1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu áp dụng hệ thống quản lý năng lượng và đề xuất lộ trình triển khai tại việt nam

107 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 7,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hình 1.2 Tiêu thụ năng lượng theo ngành sử dụng năng lượng Bên cạnh cơ cấu của ngành công nghiệp và sử dụng năng lượng trong ngành công nghiệp được đánh giá dựa trên mức độ tiêu thụ năn

Trang 1

CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG

NGHIÊN CỨU VIỆC ÁP DỤNG HỆ THỐNG QUẢN LÝ NANG LUỢNG VÀ ÐỀ XUẤT

LỘ TRÌNH TRIỂN KHAI TẠI VIỆT NAM

MÃ SỐ: T2013 – 10GTV

S 0 9

S KC0 0 4 2 7 8

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT

NGHIÊN CỨU VIỆC ÁP DỤNG HỆ THỐNG

QUẢN LÝ NĂNG LƯỢNG VÀ ĐỀ XUẤT

LỘ TRÌNH TRIỂN KHAI TẠI VIỆT NAM

TP HCM, 11/2013

Trang 4

ii

DANH SÁCH NHỮNG THÀNH VIÊN THAM GIA NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

Đơn vị công tác và lĩnh vực chuyên môn

Nội dung nghiên cứu cụ

1 Lê Tấn Thanh Tùng

Trang 5

MỤC LỤC: Trang

Danh sách thành viên tham gia ii

Mục lục iii

Danh mục các hình vii

Danh mục các bảng x

Danh mục các chữ viết tắt xi

Thông tin kết quả nghiên cứu xii

Tài liệu tham khảo xiii

Chương mở đầu xiv

Chương 1: Hện trạng sử dụng năng lượng tại các cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm 1

1 Nhu cầu năng lượng tại Việt Nam 1

1.1 Hiện trạng sử dụng năng lượng tại Việt Nam 1

1.2 Sử dụng năng lượng trong ngành công nghiệp 2

1.3 Sử dụng năng lượng trong ngành điện 4

1.4 Sử dụng năng lượng trong giao thông vận tải 5

1.5 Sử dụng năng lượng trong lĩnh vực xây dựng 6

1.6 Sử dụng điện trong thương mại và hộ gia đình 8

1.7 Rào cản trong việc triển khai sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả 12

1.8 Hiện trạng sử dụng năng lượng tại Đà Nẵng 15

1.8.1 Sử dụng năng lượng và Phát thải Khí Nhà kính GHG 15

1.8.2 Cân bằng năng lượng tại Đà Nẵng 18

1.8.3 Kiểm kê phát thải khí nhà kính GHG 20

Trang 6

iv

1.8.4 Chẩn đoán ngành: Xác định các cơ hội 20

1.9 Suất tiêu hao năng lượng của Việt Nam 24

2 Sự cần thiết sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả 26

3 Sử dụng năng lượng tại các cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm 28

3.1 Cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm là gì? 28

3.2 Trách nhiệm của cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm 28

3.3 Trách nhiệm của người quản lý năng lượng tại các cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm 29

3.4 Sử dụng năng lượng tại các cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm 29

Chương 2: Phân tích việc áp dụng AEMAS tại Việt Nam 32

1 Tổng quan về AEMAS 32

1.1 Giới thiệu 32

1.2 Bối cảnh ra đời của AEMAS 32

1.3 Vai trò của AEMAS 32

1.4 Cơ cấu tổ chức 33

1.5 Các khó khăn và giải pháp 34

1.5.1 Khó khăn 34

1.5.2 Giải pháp 34

2 Hệ thống tiêu chuẩn đánh giá của AEMAS 35

3 Giới thiệu hệ thống ISO 50001:2011 36

3.1 Mô hình quản lý năng lượng theo tiêu chuẩn ISO 50001 36

3.2 Ưu điểm và hạn chế của tiêu chuẩn ISO 50001 37

3.2.1 Ưu điểm 37

3.2.2 Hạn chế 37

4 Tiêu Chuẩn Vàng (EMGS) 37

5 So sánh ISO và Hệ thống Quản lý năng lượng Tiêu Chuẩn Vàng (EMGS) 40

Trang 7

7 Đào tạo, cấp chứng chỉ quản lý năng lượng và kiểm toán viên năng lượng 43

8 Tính khả thi của việc triển khai áp dụng tiêu chuẩn quản lý năng lượng tại Việt Nam 48

8.1 Hiện trạng quản lý năng lượng tại Việt Nam 48

8.1.1 Lộ trình việc triển khai quản lý năng lượng 48

8.1.2 Khó khăn 48

8.1.3 Thuận lợi 49

8.2 Hành lang pháp lý về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả 50

8.3 Đề xuất mạng lưới tổ chức phi chính phủ 51

8.4 Điều phối viên quốc gia của AEMAS tại Việt Nam 51

8.5 Mạng lưới AEMAS Việt Nam 52

8.6 Nhóm đối tượng và Mục tiêu áp dụng AEMAS 53

8.6.1 Nhóm đối tượng 53

8.6.2 Mục tiêu đặt ra 53

8.6.3 Hoạt động trong năm của AEMAS 53

Chương 3: Đánh giá dự án thí điểm Kết quả hệ thống quản lý năng lượng theo tiêu chuẩn ISO 50001 công ty cổ phần lương thực thực phẩm Colusa – Miliket 54

1 Giới thiệu 54

2 Bài Học Kinh Nghiệm 72

Trang 8

vi

Chương 4: Lộ trình của việc triển khai quảnvlý năng lượng tại Việt

Nam 73

1 Hệ thống quản lý năng lượng theo tiêu chuẩn ISO 50001:2011 73

2 Tính khả thi của việc triển khai áp dụng tiêu chuẩn quản lý năng lượng tại Việt Nam 78

3 Lộ trình triển khai quản lý năng lượng 80

3.1 Giai đoạn chuẩn bị về nhân sự 81

3.2 Giai đoạn thí điểm 81

3.3 Giai đoạn đại trà 82

4 Kết luận 83

Phụ lục 84

Trang 9

Hình 1.1 Tiêu thụ năng lượng thương mại cuối cùng giai đoạn 1998-2007 1

Hình1.2 Tiêu thụ năng lượng theo ngành sử dụng năng lượng 3

Hình 1.3 Tổng giá trị sản phẩm của các ngành công nghiệp chính của Việt Nam 4

Hình 1.4 Tăng trưởng sản lượng của một số ngành công nghiệp sản suất sử dụng nhiều năng lượng 5

Hình 1.5 Sử dụng năng lượng trong giao thông vận tải năm 1998 – 2007 5

Hình 1.6 Sử dụng năng lượng trong sinh hoạt của Việt Nam năm 1998 – 2007 8

Hình 1.7 GDP trên đầu người của Việt Nam trong giai đoạn 1990 -2008 9

Hình 1.8 Chi tiêu bình quân đầu người trong một tháng 10

Hình 1.9 Phát thải GHG trên đầu người ở các thành phố trên thế giới 16

Hình 1.10 Tiêu thụ năng lượng sơ cấp theo ngành 17

Hình 1.11 Mức cân bằng năng lượng ở Đà Nẵng 19

Hình 1.12 Phát thải theo nguồn và người sử dụng cuối ở Đà Nẵng năm 2010 20

Hình 1.13 Biểu đồ Năng lượng tiêu thụ quy đổi của các cơ sở trọng điểm theo vùng miền 31

Hình 2.1 Cơ cấu tổ chức của AEMAS 33

Hình 2.2 Cấu trúc tổ chức của AEMAS 42

Trang 10

viii

Hình 2.3 Chứng chỉ cán bộ quản lý năng lượng do Bộ Công Thương cấp 44

Hình 2.4 Chứng chỉ kiểm toán viên năng lượng do Bộ Công Thương cấp 45

Hình 2.5 Chứng chỉ kiểm toán viên năng lượng do AEMAS cấp 45

Hình 2.6 Chứng nhận đăng kí tiêu chuẩn ISO 50001:2011 46

Hình 2.7 Chứng chỉ 1 Sao quản lý năng lượng ASEAN cấp cho Công ty TNHH Sawasdee, Thái Lan 47

Hình 2.8 Các lĩnh vực tư vấn về năng lượng và môi trường của RCEE 51

Hình 2.9 Mạng lưới phân bố AEMAS tại Việt Nam 52

Hình 3.1 Poster cổ động phong trào tiết kiệm năng lượng 63

Hình 3.2 Các đồng hồ đo đếm điện năng cho khu vực trung tâm 64

Hình 3.3 Đồng hồ đo điện năng cho từng phân xưởng sàn xuất 64

Hình 3.4 Cửa sổ lấy ánh sáng tự nhiên ban ngày 66

Hình 3.5 Bóng đèn huỳnh quang 1.2m T5 (28W) 67

Hình 3.6 Biến tần quạt cấp và hút gió lò hơi 68

Hình 3.7 Đường ống hơi được bọc bảo ôn 68

Hình 3.8 Cải tạo ống và bể thu hồi nước ngưng 69

Hình 3.9 Bẫy hơi Steangard 69

Hình 3.10 Biểu đồ suất tiêu hao năng lượng toàn nhà máy 70

Hình 3.11 Biểu đồ suất tiêu hao năng lượng khu vực lò hơi 71

Trang 11

Hình 3.13 Ông Francois Grimbert - Tổng giám đốc Bureau Veritas trao giấy chứng nhận tiêu chuẩn ISO 50001 cho Công ty Colusa-MILIKET 74 Hình 3.14 Chứng nhận ISO 50001:2011 của Công ty Colusa-Miliket do Bureau Veritas (BVC) đánh giá 75 Hình 4.1 Mô hình hệ thống quản lý năng lượng theo ISO50001:2011 76 Hình 4.2 Lộ trình đề xuất triển khai năng lượng tại Việt Nam 84

Trang 12

x

DANH MỤC BẢNG:

Bảng 1.1 Số liệu nghiên cứu (năm 2002) và khảo sát (năm 2009) 11

Bảng 1.2 Số lượng thiết bị điện trên 100 hộ gia đình năm 2002 và 2009 12

Bảng 1.3 Một số chỉ tiêu năng lượng của Việt Nam tính bình quân đầu người 25

Bảng 1.4 Bình quân năng lượng tiêu thụ của Việt Nam trong 5 năm 2007-2011 25

Bảng 1.5 Tóm Tắt Chi Phí và Lợi Ích của sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả 27

Bảng 1.6 Năng lượng tiêu thụ quy đổi của các cơ sở trọng điểm theo lĩnh vực 30

Bảng 1.7 Năng lượng tiêu thụ quy đổi của các cơ sở trọng điểm theo nhóm ngành 30

Bảng 1.8 Năng lượng tiêu thụ quy đổi của các cơ sở trọng điểm theo vùng miền 31

Bảng 2.1 So sánh ISO và EMGS 40

Bảng 2.2 Các đại diện dự án của AEMAS tại các nước 41

Bảng 4.1 Dự báo một số chỉ tiêu cơ bản phát triển năng lượng đến năm 2030 78

Bảng 4.2 Kết quả điển hình của các doanh nghiệp ứng dụng thành công ISO 50001:2011 79

Bảng 4.3 10 nước triển khai hệ thống QLNL 50001:2011 mạnh mẽ nhất 79

Trang 13

CHƯƠNG 1: HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TẠI CÁC CƠ SỞ SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG TRỌNG ĐIỂM

1 Nhu cầu năng lượng tại Việt Nam

1.1 Hiện trạng sử dụng năng lượng tại Việt Nam

Mặc dù hiện nay có sự suy giảm của nền kinh tế thế giới nhưng triển vọng tăng trưởng kinh tế của nước ta trong trung hạn là khả quan Nếu GDP tăng trưởng khoảng 6,9%/năm trong giai đoạn 2009-2018 và mức độ đàn hồi năng lượng sử dụng trên GDP là 1,7 [1] như

đã xảy ra trong thập kỷ qua thì nhu cầu năng lượng sẽ tăng khoảng 12,1%/năm, giảm hơn một chút so với thập kỷ trước Với tốc độ tăng trưởng như vậy, nhu cầu năng lượng sẽ tăng gấp ba lần trong khoảng 10 năm với tổng năng lượng tiêu thụ cuối cùng vượt quá 100 triệu TOE vào năm 2018

Nguồn: IEA, Thống kê năng lượng năm (2009)

Hình 1.1 Tiêu thụ năng lượng thương mại cuối cùng giai đoạn 1998-2007

Lượng điện năng tiêu thụ tăng gấp hơn ba lần trong giai đoạn 1999-2008 được cung cấp từ các nguồn năng lượng trong nước với chi phí năng lượng tương đối thấp Tiêu thụ năng lượng cuối cùng của nước ta có xuất phát điểm ở mức độ tương đối thấp, khoảng 10,8 triệu TOE vào năm 1998 (hình 1.1), trong giai đoạn 1998-2008 đã đảm bảo đáp ứng nhu cầu tiêu thụ năng lượng cho sự phát triển của nền kinh tế Tuy nhiên, nếu nhu cầu năng

Trang 14

lượng trong nước lại tiếp tục tăng gấp ba lần trong thập kỷ tiếp theo sẽ là một thách thức quá lớn, lĩnh vực năng lượng sẽ gặp các vấn đề về phát triển các nguồn lực của mình để đáp ứng nhu cầu năng lượng và sẽ phải dựa năng lượng nhập khẩu ngày càng nhiều, bao gồm cả than và dầu Theo tính toán quy hoạch phát triển năng lượng quốc gia, trong giai đoạn 2010-2020, đã có khả năng xuất hiện sự mất cân đối giữa khả năng cung cấp và nhu cầu sử dụng các nguồn năng lượng sơ cấp nội địa Việt Nam chuyển thành nước nhập khẩu năng lượng và mức độ phụ thuộc vào năng lượng nhập khẩu ngày một tăng Tính đến năm

2020 nước ta sẽ tiếp tục phải nhập khẩu các sản phẩm dầu, trong khi giá dầu luôn dao động

và gây áp lực rất lớn đến phát triển kinh tế-xã hội và hậu quả về tác động môi trường của việc cung và sử dụng năng lượng cũng có thể ở mức nghiêm trọng hơn mức độ hiện nay

1.2 Sử dụng năng lượng trong ngành công nghiệp

Với mức độ sử dụng khoảng 45% sử dụng năng lượng cuối cùng của Việt Nam trong năm 2006 và vẫn đang tiếp tục tăng trưởng một cách nhanh chóng, sử dụng năng lượng hiệu quả trong các ngành này phải được quan tâm đặc biệt Điều này bao gồm việc cắt giảm lãng phí năng lượng trong các ngành công nghiệp hiện nay, khả năng tiết kiệm trong ngành này khoảng từ 25-30% Tuy nhiên, với mức độ tăng trưởng của ngành công nghiệp vào khoảng trên dưới 10%/năm như đã xảy ra trong giai đoạn 1999-2006 thì vấn đề quan trọng nhất liên quan đến sử dụng năng lượng hiệu quả là hiệu suất của các nhà máy mới Với tốc

độ tăng trưởng liên tục khoảng 10%/năm thì năng lực công nghiệp mới được xây dựng trong vòng 7 năm tiếp theo sẽ bằng năng lực của toàn Việt Nam hiện nay Đặc trưng sử dụng năng lượng của các nhà máy công nghiệp mới sẽ là yếu tố quyết định đối với như cầu

sử dụng năng lượng của Việt Nam trong tương lai cũng như sự cần thiết phải nhập khẩu năng lượng Những câu hỏi chính là loại nhà máy nào nên được phát triển và những công nghệ do các nhà máy này sử dụng sẽ có hiệu suất sử dụng năng lượng là bao nhiêu

Sự thay đổi cơ cấu của ngành công nghiệp đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định nhu cầu năng lượng trong công nghiệp và cường độ sử dụng năng lượng cho một đơn

vị gia tăng của ngành công nghiệp Hình 1.2 thể hiện cơ cấu của ngành công nghiệp Việt Nam từ năm 1998 Hình 1.3 đưa ra tốc độ tăng trưởng sản xuất của một số loại hàng hóa

sử dụng nhiều năng lượng Mỗi loại ngành đó đều đã tăng nhanh hơn giá trị sản xuất công

Trang 15

ngành có cường độ sử dụng năng lượng lớn hơn

Nguồn: IEA, Thống kê năng lượng năm (2009)

Hình 1.2 Tiêu thụ năng lượng theo ngành sử dụng năng lượng

Bên cạnh cơ cấu của ngành công nghiệp và sử dụng năng lượng trong ngành công nghiệp được đánh giá dựa trên mức độ tiêu thụ năng lượng và điện năng tiêu thụ trên một đơn vị sản phẩm đầu ra (trên tấn thép thành phẩm hoặc 1000 viên gạch…) Đối với Việt nam cần phải đánh giá mức độ hiệu quả có thể cải thiện thông qua việc nâng cấp, cải tạo, tuy nhiên cũng cần tập trung vào các công nghệ sẽ được áp dụng trong các nhà máy mới

do chúng sẽ có vai trò lớn nhất về mức độ sử dụng năng lượng trong tương lai Một nhiệm

vụ quan trọng là đánh giá công nghệ sử dụng năng lượng của các công nghệ đang được sử dụng trong các cơ sở sản xuất mới, khoảng cách giữa các công nghệ đang được áp dụng và công nghệ tốt nhất và các biện pháp để khuyến khích thu hẹp khoảng cách này

Nâng cao hiệu quả trong việc sử dụng nhiên liệu trong công nghiệp bao gồm cả phát triển công nghệ nồi hơi và hiệu suất của nó để đáp ứng nhu cầu về hơi và nhu cầu nước nóng, đồng phát cũng như cải thiện công nghệ của các dây truyền sản xuất Cải thiện sử

Điện cho công nghiệp,

Trang 16

suất theo công suất của thiết bị, hiệu suất của hệ thống truyền tải và phân phối, cải thiệt điều kiện kỹ thuật và quản lý lò luyện kim, hiệu chỉnh hệ số công suất, sử dụng và điều chỉnh công suất của thiết bị làm lạnh và công nghệ chiếu sáng…

Nguồn: IEA, Thống kê năng lượng năm (2009)

Hình 1.3 Tổng giá trị sản phẩm của các ngành công nghiệp chính của Việt Nam 1.3 Sử dụng năng lượng trong ngành điện

Công suất phát điện hiện nay cũng như trong kế hoạch phát triển trong trung hạn bao gồm: thủy điện, nhiệt điện khí và dầu, và nhiệt điện than Với tốc độ tăng trưởng của nguồn điện dự báo sẽ tiếp tục ở mức 15%/năm trong thập kỷ tới, vấn đề lớn nhất liên quan tới sử dụng năng lượng hiệu quả lĩnh vực điện là đảm bảo những nhà máy nhiệt điện mới sẽ có mức độ sử dụng các công nghệ và thiết bị hiệu quả càng cao càng tốt Bên cạnh đó cũng cần lưu ý tới mục tiêu sử dụng năng lượng hiệu quả trong việc xây dựng những quy định

về giá và điều độ nguồn điện trong một thị trường phát điện cạnh tranh, và hơn nữa cần có những nỗ lực để bảo đảm nguồn cung cấp khí tự nhiên cho các nhà máy điện được thiết kế

sử dụng khí nhưng hiện nay đang phải sử dụng dầu như là một biện pháp tạm thời

Với tỷ lệ tổn thất khoảng 11% hệ thống phân phối và truyền tải điện hiện nay được cho là tương đối tốt đối với một nước đang phát triển như Việt Nam Tuy nhiên, tỷ lệ tổn

Trang 17

phát triển hệ thống trung và hạ áp đã không theo kịp tốc độ tăng trưởng của phụ tải Thêm vào đó, sự gia tăng nhanh chóng của các phụ tải mới bên cạnh chiếu sáng ở các vùng đô thị cho thấy sự cần thiết phải xem xét nhu cầu tăng hệ số bù của hệ thống điện

` Nguồn: IEA, Thống kê năng lượng năm (2009)

Hình 1.4 Tăng trưởng sản lượng của một số ngành công nghiệp sản suất sử dụng

nhiều năng lượng

1.4 Sử dụng năng lượng trong giao thông vận tải

Nguồn: IEA, Thống kê năng lượng năm (2009)

Trang 18

Ngành giao thông sử dụng khoảng ¼ tổng nhu cầu năng lượng cuối cùng của nước ta

và sẽ là yếu tố chính quyết định mức độ nhập khẩu sản phẩm dầu mỏ Các chỉ tiêu về năng lượng sử dụng trong giao thông là tiêu thu nhiêu liệu trên khách hàng-km hoặc trên hàng hóa –km Mức độ sử dụng năng lượng hiệu quả trong ngành giao thông được xác định thông qua một vài cách thông qua mức độ sử dụng năng lượng cho từng loại phương tiện hoăc ở mức độ rộng hơn như phương thức phát triển giao thông Giảm chi phí luôn là mối quan tâm quan trọng trong xây dựng các chiến lược phát triển giao thông Ở nước ta có hai

xu hướng phát triển giao thông lớn mà có liên quan lớn đến hiệu suất sử dụng năng lượng vai trò của ô tô và xe máy, xe buýt và các phương tiện giao thông đường sắt cho giao thông của khu vực đô thị và bán đô thị; Chuyên trở hàng hóa bằng đường bộ và bằng đương biển, gồm cả vận tải dường biển và đường sông Ở một vài khía cạnh nhỏ hơn, liên quan cụ thể đến sử dụng năng lượng gồm mứcđộ tiêu hao nhiên liệu của phương tiện (bao gồm cả công nghệ và cách thức sử dụng), và các tiềm năng sử dụng các loại nhiên liệu thay thế như nhiên liệu khí, hoặc xe điện

1.5 Sử dụng năng lượng trong lĩnh vực xây dựng

Trong những năm 1990, số nhà cao tầng tại Việt Nam đã tăng tới hơn 100 công trình Đến đầu năm 2009, theo ước tính con số này sẽ tăng khoảng trên dưới 4000 bao gồm các công trình thương mại quy mô lớn Ước tính này không bao gồm các dự án hiện đang trong giai đoạn lập kế hoạch, thiết kế và xây dựng Theo thống kê của Bộ Xây dựng, tổng diện tích sàn của các công trình thương mại và nhà ở cao tầng tăng trưởng với tốc độ 6.0% -7.0% mỗi năm Đề xuất này ước tính rằng khoảng 32.14 triệu mét vuông sàn công trình thương mại và nhà ở cao tầng sẽ được xây dựng tại Việt Nam trong giai đoạn 2006-2013 Điều tra cho thấy rằng khoảng 95% các công trình thương mại và nhà ở cao tầngtại Việt Nam không tích hợp tính hiêu quả trong sử dụng năng lượng vào khâu thiết kế cơ bản và vận hành công trình, với các lý do được giải thích là các rào cản tại phần tiếp theo.Dưới đây là những so sánh đặc điểm phổ biến về kiến trúc và xây dựng của các công trình không

sử dụng năng lượng hiệu quả với các công trình sử dụng năng lượng hiệu quả:

Trang 19

phân bố các công trình cao tầng trong cấu trúc đô thị Cơ sở hạ tầng thường không thể đáp ứng được các nhu cầu của nhà cao tầng

- Hình dạng và bố cục mặt bằng:

+ Hướng và hình dạng nhà thường chịu ảnh hưởng bởi những hạn chế về gianh giới + Hai loại: Cao ốc thương mại và cao ốc văn phòng cho thuê: lõi trung tâm (cho thang máy, WC, đường ống dẫn) với văn phòng mở; không gian chức năng được chia nhỏ bởi các tấm nhẹ; khu nhà văn phòng các cơ quan nhà nước: hành lang trung tâm, lõi phục

vụ nằm ngòai biên

+ Bố cục không khuyến khích chiếu sáng và thông gió tự nhiên

- Hệ thống kết cấu: khung bê tông cốt thép và tường gạch 220mm không cách nhiệt hoặc cách nhiệt kém, tấm sàn bê tông cốt thép có hoặc không có dự ứng lực

- Kiến trúc hậu hiện đại - thiết kế lớp vỏ công trình không thích ứng với điều kiện khí hậu địa phương:

+ Khung nhôm kính cố định Tính năng nhiệt của kính kém

+ Hầu hết các cao ốc đều không ốp bên ngoài trừ tầng trệt (tầng thứ nhất và/hoặc

Trang 20

+ HVAC: Hệ thống làm lạnh và sưởi kết hợp Các công trình thương mại và văn phòng cho thuê cao tầng: hệ thống Split VRV; các công trình của cơ quan nhà nước: sử dụng điều hòa cục bộ

+ Chiếu sáng: người sử dụng phụ thuộc vào chiếu sáng nhân tạo, thiết kế chiếu sáng

tự nhiên kém

+ Hiệu ứng tích hợp giữa các hệ thống và công nghệ chưa được khai thác triệt để + Công tác bảo dưỡng kém, đặc biệt là các công trình của cơ quan nhà nước

1.6 Sử dụng điện trong thương mại và hộ gia đình

Nguồn: IEA, Thống kê năng lượng năm (2009)

Hình 1.6 Sử dụng năng lượng trong sinh hoạt của Việt Nam năm 1998 - 2007

Tỉ lệ sử dụng điện trong lĩnh vực này chiếm khoảng 43% nhu cầu điện của Việt Nam

và khoảng 15% tổng nhu cầu năng lượng thượng mại của Việt Nam Do liên quan đến hàng triêu khách hàng, cần phải có các cách tiếp cận riêng biệt để đạt được kết quả của sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả Ở Việt Nam các thiết bị sử dụng điện trong gia đình chủ yếu là thiết bị chiếu sáng, tủ lạnh, bình đun nước nóng, máy giặt, máy sấy, ti vi, quạt,…Nguyên tắc cơ bản để đẩy mạnh hiệu suất của các thiết bị là giới thiệu và bắt buộc bằng các tiêu chuẩn cho một số thiết bị mới thuộc diện điều chỉnh, cung cấp các thông tin cho khách hàng và cung cấp những biện pháp khuyến khích những chương trình giảm giá

để khuyến khích chuyển đổi thị trường

Trang 21

cầu về các thiết bị điện dân dụng tăng nhanh chủ yếu là do tốc độ tăng dân số khá cao và

sự cải thiện thu nhập của các hộ gia đình

Từ năm 1990 tới 2008, tốc độ tăng dân số của Việt Nam ổn định ở mức xấp xỉ 1 – 1.2 triệu dân mỗi năm Việt Nam đang đứng thứ 13 thế giới về số dân Đến năm 2025, dự báo dân số Việt Nam sẽ đạt hơn 100 triệu và đến năm 2030 là 120 triệu người Dân số đông, tốc độ tăng dân số cao sẽ mở rộng quy mô và số lượng gia đình Do vậy, Việt Nam được xem là một thị trường có tiềm năng lớn cho các các sản phẩm tiêu dùng, trong đó bao gồm

cả các thiết bị điện dân dụng

Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam - Tổng cục Thống kê

Hình 1.7 GDP trên đầu người của Việt Nam trong giai đoạn 1990 -2008

Sự cải thiện thu nhập của các hộ gia đình Việt Nam cũng đóng vai trò quan trọng góp phần làm tăng nhu cầu tiêu thụ điện gia dụng GDP trên đầu người của nước ta tăng từ 118 USD năm 1990 lên 402 USD năm 2000 và đạt hơn 1,000 USD năm 2008 (Hình 1.7) Kinh

tế phát triển nhanh đã tạo điều kiện cho việc nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân Người dân có cơ hội tiếp cận các nhu cầu mới, có chất lượng cao hơn, từ thực phẩm, nước uống, giải trí… sử dụng trong cuộc sống hàng ngày Thu nhập tăng hàng năm, tạo điều

Trang 22

chi tiêu bình quân đầu người trong một tháng ở khu vực thành thị và nông thôn ở Việt Nam

đã tăng trưởng liên tục trong giai đoạn từ năm 1995 đến năm 2006 Theo đó, số lượng các thiết bị điện dân dụng phục vụ đời sống hàng ngày của người dân và lượng điện tiêu thụ của các thiết bị này cũng tăng ở mức cao Cho tới nay, sản xuất và kinh doanh thiết bị điện gia dụng không chỉ thu hút các nhà đầu tư trong nước mà cả nhà đầu từ nước ngoài, như

LG, Samsung (Hàn Quốc), Canon (Nhật Bản)… Việc đầu tư lớn cho các sản phẩm này làm tăng cả về số lượng và chất lượng của các thiết bị điện dân dụng Bên cạnh các sản phẩm nội, sản phẩm nhập khẩu cũng đóng vai trò quan trọng trong mở rộng quy mô thị trường thiết bị điện gia dụng

Nguồn: Niên giám thống kê Việt Nam - Tổng cục Thống kê

Hình 1.8 Chi tiêu bình quân đầu người trong một tháng

Song song với sự phát triển về quy mô sản xuất, hệ thống bán hàng (đại lý bán lẻ, siêu thị, cửa hàng,…) cũng được mở rộng khắp cả nước Người tiêu dùng ở mọi miền trên

cả nước, từ thành thị đến nông thôn, có thể dễ dàng tiếp cận và mua được các sản phẩm điện dân dụng, cũng như được hưởng các dịch vụ hậu mãi, dịch vụ chăm sóc khách hàng của nhà cung cấp, như bảo hành, bảo trì, sửa chữa, hướng dẫn sử dụng… Các sản phẩm thiết bị điện gia dụng không chỉ phong phú về chủng loại mà còn đa dạng về giá thành sản phẩm Các sản phẩm bình dân, với chất lượng chấp nhận được và giá cả hợp lý, được các

Trang 23

các sản phẩm cao cấp dành cho các hộ có thu nhập cao Việc phân hóa sản phẩm như vậy

sẽ làm tăng nhu cầu của thị trường và tăng số lượng sản phẩm được tiêu thụ

Các kết quả nghiên cứu của Viện Chiến lược phát triển-Bộ Công Thương về thiết

bị điện gia dụng (năm 2002) và khảo sát hộ gia đình do Công ty VESCO (thực hiện năm 2009) có thể sử dụng tham khảo để đánh giá xu hướng tiêu thụ điện trong khu vực dân dụng (tóm tắt kết quả ở Bảng 1.1) Theo kết quả nghiên cứu năm 2002, lượng điện tiêu thụ trung bình hàng tháng của 5.991 hộ khoảng 1,069,900 kWh/tháng Đến năm 2009, chỉ với

4939 hộ được điều tra, lượng điện tiêu thụ cũng đã đạt tới 1.048.337 kWh/ tháng Bảng 1.2 trình bày sự gia tăng về số lượng của các thiết bị dân dụng từ năm 2002 đến 2009 Nhìn chung, số lượng của các thiết bị dân dụng tăng theo từng năm Các thiết bị tiêu thụ điện lớn, như máy điều hòa nhiệt độ, tủ lạnh, máy giặt … có tốc độ tăng cao so với các loại khác Ví dụ, từ năm 2002 tới 2009, số lượng tủ lạnh tăng xấp xỉ 1,8 lần còn máy điều hòa nhiệt độ cũng tăng đến 24% Cùng với tăng về số lượng, lượng điện tiêu thụ cũng tăng với tốc độ nhanh trong thời gian trên

Bảng 1.1 Số liệu nghiên cứu (năm 2002) và khảo sát (năm 2009)

Số lượng mẫu điều tra 5.991 4.939

Lượng điện tiêu thụ trung bình của tổng số mẫu

điều tra (kWh/ tháng) 1.069.900 1.048.337

Lượng điện tiêu thụ trung bình hàng tháng của

mỗi hộ gia đình (kWh/ tháng/ hộ) 178,58 212,26

Trang 24

Bảng 1.2- Số lượng thiết bị điện trên 100 hộ gia đình năm 2002 và 2009

Trang 25

1.7 Rào cản trong việc triển khai sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả

Mặc dù có những yếu tố chỉ dẫn mạnh mẽ và tiềm năng thu hồi vốn cao thì việc đạt được những thành quả đáng kể và bền vững trong sử dụng sử dụng năng lượng hiệu quả vẫn thực sự là một thách thức đối với tất cả các nước phát triển và đang phát triển Đề cập trong một tài liệu xuất bản gần đây của Ngân hàng thế giới “Cung cấp tài chính cho sử dụng sử dụng năng lượng hiệu quả: các bài học từ Brazil, Trung Quốc, Ấn Độ và các nước khác” (World Bank, 2008), rào cản cơ bản đối với cung cấp tài chính cho sử dụng sử dụng năng lượng hiệu quả là vấn đề về thể chế vốn đã có sẵn Việc tìm hiểu làm thế nào để các

dự án về sử dụng năng lượng hiệu quả riêng rẽ có thể được tổ chức, đóng gói, cung cấp tài chính và triển khai theo cách hiệu quả là rất khó khăn Trong khi một số cơ chế ví dụ như quản lý cầu của các công ty điện lực hoặc các công ty cung cấp dịch vụ năng lượng (ESCO)

đã được phát triển để vượt qua các rào cản này, kinh nghiệm cho thấy các cơ chế về thể chế phải được thiết kế một cách cẩn thận và thích nghi với nhu cầu và tình hình địa phương Mỗi một bên khác nhau chịu trách nhiệm về các khía cạch trong triển khai dự án tiết kiệm năng luợng phải có những động lực thúc đẩy để hoàn thành dự án nếu không dự án sẽ không được triển khai

Những rào cản khác về cung cấp tài chính cho các dự án sử dụng sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả bao gồm:

- Không đầy đủ thông tin và thái độ hoài nghi, từ người sử dụng cuối cùng, các nhà

sản xuất và cung cấp thiết bị, công ty điện lực, cung cấp dịch vụ về các giải pháp sử dụng năng lượng hiệu quả, về lợi ích và chi phí và rủi ro, và các biện pháp chi phí thấp, các công nghệ mới và kinh nghiệm thực tiễn

- Thiếu hụt các chuyên gia kỹ thuật cho người sử dụng cuối cùng, các nhà sản xuất

và cung cấp, các công ty cung cấp năng lượng, các nhà lập kế hoạch của Chính phủ và các nhà cung cấp dịch vụ về các công nghệ hiện đại, kinh nghiệm thực tiễn trong sử dụng hiệu quả, chi phí và hiệu quả, kinh nghiệm thực tiễn trong lập kế hoạch cơ sở hạ tầng, lập kế

Trang 26

của các biện pháp về sử dụng sử dụng năng lượng hiệu quả, hiểu biết một cách hạn chế về ESCO như là một bên thứ ba và các mô hình hợp đồng phức tạp hơn, ví dụ như hợp đồng dựa trên cơ sở vận hành năng lượng;

- Vốn đầu tư ban đầu cao do chi phí của các thiết bị tiết kiệm năng lượng thông

thường cao hơn, năng lực hạn chế của các nhà sản xuất nội địa và thuế nhập khẩu cao, tất

cả những điều này đã không khuyến khích người sử dụng cuối cùng lựa chọn những sản phẩm có hiệu suất cao mặc dù chi phí trong cả vòng đời của sản phẩm là thấp;

- Chi phí phát triển dự án cao do cần thiết phải tiến hành kiểm toán và nghiên cứu

kỹ thuật trước khi đầu tư, các rủi ro thực sự và được cho là của các dự án sử dụng sử dụng năng lượng hiệu quả đã hạn chế sự tin tưởng về tiềm năng tiết kiệm như đã xác định bởi các nhà kiểm toán hoặc các nhà cung cấp dịch vụ và công nghệ/thiết bị với phạm vi ở từng nước

- Thiếu hụt những nguồn tài chính có thể chi trả được, do thiếu kinh nghiệm cho

vay thương mại cho các dự án sử dụng sử dụng năng lượng hiệu quả, hệ thống ngân hàng yếu ở rất nhiều nước đang phát triển đã hạn chế và thắt chặt điều khoản cho vay và do quy

mô đầu tư của các dự án sử dụng sử dụng năng lượng hiệu quả thường nhỏ đã dẫn đến chi phí giao dịch cao

- Ít quan tâm của người sử dụng cuối cùng do có sự nhìn nhận thiên lệch về các dự

án mở rộng sản xuất hơn các dự án nhằm giảm chi phí vận hành, hạn chế về tỷ lệ tiết kiệm trong tổng chi phí tài chính có được từ việc giảm chi phí vận hành của các dự án tiết kiệm năng lượng, sự không rõ ràng ai là người được hưởng lợi ích từ việc tiết kiệm năng lượng của các cơ quan công cộng và dòng lợi ích có vẻ mơ hồ của tiết kiệm năng lượng;

- Chi phí năng lượng thấp đã làm giảm động cơ của khách hàng sử dụng năng lượng

một cách hiệu quả hơn

Trang 27

1.8 Hiện trạng sử dụng năng lượng tại Đà Nẵng

1.8.1 Sử dụng năng lượng và Phát thải Khí Nhà kính GHG

Hình 1.9 minh họa rằng hầu hết các thành phố đang phát triển ở Đông Nam Á bao gồm cả ba thành phố thí điểm (là Đà Nẵng, Cebu và Surabaya) hiện đang có mức tiêu thụ năng lượng và phát thải GHG trên đầu người tương đối thấp so với nhiều thành phố khác trên thế giới Tuy nhiên, khi GDP bình quân đầu người của các thành phố này tăng lên thì tiêu thụ năng lượng và phát thải GHG có thể sẽ đi theo một đường hướng khác như thể hiện ở các thành phố khác trong khu vực EAP như Bangkok, Seoul và Tokyo

Rõ ràng là con đường mà Seoul và Tokyo áp dụng đưa ra một lựa chọn khác xanh hơn kêu gọi giảm đáng kể cường độ năng lượng của các hoạt động kinh tế (mức sử dụng năng lượng trên GDP) và cả những cải thiện về hiệu quả năng lượng Hiện nay chỉ có Cebu là đang có mức cường độ năng lượng làm cho tuyến phát triển này tương đối thẳng trong khi Đà Nẵng và Surabaya sẽ phải đi chặng đường dài hơn

để giảm cường độ năng lượng trong nền kinh tế của mình Sơ đồ dưới đây cũng chứng minh rằng chỉ đầu tư riêng vào hiểu quả năng lượng là không đủ để các thành phố này duy trì con đường phát triển bền vững, mà đối với hầu hết các thành phố đã phát triển khác, phát thải GHG trên đầu người có thể “ổn định’’ hoặc thậm chí bắt đầu tăng lên khi

có tăng trưởng GDP trừphi thực hiện các biện pháp tổng thể hơn Các biện pháp hay

kế hoạch như vậy cần phải tính đến các động lực làm tăng nhu cầu năng lượng và phát thải, ví dụ như sử dụng đất, vận tải công cộng, phát điện phân tán và cơ cấu phát điện – là các bộ phận hợp thành của một chương trình SUEEP tổng thể

Trang 28

Nguồn: SUEEP (năm 2010)

Hình 1.9 Phát thải GHG trên đầu người ở các thành phố trên thế giới (tGHG trên đầu người – vào khoảng năm 2006, trừ Đà Nẵng, Surabaya và Cebu – 2010)

Gia tăng nhanh dân số và nâng cao tiêu chuẩn sống ởba thành phố thí điểm SUEEP đang làm tăng đáng kể tiêu thụ năng lượng Về quy mô dân số, Surabaya là thành phố lớn nhất với 2,8 triệu dân năm 2010, Đà Nẵng là 0,9 triệu và Cebu là 0,8 triệu Hiện nay Đà Nẵng có mức gia tăng tiêu thụ tăng lượng hàng năm là 11,7%, với mức này thì nhu cầu năng lượng của thành phố sẽ tăng gấp đôi trong vòng 6 năm tới Mức tăng sử dụng năng lượng hàng năm ở Surabaya và Cebu tương ứng là 4,9% và 4,3%, vẫn ở mức cao đáng kể Giao thông là một ngành có nhu cầu năng lượng lớn (xem biểu đồ dưới đây) Ngành này cũng như ngành xây dựng nắm giữ các cơ hội lớn nhất để tăng quy mô hiệu quả tiết kiệm năng lượng ở cấp độ thành phố đặc biệt là ở Đà Nẵng do chính quyền thành phố có mức độ kiểm soát cao và tầm ảnh hưởng lớn đối với hai lĩnh vực này

Trang 29

Nguồn: SUEEP (năm 2012)

Hình 1.10 Tiêu thụ năng lượng sơ cấp theo ngành

Phân nhóm phát thải GHG theo ngành cho thấy khá phù hợp với mô hình sử dụng năng lượng của ba thành phố nhưng cũng có một số khác biệt Loại nhiên liệu dùng cho phát điện là yếu tố chính để xác định cường độ phát thải GHG từ sử dụng năng lượng Ở Surabaya, điện được sản xuất chủ yếu từ các nhà máy nhiệt điện chạy than chiếm tỷ lệ lớn trong danh mục phát thải GHG và chiếm tới 36% tổng mức phát thải của thành phố Cả Cebu và Đà Nẵng đều có sản lượng điện từ các nguồn năng lượng tái tạo khá lớn (Cebu có 36% sản lượng điện từ địa nhiệt và thủy điện còn Đà Nẵng có 16% sản lượng phát từ thủy điện) Do đó, phát thải GHG ở Cebu và Đà Nẵng thấp hơn đáng kể (tính theo đầu người) và chủ yếu là từ nhiên liệu diesel và xăng sử dụng cho giao thông và phát điện cục bộ (từ máy phát diesel) Sử dụng phát điện từ các nguồn năng lượng tái tạo phân tán (chẳng hạn như pin mặt trời) đang mới ở giai đoạn bắt đầu ở cả ba thành phố thí điểm Ngoài ra, biểu giá điện và chính sách giá (như trợ giá) nằm ngoài khả năng kiểm soát của thành phố mà đây lại là một trong những công cụ chính để thúc đẩy hiệu quả tiết kiệm năng lượng từ bên cầu Điều này cho thấy tầm quan trọng của sự cộng tác chặt chẽ giữa chính quyền thành phố và trung ương trong việc xây dựng một cách tiếp cận

Trang 30

tối ưu để đáp ứng nhu cầu điện năng đang tăng nhanh một cách tin cậy, hiệu quả và thân thiện với môi trường

1.8.2 Cân bằng năng lượng tại Đà Nẵng

Đà Nẵng là một thành phố cảng lớn và là trung tâm đô thị lớn nhất của khu vực miền Trung của Việt Nam Với cảng biển lớn thứ tư trong cả nước, Đà Nẵng là thành phố cửa ngõ quan trọng vào khu vực Tây Nguyên của Việt Nam, Lào, Cămpuchia, Thái Lan và Miến Điện Sau giai đoạn tăng trưởng dân số tương đối chậm (1,7% mỗi năm) từ năm

2000 đến năm 2007, Đà Nẵng dường như đã sẵn sàng cho tình trạng dân số tăng nhanh trong 10 năm tới với số dân khoảng 1,65 triệu người vào năm 2020

Ban lãnh đạo cấp tiến của Đà Nẵng có mong muốn đưa thành phố theo hướng tăng trưởng xanh và có hiệu quả năng lượng cao hơn, đây cũng là ưu tiên quốc gia Quyết định của Ủy ban nhân dân thành phố phê duyệt “Kế hoạch phát triển Đà Nẵng – Thành phố môi trường” đã tạo nền tảng cho quy hoạch thành phố trong bối cảnh bền vững và khuyến khích nâng cao hiệu quả nguồn lực Bằng việc theo đuổi các chính sách tiết kiệm và hiệu quả năng lượng đầy tham vọng ở cấp độ thành phố, Đà Nẵng có thể dẫn đầu không chỉ ở trong nước mà còn có thể ở quy mô rộng hơn trong vùng Đông Nam Á Hiện cũng đang có sự tham gia đáng kể của Ngân hàng Thế giới và hỗ trợ mạnh mẽ của chính phủ cho phát triển bền vững ở Đà Nẵng

Trang 31

Nguồn: SUEEP – Tháng 7/ 2012

Hình 1.11 Mức cân bằng năng lượng ở Đà Nẵng

Cân bằng năng lượng của Đà Nẵng trong hình 1.11 minh họa các dòng năng lượng

và hiện trạng sử dụng năng lượng của thành phố Năm 2010, thành phố đã sử dụng khoảng 17,9 PJ năng lượng ở các dạng khác nhau Khoảng 45% năng lượng sử dụng của Đà Nẵng liên quan đến việc sử dụng các loại nhiên liệu khác nhau cho các phương tiện giao thông trong khi công nghiệp chiếm 21% tiêu hao năng lượng trong thành phố Sử dụng năng lượng khu vực sinh hoạt chiếm 13% trong tổng năng lượng tiêu thụ trong khi các dịch vụ thương mại và khu vực công chỉ chiếm một tỷ trọng rất nhỏ 16% năng lượng tiêu dùng còn lại là ở các ngành khác

Trang 32

1.8.3 Kiểm kê phát thải khí nhà kính GHG

Tình hình phát thải GHG cũng tương tự như vậy Năm 2010, thành phố Đà Nẵng đã phát thải tổng số khoảng 1,54 triệu tấn CO2 quy đổi từ tất cả các ngành Nhiên liệu cho giao thông chiếm 46% tổng mức phát thải GHG toàn thành phố trong khi cung cấp điện năng cho thành phố chiếm 31% phát thải địa phương Các con

số này cho thấy UBND Đà Nẵng cần chuyển trọng tâm của mục tiêu tăng cường hiệu quả năng lượng khá ấn tượng của mình vào giải quyết vấn đề gia tăng tiêu hao năng lượng

và phát thải có liên quan đến giao thông

Hình 1.12 Phát thải theo nguồn và người sử dụng cuối ở Đà Nẵng năm 2010

1.8.4 Chuẩn đoán ngành: Xác định các cơ hội

Giao thông: Mặc dù thực tế là đa phần mức tiêu hao năng lượng sử dụng và phát

thải các bon ở Đà Nẵng có liên quan đến giao thông, hiện tại Đà Nẵng vẫn có mức tiêu thụ năng lượng bình quân đầu người cho giao thông thấp hơn nhiều thành phố khác

Trang 33

tư nhân đối với xe hơi đang tăng lên ở thành phố này thì Đà Nẵng sẽ cần có hệ thống xe buýt nhanh (BRT) triển khai ở một hoặc nhiều vùng trong thành phố tính đến năm 2016.Thành phố cần một tiếp cận quy hoạch tổng thể gắn kết quy hoạch giao thông với quy hoạch sử dụng đất trung hạn và dài hạn để đảm bảo lồng ghép quy hoạch cho các tuyến xe bus nhanh BRT, sử dụng đất, tín hiệu giao thông đường phố, chính sách dừng đỗ, định giá phí đăng ký phương tiện, và chính sách về giành đường riêng cho người đi bộ được phối kết hợp với nhau Tuy nhiên, trong tương lai ngắn hạn điều quan trọng đối với thành phố là khuyến khích sử dụng xe đạp và xe đạp điện nhiều hơn

Các tòa nhà công trong thành phố: Tiêu dùng năng lượng tại các công sở của thành

phố Đà Nẵng tương đối thấp (97 kWh/m2) theo cơ sở dữ liệu TRACE.Tuy nhiên, sử dụng điện trong các tòa nhà công đang tăng lên Hiện đã có nhiều nỗ lực nâng cao hiệu suấtsử dụng năng lượng trong các tòa nhà công như chương trình thay thế bóng đèn chiếu sáng, và thực hiện bố trí lịch sử dụng hệ thống điều hòa không khí Tuy nhiên, thay thế các máy điều hòa không khí cũ và những thiết bị kém hiệu quả khác, cải thiện thiết

kế và xây dựng tường baoche cho các công trình xây dựng cũng giúp tăng thêm cơ hội nâng cao hiệu quảsử dụng năng lượng Theo báo cáo, UBND thành phố Đà Nẵng đang quy hoạch xây dựng một tòa tháp văn phòng cao để tập trung các sở ban ngành địa phương hiện đang đóng phân tán rải rác trong thành phố vào một tòa tháp hành chính riêng Thông qua việc xây dựng một tòa nhà xanh kiểu mẫu đạt được tiêu chuẩn LOTUS (hệ thống đánh giá tòa nhà xanh ở Việt Nam) hoặc các quy chuẩn xây dựng ưu việt khác về các công trình xây dựng có hiệu suất năng lượng cao, UBND thành phố sẽ gửi đi một thông điệp mạnh mẽ về tầm quan trọng của thiết kế kiểu này và tính khả thi của nó trong điều kiện môi trường kinh tế và khí hậu của Đà Nẵng

Chất thải rắn: Mức phát sinh chất thải rắn ở Đà Nẵng vào khoảng 0,68

kg/người/ngày, nằm ở mức trung bình của các thành phố trong cơ sở dữ liệu TRACE Hiện nay bãi chôn lấp rác ở Đà Nẵng chưa có bố trí phương tiện thu giữ khí mê tan (do đó mất đi cơ hội tận dụng nguồn năng lượng này), và dự kiến sẽ hết công suất phục vụ vào

Trang 34

5-10 năm sau khi công trình đóng cửa và được bịt kín Sau đó mức khí giảm dần theo thời gian cho tới khi chất lượng khí thu hồi quá thấp để có thể phát điện hoặc chất lượng khí giảm xuống đến điểm có thể làm cho thiết bị phát điện bị xuống cấp Thành phố có thể xem xét phát điện từ rác thải như là một giải pháp dài hạn nhờ tiềm năng lớn của nó đối

với phát điện

Nước: Sử dụng nước sạch bình quân đầu người ở Đà Nẵng khoảng 118 lít/ngày,

nằm ở phía các thành phố có mức tiêu thụ thấp trong cơ sở dữ liệu TRACE Tuy nhiên, tổn thất nước từ hệ thống chiếm khoảng 25% vào năm 2011 Ngành nước hiện đối mặt với nhiều thách thức bao gồm tỷ lệ rò rỉ cao, thiếu cơ sở hạ tầng ở quy mô thành phố,

và ý thức về tiết kiệm từ phía người dùng Thành phố có thể thực hiện các biện pháp để cải tạo hoặc phát triển cơ sở hạ tầng trung tâm của mình thông qua ưu tiên các nguồn nước tiết kiệm và hiệu quả năng lượng, nâng cấp máy bơm, và giải quyết tỷ lệ tổn thất nước cao Về phía người dùng, thiếu ý thức là thách thức lớn nhất

Điện: Nhu cầu điện hiện tại ở Đà Nẵng đạt đỉnh vào khoảng 250 MW; tăng lên đáng

kể từ năm 2007, khi tổng nhu cầu công suất đỉnh chỉ là 176 MW Quản lý phụ tải đỉnh và tăng hiệu quả cung cấp điện năng là những thách thức lớn, cũng như các cơ hội áp dụng công nghệ lưới điện thông minh Trong ngành điện, các can thiệp trực tiếp của thành phố nhằm tác động tới hiệu quả tiết kiệm năng lượng chí giới hạn tới bên cầu và cung cấp nguồn phát mới từ các nguồn năng lượng tái tạo phân tán, nhấn mạnh sự cần thiết đối với việc nâng cao một cách có hệ thống tầm ảnh hưởng của thành phố tại cấp độ quốc gia để tác động tới ngành Trong quy mô quyền hạn trực tiếp của thành phố, quản

lý bên cầu thành công sẽ giúp tiết giảm nhu cầu mở rộng công suất và có thể giúp san bằng phụ tải đỉnh Những tiến bộ gần đây trong công nghệ đo đếm thông minh và điều khiển lưới điện đem lại nhiều cơ hội đáng kể cho thành phố trong việc hợp tác với các bên cung cấp điện để thúc đẩy và khai thác hiệu quả tiết kiệm điện từ phía nhu cầu

Chiếu sáng công cộng: Đà Nẵng có mức tiêu thụ điện tính theo mỗi cột đèn đường

tương đối thấp (416 kWh/cột) so với các thành phố khác trong cơ sở dữ liệu TRACE Điều này là nhờ sử dụng các phụ kiện chiếu sáng tiết kiệm điện và thực hiện ở các chế độ tiết giảm chiếu sáng khác nhau triển khai trên toàn thành phố Hiện vẫn còn cơ hội để cải

Trang 35

LED và xây dựng các quy chế mua sắm có các yêu cầu về tiết kiệm năng lượng khắt khe hơn.Một điều quan trọng là phải tính tới tốc độ tăng trường và chất lượng cải thiện cuộc sống của Đà Nẵng Có thể trong tương lai sẽ có thay đổi thị hiếu chiếu sáng, dẫn tới nhu cầu chiếu sáng nhiều hơn trong hệ thống gia tăng nhu cầu năng lượng nhiều hơn cho chiếu sáng ở mức độ cao hơn ở nhiều khu vực hơn trong thành phố Đà Nẵng

có thể chuẩn bị cho sự dịch chuyển này bằng cách tiếp tục và thúc đẩy hơn nữa các chương trình tiết kiệm và hiệu quả năng lượng trong chiếu sáng vốn đã rất tốt của mình Ngoài ra, vận hành tối ưu (thời gian tắt và bật) và chế độ duy tu bảo dưỡng có thể giúp giảm hơn nữa tiêu thụ năng lượng trong lĩnh vực này

Quản lý nhà nước: Chính quyền thành phố Đà Nẵng đã thực hiện một khối

lượng công việc đầy ấn tượng trong lĩnh vực năng lượng, đặt nền móng cho các

nỗ lực tiếp theo trong thời gian tới Việc này đã giúp tiết giảm tốc độ tăng trưởng nhu cầu năng lượng, mặc dù theo dự báo tăng trưởng dân số trong vòng 10 đến 20 năm tới, cần phải hành động nhiều hơn Các đơn vị công ích liên quan của các ngành nước, rác thải, và ngành điện đã làm rất tốt công việc của họ trong việc xác định các cơ hội để nâng cao tiết kiệm năng lượng bên cạnh việc tìm kiếm các giải pháp để thu giữ năng lượng tiềm tàng từ các nguồn năng lượng tái tạo khác nhau Rõ ràng là các nỗ lực này cho thấy năng lực đáng kể của thành phố có thể đưa vào thực hiện chính sách năng lượng và sáng kiến quy hoạch trong tương lai Trong tương lai, quản lý năng lượng cần được ưu tiên

vì nó sẽ giúp nâng cao kinh nghiệm thực tiễn trong quản lý năng lượng trong nội bộ thành phố cũng như thu hút sự tham gia những bên liên quan chính khác chưa đóng vai trò quan trọng trong các nỗ lực quy hoạch năng lượng thành phố cho tới nay Những thông lệ thực hành trong thực tiễn quản lý nhà nước tốt hơn bao gồm không chỉ trong việc tăng cường giám sát và theo dõi dữ liệu mà còn trong việc cải thiện cách thức mua sắm và mong muốn tự nguyện “lãnh đạo bằng cách làm gương” thông qua giới thiệu các chiến lược thực hiện các quy chế thực hành tốt nhất vì lợi ích của các

cơ sở kinh doanh và các hộ gia đình ở địa phương Do đó, điều quan trọng là Đà Nẵng

Trang 36

và thiết lập một cách tiếp cận lồng ghép hài hòa với lĩnh vực năng lượng Trong khi vẫn duy trì cơ cấu chính sách hiện tại của Đà Nẵng, nhóm công tác này cần hoạt động dưới sự điều phối của Sở Công Thương Nhóm công tác của thành phố không nên giới hạn trọng tâm của mình vào các hoạt động của nhà nước mà cũng không nên giới hạn tư cách thành viên nhóm chỉ là công chức nhà nước

1.9 Suất tiêu hao năng lượng của Việt Nam

Theo thống kê, tổng nhu cầu điện trên đầu người kWh/ người của Việt Nam năm 2006 là 656 kWh/người , cao hơn một số nước trong khu vực như Indonesia, thấp hơn các nước phát triển như Hàn Quốc, Trung Quốc và hiện ngày càng tăng Tiêu thụ điện gia dụng trung bình năm 2006 của Việt Nam là 245 kWh/đầu người, cao hơn mức của các nước đang phát triển Hơn nữa, ý thức người dân chưa được nâng cao khiến việc sử dụng điện trong hộ gia đình, cơ quan còn lãng phí đáng kể Điều này khiến nguồn cung năng lượng càng khó khăn hơn, gây áp lực lớn cho ngành điện nhất là vào mùa khô

Theo báo cáo của các chuyên gia trong Hội nghị phổ biến luật sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả được Bộ Công thương tổ chức ngày 30/11/2010 tại Hà Nội , trong giai đoạn 1999-2006, sử dụng năng lượng ở nước ta đã tăng 12,4%/năm trong khi GDP chỉ tăng 7,2% Hệ số đàn hồi giữa sử dụng năng lượng/GDP là 1,7 Cường

độ năng lượng của nền kinh tế Việt Nam tăng từ 387 kgoe/US$ 1000 của GDP năm

1998 lên 569 kgoe/US$1000 của GDP năm 2006 (giá cố định năm 2000)

Năng lượng tiêu hao cho một đơn vị sản phẩm trong nhiều ngành công nghiệp của nước ta cao hơn nhiều so với các nước phát triển Cường độ năng lượng trong công nghiệp của Việt Nam cao hơn Thái Lan và Malaysia khoảng 1,5 - 1,7 lần Tỉ lệ giữa tăng trưởng nhu cầu năng lượng so với tăng trưởng GDP của nước ta đến gần 2 lần, trong khi ở các nước phát triển tỉ lệ này là dưới 1

Trang 37

Năng lượng

sinh học 24788 24868 24967 25060 25042 Điện năng 7789 8662 9796 10951 11499

GDP (USD 2000)/người 402 539 649 676

Tiêu thụ năng lượng thương mại trên

đầu người (kgOE/người/năm)

156 265 331 368

Tiêu thụ điện trên đầu người

(kWh/người/năm) 289 567 789 883

Cường độ năng lượng

(kgOE/1000 USD năm 2000) 387 444 290 280

Trang 38

2 Sự cần thiết sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả

Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả đang nhanh chóng trở thành một trong những công cụ chính sách quan trọng nhất trên toàn cầu nhằm đáp ứng nhu cầu năng lượng đang tăng nhanh chóng Trong mọi trường hợp sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả luôn là một giải pháp mang lai lợi ích cho tất cả các bên (win-win option) khi nó mang lại lợi ích cho cả chính phủ, những người tiêu dùng năng lượng và môi trường Những chương trình như vậy có thể bảo tồn những nguồn năng lượng sơ cấp tự nhiên, giảm thiểu tác động đến môi trường và lượng CO2 của ngành năng lượng, giảm thiểu mức độ phụ thuộc của các quốc gia vào nguồn nhiên liệu hóa thạch và như vậy nâng cao an ninh năng lượng cho quốc gia đó, giảm thiểu đình trệ về cơ sở hạ tầng và tác động của thiếu hụt năng lượng tạm thời Về khía cạnh kinh tế, các hỗ trợ cho các đầu tư sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả được nhìn nhận như là các chính sách “không hối hận” khi các chi phí tài chính cho nó thường rất nhỏ và với tỷ lệ hoàn vốn tài chính cao Sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả

đã được đa số các nước trên thế giới đánh giá là một trong những lựa chọn ưu tiên thực hiện chiến lược phát triển bền vững trong Thế kỷ 21

Nỗ lực mạnh mẽ để cải thiện việc sử dụng năng lượng một cách hiệu quả là chìa khóa

để giải quyết an ninh cung cấp năng lượng đang ngày trở nên là một thách thức như đã được dự báo, cũng như vấn đề giảm chi phí năng lượng và ô nhiễm môi trường

 Lợi ích của sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả: Có rất nhiều loại lợi ích mà

sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả có thể mang lại, trong đó một số lợi ích dễ nhận dạng hơn số còn lại Các loại lợi ích hữu hình chính bao gồm: lượng năng lượng (kWh và MJ) và cacbon (MTCO2) tiết kiệm được; hoãn lại đầu tư mới để phục vụ nhu cầu năng lượng do mức tăng nhu cầu năng lượng thấp hơn; lợi ích từ việc cải thiện an ninh năng lượng và giảm nhập khẩu năng lượng; phát triển kinh tế và tạo việc làm nhờ tăng đầu tư vào tiết kiệm năng lượng

Trang 39

Bản chất của tác

động

Tác động lên Mô tả

Lợi ích ngắn hạn Chính phủ Tăng cường hiểu biết và năng lực trong việc xây

dựng chính sách năng lượng cho đất nước; giảm tiêu thụ năng lượng trong các tòa nhà và hoạt động của chính phủ

Doanh nghiệp Việc tăng cường sự quan tâm tới sử dụng năng

lượng và đầu tư cho tiết kiệm năng lượng sẽ giảm chi phí sản xuất và nâng cao năng lực cạnh tranh

Người tiêu dùng

Cường độ năng lượng của các sản phẩm và dịch

vụ sẽ giảm, các thiết bị sẽ sử dụng ít năng lượng hơn, nhờ đó về lâu dài sẽ giảm chi phí cho người tiêu dùng

Lợi ích dài hạn Chính phủ Chính phủ sẽ có thể thực hiện các mục tiêu quốc

gia về giảm mức sử dụng năng lượng Đầu tư cần thiết để đáp ứng tăng trưởng về nhu cầu năng lượng sẽ giảm Giảm phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính

Doanh nghiệp Năng lực cạnh tranh tổng thể của nền công

nghiệp Việt Nam sẽ được cải thiện Người tiêu

dùng

Phát triển kinh tế ở Việt Nam sẽ bền vững hơn

và ít chịu ảnh hưởng của sự gián đoạn nguồn cung hơn

Trang 40

3 Sử dụng năng lượng tại các cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm

3.1 Cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm là gì?

Cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm là cơ sở sử dụng năng lượng hằng năm với khối lượng lớn theo quy định của Chính phủ

Theo Luật sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; Nghị định số

21/2011/NĐ-CP Cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm là các cơ sở sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, đơn vị vận tải có tiêu thụ năng lượng tổng cộng trong một năm quy đổi ra một nghìn tấn dầu tương đương (1000 TOE) trở lên; các công trình xây dựng được dùng làm trụ sở, văn phòng làm việc, nhà ở; cơ sở giáo dục, y tế, vui chơi giải trí, thể dục, thể thao; khách sạn, siêu thị, nhà hàng, cửa hàng có tiêu thụ năng lượng tổng cộng trong một năm quy đổi ra năm trăm tấn dầu tương đương (500 TOE) trở lên

3.2 Trách nhiệm của cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm

1 Xây dựng và thực hiện kế hoạch hằng năm và 5 năm về sử dụng năng lượng tiết kiệm

và hiệu quả phù hợp với kế hoạch sản xuất, kinh doanh; báo cáo cơ quan nhà nước có thẩm quyền tại địa phương kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng năng lượng tiết kiệm

và hiệu quả

2 Xây dựng chế độ trách nhiệm đối với tập thể, cá nhân liên quan đến việc thực hiện kế hoạch sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả

3 Chỉ định người quản lý năng lượng

4 Ba năm một lần thực hiện việc kiểm toán năng lượng bắt buộc

5 Áp dụng mô hình quản lý năng lượng theo hướng dẫn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

6 Thực hiện quy định về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả trong xây dựng mới, cải tạo, mở rộng cơ sở

Ngày đăng: 27/11/2021, 08:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w