Mục tiêu: Thông qua nghiên cứu, đề tài xác định thực trạng thể lực của nam sinh viên năm thứ nhất và năm thứ hai, và xây dựng tiêu chuẩn đánh giá thể lực dựa trên các tiêu chí thể lực c
Trang 2Mã số: T 2013-168
Chủ nhiệm đề tài: GV.ThS Nguyễn Văn Quận
TP HCM, Tháng 11 năm 2013
Trang 3KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KH&CN CẤP TRƯỜNG
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG THỂ LỰC NAM SINH VIÊN HAI NĂM ĐẦU TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TPHCM
Mã số: T 2013-168
Chủ nhiệm đề tài: GV.ThS Nguyễn Văn Quận
Thành viên đề tài: GV.ThS Trần Văn Tuyền
GV.CN Lưu Thanh Phương
TP HCM, Tháng 11 năm 2013
Trang 4Tp HCM, Ngày 22 tháng 11 năm 2013
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1 Thông tin chung:
- Tên đề tài: Đánh giá thực trạng thể lực nam sinh viên hai năm đầu Trường Đại học Sư
phạm Kỹ thuật TP.Hồ Chí Minh
- Mã số: T 2013-168
- Chủ nhiệm: ThS Nguyễn Văn Quận
- Cơ quan chủ trì: Khoa Lý luận chính trị Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM
- Thời gian thực hiện: Tháng 01 năm 2013 đến tháng 11 năm 2013
2 Mục tiêu:
Thông qua nghiên cứu, đề tài xác định thực trạng thể lực của nam sinh viên năm thứ nhất
và năm thứ hai, và xây dựng tiêu chuẩn đánh giá thể lực dựa trên các tiêu chí thể lực của Bộ Giáo dục và đào tạo quy định, phù hợp với đặc điểm của Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật, nhằm
tăng cường hiệu quả công tác quản lý và giảng dạy giáo dục thể chất của nhà trường
3 Tính mới và sáng tạo:
+ Đánh giá được thực trạng thể lực của nam sinh viên năm thứ I và năm thứ II của Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM
+ Xây dựng hệ thống các bảng đánh giá thang điểm, phân loại cho SV năm thứ I và thứ
II theo từng tiêu chí riêng lẽ, cũng như đánh giá một cách tổng hợp toàn diện các tiêu chí làm
cơ sở cho việc đánh giá thể lực chung cho sinh viên Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành
phố Hồ Chí Minh
4 Kết quả nghiên cứu:
- Xác định thực trạng thể lực nam sinh viên năm thứ 1 và năm thứ 2 Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM
- Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá trình độ thể lực nam sinh viên Trường Đại học Sư phạm
Kỹ thuật TP.HCM
5 Sản phẩm: - Một báo cáo kết quả nghiên cứu
- Một bài báo
6 Hiệu quả, phương thức chuyển giao kết quả nghiên cứu và khả năng áp dụng:
Sản phẩm nghiên cứu sẽ được chuyển giao cho Khoa Lý luận chính trị và Thư viện trường Để làm tài liệu giảng dạy và quản lý Giáo dục thể chất ở Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM
Trang 5MỤC LỤC Trang
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
MỤC LỤC DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT DANH MỤC CÁC ĐƠN VỊ ĐO LƯỜNG DANH MỤC CÁC BIỂU BẢNG DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ PHẦN MỞ ĐẦU CHƯƠNG I TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Quan điểm của Đảng và nhà nước về giáo dục thể chất trong trường học 4
1.1.1 Giáo dục thể chất là một mặt của mục tiêu giáo dục toàn diện 4
1.1.2 Giáo dục con người toàn diện theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh 5
1.1.3 Quan điểm đường lối của Đảng và nhà nước về GDTC 6
1.2 Thể chất và đánh giá về thể chất 9
1.2.1 Tố chất sức nhanh 11
1.2.2 Tố chất sức mạnh 12
1.2.3 Tố chất sức bền 13
1.2.4 Tố chất mềm dẻo 14
1.2.5 Tố chất khéo léo 14
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 20
2.1 Phương pháp nghiên cứu 20
2.1.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu 20
2.1.2 Phương pháp kiểm tra hình thái cơ thể 20
2.1.2.1 Chiều cao đứng 20
2.1.2.2 Cân nặng 20
2.1.3 Phương pháp kiểm tra sư phạm 21
2.1.3.1 Chạy 30m xuất phát cao 21
2.1.3.2 Bật xa tại chỗ 21
2.1.3.3 Lực bóp tay thuận 22
2.1.3.4 Chạy 5 phút tùy sức 22
2.1.3.6 Chạy con thoi 4 x 10m 23
2.1.4 Phương pháp kiểm tra chức năng sinh lý 24
2.1.4 1 Test đo dung tích sống 24
2.1.4.2 Test đo chỉ số công năng tim 24
2.1.5 Phương pháp toán thống kê 26
CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29
3.1 Thực trạng thể lực của nam sinh viên Trường ĐHSPKT.TPHCM 29
3.1.1 Lựa chọn các tiêu chí đánh giá 29
3.1.2 Đánh giá thực trạng thể chất của nam sinh viên năm I và năm II 29
3.1.2.1 Thực trạng thể chất của sinh viên nam năm I 29
3.1.2.2 Thực trạng thể chất của sinh viên nam năm II 30
Trang 6Sư phạm Kỹ thuật TPHCM 34
3.2.1 Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá phân loại từng chỉ tiêu 34
3.2.2 Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá theo điểm từng chỉ tiêu 36
3.2.3 Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá tổng hợp theo điểm 38
3.2.4 Kiểm định tiêu chuẩn đánh giá trình độ thể chất nam sinh viên Trường ĐH SPKT TPHCM 39
CHƯƠNG IV BÀN LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 41
4.1 Bàn về thực trạng thể chất của sinh viên Trường ĐHSPKT 41
4.1.1 Về hình thái 41
4.1.1.1 Chiều cao đứng 41
4.1.1.2 Cân nặng 41
4.1.2 Về các tố chất thể lực 42
4.1.3 Về các tiêu chí chức năng sinh lý 43
4.2 So sánh thực trạng thể chất của nam SV năm I và năm II của Trường ĐH SPKT với tiêu chuẩn đánh giá thể lực HS, SV của Bộ GD&ĐT 43
4.3 Bàn về tiêu chuẩn đánh giá trình độ thể lực sinh viên 47
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 50
A Kết luận 50
B Kiến nghị 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7BGD&ĐT - Bộ giáo dục và Đào tạo
Trang 93.1 Thực trạng thể chất nam SV năm thứ I 29 3.2 Thực trạng thể chất nam SV năm thứ II 30 3.3 So sánh các tiêu chí thể chất nam SV năm thứ I và SV năm thứ II 31 3.4 Phân loại theo từng tiêu chí thể chất sinh viên nam năm I 34 3.5 Phân loại theo từng tiêu chí thể chất sinh viên nam năm 2 35 3.6 Thang điểm đánh giá thể chất theo từng tiêu chí nam SV năm thứ I 36 3.7 Thang điểm đánh giá thể chất theo từng tiêu chí nam SV năm thứ II 37 3.8 Bảng điểm đánh giá tổng hợp thể chất của nam sinh viên Trường
3.9 Kiểm định tiêu chuẩn đánh giá thể lực của nam sinh viên năm I
năm II Trường ĐH.SPKT TP.HCM 40 4.1 So sánh các tiêu chí thể lực nam SV năm thứ I và SV năm thứ II với
tiêu chuẩn đánh giá thể lực của Bộ GD&ĐT 45
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
3.1 So sánh các tiêu chí hình thái giữa nam SV năm I và SV năm II 32 3.2 So sánh các tiêu chí thể lực giữa SV năm I và SV năm II 32 3.3 So sánh các tiêu chí chức năng sinh lý giữa nam SV năm thứ I và
3.4 So sánh giá trị trung bình các tiêu chí thể lực giữa nam SV năm I,
SV năm II và Tiêu chuẩn của Bộ GD & ĐT 46
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thể thao trường học là một bộ phận quan trọng của phong trào thể dục thể thao nước nhà, một mặt của mục tiêu giáo dục đào tạo, nhằm tạo ra một lớp người tri thức mới, có năng lực, có phẩm chất chính trị, có sức khỏe đáp ứng yêu cầu chuyên môn nghề nghiệp và có khả năng tiếp cận với thực tiễn sản xuất của nền kinh tế thị trường, đáp ứng cho sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước
và bảo vệ tổ quốc Thực hiện tốt chương trình Giáo dục thể chất nội khóa, phát triển mạnh các hoạt động thể thao của học sinh, sinh viên, bảo đảm mục tiêu phát triển thể lực toàn diện, nâng cao chất lượng giáo dục và hoàn thiện con người, góp phần xây dựng cuộc sống văn hóa, tinh thần lành mạnh
Với tinh thần đó, Chỉ thị 2003/89 của Bộ Giáo dục và Đào tạo đề ra yêu cầu các trường Đại học, Cao đẳng và trung học chuyên nghiệp cần xây dựng tiêu chuẩn đánh giá trình độ thể lực của sinh viên phù hợp với thực tiễn của từng trường, từng vùng và từng ngành nghề Bởi vậy, một số trường như Đại học Huế (Nguyễn Thái Sinh năm 2003) [32], Trường Cao đẳng Sư phạm Nhạc-họa Trung ương (thạc sĩ Trần Thị Nguyệt Đán-1999) [46] , Trường Đại học Cần Thơ (Lê Quang Anh-2005) [25] v.v một số năm gần đây đã xây dựng tiêu chuẩn đánh giá thể lực cho sinh viên của trường mình và đã mang lại hiệu quả cao trong việc nâng cao chất lượng công tác giáo dục thể chất, qua đó đánh giá chính xác và có khoa học trình độ phát triển thể lực của sinh viên mỗi trường và trở thành cơ sở
để người giáo viên xây dựng và đổi mới phương pháp giảng dạy, nâng cao hiệu quả công tác giảng dạy
Thực hiện Quyết định số 53/2008/QĐ-BGDĐT ngày 18 tháng 9 năm 2008 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành Quy định việc đánh giá xếp loại thể lực học sinh, sinh viên, và theo tinh thần Chỉ thị 36CT/TW của Ban bí thư Trung ương Đảng, trước những yêu cầu cấp thiết của nhà trường và của Bộ môn giáo dục thể chất trong việc đánh giá chính xác, khách quan trình độ thể lực của sinh viên, nhằm nâng cao hiệu quả công tác giáo dục thể chất, tôi mạnh dạn nghiên
Trang 11cứu đề tài: “Đánh giá thực trạng thể lực của nam sinh viên hai năm đầu
Trường Đại học Sư Phạm Kỹ Thuật Thành phố Hồ Chí Minh”
2 Tổng quan đề tài nghiên cứu
Trên thế giới, ở các nước như Cộng hòa Liên bang Nga, các nước Đông Âu
cũ, Trung quốc…đã được tiến hành rất nổ lực và nghiên cứu rất tốt trong việc xây
dựng những tiêu chí rèn luyện thân thể cho thanh thiếu niên Các nước trong khối
EU, Mỹ và các nước trong khu vực Đông Nam Á cũng đã nghiên cứu và xây dựng
các tiêu chuẩn rèn luyện thân thể và kiểm tra thể lực
Ở nước ta vấn đề này trong nhiều năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu
xây dựng tiêu chuẩn đánh giá thể lực cho sinh viên như: Công trình nghiên cứu thể
chất sinh viên toàn quốc của Lê Văn Lẫm năm 2000, Nghiên cứu đánh giá thực
trạng thể lực của sinh viên Ðại học Cần thơ (luận văn thạc sĩ Lê Quang Anh
2005), Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá thể lực cho sinh viên trường Đại học Khoa
học xã hội và nhân văn TP Hồ Chí Minh (luận văn thạc sĩ Hoàng Hà 2005), Xây
dựng chuẩn đánh giá sự phát triển thể lực cho sinh viên trường Đại học Quy
Nhơn (luận văn thạc sĩ Trương Hồng Long, 2005)…
3 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đánh giá thực trạng thể lực của nam sinh viên hai
năm đầu Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM Thông qua nghiên cứu, đề tài
xây dựng tiêu chuẩn đánh giá trình độ thể chất của nam sinh viên năm thứ 1 và
năm thứ 2, dựa trên các tiêu chí thể lực của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định, phù
hợp với đặc điểm của trường ĐHSPKT
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
a Xác định thực trạng trình độ thể lực của nam sinh viên năm thứ 1 và năm
thứ 2
b Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá trình độ thể chất cho sinh viên năm thứ 1
và năm thứ 2 Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM
Trang 124 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
- Cách tiếp cận: Bằng các phương pháp đo đạc các chỉ tiêu thể lực để đánh giá thể chất sinh viên trường theo tiêu chuẩn rèn luyện thân thể của Bộ Giáo dục
và đào tạo quy định
- Phương pháp nghiên cứu: Chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu thường dùng trong nghiên cứu lĩnh vực giáo dục thể chất như sau: Phương pháp phân tích tổng hợp tài liệu, phương pháp kiểm tra hình thái cơ thể, Phương pháp kiểm tra sư phạm, Phương pháp kiểm tra chức năng sinh lý, phương pháp toán thống kê
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài:
Thông qua nghiên cứu sẽ là cơ sở cho việc lượng hóa việc tác động có chủ đích của công tác GDTC đối với sự phát triển thể chất của sinh viên, là tài liệu định hướng cho việc xây dựng, cập nhật, đổi mới chương trình GDTC ngày càng mang tính thiết thực, hiệu quả đối với sức khỏe người học, góp phần vào công tác đào tạo toàn diện của nhà trường
6 Giới hạn của đề tài
Trong đề tài này chúng tôi chỉ có điều kiện nghiên cứu đối tượng là nam sinh viên hai năm đầu đang theo học môn Giáo dục thể chất có sức khỏe bình thường Cần có những nghiên cứu mở rộng thêm ở đối tượng sinh viên nữ và nam sinh viên các năm thứ 3 và thứ 4, cũng như những sinh viên có sức khỏe yếu, dị tật để có kết luận đầy đủ và phù hợp hơn với điều kiện đặc thù của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM
7 Cấu trúc của đề tài
Đề tài được trình bày trong 51 trang bao gồm: Phần mở đầu; các nội dung chính của đề tài gồm: Chương 1: Tổng quan những vấn đề nghiên cứu, chương 2: phương pháp và tổ chức nghiên cứu, chương 3: Kết quả nghiên cứu, Chương 4: Bàn luận kết quả nghiên cứu và phần kết luận, kiến nghị
Trang 13CHƯƠNG I
TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Quan điểm của Đảng và nhà nước về giáo dục thể chất trong trường học
1.1.1 Giáo dục thể chất là một mặt của mục tiêu giáo dục toàn diện
Giáo dục thể chất là một bộ phận quan trọng của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa nhằm đào tạo thế hệ trẻ phát triển toàn diện, có tri thức, có đạo đức và hoàn thiện thể chất Trong các trường Đại học - Cao đẳng và Trung học chuyên nghiệp, giáo dục thể chất cho học sinh - sinh viên được coi là một mặt giáo dục, vừa là một nhiệm vụ quan trọng, góp phần bồi dưỡng thế hệ trẻ trở thành những con người phát triển toàn diện, có sức khỏe dồi dào, có thể chất cường tráng, có dũng khí kiên cường để kế tục sự nghiệp của Đảng và nhân dân một cách đắc lực Cùng với các mặt hoạt động khác, quá trình giáo dục thể chất giúp cho học sinh - sinh viên hoàn thiện nhân cách và các phẩm chất khác, nhằm đáp ứng đòi hỏi của cuộc sống và nghiệp vụ chuyên môn
Tư tưởng về con người phải được phát triển hài hoà giữa thể chất và tinh thần đã xuất hiện trong kho tàng văn hoá chung của xã hội loài người từ nhiều thế kỷ trước đây Từ nhà triết học cổ Hi Lạp A-ris-tốt, những nhà theo chủ nghĩa nhân đạo thời phục hưng như Mông-ten, những người theo Chủ nghĩa Xã hội không tưởng như Xanh-Xi-Mông, Ô-oen, đến những nhà Bác học và giáo dục nổi tiếng của Nga như M.V.Lômônôxốp,V.G.Bêlinski, N.G.Strecnưsepski và nhiều người khác nữa, đã ra sức phát triển, bảo vệ tư tưởng của học thuyết về phát triển hài hoà giữa năng lực thể chất và tinh thần của con người [14]
Các Mác và Ăng-Ghen đã chứng minh sự phát triển của giáo dục phụ thuộc vào điều kiện sống vật chất, khám phá ra bản chất xã hội, bản chất giai cấp, đồng thời còn chỉ ra rằng trong Xã hội Chủ nghĩa Cộng Sản tương lai con người phát triển toàn diện là một tất yếu khách quan, bởi vì đó là nhu cầu của xã hội Nhấn mạnh vấn đề này Mác đã viết: “kết hợp với lao động sản xuất với trí
Trang 14dục và thể dục Đó không những là biện pháp để tăng thêm sức sản xuất của xã hội, mà còn là biện pháp duy nhất để đào tạo con người toàn diện.”[8]
Lê-Nin tiếp tục đi sâu và phát triển sáng tạo học thuyết về giáo dục toàn diện Người nhấn mạnh: “Thanh niên đặc biệt cần sự yêu đời và sảng khoái, cần
có thể thao lành mạnh, thể dục, bơi lội, tham quan, các bài tập thể lực, những hứng thú phong phú về tinh thần: học tập, phân tích, nghiên cứu và cố gắng phối
hợp tất cả các hoạt động ấy với nhau.”[7]
1.1.2 Giáo dục con người toàn diện theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Chủ tịch Hồ Chí Minh là một danh nhân văn hoá thế giới và được thế giới công nhận danh hiệu Anh hùng giải phóng dân tộc Suốt đời Bác đã hy sinh vì độc lập dân tộc, lãnh đạo tài tình cuộc Cách mạng giải phóng dân tộc qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ thành công Bác là người trung thành với học thuyết Mác- Lê Nin Trong chỉ đạo công tác Cách mạng và lãnh đạo sự nghiệp giải phóng dân tộc Bác cũng rất quan tâm đến công tác TDTT, coi đó là mục tiêu quan trọng trong sự nghiệp giáo dục Cộng sản Chủ nghĩa cho thanh niên
Tháng 3 năm 1941, trong chương trình cứu nước của mặt trận Việt Minh, Bác Hồ đã nêu rõ: “Khuyến khích và giúp đỡ nền TDTT quốc dân, làm cho nòi giống thêm khỏe mạnh”, và ngay sau khi giành chính quyền tháng 8 năm 1945, Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã quan tâm đến việc chăm lo sức khỏe của nhân dân Trong lời kêu gọi toàn dân tập thể dục tháng 3 năm 1946 Người khẳng định vị trí của sức khoẻ trong chế độ mới: “Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khoẻ mới thành công Mỗi người dân yếu ớt, tức làm cho cả nước yếu ớt, mỗi người dân khoẻ mạnh tức làm cả nước mạnh khoẻ” Và vì thế “luyện tập thể dục, bồi bổ sức khoẻ là bổn phận của mỗi người dân yêu nước.”[20]
Trong thư gởi Hội nghị Cán bộ thể dục thể thao toàn Miền Bắc ngày 31 tháng 03 năm 1960 Bác đã dạy: “Muốn lao động sản xuất tốt , công tác và học tập tốt, thì cần có sức khoẻ Muốn có sức khoẻ thì nên thường xuyên luyện tập
Trang 15thể dục thể thao Vì vậy, chúng ta nên phát triển phong trào thể dục thể thao cho rộng khắp” Đồng thời Bác còn căn dặn: “Cán bộ thể dục thể thao phải học tập chính trị, nghiên cứu nghiệp vụ và hăng hái công tác” nhằm phục vụ sức khoẻ nhân dân Về vị trí của TDTT trong xã hội, Người khẳng định: “Là một trong những công tác cách mạng khác”
Tư tưởng bao trùm của Bác Hồ trong việc đặt nền tảng xây dựng nền TDTT mới của nước ta là: Sự khẳng định có tính chất cách mạng của công tác TDTT là nhu cầu khách quan của một xã hội phát triển, là nghĩa vụ của mỗi người dân yêu nước Mục tiêu cao đẹp của TDTT là bảo vệ, tăng cường sức khỏe của nhân dân, góp phần cải tạo nòi giống, làm cho dân cường nước thịnh Những
ý tưởng đó được xuyên suốt trong các văn kiện, bài viết của Bác
1.1.3 Quan điểm đường lối của Đảng và nhà nước về GDTC
Trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, cũng như trong sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước ta hiện nay, thực hiện tư tưởng chỉ đạo của Hồ Chủ tịch, Đảng và nhà nước ta không ngừng tạo điều kiện để biến học thuyết phát triển con người toàn diện thành hiện thực
Chỉ thị 36 CT/TW ngày 24/03/1994 của Ban bí thư Trung ương Đảng (khoá VII) giao trách nhiệm cho Bộ Giáo dục & Đào tạo và Tổng cục TDTT thường xuyên phối hợp chỉ đạo tổng kết công tác GDTC Cải tiến chương trình giảng dạy, tiêu chuẩn RLTT, đào tạo giáo viên TDTT cho trường học các cấp, tạo điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất để thực hiện chế độ GDTC bắt buộc ở tất cả các trường học, làm cho việc tập luyện TDTT trở thành nếp sống hằng ngày của hầu hết học sinh- sinh viên, qua đó phát hiện và tuyển chọn được nhiều tài năng thể thao cho đất nước
Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam Năm 1992 tại điều
41 quy định: “Nhà nước thống nhất quản lý sự nghiệp phát triển TDTT, quy định chế độ GDTC bắt buộc trong trường học, khuyến khích và giúp đỡ phát triển các hình thức tổ chức TDTT tự nguyện của nhân dân, tạo điều kiện cần thiết để
Trang 16không ngừng mở rộng các hoạt động thể thao chuyên nghiệp, bồi dưỡng các tài năng thể thao” [19]
Luật Giáo dục được Quốc hội khoá IX, Nuớc Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 02/12/1998 vả Pháp lệnh TDTT được Uỷ ban thường
vụ Quốc hội thông qua tháng 09/2000 quy định: “Nhà nước coi trọng TDTT trường học, nhằm phát triển và hoàn thiện thể chất cho tầng lớp thanh thiếu niên
và nhi đồng GDTC là nội dung giáo dục bắt buộc đối với học sinh sinh viên được thực hiện theo hệ thống giáo dục quốc dân từ mần non đến đại học TDTT trường học bao gồm việc tiến hành chương trình GDTC bắt buộc và tổ chức hoạt động TDTT ngoại khoá cho người học Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho học sinh, sinh viên được tập luyện TDTT phù hợp với đặc điểm lứa tuổi và điều kiện từng nơi GDTC là một bộ phận quan trọng để thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện, góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa…” [21]
Văn kiện Đại hội VIII của Đảng đã chỉ rõ: “Giáo dục - Đào tạo cùng với khoa học công nghệ phải thực sự trở thành quốc sách hàng đầu, chuẩn bị tốt hành trang cho thế hệ trẻ đi vào thế kỷ XXI…” Đồng thời khẳng định “…Sự cường tráng về thể chất là nhu cầu của bản thân con người, là vốn quý để tạo ra tài sản, trí tuệ và vật chất cho xã hội, chăm lo cho con người về thể chất là trách nhiệm của toàn xã hội của các cấp, các ngành, các đoàn thể…” [13]
Văn kiện Đại hội IX của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã khẳng định mục tiêu tổng quát của chiến lược phát triển kinh tế xã hội từ năm 2000 đến 2010 là: “
…Đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân ”
Chỉ thị 17/CT-TW ngày 23/10/2002 của Ban bí thư Trung ương Đảng nêu
rõ “…Đẩy mạnh hoạt động TDTT ở trường học, đảm bảo mỗi trường học đều có giáo viên TDTT …Tăng cường đầu tư của nhà nước trong lĩnh vực TDTT ” [9]
Trang 17Để tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển sự nghiệp thể thao nước nhà, Thủ tướng chính phủ đã ban hành chỉ thị 133/TTG về việc xây dựng quy hoạch ngành TDTT, trong đó ghi rõ: “Ngành TDTT phải xây dựng định hướng có tính chất chiến lược, trong đó quy định các môn thể thao và các hoạt động mang tính phổ cập đối với mọi đối tượng, lứa tuổi, tạo thành phong trào tập luyện rộng rãi của thể thao quần chúng, khỏe để xây dựng và bảo vệ tổ quốc”
Bộ Giáo dục và đào tào đã kịp thời có những chỉ thị, quyết định chỉ đạo thực hiện công tác giáo dục thể chất trong trường học, như việc ban hành Quy chế Giáo dục thể chất và Y tế trường học trong nhà trường các cấp Theo quyết định số: 14/2001 ngày 03 tháng 5 năm 2001, Bộ tiếp tục khẳng định vị trí vai trò Giáo dục thể chất là hoạt động giáo dục bắt buộc nhằm giáo dục, bảo vệ và tăng cường sức khoẻ, phát triển thể chất, góp phần hình thành và bồi dưỡng nhân cách đáp ứng yêu cầu giáo dục toàn diện cho học sinh, sinh viên [6]
Gần đây Bộ Giáo dục và đào tạo - Uỷ ban Thể dục thể thao thống nhất ban hành Thông tư liên tịch số 34/2005/TTLT-BGD& ĐT- UBTDTT ngày 29/12/2005, hướng dẫn phối hợp quản lý và chỉ đạo công tác Thể dục thể thao trường học giai đoạn 2006-2010, xác định “Thể thao trường học là một bộ phận đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao sức khoẻ và thể lực, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, ý chí, giáo dục nhân cách cho học sinh, sinh viên góp phần đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước…, phát triển TDTT trường học theo hướng đổi mới và nâng cao chất lượng giờ học thể dục nội khoá, đa dạng hoá các hình thức hoạt động ngoại khoá, đồng thời tổ chức chặt chẽ việc kiểm tra tiêu chuẩn rèn luyện thân thể đối với người học…”
Luật Thể dục, thể thao được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2006 mục 2 điều 20 quy định Giáo dục thể chất là môn học chính khoá thuộc chương trình giáo dục nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng vận động cơ bản cho người học, thông qua các bài tập và trò chơi vận động, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện [27]
Trang 18Nghị quyết số 16/NQ-CP của Thủ tướng chính phủ ngày 14 tháng 01 năm
2013 ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết NQ/TW ngày 01 tháng 12 năm 2011 của Bộ chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về thể dục thể thao đến năm 2020, nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục thể chất và hoạt động thể thao trong trường học, góp phần đào tạo năng khiếu và tài năng thể thao cho nước nhà
Tóm lại: Chăm lo con người về thể chất là trách nhiệm của toàn xã hội nói chung, của ngành TDTT nói riêng Đó cũng chính là phương hướng cơ bản, quan trọng nhất của nền giáo dục ở nước ta
Để đảm bảo cho công tác TDTT phát triển đúng hướng, cần tạo sự quản lý thống nhất của Nhà nước, xúc tiến quá trình xã hội hoá TDTT trong các tổ chức và
cơ sở hoạt động, nhất là trong mạng lưới rộng lớn các trường học từ mẫu giáo đến
đại học, bởi vì thể thao học đường là cái nôi đào tạo tài năng thể thao cho đất nước 1.2 Thể chất và đánh giá về thể chất
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO): “Sức khoẻ là một trạng thái hài hoà về thể chất, tinh thần, xã hội mà không có nghĩa là có không bệnh tật hay thương tật, cho phép mỗi người thích ứng nhanh chóng với những biến đổi của môi trường, giữ được lâu dài khả năng lao động và lao động có kết quả” Sức khoẻ bao gồm sức khoẻ cá thể, sức khoẻ gia đình, sức khoẻ xã hội, sức khoẻ cộng đồng, là một trong những yếu tố cơ bản để học tập, lao động sản xuất, phát triển kinh tế, xây dựng đất nước
Để con người được phát triển toàn diện và cân đối, cần phải đảm bảo sự thống nhất giữa các mặt giáo dục Mối tương quan giữa GDTC và các mặt giáo dục khác là mối tương quan hổ trợ lẫn nhau Không thể tách rời giữa GDTC với tinh thần của con người Trong hoạt động TDTT, cũng như các mặt văn hoá, giáo dục khác, phải có cách tiếp cận đồng bộ, trong đó đức dục đóng vai trò chủ đạo thì mới đạt được hiệu quả tốt trong các mặt giáo dục khác Bên cạnh đó, cần phải
sử dụng đồng bộ các nhân tố, phương tiện, hình thức hoạt động TDTT, sao cho
Trang 19phát triển toàn diện các tố chất thể lực, năng lực vận động và có kỹ năng kỹ xảo rộng rãi, phong phú cần thiết cho cuộc sống và cho hoạt động chuyên môn
Sự cần thiết chuẩn bị thể lực toàn diện cho cuộc sống, phản ánh qui luật tự nhiên của sự phát triển thể chất của con người Từ thời kỳ cổ xưa, cuộc sống tự nhiên đòi hỏi các thành viên những yêu cầu nhất định về sự chuẩn bị thể lực, sự khéo léo, sức nhanh, sức bền, khả năng đảm bảo nhiệm vụ săn bắt, chiến tranh, phòng ngừa thiên tai Do đó, ở một số bộ tộc có những quy định nghiêm ngặt về
sự chuẩn bị thể lực Dù trình độ phát triển sản xuất xã hội đến một mức độ nào
đó, thì vai trò quyết định giá trị phát triển để có tư chất thể lực vẫn có trong đời sống xã hội và tự nhiên Sự phát triển của chúng luôn là bộ phận quan trọng của giáo dục con người
Tố chất thể lực là một phần quan trọng của các nhân tố cấu thành thể chất của cơ thể người Thể chất theo nhiều tác giả Trung Quốc 8-1982 (trong hội nghị nghiên cứu khoa học toàn quốc) cho rằng: Thể chất là chất lượng của cơ thể người Chúng tổng hòa các đặc điểm tương đối ổn định về cấu trúc hình thái cơ thể, chức năng sinh lý, nhân tố tâm lý được biểu hiện trên cơ sở di truyền và khả năng đạt được (trong đời sống, trong lao động, huấn luyện thể thao…) Thể chất biểu hiện rất nhiều mặt, trong dó có tố chất thể lực Nhiều tác giả sinh lý và sư phạm thể thao cho rằng: Tố chất thể lực bao gồm các năng lực nhanh, mạnh, bền,
… của cơ thể
Trong hoạt động thể thao, tố chất thể lực là nội dung rất quan trọng trong huấn luyện thể lực cho VĐV Sự nâng cao thành tích thể thao không thể không dựa vào sự phát triển cao các tố chất thể lực Trong huấn luyện thể lực, thì tố chất thể lực là các lọai năng lực biểu hiện khi vận động của VĐV Ngoài các yếu tố tri thức, đạo đức, ý chí, kỹ thuật, chiến thuật; thể lực là một trong những nhân tố quan trọng nhất, quyết định hiệu quả hoạt động thể chất của con người, trong đó
có hoạt động TDTT Rèn luyện thể lực là một trong hai đặc điểm cơ bản, nổi bật của quá trình hoạt động GDTC Có năm tố chất thể lực cơ bản là: Sức mạnh, sức nhanh, sức bền, mềm dẻo và khéo léo (năng lực phối hợp vận động) Dựa trên cơ
Trang 20sở sinh lý thể dục thể thao và lý luận phương pháp thể dục thể thao về tố chất thể
lực chúng tôi đi sâu phân tích đặc điểm của từng tố chất thể lực
1.2.1 Tố chất sức nhanh
Sức nhanh là một tố chất quan trọng, là năng lực cơ thể vận động với tốc
độ nhanh, là khả năng thực hiện động tác trong một khoảng thời gian ngắn nhất
Nó là một tổ hợp thuộc tính chức năng của con người Nó qui định đặc tính tốc độ động tác, tần số động tác cũng như thời gian phản ứng vận động
Các hình thức đơn giản của sức nhanh tương đối độc lập với nhau, đặc biệt
là thời gian phản ứng vận động hầu như không tương quan với tốc độ động tác Những hình thức trên là thể hiện các năng lực tốc độ khác nhau
Các hình thức phức tạp của sức nhanh là thời gian thực hiện các hoạt động thể thao phức tạp khác nhau, như chạy 100m, tốc độ đấm trong quyền anh, tốc độ dẫn bóng trong bóng đá Các hình thức sức nhanh đơn giản liên quan chặt chẽ với kết quả sức nhanh phức tạp [48]
Sức nhanh là tố chất tổng hợp của ba yếu tố cấu thành là: tốc độ phản ứng, tốc độ động tác, tần số động tác Yếu tố quyết định tốc độ của tất cả các hình thức sức nhanh là độ linh hoạt của quá trình thần kinh và tốc độ co cơ Ðộ linh hoạt của quá trình thần kinh thể hiện ở khả năng biến đổi nhanh chóng giữa hưng phấn và
ức chế trong các trung tâm thần kinh [28] Sự thay đổi nhanh chóng giữa hưng phấn và ức chế làm cho các nơron vận động có khả năng phát xung động với tần
số cao làm cho đơn vị vận động thả lỏng nhanh, đó là các yếu tố tăng cường tốc độ
và tần số động tác Tốc độ co cơ trước tiên phụ thuộc vào tỷ lệ sợi cơ nhanh và sợi
cơ chậm trong bó cơ Các bó cơ có tỷ lệ sợi cơ nhanh, đặc biệt là sợi cơ nhóm II-A
có khả năng tốc độ cao Tốc độ co cơ còn chịu ảnh hưởng của hàm lượng ATP (Adenozin Tri Photphat) và CP (Creatin Photphat) Ðây là nguồn năng lượng có sẵn trong cơ giúp cho quá trình co cơ được thực hiện nhanh Tố chất nhanh mang tính chất di truyền, phụ thuộc vào các quá trình hóa học trong cơ, vào tần số động tác và quá trình tâm lý
Trang 21Tố chất nhanh phát triển tương đối sớm từ 9 tuổi đến 13 tuổi, nếu không được tập luyện đầy đủ thì đến giai đoạn từ 16 tuổi đến 18 tuổi sẽ khó phát triển nâng cao Cho nên trong công tác huấn luyện, giảng dạy để phát triển sức nhanh phải hết sức chú ý đến đặc điểm của lứa tuổi, có như thế thì kết quả huấn luyện
mới đem lại như mong muốn [28]
1.2.2 Tố chất sức mạnh
Sức mạnh là khả năng khắc phục lực đối kháng bên ngoài hoặc đề kháng lại
nó bằng sự nổ lực của cơ bắp Trong bất kỳ một hoạt động nào của con người đều
có sự tham gia của hoạt động cơ bắp Cơ bắp có thể sinh ra lực trong các trường hợp như: không thay đổi độ dài của cơ (chế độ tĩnh), giảm độ dài của cơ (chế độ khắc phục), tăng độ dài của cơ (chế độ nhượng bộ) Trong các chế độ hoạt động như vậy của cơ bắp sản sinh ra các lực cơ học có trị số khác nhau, cho nên có thể coi chế độ hoạt động của cơ là cơ sở để phân biệt các loại sức mạnh
Bằng thực nghiệm và phân tích khoa học người ta đã đi đến một số kết luận
có ý nghĩa trong việc phân loại sức mạnh Trị số lực sinh ra trong các động tác chậm hầu như không khác biệt với các trị số lực phát huy trong điều kiện đẳng trường Trong chế độ nhượng bộ khả năng sinh lực của cơ là lớn nhất, đôi khi gấp hai lần lực phát ra, trong điều kiện tĩnh Trong các động tác nhanh trị số lực giảm dần theo chiều tăng tốc độ Khả năng sinh lực trong các động nhanh tuyệt đối (tốc độ) và khả năng sinh lực trong các động tác tĩnh tối đa (sức mạnh tĩnh) không có tương quan nhau
Trên cơ sở đó, sức mạnh được phân chia thành sức mạnh đơn thuần (khả năng sinh lực trong các động tác chậm hoặc tĩnh), sức mạnh tốc độ (khả năng sinh lực trong các động tác nhanh) Sức mạnh - tốc độ còn được chia nhỏ tùy theo chế
Trang 22kiện rất quan trọng để nâng cao thành tích thể thao Tuổi sinh viên từ 18 đến 25 là tuổi rất thuận lợi cho cơ bắp phát triển sức mạnh [28] Vì vậy trong quá trình tập luyện, rèn luyện tố chất sức mạnh cần được chú ý sao cho phù hợp nhất để phát triển sức mạnh một cách tốt nhất
1.2.3 Tố chất sức bền
Sức bền là khả năng khắc phục sự mệt mỏi nhằm hoạt động trong thời gian dài với cường độ nhất định và có hiệu quả Sức bền đảm bảo cho người tập luyện đạt được một cường độ tốt nhất (tốc độ, dùng lực, nhịp độ thi đấu…) trong thời gian vận động kéo dài Sức bền còn đảm chất lượng động tác cao và giải quyết hoàn hão các động tác phức tạp và vượt qua khối lượng vận động lớn trong tập luyện
Trong sinh lý thể dục thể thao, sức bền thường đặc trưng cho khả năng thực hiện các hoạt động thể lực kéo dài từ hai ba phút trở lên, với sự tham gia của một khối lượng cơ bắp lớn, nhờ sự hấp thụ oxy để cung cấp năng lượng cho cơ hoạt động bằng con đường ưa khí Sức bền được chia thành nhiều loại [28],[47]
Sức bền chung: biểu thị khả năng con người trong các hoạt động kéo dài có thể từ vài chục phút đến hàng giờ, với cường độ thấp, có sự tham gia phần lớn của
hệ cơ
Sức bền chuyên môn: là năng lực duy trì khả năng vận động cao trong những loại hình bài tập nhất định Sức bền trong từng loại bài tập có tính chuyên biệt phụ thuộc vào các nhân tố khác nhau, đặc biệt là phụ thuộc vào mức độ hoàn thiện kỹ thuật
Sức bền tốc độ: là khả năng duy trì nhịp vận động cao để chuyển động nhanh nhất trong một thời gian nhất định
Sức bền mạnh: là khả năng duy trì hoạt động với một trọng lượng mang vác lớn trong thời gian dài
Nói chung sức bền là nhân tố tất yếu của thành phần thể lực nên có mối quan hệ chặt chẽ với các tố chất thể lực khác như sức mạnh, sức nhanh [10] Tuổi sinh viên từ 18 đến 25 khi tập luyện sức bền đòi hỏi sự nổ lực rất lớn không những bằng cơ bắp mà còn bằng ý chí khắc phục khó khăn để vượt qua gian khổ Ở tuổi
Trang 23này có thuận lợi trong nhận thức và ý thức tự giác tập luyện cao, hiểu rõ tác dụng, lợi ích của việc tập luyện thể dục thể thao Cho nên giáo viên cần lưu ý việc giáo dục nhận thức cho sinh viên hiểu rõ được chức năng, tác dụng của mỗi bài tập khi tập luyện
Sức bền rất cần thiết cho con người trong cuộc sống lao động và học tập hàng ngày Ðối với lĩnh vực thể dục thể thao nó là cơ sở thiết yếu để giúp cho vận động viên trong hoạt động chuyên môn của mình để gặt hái thành tích thể thao cao, đồng thời đó cũng là cơ sở để giúp sinh viên bền bĩ, dẻo dai trong việc học
tập rèn luyện chuyên môn nghề nhiệp của mình
1.2.4 Tố chất mềm dẻo
Mềm dẻo là năng thực hiện động tác với biên độ lớn Biên độ tối đa của động tác là thước đo của năng lực mềm dẻo Thông thường, độ linh hoạt của các khớp càng lớn thì khả năng mềm dẻo của cơ thể càng lớn [54]
Mềm dẻo là tiền đề quan trọng để đạt được yêu cầu về số lượng và chất lượng động tác Mềm dẻo được phát triển rất sớm ở lứa tuổi thiếu niên, nhi đồng, đặc biệt là lứa tuổi 11 đến 14, trước khi hệ vận động phát triển chưa hoàn chỉnh
Có thể tập mềm dẻo khi tập thể dục sáng, trong giờ khởi động Các động tác làm tăng độ linh hoạt của các khớp có tác dụng tích cực để chuẩn bị bước vào phần trọng động, đồng thời còn ngăn ngừa được chấn thương trong tập luyện Tuổi trưởng thành tập luyện mềm dẻo rất khó khăn vì xương, cơ, khớp, dây chằng và hệ thần kinh đã phát triển hoàn chỉnh
Vì vậy, khi tiến hành giáo dục tố chất mềm dẻo cần chú ý đến biên độ động tác, chú ý đến đặc điểm lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp để phòng ngừa chấn thương cho người tập Tuy nhiên nếu năng lực mềm dẻo không được phát triển
đầy đủ sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình phát triển năng lực thể thao
1.2.5 Tố chất khéo léo (năng lực phối hợp vận động)
Khéo léo là khả năng thực hiện những động tác phối hợp phức tạp và khả năng hình thành những động tác mới phù hợp với yêu cầu vận động Về bản chất, khéo léo là khả năng hình thành những đường liên hệ tạm thời đảm bảo cho việc
Trang 24thực hiện những động tác vận động phức tạp, vì vậy, nó có liên quan với việc hình thành kỹ năng vận động
Năng lực phối hợp vận động là một phức hợp các tiền đề của vận động viên (cần thiết ít hoặc nhiều) để thực hiện thành công một hoạt động thể thao nhất định Năng lực này được xác định trước tiên là ở khả năng điều khiển động tác (xử lý thông tin) và được hình thành phát triển trong tập luyện Năng lực phối hợp vận động có quan hệ chặt chẽ với các phẩm chất tâm lý và các năng lực khác như: sức mạnh, sức nhanh và sức bền [28]
Năng lực phối hợp vận động còn thể hiện ở mức độ tiếp thu nhanh chóng có chất lượng, cũng như việc hoàn thiện, củng cố và vận dụng các kỹ thuật thể thao Tuy nhiên, giữa năng lực phối hợp vận động và kỹ xảo thể thao có điểm khác nhau
cơ bản Kỹ xảo thể thao chỉ nhằm giải quyết một nhiệm vụ cụ thể, còn năng lực phối vận động là tiền đề cho rất nhiều hoạt động vận động khác nhau
Khéo léo thường được coi là tố chất vận động loại hai, phụ thuộc vào mức
độ phát triển của các tố chất khác như: sức mạnh, sức nhanh, sức bền Mức độ phát triển khéo léo liên quan chặt chẽ với trạng thái chức năng của hệ thần kinh trung ương Tập luyện phát triển sự khéo léo lâu dài làm tăng độ linh hoạt của các quá trình thần kinh, làm cho cơ hưng phấn và thả lỏng nhanh hơn Tập luyện các bài tập chuyên môn có thể làm tăng sự phối hợp hoạt động giữa các vùng não khác nhau, do đó hoàn thiện sự phối hợp với các nhóm cơ hưởng ứng cũng như cơ đối kháng [47]
Trình độ thể lực là một tổ hợp yếu tố nhiều thành phần, được đánh giá thông qua sự biến đổi tương ứng về các mặt hình thái, chức năng cơ thể trong quá trình GDTC và huấn luyện thể thao Việc nghiên cứu, đánh giá trình độ thể lực cũng bao gồm đầy đủ các yếu tố hình thái, chức năng tâm sinh lý, chức năng vận động của đối tượng nghiên cứu
Cùng với việc đo và đánh giá sự phát triển bên ngoài, để nhận định đúng trình độ thể lực và khả năng hoạt động thể lực, cần kiểm tra chức năng các hệ cơ quan trong cơ thể Thông thường trạng thái, chức năng của các hệ cơ quan tương
Trang 25ứng với hình thể bên ngoài của cơ thể Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp tầm vóc
có thể phát triển tốt nhưng tình trạng chức năng của hệ thần kinh trung ương, hệ
hô hấp và hệ tuần hoàn phát triển không tốt
Để đánh giá tiêu chuẩn về phát triển thể chất toàn diện cần phải được cụ thể hóa, căn cứ vào đặc điểm cá nhân, lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp, môn thể thao… Nói cách khác, mức độ phát triển này phụ thuộc vào nhân tố di truyền, cá biệt và một phức hợp các điều kiện thay đổi trong đời sống và họat động, không nên hiểu đó là sự phát triển dàn đều, đồng loạt như nhau, theo một phương thức cứng nhắc P.Letsgáp, nhà lý luận GDTC nổi tiếng người Nga đã từng nói: “Chỉ
có phát triển cân đối tất cả các cơ quan, cơ thể con người mới thực sự hoàn thiện
và hoàn thành được công việc lớn nhất với sự tiêu hao ít nhất về vật chất và sức lực ” Trên cơ sở đó, có thể thấy rõ hơn điều này trong chuẩn bị thể lực cho VĐV các môn thể thao khác nhau, cho những người làm các nghề đặc biệt, ở đây cần có
sự kết hợp giữa thể lực chung và chuyên môn Nhưng cái gốc cơ bản, phổ thông ban đầu nhất đối với mọi người dân là tiêu chuẩn rèn luyện thân thể Đó là qui định về yêu cầu phát triển toàn diện đối với mọi người
Đối với sinh viên, một trong ba nhiệm vụ cơ bản quan trọng và bắt buộc của công tác GDTC là đánh giá trình độ chuẩn bị thể lực hàng năm cho sinh viên theo tiêu chuẩn qui định Dưới góc độ toàn cục, đánh giá trình độ thể lực cho sinh viên hằng năm có ý nghĩa thiết thực, góp phần xây dựng cơ sở khoa học cho việc hoạch định chiến lược phát triển sự nghiệp TDTT, chiến lược GDTC cho toàn dân
Trong phạm vi từng trường đại học, đánh giá trình độ thể lực tạo điều kiện
để đánh giá hiệu quả của công tác GDTC, làm cơ sở cho việc biên soạn chương trình giảng dạy, lựa chọn phương tiện hay phương pháp GDTC cho sinh viên Vì vậy, việc đánh giá trình độ thể lực cho sinh viên có mối quan hệ hữu cơ không thể tách rời trong quá trình GDTC và huấn luyện thể thao học đường Xuất phát từ quan điểm này, việc đánh giá trình độ thể lực thường được xem xét như một nhiệm vụ trong quá trình nghiên cứu ở các đề tài mang tính tổng hợp
Trang 26
1.3 Những nghiên cứu có liên quan về tiêu chí và tiêu chuẩn thể chất
Giáo dục thể chất là một quá trình giáo dục mà đặc trưng của nó là sự thể
hiện ở việc giảng dạy các động tác và giáo dục (điều khiển sự phát triển) các phẩm chất thể lực của con người Vì vậy, chúng ta có thể coi phát triển thể chất là một
phần hệ quả của GDTC
Thể chất là tài sản quí báu của dân tộc, quyết định vận mệnh của dân tộc Nhiều ngành nghề (y tế, giáo dục, giáo dục thể chất, xây dựng, thể dục thể thao, quân đội… đặc biệt là những ngành lấy con người làm đối tượng nghiên cứu phục vụ) rất cần nắm vững những đặc điểm thể chất của con người Việc nghiên cứu quy luật phát triển về hình thái, thể lực của con người nói chung và học sinh, sinh viên nói riêng chiếm vị trí quan trọng trong công tác phát triển thể dục thể thao Trên thế giới, đặc biệt là các nước có trình độ khoa học phát triển, họ đã nghiên cứu vấn đề này từ lâu Nhờ đó người ta đã thành lập những thang bậc đánh giá và những tiêu chuẩn làm cơ sở cho công tác giáo dục thể chất và huấn luyện thể thao có hiệu quả Ở các nước như Cộng hòa Liên bang Nga, các nước Đông
Âu cũ, Trung quốc…đã được tiến hành rất nổ lực và nghiên cứu rất tốt trong việc xây dựng những tiêu chí rèn luyện thân thể cho thanh thiếu niên Các nước trong khối EU, Mỹ và các nước trong khu vực Đông Nam Á cũng đã nghiên cứu và xây dựng các tiêu chuẩn rèn luyện thân thể và kiểm tra thể lực như:
Tiêu chuẩn ICSPFT (International Committee for Standardization of Physical Fitness Test) Ủy ban quốc tế về Tiêu chuẩn hóa các bài tập kiểm tra thể lực Năm 1968, được áp dụng cho cả nam và nữ từ 6- 32 tuổi, gồm 8 bài tập
Tiêu chuẩn ICPFR do Hội Nghiên cứu thể lực quốc tế đưa ra, gồm 9 bài tập
Tiêu chuẩn IBP do Ban chấp hành Hội quy hoạch phát triển sinh vật học Quốc tế đưa ra, gồm 9 bài tập
Tiêu chuẩn đánh giá thể lực của Cộng đồng Châu Âu, gồm 7 bài tập
Ở nước ta vấn đề này trong nhiều năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu Trong phạm vi nghiên cứu về hình thái thể lực của học sinh chuyên nghiệp từ
Trang 27năm 1993 trở về trước tiêu biểu là Công trình nghiên cứu của Vũ Đức Thu và Nguyễn Trọng Hải về tình trạng thể lực của học sinh các trường dạy nghề (1993) Ngoài ra còn có đề tài nghiên cứu tình hình sức khoẻ của sinh viên học tập thể dục thể thao trường Đại học Pháp lý thành phố Hồ Chí Minh (Nguyễn Đăng Chiêu, 1993), Nghiên cứu thực trạng phát triển thể chất của các thí sinh dự thi vào trường Đại học Thể dục thể thao từ năm 1989 - 1992 (Nguyễn Văn Quảng, 1993), Nghiên cứu tình trạng sức khỏe và trình độ thể lực của sinh viên Đại học Nông nghiệp I (Đỗ Mộng Ngọc, Nguyễn Thị The, Trần Văn Tác, 1993) Nghiên cứu thể chất của học sinh dài hạn Học viên Quân Y sau 3 năm học, (Vũ Thu Hương, 1989) và Đánh giá tình hình phát triển thể chất sinh viên trường Mỏ Địa chất (Hoàng Công Dân, 1992)… Đa số các công trình nghiên cứu trong giai đoạn này đều giới hạn trong phạm vi một trường và phần lớn ở các trường phía Bắc Mặt khác, đa số các kết luận đánh giá đều cho rằng các chỉ số về tố chất thể lực đều có xu hướng tăng từ năm thứ nhất đến năm thứ ba và năm thứ tư Tuy nhiên, lại có một vài kết luận cho rằng về khả năng vận động (sức bền, sức nhanh có dấu hiệu suy giảm ở những năm thứ 3 và năm thứ 4), (Đỗ Mộng Ngọc, Nguyễn Thị The, Trần Văn Tác, Vũ Đức Thu và Lưu Quang Hiệp)
Năm 1994 tiêu biểu là công trình nghiên cứu đặc điểm hình thái, chức năng và trình độ thể lực của học sinh các trường dạy nghề Việt Nam (Lưu Quang Hiệp,1994) Công trình đã kết luận trình độ phát triển thể lực của học sinh các trường dạy nghề tương đối cao, tương đối đồng đều
Từ năm 1994 đến năm 1998 cũng có một số công trình nghiên cứu về hình thái và thể lực của học sinh, sinh viên các trường chuyên nghiệp đã áp dụng đầy đủ chương trình giáo dục thể chất do Bộ Giáo dục và Ðào tạo qui định Tiêu biểu là: Một số nhận xét về các chỉ số thể lực và hình thái của sinh viên khu vực Kiến An, Hải Phòng (Nguyễn Ðức Chỉnh, Nguyễn Ðức Nhâm, Ðinh Huy Hưng và Hồng Xuân Trường, 1998) Nghiên cứu tác dụng của giáo dục thể chất và thể thao ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất của học sinh, sinh viên trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh (Nguyễn Ðăng Chiêu, 1998) Các kết quả nghiên cứu đều
Trang 28khẳng định tác dụng tích cực của công tác giáo dục thể chất đến sự tăng tiến về hình thái, thể lực của học sinh, sinh viên Mức độ phát triển thể lực của sinh viên cao hơn hằng số thể lực của người Việt Nam cùng lứa tuổi
Gần đây nhất là công trình nghiên cứu thể chất sinh viên toàn quốc của Lê Văn Lẫm năm 2000, và kết quả điều tra thể chất người Việt Nam của Viện khoa học TDTT năm 2001, Nghiên cứu đánh giá thực trạng thể lực của sinh viên Ðại học Cần thơ (luận văn thạc sĩ Lê Quang Anh 2005), Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá thể lực cho sinh viên trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn TP Hồ Chí Minh (luận văn thạc sĩ Hoàng Hà 2005), Xây dựng chuẩn đánh giá sự phát triển thể lực cho sinh viên trường Đại học Quy Nhơn (luận văn thạc
sĩ Trương Hồng Long, 2005)…
Trang 29CHƯƠNG 2
PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 2.1 Phương pháp nghiên cứu
2.1.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu
Ðây là phương pháp được sử dụng phổ biến trong các công trình nghiên cứu mang tính lý luận và sư phạm Chúng tôi tiến hành thu thập, chọn lọc các tài liệu có liên quan của các nhà khoa học, các văn kiện, chỉ thị, nghị quyết của Đảng
và nhà nước, các tài liệu giảng dạy, sách giáo khoa, một số tạp chí trong và ngoài ngành, các giáo trình giảng dạy cho học viên cao học, tuyển tập các công trình nghiên cứu khoa học…để làm cơ sở cho việc nghiên cứu đề tài, đồng thời chọn phương pháp nghiên cứu, lựa chọn các tiêu chí và tìm cơ sở để phân tích đánh giá
kết quả nghiên cứu
2.1.2 Phương pháp kiểm tra hình thái cơ thể
2.1.2.1 Chiều cao đứng (cm): Là chiều cao từ mặt đất đến đỉnh đầu, tính
bằng cm Chiều cao đứng là một trong những kích thước thông thường hay sử dụng trong các công trình điều tra cơ bản về hình thái, thể lực
- Mục đích: đánh giá tầm vóc, trạng thái thể lực của người bị đo
- Dụng cụ: thước đo nhân trắc kiểu Martin do Trung Quốc sản xuất có độ chính xác đến mm
- Cách đo: Đối tượng được đo đứng tự nhiên ở tư thế nghiêm, đuôi mắt và ống tai ngoài tạo thành một đường thẳng nằm ngang, có các điểm phía sau là gót, mông , bả vai và chẩm chạm tường Người đo tay trái tìm mốc đo, khi đã xác định điểm đo là đỉnh đầu, tay trái di chuyển thanh ngang phía trước chạm vào đỉnh đầu Trong khi đo, thước luôn luôn giữ thẳng đứng
- Kết quả: Người đo đọc số cm được vạch sẵn trên thước
2.1.2.2 Cân nặng (Kg): là trọng lượng cơ thể của con người
- Mục đích: đánh giá mức độ và tỷ lệ giữa sự hấp thụ và tiêu hao năng lượng của nam, sinh viên trường Đại học SPKT.TPHCM
- Dụng cụ: Cân bàn do Trung Quốc sản xuất có độ chính xác đến 0,1kg
Trang 30- Cách đo: Ðối tượng được cân mặc đồ ngắn không mang giày, dép Khi cân, đối tượng được cân ngồi trên ghế đặt trước bàn cân, sau khi đặt hai bàn chân cân đối lên bàn cân rồi mới đứng lên
- Kết quả: đọc kết quả đo khi kim dừng hẳn với số đo là kg
2.1.3 Phương pháp kiểm tra sư phạm
2.1.3.1 Chạy 30m xuất phát cao (giây)
Đánh giá sức nhanh cho sinh viên có nhiều tiêu chí khác nhau như: chạy từ 30m đến 100m Ở đây chúng tôi sử dụng tiêu chí phổ biến được đông đảo các nhà chuyên môn của Việt Nam hay sử dụng để đánh giá sức nhanh cho sinh viên là chạy 30m xuất phát cao
- Mục đích: đánh giá sự di chuyển của cơ thể với tốc độ nhanh nhất
- Dụng cụ, sân kiểm tra: đường chạy điền kinh trường Ðại học SPKT.TPHCM, đồng hồ bấm giây điện tử (hiệu Casio Japan) có độ chính xác 1/100 giây, cờ , giấy, bút ghi chép
- Phương pháp tiến hành: Mỗi đợt chạy từ 2 – 3 sinh viên theo ô chạy riêng Người thực hiện đứng ở tư thế xuất phát cao sát ngay sau vạch xuất phát, khi nghe lệnh “Sẵn sàng, chạy” thì nhanh chóng rời khỏi vạch xuất phát và chạy nhanh về đích Thành tích được tính bằng thời gian chạy từ vạch vôi xuất phát đến chạm dây đích và vượt qua mặt phẳng thẳng đứng của dây đích (30m)
- Kết quả: đo một lần chạy và được tính bằng giây (s)
2.1.3.2 Bật xa tại chỗ (cm)
- Mục đích: đánh giá sức mạnh bộc phát tổng hợp của nhóm cơ chi dưới và
cơ lưng
- Dụng cụ, sân kiểm tra: thước dây, hố nhảy xa, giấy bút, biên bản ghi chép
- Phương pháp tiến hành: người thực hiện đứng sau vạch kiểm tra của ván giậm nhảy, ở tư thế khụy gối , sau đó dùng lực đạp của hai chân và sự phối hợp toàn thân bật người lên bay về trước và rơi xuống bằng hai chân vào hố cát Thành tích được tính bằng khoảng cách từ điểm chạm của bất cứ bộ phận nào của cơ thể
Trang 31với hố cát gần với vạch xuất phát nhất, từ đó kéo thước đo vuông góc với vạch xuất phát
- Kết quả: Thực hiện 3 lần và lấy lần có thành tích cao nhất (cm) 2.1.3.3 Lực bóp tay thuận (KG)
- Mục đích: Đánh giá sức mạnh của nhóm cơ tay và ngón tay
- Dụng cụ kiểm tra: Có thể dùng lực kế cơ hay điện tử để thực hiện test Ở đề tài này sử dụng lực kế điện tử TTK 5101 của hãng Takei - Nhật bản
- Phương pháp tiến hành: Đối tượng kiểm tra đứng tự nhiên, tay đo duỗi thẳng sang bên tạo với trục dọc cơ thể một góc 450 (không thay đổi tư thế trong khi thực hiện test) Điều chỉnh tay nắm lực kế điện tử sao cho có khoảng cách thích hợp với bàn tay, để mặt đồng hồ lực kế hướng vào trong thân người, sau đó dùng hết sức bóp mạnh (không được bóp giật cục và có các động tác trợ giúp khác) Thông số sẽ hiện lên trên bảng hiển thị, thực hiện 3 lần, lấy giá trị lần cao
- Phương pháp tiến hành: mỗi đợt chạy 10 sinh viên Người được kiểm tra thực hiện tư thế xuất phát cao (tay cầm một tích – kê tương ứng với số đeo ở ngực) Khi chạy hết đoạn đường 50m, vòng (bên trái) qua vật chuẩn và chạy lặp lại trong thời gian 5 phút Khi hết giờ, người được kiểm tra lập tức thả tích - kê của mình xuống ngay nơi chân tiếp đất Thực hiện một lần
Trang 32Cách tính thành tích: đơn vị đo quãng đường chạy được là mét (m)
2.1.3.5 Nằm ngửa gập bụng (số lần/ 30 giây)
Trong Tiêu chuẩn đánh giá thể lực của Cộng đồng Châu Âu, và một số nước trong khu vực như Malaysia, Thái Lan…để đánh giá sức bền cơ lưng bụng người ta cũng dùng test nằm ngữa gập bụng để kiểm tra
- Mục đích : Đánh giá sức bền của cơ lưng bụng ở sinh viên
- Dụng cụ sân bãi: Đồng hồ bấm giây điện tử (Casio Japan) có độ chính xác 1/100 giây, giấy bút ghi chép
- Phương pháp tiến hành: Đối tượng điều tra ngồi trên mặt phẳng, chân co
900 ở khớp gối, bàn chân áp sát sàn, lòng bàn tay áp chặt vào sau đầu, các ngón tay đan chéo nhau, khuỷu tay chạm đùi Người thứ 2 hổ trợ bằng cách ngồi lên mu bàn chân, đối diện với đối tượng kiểm tra, 2 tay giữ ở phần dưới cẳng chân nhằm không cho bàn chân của đối tượng điều tra dịch chuyển Khi có hiệu lệnh “bắt đầu” đối tượng điều tra ngã người nằm ngữa ra, hai bả vai chạm sàn sau đó gập bụng thành ngồi, hai khuỷu tay chạm đùi, thực hiện động tác gập thân đến 900
Mỗi lần ngã người, co bụng được tính 1 lần Điều tra viên thứ nhất ra lệnh “ bắt đầu”, bấm đồng hồ, đến giây thứ 30, hô kết thúc Điều tra viên thứ hai đếm số lần gập bụng
Yêu cầu đối tượng điều tra làm đúng kỹ thuật và cố gắng thực hiện được số lần cao nhất trong 30 giây Mỗi người thực hiện 1 lần
- Kết quả: Tính số lần đạt yêu cầu trong 30 giây
2.1.3.6 Chạy con thoi 4 x 10m (giây)
- Mục đích : Đánh giá sự nhanh nhẹn khéo léo trong chạy có chuyển hướng
- Dụng cụ sân kiểm tra: Đường chạy bằng phẳng, không trơn, được kẻ 2
vạch vôi song song cách nhau 10m Đồng hồ bấm giây điện tử Casio Japan) có
độ chính xác 1/100 giây, cờ, biên bản chạy, giấy bút ghi chép
- Phương pháp tiến hành: Mỗi lần chạy 1-2 sinh viên Người thực hiện ở tư
thế xuất phát cao ngay vạch xuất phát, sau khi hiệu lệnh “sẵn sàng, chạy” thì nhanh chóng rời khỏi vị trí và chạy nhanh đến vạch kẻ bên kia, chỉ cần một chân
Trang 33chạm vạch, sau đó quay lại chạy nhanh về vạch xuất phát cũ và sau khi một chân
chạm vạch xuất phát, thì quay trở lại Thực hiện lặp lại cho đến hết quãng đường tổng số 40m gồm 4 lần (mỗi lần 10m)
- Kết quả: Chạy 1 lần được tính bằng giây (sơ đồ 2)
2.1.4 Phương pháp kiểm tra chức năng sinh lý
2.1.4 1 Test đo dung tích sống: xác định khả năng tối đa của độ sâu hô
hấp Dung tích sống là chỉ số chức năng đặc trưng cho khả năng cung cấp không khí của bộ máy hô hấp ngoài Vì vậy, đây là chỉ số quan trọng về khả năng hoạt động của hệ hô hấp Dung tích sống của phổi bao gồm: thể tích hô hấp, thể tích hít vào bổ sung và thể tích dự trữ thở ra
Có thể dùng nhiều loại phế dung kế khác nhau (khô, nước, điện tử…) để đo dung tích sống Ở đề tài này sử dụng phế dung kế điện tử (hiệu T.K.K 1.1.5.1.0 VITAL của hãng Takei - Nhật) Đối tượng được kiểm tra đứng thẳng khi thực hiện Đặt phế dung kế ở mức cao sao cho ống thổi ngang với tầm miệng của người được
đo, nếu quá thấp hay quá cao sẽ ảnh hưởng đến tư thế của ngực Trước khi thổi vào phế dung kế, hít vào hết sức căng khí đầy lồng ngực, sau đó ngậm miệng vào ống thổi Lúc đầu thổi từ từ, sau nhanh dần rồi dùng hết sức thổi mạnh Khi kết thúc vẫn giữ cố định ống thổi cho đến khi thông số hiện lên đầy đủ tại bảng điện tử Vệ sinh ống thổi bằng cồn 900
sau mỗi lượt kiểm tra Có thể cho thực hiện thổi thử một vài lần đối với người chưa biết, sau đó đo 3 lần thổi, mỗi lần cách nhau 15s, lấy lần có
Trang 34Tiến hành trong phòng sạch sẽ thoáng mát, diện tích 20 - 40 m2 với dụng cụ gồm: đồng hồ bấm giây, máy đếm nhịp và đồng hồ đo mạch điện tử
Cho đối tượng kiểm tra nghỉ ngơi từ 10 - 15 phút, sau đó lấy mạch trong 15s Lấy 3 lần liên tục, nếu chỉ số đó trùng nhau, ta được mạch lúc yên tĩnh trong 15s và được ký hiệu là P1 (Nếu trong 3 lần đó có sự chênh lệch nhau một nhịp trở lên thì cho nghỉ tiếp, trong vòng 5 - 10 phút) Tiếp theo, cho đối tượng thực hiện với máy đếm nhịp động tác đứng lên và ngồi xổm 30 lần trong 30s (nếu sai nhịp, phải làm lại) Tiến hành lấy mạch trong 15s ngay sau vận động và ký hiệu là P2 Sau đó, lấy mạch trong 15s sau vận động 1 phút và ký hiệu là P3 Xong cho đối tượng nghỉ ngơi
và kết thúc test
Chỉ số công năng tim được tính theo công thức:
10
200)
32
f2 là mạch đập ngay sau vận động trong 1 phút = P2 x 4
f3 là mạch đập hồi phục sau vận động trong 1 phút (ở phút hồi phục thứ hai) = P3 x 4
Cách đánh giá chỉ số công năng tim
Trang 352.1.5 Phương pháp toán thống kê [ 22],[40 ]
Số trung bình (X ) Là tổng lượng trị số các cá thể với tổng số cá thể của tập hợp mẫu
n
X X
n
i i
Trong đó :
n : tổng số đối tượng quan sát
Xi : giá trị từng đối tượng quan sát
)(
Độ lệch chuẩn (S) : là chỉ số nói lên tính chất phân bố của các trị số Xichung quanh giá trị trung bình
=
n
X Xi i
2
)(
Hệ số biến thiên ( C v ): là tỉ lệ phần trăm giữa độ lệch chuẩn và trung bình
cộng, dùng để đánh giá tính chất đồng đều của các tiêu chí nghiên cứu
%100
x
S
C v
Cách đánh giá:
+ Cv 10% các số liệu phân bố tập trung quanh số trung bình
+ Cv > 10% các số liệu phân bố phân tán xung quanh số trung bình Sai số tương đối của giá trị trung bình ( ): dùng để kiểm tra tính đại
diện của tập hợp mẫu với tổng thể qua giá trị số trung bình