng hàng đầu để đưa ra quyết định Nếu thông tin không chính xác, nhà đầu tư có thể có những quyết định sai lầm dẫn đến thiệt hại Còn phía các doanh nghiệp, dĩ nhiên họ cũng sẽ phải chịu thiệt hại: thứ nhất, là trực tiếp từ phía quyết định của nhà đầu tư; thứ hai, là gián tiếp khi đánh mất niềm tin của các cổ đông và thị trường Còn thị trường cũng sẽ bị những sự sai lệch có thể cố ý hoặc vô ý này làm cho méo mó

2.3 NGUYÊN NHÂN TẠO NÊN SỰ CHÊNH LỆCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH TRƯỚC VÀ SAU KIỂM TOÁN

Sự khác biệt giữa báo cáo tài chính trước và sau kiểm toán có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau như:

Trang 29

2.3.1 Từ phía doanh nghiệp

2.3.1.1 Sự khác biệt về mặt kỹ thuật, phương pháp tính và sai sót trong quá trình hạch toán

Sự khác biệt về mặt kỹ thuật, phương pháp tính và sai sót trong quá trình hạch toán là những sai sót thường thấy đối với hầu hết doanh nghiệp Với từng người, mức

độ hiểu biết về chế độ, chính sách và các văn bản hướng dẫn có thể khác nhau dẫn đến việc sai sót trong quá trình hạch toán Hay, việc nâng cấp, thay đổi phần mềm kế toán dẫn đến lỗi dữ liệu hoặc thông tin sai lệch so với ban đầu là điều không tránh khỏi

Chúng ta có thể thấy rõ thực tế qua giải trình về chênh lệch trước và sau kiểm toán của một số công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán như sau:

▫ Giải trình chênh lệch kết quả sản xuất kinh doanh trước và sau kiểm

toán của BCTC năm 2013 của Tổng cty Khí Việt Nam (PV Gas) ngày 14/04/2014 do

sai sót trong quá trình hạch toán: “Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ tăng

78 tỷ đồng và khoản giảm trừ doanh thu tăng 123 tỷ đồng so với trước kiểm toán là do phát sinh một khoản giảm trừ doanh thu với giá trị 123 tỷ đồng nhưng không ghi nhận trên mục “Các khoản giảm trừ doanh thu“ mà trừ trực tiếp vào mục “Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ” [6]

▫ Giải trình chênh lệch kết quả sản xuất kinh doanh trước và sau kiểm

toán của BCTC năm 2013 của Cty CP Everpia Việt Nam ngày 26/03/2014 do không

nắm rõ nội dung và kết cấu của tài khoản kế toán: “Điều chỉnh lại tiền và các

khoản tương đương tiền do điều chỉnh lại các khoản đầu tư ngắn hạn tương ứng

Hoặc tương tự như giải trình của Tổng cty Khí Việt Nam (PV Gas) ngày 14/04/2014

do hiểu sai về chế độ, chính sách kế toán: “Giá vốn hàng bán tăng 96 tỷ đồng so

với BCTC hợp nhất trước kiểm toán là do cty CP Sản xuất Ống thép Dầu khí Việt Nam (PV Pipe) đã áp dụng phương pháp khấu hao theo sản lượng đối với Nhà máy và dây chuyền sản xuất ống thép Tuy nhiên, do sản lượng thực tế trong năm 2013 chỉ đạt 1,5% so với công suất thiết kế nên theo quy định tại Thông tư 45/2013/TT-BTC ngày 25/04/2013 của Bộ Tài chính, PV Pipe chưa đáp ứng điều kiện để áp dụng phương pháp khấu hao này Do đó, PV Pipe đã điều chỉnh áp dụng phương pháp khấu hao theo đường thẳng làm chi phí khấu hao (được ghi nhận ở mục Giá vốn hàng bán)

Trang 30

trong báo cáo kết quả kinh doanh hợp nhất năm 2013 sau kiểm toán của PV Gas tăng thêm 96 tỷ đồng”[6]

▫ Giải trình của cty CP Quản lý Đầu tư Trí Việt về chênh lệch số liệu

trên Báo cáo tài chính hợp nhất quý IV năm 2014 ngày 30/03/2015 do lỗi phần mềm

kế toán: “Trong quá trình nhập số liệu của Báo cáo tài chính hợp nhất năm 2014 vào

phần mềm kế toán Misa và kết xuất ra sheet LCTT-GT của Báo cáo tài chính cty Đại Chúng quý IV/2014 Do phần mềm kế toán Misa của chúng tôi đang cập nhật dữ liệu nâng cấp lên phiên bản Misa 2015 theo Thông tư số 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 có hiệu lực từ ngày 01/01/2015, do đó phần mềm đã chạy sai chỉ tiêu 26

“Tiền thu hồi đầu tư góp vốn vào đơn vị khác” dẫn đến các chỉ tiêu (30), (50), (70) cũng bị thay đổi theo” [7]

Tuy nhiên, cũng cần nhấn mạnh rằng, những khác biệt về mặt kỹ thuật, phương pháp tính thường không tạo nên độ vênh quá lớn Vì thế, nếu mức chênh lệnh trên 20%, không loại trừ trường hợp doanh nghiệp có thể đang thực hiện ý đồ tối đa hóa lợi nhuận (thổi phồng lợi nhuận) hoặc muốn giấu lãi (hạ mức lợi nhuận xuống)

2.3.1.2 Sự khác biệt về thời gian công bố báo cáo tài chính được kiểm toán

Lý do là quãng thời gian cách nhau hơn 2 tháng cho sự ra đời của một Báo cáo tài chính đã được kiểm toán cũng có thể dẫn đến chênh lệch về số liệu Ví dụ Báo cáo tài chính trước kiểm toán được doanh nghiệp lập và nộp vào tầm tháng 1, trong khi

đó, Báo cáo tài chính đã kiểm toán thường là vào tầm cuối tháng 3 Trong thời gian

đó, có rất nhiều thông tin bổ sung mà các doanh nghiệp phải thay đổi các ước tính kế toán của họ

2.3.1.3 Độ phức tạp của các nghiệp vụ kinh tế và năng lực của nhân viên kế toán

Chức năng cơ bản của Báo cáo tài chính là cung cấp thông tin cho các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp nhằm hỗ trợ các đối tượng này đưa ra các quyết định tối ưu Các đối tượng bên ngoài thường được nhắc tới là các nhà đầu tư, các ngân hàng, khách hàng, nhà cung cấp Trong một nền kinh tế mà nguồn vốn chủ yếu huy động qua thị trường vốn thì vai trò của các nhà đầu tư được đặc biệt quan tâm Việc cung cấp thông tin tài chính minh bạch cho các nhà đầu tư góp phần giảm thiểu rủi ro

do “thông tin không cân xứng” Chính vì vậy, vai trò của kế toán trong một nền kinh

tế phát triển không chỉ giới hạn ở việc tuân thủ đúng các quy định hiện hành về tài

Trang 31

chính - kế toán, mà yêu cầu giờ đây đã trở nên cao hơn: cung cấp thông tin hữu ích cho nhà đầu tư Để đáp ứng yêu cầu này, người làm kế toán phải nắm rất vững các quy định hiện hành về kế toán - tài chính để không chỉ tuân thủ đúng mà còn phải biết vận dụng các quy định này một cách linh hoạt nhằm bảo đảm Báo cáo tài chính cung cấp những thông tin hữu ích nhất cho các nhà đầu tư

Hiện nay, hoạt động kinh doanh ngày càng đa dạng với quy mô của các tổ chức ngày càng lớn kéo theo sự phức tạp của các nghiệp vụ kinh tế ngày càng tăng đòi hỏi kinh nghiệm, chuyên môn của nhân viên kế toán phải vững Do đó, năng lực của đội ngũ nhân viên kế toán bị hạn chế, không được cập nhật thường xuyên cũng là một trong những nguyên nhân tạo ra sự sai sót trong thông tin kế toán trước và sau kiểm toán

Ngoài ra, theo ông Nguyễn Phan Xuân Thủy, Giám đốc Công ty Kiểm toán Gia Cát, “nếu sai lệch xảy ra ở doanh nghiệp có quy mô lớn, nhà đầu tư cũng nên tìm hiểu

kỹ hơn” Theo kinh nghiệm và quan sát của ông, doanh nghiệp có quy mô và tầm vóc lớn thường chú ý đến công tác kế toán, báo cáo sổ sách Bộ phận kế toán tại đây ít khi

mù mờ hay yếu kém về mặt chuyên môn Do đó, nếu có chênh lệch xảy ra, thường không phải do doanh nghiệp và bên kiểm toán có sự bất đồng, mà cái chính là “ý muốn” của ban lãnh đạo

2.3.1.4 Động cơ của người cung cấp thông tin

Theo Tiến sĩ Donald R Cressey (Other People’s Money, 1973), một trong những yếu tố khiến cho báo cáo tài chính có sự gian lận là do áp lực (động cơ) Tùy thuộc vào mục đích của mình mà người cung cấp thông tin có thể thực hiện các động

cơ sau đây:

 Thổi phồng lợi nhuận

Dưới đây là bảng khảo sát Đánh giá động lực để các công ty phù phép lợi

nhuận mà www.webketoan.vn đã thực hiện [8]:

Trang 32

Theo bảng khảo sát ở trên, có nhiều lý do khiến các bản báo cáo tài chính không minh bạch xuất phát từ động cơ của người cung cấp thông tin mà chủ yếu là

nhằm mục đích nâng cao giá trị cổ phiếu của doanh nghiệp (chiếm 94,1%) Giá cổ

phiếu cao đồng nghĩa với kỳ vọng cao của nhà đầu tư về khả năng sinh lợi của công

ty, từ đó gây sức ép lên các nhà lãnh đạo buộc phải tạo ra mức lợi nhuận tương ứng nếu không muốn nhận phản ứng tiêu cực từ thị trường Mặt khác, các nhà lãnh đạo cũng nắm giữ một số lượng lớn cổ phiếu, nên bản thân họ không muốn giá cổ phiếu bị sụt giảm Những lý do này khiến các nhà quản lý khó có lựa chọn nào khác hơn là tìm những thủ thuật phù phép báo cáo tài chính Tuy nhiên, những thủ thuật này chỉ là biện pháp đối phó nhằm tạo ra ảo tưởng công ty đang làm ăn phát đạt Một số kỹ thuật

mà các công ty thường sử dụng để “thổi” lợi nhuận bao gồm:

(1) Ghi nhận doanh thu không có thật hay khai cao doanh thu

Là việc ghi nhận vào sổ sách một nghiệp vụ bán hàng hoá hay cung cấp dịch

vụ không có thực Kỹ thuật thường sử dụng là tạo ra các khách hàng giả mạo thông qua lập chứng từ giả mạo nhưng hàng hóa không được giao và đầu niên độ sau sẽ lập bút toán hàng bán bị trả lại Khai cao doanh thu còn được thực hiện thông qua việc cố

ý ghi tăng các nhân tố trên Hóa đơn như số lượng, giá bán… hoặc ghi nhận doanh thu khi các điều kiện giao hàng chưa hoàn tất, chưa chuyển quyền sở hữu và chuyển rủi ro đối với hàng hoá, dịch vụ được bán

Trang 33

Ví dụ tại Việt Nam, công ty Cổ phần Kinh doanh Khí hóa lỏng Miền Bắc (PVG) công bố Báo cáo tài chính hợp nhất đã kiểm toán năm 2010 Lợi nhuận ròng trên báo cáo hợp nhất sau kiểm toán của PVG đạt 35,83 tỷ đồng, giảm 1,2 tỷ đồng so với báo cáo trước kiểm toán Đáng chú ý là đơn vị kiểm toán có ý kiến loại trừ việc ghi nhận cổ tức từ lợi nhuận năm 2010 của Công ty cổ phần Phân phối khí thấp áp (PGD), PVG tạm ghi nhận khoản cổ tức 9,28 tỷ đồng của PGD vào doanh thu hoạt động tài chính năm 2010 Tại ngày 31/12/2010, việc phân phối cổ tức nói trên chưa được đại hội cổ đông của PGD phê duyệt Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14 (VAS 14)-Doanh thu và thu nhập khác, cổ tức và lợi nhuận được chia được ghi nhận khi cổ đông có quyền nhận cổ tức Nếu công ty áp dụng VAS 14, doanh thu từ hoạt động tài chính và lợi nhuận trước thuế cho năm 2010 sẽ giảm một khoản tương ứng là 9,28 tỷ đồng

(2) Tăng doanh thu thông qua các chính sách giá và tín dụng

Một biện pháp các doanh nghiệp thường sử dụng để tăng lợi nhuận khi thấy có nguy cơ không đạt kế hoạch đặt ra là giảm giá bán hoặc nới lỏng các điều kiện tín dụng nhằm tăng lượng hàng bán ra trong những tháng cuối năm tài chính Biện pháp thứ hai là công bố kế hoạch tăng giá bán đầu năm sau Ví dụ, để tăng lợi nhuận Quí IV/2007, một công ty sản xuất ôtô có thể công bố kế hoạch tăng giá bán từ Quí I/2008, lập tức doanh thu Quí IV/2007 sẽ tăng vọt Hai biện pháp này cho phép công ty tăng lợi nhuận trong năm hiện tại, nhưng sẽ bị giảm vào các năm sau, vì thực chất công ty

đã chuyển lợi nhuận của năm sau sang năm hiện tại Mặt khác, tăng giá bán năm sau còn làm giảm khả năng cạnh tranh của công ty trên thị trường

(3) Che giấu công nợ và chi phí

Che giấu công nợ đưa đến giảm chi phí là một trong những kỹ thuật gian lận phổ biến trên BCTC nhằm mục đích khai khống lợi nhuận Khi đó, lợi nhuận trước thuế sẽ tăng tương ứng với số chi phí hay công nợ bị che giấu Đây là phương pháp dễ thực hiện và khó bị phát hiện vì thường không để lại dấu vết Có ba phương pháp chính thực hiện giấu chi phí: Không ghi nhận công nợ và chi phí, đặc biệt không lập đầy đủ các khoản dự phòng; Vốn hoá chi phí; Không ghi nhận hàng bán trả lại – các khoản giảm trừ và không trích trước chi phí bảo hành;

Trang 34

Ví dụ tại Việt Nam, Công ty cổ phần Tập đoàn Thép Tiến Lên (TLH) mở màn cho hoang mang của nhiều nhà đầu tư với việc công bố lợi nhuận ròng sau kiểm toán giảm gần 30% So với kết quả trước kiểm toán, chi phí tài chính của TLH tăng thêm 30,3 tỷ đồng do phải trích thêm dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán dẫn đến lợi nhuận trước thuế giảm một lượng tương ứng Dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán ban đầu là 27,74 tỷ đồng đã tăng lên thành hơn 58 tỷ đồng Lợi nhuận sau thuế của cổ đông công ty mẹ đạt 55,97 tỷ đồng, giảm 22,8 tỷ (-29%) so với kết quả ban đầu là 78,8 tỷ đồng

Báo cáo tài chính năm 2010 của Công ty cổ phần Basa có mã chứng khoán BAS, công ty đã vốn hóa chi phí đi vay số tiền 1,04 tỷ đồng vào giá trị công trình xây dựng cơ bản, trong khi công trình này đã ngừng xây dựng trong năm 2010 Nếu áp dụng đúng như VAS 16, thì chi phí đi vay này phải tạm ngừng vốn hóa và tính vào chi phí kinh doanh trong kỳ Nếu thực hiện đúng như VAS 16, công ty sẽ gia tăng thêm khoản lỗ với số tiền tương ứng 1,04 tỷ đồng

(4) Trì hoãn thanh lý tài sản không có nhu cầu sử dụng hoặc các khoản đầu tư không hiệu quả

Đối với các tài sản doanh nghiệp không có nhu cầu sử dụng hoặc các khoản đầu tư không mang lại hiệu quả, giải pháp tối ưu là thanh lý càng sớm càng tốt Tuy nhiên, thanh lý tài sản thường đem lại một khoản lỗ cho công ty trong năm hiện tại

Do đó, nếu lợi nhuận trong năm hiện tại có nguy cơ không đạt được mức kỳ vọng của thị trường, lãnh đạo công ty có thể không muốn thanh lý, mặc dù trì hoãn sẽ gây nhiều thiệt hại cho công ty như làm phát sinh chi phí bảo quản, cản trở không gian sản xuất Với các tài sản và các khoản đầu tư không hiệu quả thì càng nắm giữ lâu, doanh nghiệp càng lỗ

(5) Bán các khoản đầu tư hiệu quả

Ngoài trì hoãn thanh lý các khoản đầu tư không hiệu quả, công ty có thể bán các khoản đầu tư sinh lời nhằm tăng thêm lợi nhuận cho năm hiện tại Vì thế, áp dụng biện pháp trên có nghĩa là công ty tự nguyện bỏ qua tiềm năng sinh lời lớn từ các khoản đầu tư này trong những năm tiếp theo

(6) Sản xuất vượt mức công suất tối ưu

Trang 35

Trong điều kiện thông thường, mỗi doanh nghiệp thường xác định một mức công suất tối ưu, tuỳ thuộc vào năng lực nội tại cũng như điều kiện thị trường Tuy nhiên, trong trường hợp cần tăng lợi nhuận, công ty có thể quyết định sản xuất vượt mức công suất tối ưu Điều này cho phép công ty giảm giá thành đơn vị sản phẩm nhờ tận dụng chi phí cố định Mặt trái của biện pháp này là máy móc, thiết bị phải làm việc quá mức ảnh hưởng tiêu cự tới năng suất và độ bền Ngoài ra, sản phẩm làm ra nhiều, nếu không bán được, sẽ phát sinh chi phí bảo quản và hàng tồn kho lâu ngày sẽ

bị giảm giá trị

(7) Ghi nhận sai niên độ

Doanh thu hay chi phí được ghi nhận không đúng với thời kỳ mà nó phát sinh Doanh thu hoặc chi phí của kỳ này có thể chuyển sang kỳ kế tiếp hay ngược lại để làm tăng hoặc giảm thu nhập theo mong muốn

Ví dụ tại Việt Nam, trong mùa kiểm toán năm 2010, đơn vị kiểm toán có ý kiến ngoại trừ việc Công ty Cổ phần Địa ốc Đà Lạt (DLR) ghi nhận 31,15 tỷ đồng doanh thu với giá vốn 27,98 tỷ đồng từ Dự án xây dựng Cụm dân cư - Khu chung cư Yersin thành phố Đà Lạt Theo ký kết, công ty sẽ bàn giao từng phần hạng mục công ty của

dự án sau khi hoàn thành và đủ điều kiện để bố trí tái định cư UBND sẽ thanh toán cho công ty khi quyết toán dự án và đã được cơ quan độc lập kiểm toán Tuy nhiên, tại Báo cáo tài chính năm 2010, công ty đã ước tính và ghi nhận doanh thu, giá vốn như trên theo số liệu hoàn thành giữa công ty và đội thi công của công ty trong khi UBND tỉnh Lâm Đồng chưa có văn bản chỉ định UBND thành phố Đà Lạt nghiệm thu Đơn

vị kiểm toán cho biết, ngày 22/2/2011, UBND tỉnh Lâm Đồng đã có công văn thống nhất giao cho UBND thành phố Đà Lạt là đơn vị tiếp nhận từng hạng mục công trình theo từng giai đoạn giá trị công trình hoàn thành để DLR ghi nhận doanh thu Qua đây cho thấy DRL đã ghi nhận doanh thu và giá vốn Dự án xây dựng Cụm dân cư - Khu chung cư Yersin thành phố Đà Lạt sai niên độ, doanh thu và giá vốn này phải được ghi nhận ở niên độ năm 2011, nhưng đã được doanh nghiệp ghi nhận vào năm 2010

(8) Không khai báo đầy đủ thông tin

Việc không khai báo đầy đủ các thông tin nhằm hạn chế khả năng phân tích của người sử dụng Báo cáo tài chính Các thông tin thường không đựợc khai báo đầy đủ

Trang 36

trong thuyết minh như nợ tiềm tàng , các sự kiện phát sinh sau ngày khóa sổ kế toán, thông tin về bên có liên quan, các những thay đổi về chính sách kế toán

Ví dụ tại Việt Nam, trong báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính của Công ty

Cổ phần Container Phía Nam (VSG), kiểm toán viên lưu ý người sử dụng đến khoản

lỗ chênh lệch tỷ giá chưa thực hiện do đánh giá lại số dư có gốc ngoại tệ cuối năm của khoản vay dài hạn với số tiền 33,16 tỷ đồng đang được ghi nhận trên chỉ tiêu “chênh lệch tỷ giá hối đoái” Điều này giúp cho người sử dụng hiểu được, việc áp dụng TT 201/2009/TT-BTC giúp cho công ty giảm lỗ 33,16 tỷ đồng Nếu áp dụng VAS 10 thì chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế trên báo cáo tài chính của công ty năm 2010 không phải con số lỗ 40,66 tỷ đồng mà là con số lỗ 73,82 tỷ đồng Qua đó cho người sử dụng thấy một phần lợi nhuận được tạo ra (hoặc một phần giảm lỗ) là do sự thay đổi cách hạch toán mà có chứ không phải do bản thân hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty tạo

ra [9]

 Hạ thấp lợi nhuận

Trong những năm tình hình kinh doanh thuận lợi, doanh nghiệp đạt lợi nhuận cao hơn so với kế hoạch, ban lãnh đạo có thể muốn để dành lợi nhuận cho năm sau Ngược lại, khi tình hình kinh doanh khó khăn, doanh nghiệp khó đạt lợi nhuận theo kế hoạch thậm chí là thua lỗ, xu hướng giảm lợi nhuận hay tăng lỗ trong năm (nhằm giảm chi phí năm sau) cũng xuất hiện Họ làm việc này chủ yếu là vì muốn có báo cáo tài chính tốt vào đúng thời điểm, tạo niềm tin cho nhà đầu tư vào triển vọng của công

sử dụng để “giấu” lợi nhuận bao gồm:

(1) Giảm doanh thu

Giảm doanh thu là một cách để doanh nghiệp thực hiện mục tiêu trên Do vô tình hoặc cố ý, kế toán đã ghi nhận doanh thu không đúng niên độ Ngoài ra, do việc ghi nhận doanh thu thông thường được căn cứ vào hóa đơn, nên việc bán hàng mà

Ngày đăng: 27/11/2021, 08:59

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w