1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nâng cao hiểu biết pháp luật về quyền sở hữu công nghiệp cho giáo viên và sinh viên trường đại học sư phạm kỹ thuật TP HCM

58 22 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 4,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nam Giang 2001, Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp theo Hiệp định BTA, tập san Khoa học pháp lý, số 01/2001… Các tài liệu nước ngoài có thể kể đến như cuốn “Intellectual property – a power

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG

NÂNG CAO HIỂU BIẾT PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP CHO GIÁO VIÊN VÀ SINH VIÊN TRƯỜNG ÐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP.HCM

MÃ SỐ: T2015 - 132

Tp Hồ Chí Minh, 2015

S 0 9

S KC 0 0 5 6 1 6

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

ĐƠN VỊ: KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI KH&CN CẤP TRƯỜNG

NÂNG CAO HIỂU BIẾT PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP CHO GIÁO VIÊN VÀ SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP.HCM

Mã số: T2015 -132

Chủ nhiệm đề tài: THS NGUYỄN THỊ TUYẾT NGA

TP HCM, THÁNG 11 NĂM 2015

Trang 3

DANH SÁCH THÀNH VIÊN THAM GIA ĐỀ TÀI

Di động: 0915783762

8 NHỮNG THÀNH VIÊN THAM GIA NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

TT Họvàtên lĩnhvựcchuyênmôn Đơnvịcôngtácvà Nội dung nghiêncứu cụthểđượcgiao Chữk

Trang 4

MỤC LỤC

Mở đầu 1

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUậN Về VIệC NÂNG CAO HIỂU BIẾT PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP CHO GIẢNG VIÊN VÀ SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP.HCM 6

1.1 Khái quát về quyền sở hữu công nghiệp 6

1.1.1Khái niệm sở hữu trí tuệ, tại sao phải bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ 6

1.1.2Khái niệm sở hữu công nghiệp và các đặc trưng cơ bản của sở hữu công nghiệp 8

1.2 Ý nghĩa của việc hiểu biết pháp luật về quyền sở hữu công nghiệp đối với giáo viên và sinh viên trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM 12

1.3 Các kiến thức cơ bản về quyền sở hữu công nghiệp theo quy định của pháp luật Việt Nam 14

1.3.1 Điều kiện bảo hộ các đối tượng sở hữu công nghiệp 14

1.3.2Xác lập bảo hộ các đối tượng sở hữu công nghiệp 14

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HIỂU BIẾT PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP CỦA GIẢNG VIÊN VÀ SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP.HCM VÀ GIẢI PHÁP 35

2.1 Thực trạng hiểu biết pháp luật về quyền sở hữu công nghiệp của giảng viên và sinh viên trường Đại học SPKT TP.HCM 35

2.1.1 Thực trạng về thái độ của giảng viên, sinh viên trường đối với quyền sở hữu công nghiệp 35

2.1.2 Thực trạng về mức độ hiểu biết của giảng viên và sinh viên về pháp luật quyền sở hữu công nghiệp 37

2.1.3 Thực trạng về sự hiểu biết của giảng viên và sinh viên về thủ tục xác lập bảo hộ bảo hộ các đối tượng quyền sở hữu công nghiệp 44

2.2 Nguyên nhân của thực trạng hiểu biết pháp luật về quyền sở hữu công nghiệp của giảng viên và sinh viên trường Đại học SPKT TP.HCM 47

2.3 Giải pháp 48

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong bối cảnh hiện nay, việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền

sở hữu công nghiệp nói riêng là mối quan tâm của nhiều nước cả các nước phát triển và đang phát triển Để có thể gia nhập vào tổ chức thương mại thế giới WTO, Việt Nam bắt buộc phải tham gia các Điều ước quốc tế về Sở hữu trí tuệ, đồng thời phải cam kết tuân thủ các quy định về bảo hộ các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ , để Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) được thông qua Việt Nam phải trải qua các vòng đàm phán rất khó khăn về sở hữu trí tuệ Điều này cho thấy tầm quan trọng rất lớn của sở hữu trí tuệ trong quá trình hợp tác giữa các quốc gia nói riêng

và đối với sự phát triển kinh tế xã hội trên thế giới nói chung

Trong xu thế hội nhập quốc tế, Việt Nam đã tham gia Hiệp định TRIPS về các khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (có hiệu lực tại Việt Nam từ ngày 1/11/2007), tham gia các Điều ước quốc tế về bảo hộ các quyền sở hữu công nghiệp như Công ước Paris năm 1883 về bảo hộ sở hữu công nghiệp ; Hệ thống Madrid gồm Thỏa ước Madrid năm 1891 về đăng ký quốc tế về nhãn hiệu và Nghị định thư liên quan đến thỏa ước năm 1989; Hiệp ước hợp tác quốc tế về bằng sáng chế (PCT) năm 1970; Việt Nam cũng đã ban hành Luật sở hữu trí tuệ 2005 được sửa đổi bổ sung một số điều theo Luật số 36/2009 và các văn bản hướng dẫn thi hành liên quan đến các quy định về quyền sở hữu công nghiệp Hầu hết các quy phạm pháp luật điều chỉnh về quyền sở hữu công nghiệp của Việt Nam đều tương thích với các điều ước quốc tế và khá hoàn chỉnh Tuy nhiên việc hiểu biết các quy định này trên thực tế rất hạn chế.Rất nhiều người không hiểu được các quyền và nghĩa vụ của mình trong các hoạt động xác lập và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ nói chung và quyền sở hữu công nghiệp nói riêng kể cả giáo viên và sinh viên – thuộc tầng lớp trí thức của xã hội Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM được đánh giá là một trong các trường hàng đầu của cả nước về nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực

kỹ thuật công nghệ.Tuy nhiên số lượng các cá nhân được cấp bằng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp chưa nhiều.Một trong những nguyên nhân của tình trạng này là do các cá nhân và tổ chức thiếu các kiến thức về quyền sở hữu trí tuệ nói chung và

Trang 6

quyền sở hữu công nghiệp nói riêng Có rất ít sinh viên thậm chí là giáo viên thấy được sự khác nhau nhãn hiệu và bản quyền, giữa bảo hộ sáng chế và giải pháp hữu ích; nhiều người không biết được quy trình để xác lập bảo hộ một đối tượng thuộc quyền sở hữu công nghiệp

Chính từ thực trạng trên mà tác giả chọn đề tài “Nâng cao hiểu biết pháp luật

về quyền sở hữu công nghiệp cho giáo viên và sinh viên trường Đại học Sư phạm

Kỹ thuật TP.HCM” nhằm góp phần thực thi quyền sở hữu công nghiệp hiệu quả hơn

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Lĩnh vực quyền sở hữu công nghiệp là một lĩnh vực thu hút sự quan tâm nghiên cứu của rất nhiều học giả trong và ngoài nước, có thể kể đến các công trình như sau:

Về sách chuyên khảo có các tác phẩm:

- Những vấn đề lý luận và thực tiễn hoàn thiện khung pháp luật Việt Nam

về bảo hộ sở hữu trí tuệ trong xu thế hội nhập Quốc tế và khu vực (Đề tài Nghiên cứu khoa học quốc gia do Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội thực hiện năm 2010)

- Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn của nhóm tác giả Lê Hồng Hạnh, Đinh Thị Mai Phương (chủ biên),

Do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2004

- Bảo hộ kiểu dáng công nghiệp ở Việt Nam - Pháp lụât và thực tiễn của tác giả Nguyễn Bá Bình do Nhà xuất bản Tư pháp xuất bản năm 2005

- Bảo hộ sở hữu công nghiệp , 380 câu hỏi và đáp dành cho doanh nghiệp của tác giả Vũ Khắc Trai, Nxb Giao thông vận tải, xuất bản năm 2006

Các đề tài, chuyên đề bài viết, bài nghiên cứu có thể kể đến đề án cấp Bộ

“đưa sở hữu trí tuệ vào giảng dạy các trường Đại học” do TS Trần Lê Hồng làm chủ nhiệm, bài viết của Tiến sỹ Nguyễn Thị Quế Anh, Một số vấn đề về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với tên thương mại trên thế giới, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Chuyên san Kinh tế - Luật số 2 năm 2002, bài viết của tiến sỹ, Lê Thị

Trang 7

Nam Giang (2001), Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp theo Hiệp định BTA, tập san Khoa học pháp lý, số 01/2001…

Các tài liệu nước ngoài có thể kể đến như cuốn “Intellectual property – a power tool for economic growth”- Sở hữu trí tuệ - một công cụ đắc lực để phát triển kinh tế, Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới của tác giả Kamil Idris Nhà xuất bản WIPO xuất bản, cuốn “IP law hanbook, policy,law and use – Cẩm nang sở hữu trí tuệ: chính sách, pháp luật và sử dụng) của nhà xuất bản WIPO, cuốn Tác động của các Hiệp định của WTO đối với các quốc gia đang phát triển, (bản tiếng Việt), Ủy ban quốc gia về Hợp tác kinh tế quốc tế và Ủy ban Thương mại quốc gia Thụy Điển (2005)

Tuy nhiên chưa có công trình nào đi sâu phân tích và đưa giải pháp về việc nâng cao hiểu biết pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ

3 Mục tiêu

Nghiên cứu thực trạng đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiểu biết pháp luật về quyền sở hữu công nghiệp cho và sinh viên ĐHSPKT nói riêng, góp phần gia tăng các việc sở hữu các văn bằng bảo hộ về quyền sở hữu công nghiệp cho trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật

4 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp biện chứng duy vật và các phương pháp khác như: phân tích, tổng hợp, điều tra, thống kê, khảo sát

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu:

Sự hiểu biết pháp luật về quyền sở hữu công nghiệp

5.2 Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu chỉ áp dụng đối với giáo viên, sinh viên trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM

6 Nội dung nghiên cứu

Bố cục nội dung gồm 2 chương:

Chương I: Cơ sở lý luận về việc nâng cao hiểu biết pháp luật về quyền sở hữu công nghiệp cho giáo viên và sinh viên trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM

Chương II: Thực trạng về hiểu biết pháp luật về quyền sở hữu công nghiệp của giáo viên, sinh viên trường Đại học sư phạm kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh

và giải pháp

Trang 8

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC NÂNG CAO HIỂU BIẾT PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP CHO GIÁO VIÊN VÀ SINH

VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP.HCM

1.1 Khái quát về quyền sở hữu công nghiệp

1.1.1 Khái niệm sở hữu trí tuệ, tại sao phải bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ

1.1.1.1Khái niệm sở hữu trí tuệ

Sở hữu trí tuệ là khái niệm pháp lý chỉ sự bảo hộ của nhà nước đối với các thành quả lao động sáng tạo– những kết quả từ hoạt động tư duy, sáng tạo của con người Đối tượng của loại sở hữu này là các tài sản phi vật chất nhưng có giá trị kinh tế, tinh thần to lớn góp phần quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển nền văn minh, khoa học, công nghệ của nhân loại Đó là các tác phẩm văn học, nghệ thuật, các công trình khoa học kỹ thuật ứng dụng cũng như các tên gọi, hình ảnh được sử dụng trong các hoạt động thương mại

Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ bao gồm quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp

và quyền đối với giống cây trồng 1

1.1.1.2 Lý do bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ

Dựa vào các quan điểm triết học, kinh tế về sở hữu trí tuệ, về cơ bản có thể nhóm thành 4 nhóm quan điểm chính sau2

:

Thứ nhất, theo quan điểm pháp luật tự nhiên (The natural law): “Quan điểm

này cho rằng người phát minh sáng tạo có quyền tài sản tự nhiên đối với phát minh sáng tạo của mình Quyền tài sản này về mặt đạo đức được xã hội và người sử dụng thừa nhận, bảo vệ” Lập luận này dựa trên lý thuyết của Hegel về tài sản trí tuệ với

sự nhấn mạnh tự do chiếm hữu tài sản trí tuệ thì chủ thể sáng tạo đương nhiên có các quyền đối với tài sản trí tuệ do họ bỏ ra và xã hội phải thừa nhận cũng như bảo vệ những quyền này

1 Khoán 1, Điều 4, Luật sở hữu trí tuệ 2005

2

Xem William W Fisher, Theories of Intellectual Property, in S Munzer (ed), New Essays in the Legal and

Political Theory of Property, Cambridge University Press (2000); Lê Nết, (2006), Quyền sở hữu trí tuệ, NXB Đại

học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh, Tr.15; Nguyễn Thanh Tú, (2010), pháp luật cạnh tranh

chuyển giao công nghệ và Hiệp định TRIPS kinh nghiệm cho Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.47; Lê

Đình Nghị, Vũ Thị Hải Yến, (2009), giáo trình Luật sở hữu trí tuệ, NXB Giáo dục, Hà Nội,Tr 8

Trang 9

Thứ hai, theo quan điểm về bù đắp sức lao động (reward)3 Quan điểm này xuất phát từ học thuyết của Locke về lao động và trí tuệ 4Khi tác giả sáng tạo ra tác phẩm thì tác phẩm đó mang lại cho xã hội một giá trị nhất định Để làm được điều này tác giả phải đầu tư nhiều thời gian công sức do đó xã hội phải bù đắp những chi phí cho sự nỗ lực của tác giả Cách thức hữu hiệu để đảm bảo sự bù đắp xứng đáng

là dành cho người đó độc quyền pháp lý trong một thời gian nhất định để cấm người khác khai thác

Thứ ba, theo quan điểm khuyến khích (incentive): Quan điểm này dựa trên giả định rằng để khuyến khích và tạo động lực cho người phát minh sáng tạo đầu tư công sức thời gian và tiền bạc vào việc phát minh sáng tạo, xã hội phải can thiệp để gia tăng kỳ vọng về lợi ích của người phát minh sáng tạo Việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ sẽ khuyến khích tác giả sáng tạo ra tác phẩm mới

Thứ tư, theo quan điểm mở thông tin sáng tạo (disclosure): Quan điểm này cho rằng khi chủ thể sáng tạo chấp nhận mở những thông tin về sở hữu trí tuệ thì xã hội được hưởng lợi từ việc sử dụng những đối tượng này Do đó xã hội phải thừa nhận và bảo vệ quyền cho chủ thể sáng tạo

1.1.2 Khái niệm sở hữu công nghiệp và các đặc trƣng cơ bản của sở hữu công

nghiệp

1.1.2.1Khái niệm sở hữu công nghiệp

Theo khoản 4, Điều 4 Luật sở hữu trí tuệ 2005 thì “Quyền sở hữu công

nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanhdo mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh.”

Các đối tượng bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp tại Việt Nam có thể được phân thành hai nhóm dựa vào tính chất riêng của chúng như sau: Nhóm các thành quả sáng tạo khoa học công nghệ: sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công

3

Quan điểm này còn được gọi là quan điểm khen thưởng (reward)

Trang 10

nghiệp, thông tin bí mật, thiết kế bố trí mạch tích hợp và nhóm các dấu hiệu đặc trưng dùng để phân biệt như: nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại,

- Sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên

Cần lưu ý phân biệt khái niệm “sáng chế” và khái niệm “phát minh” Sáng chế là giải pháp để giải quyết các vấn đề kỹ thuật Con người với trí tuệ của mình “sáng tạo” ra các đối tượng vật thể hoặc các quy trình chưa tồn tại trên thế giới này Nói cách khác, nếu không có sự sáng tạo của con người thì không thể có sản phẩm hoặc quy trình được bảo hộ là sáng chế Luật sở hữu trí tuệ bảo hộ sáng chế bằng hình

thức cấp độc quyền có thời hạn cho chủ sở hữu Trái lại, “phát minh” là một sự phát

hiện ra những quy luật, hiện tượng, vật thể v.v.đã tồn tại khách quan trong thế giới

vật chất Con người không “sáng tạo” ra các đối tượng được “phát minh” mà thực tế chỉ “phát hiện” ra chúng mà thôi Luật sở hữu trí tuệ không bảo hộ phát minh

- Kiểu dáng công nghiệp là hình dáng bên ngoài của sản phẩm được thể hiện

bằng hình khối, đường nét, màu sắc hoặc sự kết hợp những yếu tố này

- Thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn (sau đây gọi là thiết kế bố trí) là cấu

trúc không gian của các phần tử mạch và mối liên kết các phần tử đó trong mạch tích hợp bán dẫn

Mạch tích hợp bán dẫn là sản phẩm dưới dạng thành phẩm hoặc bán thành phẩm,

trong đó các phần tử với ít nhất một phần tử tích cực và một số hoặc tất cả các mối liên kết được gắn liền bên trong hoặc bên trên tấm vật liệu bán dẫn nhằm thực hiện chức năng điện tử Mạch tích hợp đồng nghĩa với IC, chip và mạch vi điện tử

- Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá

nhân khác nhau

- Tên thương mại là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh

doanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh

Khu vực kinh doanh quy định tại khoản này là khu vực địa lý nơi chủ thể kinh doanh

có bạn hàng, khách hàng hoặc có danh tiếng

- Chỉ dẫn địa lý là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa

phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể

Trang 11

- Bí mật kinh doanhlà thông tin thu được từ hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ,

chưa được bộc lộ và có khả năng sử dụng trong kinh doanh

1.1.2.2 Đặc điểm của quyền sở hữu công nghiệp

Quyền sở hữu công nghiệp là một loại quyền tài sản nên nó có đặc điểm của một tài sản là chủ sở hữu có toàn quyền với tài sản của mình, tuy nhiên với tính chất

là một loại tài sản trí tuệ - là tài sản vô hình nên nó có những đặc điểm khác biệt với các tài sản hữu hình và khác cả với quyền tác giả

Thứ nhất, quyền sở hữu công nghiệp không hoàn toàn có đầy đủ 3 quyền năng: quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt như các tài sản thông thường

Bởi lẽ khác với các loại tài sản khác, quyền sở hữu công nghiệp là tài sản vô hình

có hai đặc tính cơ bản là trị giá được bằng tiền và chuyển giao được trong giao lưu dân sự Rõ ràng, con người không thể nhìn thấy, không thể chạm vào loại tài sản này, Giá trị của nó không phải nhờ vào các “thuộc tính vật chất” mà nhờ vào “nội dung trí tuệ” Chủ sở hữu quyền không thể chiếm hữu (cầm, nắm) tài sản được mà việc khai thác giá trị quyền được thực hiện thông qua hành vi sử dụng đối tượng

Thứ hai, quyền sở hữu công nghiệp cũng khác hẳn với quyền tác giả ở những điểm sau:

Một là, bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp là bảo hộ về nội dung, khác với quyền tác giả là bảo hộ về mặt hình thức

Nếu như Quyền tác giả bảo hộ tác phẩm là bảo hộ hình thức thể hiện của ý tưởng không phải bảo hộ nội dung ý tưởng nghĩa là chỉ cần tác phẩm được sáng tạo

và được ghi nhận dưới một hình thức vật chất nhất định như trên giấy, băng, đĩa thì xem như tác phẩm đã hình thành và lúc đó quyền tác giả cũng được bảo hộ Chẳng hạn một người có ý tưởng về việc sử dụng điệu dân ca Bắc Bộ làm chất liệu đưa vào

ca khúc mới của mình thì ý tưởng này không được bảo hộ.Chỉ khi nào ý tưởng này được thể hiện bằng những ký tự âm nhạc cụ thể trên khuôn nhạc, trên lời nhạc thì tác phẩm đó mới được bảo hộ Còn ngược lại bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp là bảo

hộ nội dung nghĩa là nội dung của đối tượng được bảo hộ phải được xem xét về các yếu tố, tiêu chí cụ thể như tính mới, tính sáng tạo hay tính phân biệt… thì mới được bảo hộ

Trang 12

Hai là, lĩnh vực áp dụng của quyền tác giả thường là các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học và các quyền liên quan trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật còn lĩnh vực áp dụng của sở hữu công nghiệp thường là các kết quả của hoạt động sáng tạo kỹ thuật (như sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp) hoặc các yếu

tố mang tính phân biệt trong hoạt động thương mại, kinh tế (nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý…)

Ba là, việc bảo hộ các đối tượng sở hữu công nghiệp phải dựa trên trên cơ sở việc cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Khác với quyền tác giả là quyền tự nhiên, xuất hiện khi tác giả sáng tác, làm ra tác phẩm, không nhất thiết phải có văn bằng

Bốn là, về thời hạn bảo hộ các đối tượng sở hữu công nghiệp ngắn hơn so với quyền tác giả

Thời hạn của văn bằng bảo hộ Quyền sở hữu công nghiệp được duy trì trong một thời hạn nhất định thường là 10 năm hoặc 20 năm hết thời hạn đó thì tư cách chủ sở hữu của quyền sở hữu công nghiệp sẽ chấm dứt trong khi đó thời hạn bảo hộ của quyền tác giả là 50 năm sau khi tác giả qua đời

Ngoài đặc điểm trên, Quyền sở hữu công nghiệp thể hiện những đặc trưng thương mại sau đây:

- Các đối tượng Sở hữu công nghiệp là một trong những yếu tố cấu thành hàng hoá, dịch vụ Quyền sở công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanhdo mình sáng tạo ra hoặc sở hữu Do đó ta nhận thấy các đối tượng trên đều mang tính chất hàng hóa, phục vụ quá trình kinh doanh

để tạo ra lợi nhuận

- Các đối tượng Sở hữu công nghiệp – tài sản trí tuệ được ứng dụng trong hoạt

động kinh tế - thương mại Tài sản này là kết quả của sự hoạt động trí tuệ hoặc do những điều kiện thiên nhiên và quá trình lao động tạo thành (chỉ dẫn địa lý) và được ứng dụng trong thương mại

Các đối tượng Sở hữu công nghiệp là một loại “tài sản đặc biệt" Với giá trị kinh tế

to lớn, các đối tượng Sở hữu công nghiệp được sử dụng làm vốn góp trong công ty, làm tài sản thế chấp vay vốn, có thể cho thuê, chuyển nhượng quyền sở hữu, hoặc

Trang 13

dùng để định giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán và các giao dich thương mại khác 5

1.2 Ý nghĩa của việc hiểu biết pháp luật về quyền sở hữu công nghiệp đối với giáo viên và sinh viên trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM

Trước hết, Nhà nước ta đã chính thức ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp , chính thức ghi nhận Luật sở hữu trí tuệ

là một bộ phận trong hệ thống pháp luật.Do đó việc hiểu biết các quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ là nghĩa vụ của mọi công dân bao gồm cả giáo viên và sinh viên , tất cả mọi người phải sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật

Đối vớigiáo viênvà sinh viên trường Kỹ thuật có những đặc điểm khác biệt

Họ chính là nhữngđối tượng thụ hưởng các thành quả sáng tạo cũng chính là chủ thể sáng tạo nên việc hiểu biết các quy định về quyền sở hữu trí tuệ còn mang lại những ý nghĩa sau:

Một là, với tư cách là chủ thể sáng tạo: Giáo viên và sinh viên luôn được đánh giá là lớp người có trình độ cao, có khả năng tạo ra nhiều sản phẩm mới trong đó có các đối tượng được bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp

Để tạo ra một giải pháp kỹ thuật mới, tạo ra một kiểu dáng mới chủ thể phải mất rất nhiều thời gian công sức và tiền bạc Một sản phẩm của sự sáng tạo ra đời không phải là kết quả của sự ngẫu nhiên, không phải là kết quả do tạo hóa ban ra mà là kết quả của một quá trình lao động hết sức nỗ lực và nghiêm túc Để có được kết quả như mong muốn có thể phải tiến hành chục lần thử nghiệm, hàng trăm lần phân tích, hàng nghìn lần bại thất bại Chính vì vậy việc các chủ thể sáng tạo được quyền hưởng từ thành quả của mình là điều vô cùng đương nhiên Chủ thể ấy phải được ghi nhận bằng cách xác lập quyền, được hưởng những lợi ích vật chất và tinh thần nhất định.Tuy nhiên vì có nhiều người không hiểu biết pháp luật nên có thể xảy ra nhiều tình huống không mong muốn như bị ép giá khi chuyển giao kết quả nghiên cứu, không có cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền khi có tranh chấp, có thể bị người khác chiếm đoạt công nghệ Việc hiểu biết các quy định sẽ giúp cho các chủ thể sáng tạo biết được các cách thức để bảo vệ thành quả của mình Khi một người được cấp văn

5

Hoàng Thị Thanh Nguyệt, Đặc trưng của quyền sở hữu công nghiệp, Hội thảo khoa học trường Cao đẳng thương mại Đà Nẵng,

Trang 14

bằng bảo hộ thì người này được độc quyền sử dụng và khai thác đối tượng được bảo

hộ nghĩa là chỉ có người được cấp bằng mới có quyền sử dụng và khai thác đối tượng được bảo hộ, người khác muốn sử dụng phải được cấp phép, phải được chuyển giao chuyển nhượng thì việc sử dụng mới phù hợp Do đó tính thương mại trong kết quả nghiên cứu sẽ gia tăng, có cơ sở pháp lý để giải quyết tranh chấp tránh được những rủi ro cho người nhận kết quả và tránh việc bị ăn cắp kết quả nghiên cứu

Từ việc biết cách thức bảo vệ thành quả, biết được những lợi ích mà mình sẽ nhận được sẽ kích thích sự sáng tạo các tài sản trí tuệ trong giáo viên và sinh viên

Hai là, với tư cách là người sử dụng, việc hiểu biết các quy định về quyền sở hữu trí tuệ giúp sinh viên tuân thủ đúng các quy định của pháp luật, biết tôn trọng thành quả của tác giả, chủ sở hữu của sản phẩm trí tuệ đó

Đặc biệt trong thời đại khoa học kỹ thuật phát triển, sự hội nhập kinh tế giữa các nước các khu vực trở nên gần gũi thì trước hết giáo viên và sinh viên sẽ là những

“công dân toàn cầu” – người tham gia vào tiến trình hội nhập thì việc không hiểu biết các quy định về quyền sở hữu công nghiệp nói riêng và quyền sở hữu trí tuệ nói chung là không thể được Hiện tại đã có rất nhiều nước trên thế giới đã xây dựng hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ rất mạnh mẽ và phát triển, ý thức về việc tôn trọng và bảo vệ sở hữu trí tuệ của công dân đã trở thành một thói quen của sự văn minh hiện đại, do đó là công dân của một nước hội nhập đặc biệt là giáo viên và sinh viên thìviệc hiểu biết các quy định về quyền sở hữu công nghiệp nói riêng và

sở hữu công nghiệp nói chung càng cần thiết

Ba là, việc hiểu biết các quy định về quyền sở hữu công nghiệp của giáo viên và sinh viên sẽ góp phần nâng cao việc bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ Nhà nước ta đã ban hành hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ khá lâu nhưng hiện nay tình trạng thiếu hiểu biết pháp luật dẫn đến nhiều hành vi xâm phạm vẫn diễn ra phổ biến: nhiều doanh nghiệp ngang nhiên sử dụng nhãn hiệu đã đăng ký của doanh nghiệp khác mà không biết đó là vi phạm, nhiều doanh nghiệp sao chép kiểu dáng sản phẩm của doanh nghiệp khác mà cho rằng đó là điều bình thường, trong khi đó nhiều người sáng tạo ra các kiểu dáng rất độc đáo có khả năng khai thác thương mại

có khả năng được bảo hộ độc quyền thì lại đi sản xuất hàng loạt mà không đi đăng

Trang 15

ký dẫn đến mất tính mới khi có chủ thể khác xâm phạm thì không thể nào bảo vệ được

1.3 Các kiến thức cơ bản về quyền sở hữu công nghiệp theo quy định của

pháp luật Việt Nam

1.3.1 Điều kiện bảo hộ các đối tƣợng sở hữu công nghiệp

1.3.1.1 Bảo hộ sáng chế và giải pháp hữu ích

Sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải

quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên

Người sở hữu bằng sáng chế sẽ được độc quyền sử dụng và khai thác sáng chế trong vòng 20 năm kể từ ngày nộp đơn đăng ký sáng chế Thông qua những độc quyền này, người sở hữu bằng sáng chế có thể ngăn chặn người khác sử dụng sáng chế được bảo hộ của mình vì mục đích thương mại Người sở hữu bằng sáng chế có

cơ hội chuyển giao quyền sử dụng hoặc bán sáng chế với chi phí lớn đặc biệt người

sở hữu bằng sáng chế thì vị thế cá nhân sẽ được nâng tầm rất nhiều Không phải bất kỳ ý tưởng, sự sáng tạo hay đầu tư trí tuệ nào cũng được bảo hộ dưới hình thức sáng chế Những nhà sáng chế phải dựa vào những nền tảng kiến thức, sự nghiên cứu và trí tuê để tạo ra những giải pháp ký thuật hữu ích giúp giải quyết được những vấn đề của cuộc sống như tạo ra một dược phẩm mới, một thiết bị mới

Điều kiện tiên quyết để một đối tượng có thể được coi là sáng chế là đối tượng đó

phải là giải pháp để giải quyết một vấn đề bằng biện pháp kỹ thuật Những giải pháp

không mang tính kỹ thuật sẽ đương nhiên bị loại trừ khỏi phạm vi bảo hộ dưới danh nghĩa là sáng chế (có thể đối tượng đó sẽ được bảo hộ theo quy định pháp luật khác,

ví dụ phần mềm máy tính không được bảo hộ dưới dạng sáng chế nhưng lại được bảo hộ theo quy định về quyền tác giả)

Tuỳ thuộc vào việc đáp ứng các điều kiện theo luật định, sáng chế có thể được bảo

hộ bằng hình thức Bằng độc quyền sáng chế hoặc Bằng độc quyền giải pháp hữu ích

Để được cấp Bằng độc quyền sáng chế, sáng chế phải đáp ứng 3 điều kiện: Có tính mới, có trình độ sáng tạo và có khả năng áp dụng công nghiệp

- Sáng chế được coi là có tính mới nếu chưa bị bộc lộ công khai dưới hình thức sử

Trang 16

dụng, mô tả bằng văn bản hoặc bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước hoặc ở nước ngoài trước ngày nộp đơn đăng ký sáng chế hoặc trước ngày ưu tiên trong trường hợp đơn đăng ký sáng chế được hưởng quyền ưu tiên (Trong trường hợp sáng chế

bị bộc lộ công khai cho một số người nhất định, hoặc đã công bố trong bài báo khoa học, tham gia triển lãm quốc tế hoặc quốc gia trong vòng 6 tháng trước khi nộp đơn đăng ký thì không bị xem là mất tính mới)

- Sáng chế có trình độ sáng tạo nghĩa là nếu căn cứ vào các giải pháp kỹ thuật đã được bộc lộ công khai trước đó thì sáng chế này làmột bước tiến sáng tạo,không thể được tạo ra một cách dễ dàng đối với người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực kỹ thuật tương ứng

- Sáng chế được coi là có khả năng áp dụng công nghiệp nếu có thể thực hiện được việc chế tạo,sản xuất hàng loạt sản phẩm hoặc áp dụng lặp đi lặp lại quy trình là nội dung của sáng chế và thu được kết quả ổn định

Giải pháp kỹ thuật đáp ứng điều kiện tính mới và khả năng áp dụng công nghiệp như nêu trên và không phải là hiểu biết thông thường có thể được cấp Bằng độc quyền giải pháp hữu ích (không yêu cầu điều kiện có trình độ sáng tạo)

Trên thực tế nhiều tố chức cá nhân trong đó có các giáo viên và sinh viên của trường thường nghiên cứu ra nhiều sản phẩm, đưa ra được nhiều giải pháp kỹ thuật thỏa mãn hai đặc tính là tính mới và khả năng áp dụng công nghiệp nhưng cho rằng chỉ khi nào có được một thành tựu vượt bậc, một sự sáng tạo hoàn toàn mới lạ thì mới được bảo hộ mà không biết rằng thành quả của mình cũng có thể được bảo hộ dưới dạng giải pháp hữu ích

Theo quy định, có một số đối tượng không được bảo hộ dưới dạng sáng chế như

-Phát minh,lý thuyết khoa học,phương pháp toán học;

- Sơ đồ,kế hoạch,quy tắc và phương pháp để thực hiện các hoạt động trí óc,huấn luyện vật nuôi,thực hiện trò chơi,kinh doanh; chương trình máy tính;

- Cách thức thể hiện thông tin;

- Giải pháp chỉ mang đặc tính thẩm mỹ;

- Giống thực vật,giống động vật;

Trang 17

- Quy trình sản xuất thực vật,động vật chủ yếu mang bản chất sinh học mà không phải là quy trình vi sinh;

- Phương pháp phòng ngừa,chẩn đoán và chữa bệnh cho người và động vật

1.3.1.2Bảo hộ kiểu dáng công nghiệp

Kiểu dáng công nghiệp là hình dáng bên ngoài của sản phẩm, được thể hiện bằng đường nét, hình khối, màu sắc hoặc sự kết hợp những yếu tố này Sản phẩm mang kiểu dáng công nghiệp được hiểu là đồ vật, dụng cụ, thiết bị,phương tiện thuộc mọi lĩnh vực, có kết cấu và chức năng nhất định, được sản xuất và lưu thông độc lập Chẳng hạn kiểu dáng bên ngoài của chiếc bàn, ghế, chai lọ, vỏ điện thoại, ti vi…

Trong môi trường cạnh tranh khốc liệt của nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp luôn muốn cá biệt hóa hàng hóa của mình thông qua kiểu dáng bên ngoài của sản phẩm.Hình dáng độc đáo và mới lạ của sản phẩm cũng góp phần tạo ra sự lôi cuốn và gây ấn tượng mạnh mẽ đối với người tiêu dùng.Vì vậy bảo hộ kiểu dáng công nghiệp luôn đóng một vai trò quyết định trong chiến lược kinh doanh của bất

kỳ nhà sản xuất nào Nếu bất kỳ cá nhân nào có những thiết kế mới lạ, độc đáo có thể mang lại giá trị cho sản phẩm thì có thể đăng ký bảo hộ kiểu dáng công nghiệp

để được độc quyền sử dụng, khai thác hoặc có thể dễ dàng chuyển giao, khai thác, bán lại cho doanh nghiệp có liên quan để thu lợi

Kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:

- Có tính mới;

Kiểu dáng công nghiệp được coi là có tính mới nếu kiểu dáng công nghiệp đó khác biệt đáng kể với những kiểu dáng công nghiệp đã bị bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng,mô tả bằng văn bản hoặc bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước hoặc

ở nước ngoài trước ngày nộp đơn hoặc trước ngày ưu tiên nếu đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp được hưởng quyền ưu tiên

Hai kiểu dáng công nghiệp không được coi là khác biệt đáng kể với nhau nếu chỉ khác biệt về những đặc điểm tạo dáng không dễ dàng nhận biết,ghi nhớ và không

thể dùng để phân biệt tổng thể hai kiểu dáng công nghiệp đó

Kiểu dáng công nghiệp được coi là chưa bị bộc lộ công khai nếu chỉ có một số người có hạn được biết và có nghĩa vụ giữ bí mật về kiểu dáng công nghiệp đó

Trang 18

Kiểu dáng công nghiệp không bị coi là mất tính mới nếu được công bố trong các các bài báo khoa học hoặc các triễn lãm hội nghị trong vòng 6 tháng trước thời điểm đăng ký kiểu dáng công nghiệp

Các tổ chức cá nhân cần lưu ý là việc đưa sản phẩm mang kiểu dáng công nghiệp ra

sử dụng, lưu thông trên thị trường hoặc bằng bất kỳ một hình thức nào khác để công chúng biết đến sản phẩm thì sẽ có nguy cơ làm mất đi tính mới của kiểu dáng công nghiệp Đây chính là một sai lầm mà không ít các tổ chức cá nhân sản xuất kinh doanh đã gặp phải Điều này đã dẫn đến hậu quả là đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp không được chấp nhận vì thiếu điều kiện là tính mới của kiểu dáng

Do vậy, một lưu ý mà các tổ chức, cá nhân cần quan tâm khi đăng ký bảo hộ kiểu dáng là thực hiện thủ tục này trước khi công bố sản phẩm đến với công chúng dù bằng bất kỳ hình thức nào

- Có tính sáng tạo;

Tính sáng tạo trong kiểu dáng công nghiệp được hiểu là kiểu dáng công nghiệp đó không thể được tạo ra một cách dễ dàng đối với người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực tương ứng

- Có khả năng áp dụng công nghiệp

Kiểu dáng công nghiệp được coi là có khả năng áp dụng công nghiệp nếu có thể dùng làm mẫu để chế tạo hàng loạt sản phẩm có hình dáng bên ngoài là kiểu dáng công nghiệp đó bằng phương pháp công nghiệp hoặc thủ công nghiệp

1.3.1.3 Bảo hộ thiết kế bố trí

Thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn (thiết kế bố trí) là cấu trúc không gian của các phần tử mạch và mối liên kết các phần tử đó trong mạch tích hợp bán dẫn

Thiết kế bố trí được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện: có tính nguyên gốc và

có tính mới thương mại

a) Thiết kế bố trí được coi là có tính nguyên gốc nếu đáp ứng các điều kiện sau đây: – Là kết quả lao động sáng tạo của chính tác giả;

– Chưa được những người sáng tạo thiết kế bố trí và những nhà sản xuất mạch tích hợp bán dẫn biết đến một cách rộng rãi tại thời điểm tạo ra thiết kế bố trí đó

Trang 19

b) Thiết kế bố trí là sự kết hợp các phần tử, các mối liên kết thông thường chỉ được coi là có tính nguyên gốc nếu toàn bộ sự kết hợp đó có tính nguyên gốc theo quy định

Tính mới thương mại của thiết kế bố trí

a) Thiết kế bố trí được coi là có tính mới thương mại nếu chưa được khai thác thương mại tại bất kỳ nơi nào trên thế giới trước ngày nộp đơn đăng ký

b) Thiết kế bố trí không bị coi là mất tính mới thương mại nếu đơn đăng ký thiết kế

bố trí được nộp trong thời hạn hai năm kể từ ngày thiết kế bố trí đó đã được người

có quyền đăng ký hoặc người được người đó cho phép khai thác nhằm mục đích thương mại lần đầu tiên tại bất kỳ nơi nào trên thế giới

c) Khai thác thiết kế bố trí nhằm mục đích thương mại là hành vi phân phối công khai nhằm mục đích thương mại đối với mạch tích hợp bán dẫn được sản xuất theo thiết kế bố trí hoặc hàng hoá chứa mạch tích hợp bán dẫn đó

Nhãn hiệu được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:

1 Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái,từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó,được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc;

2 Có khả năng phân biệt hàng hoá,dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hoá,dịch vụ của chủ thể khác

Nhãn hiệu được coi là có khả năng phân biệt nếu được tạo thành từ một hoặc một số yếu tố dễ nhận biết,dễ ghi nhớ hoặc từ nhiều yếu tố kết hợp thành một tổng thể dễ nhận biết,dễ ghi nhớ và không bao gồm các dấu hiệu phân biệt thuộc các trường hợp quy định sau đây:

a) Hình và hình hình học đơn giản,chữ số,chữ cái,chữ thuộc các ngôn ngữ không thông dụng,trừ trường hợp các dấu hiệu này đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi với danh nghĩa một nhãn hiệu;

Trang 20

Chẳng hạn như các hình học đơn giản như hình tròn, hình vuông, các chữ cái riêng rẻ thì không được bảo hộ nếu đứng riêng rẽ, nhưng nếu chúng được kết hợp một cách sáng tạo thành hình khối đặc biệt thì được xem xét bảo hộ Ví dụ như hình khối 4 hình tròn chồng lên nhau của hãng “AUDI” hoặc là sự kết hợp của chủa hai chữ cái “P” và “S” của nhãn hiệu P/S đã được biết đến rộng rãi

b) Dấu hiệu,biểu tượng quy ước,hình vẽ hoặc tên gọi thông thường của hàng hoá,dịch vụ bằng bất kỳ ngôn ngữ nào đã được sử dụng rộng rãi,thường xuyên,nhiều người biết đến;

Chẳng hạn doanh nghiệp không thể sử dụng tên “Nylon” để đăng ký cho mặt hàng “vải sợi” hoặc từ “Honda” để đăng ký cho xe máy

c) Dấu hiệu chỉ thời gian,địa điểm,phương pháp sản xuất,chủng loại,số lượng,chất lượng,tính chất,thành phần,công dụng,giá trị hoặc các đặc tính khác mang tính mô tả hàng hoá,dịch vụ,trừ trường hợp dấu hiệu đó đã đạt được khả năng phân biệt thông qua quá trình sử dụng trước thời điểm nộp đơn đăng ký nhãn hiệu; Chẳng hạn như sử dụng cụm từ “công nghệ Đức”, “chất lượng Nhật Bản”, sản phẩm này tốt nhất, “ferfect” để mô tả dịch vụ

d) Dấu hiệu mô tả hình thức pháp lý, lĩnh vực kinh doanh của chủ thể kinh doanh;

Chẳng hạn như “group”, công ty cổ phần, Co.ltd…

đ) Dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý của hàng hoá,dịch vụ,trừ trường hợp dấu hiệu

đó đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi với danh nghĩa một nhãn hiệu hoặc được đăng ký dưới dạng nhãn hiệu tập thể hoặc nhãn hiệu chứng nhận quy định tại Luật này;

e) Dấu hiệu không phải là nhãn hiệu liên kết trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đã được đăng ký cho hàng hoá,dịch vụ trùng hoặc tương tự trên cơ sở đơn đăng ký có ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên sớm hơn trong trường hợp đơn đăng ký được hưởng quyền ưu tiên,kể cả đơn đăng ký nhãn hiệu được nộp theo điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên;

g) Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi cho hàng hoá,dịch vụ trùng hoặc

Trang 21

tương tự từ trước ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên trong trường hợp đơn được hưởng quyền ưu tiên;

h) Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác đã đăng ký cho hàng hoá,dịch vụ trùng hoặc tương tự mà đăng ký nhãn hiệu đó đã chấm dứt hiệu lực chưa quá năm năm,trừ trường hợp hiệu lực bị chấm dứt vì lý do nhãn hiệu không được sử dụng theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều

95 của Luật này;

i) Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu được coi

là nổi tiếng của người khác đăng ký cho hàng hoá,dịch vụ trùng hoặc tương tự với hàng hoá,dịch vụ mang nhãn hiệu nổi tiếng hoặc đăng ký cho hàng hoá,dịch vụ không tương tự,nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có thể làm ảnh hưởng đến khả năng phân biệt của nhãn hiệu nổi tiếng hoặc việc đăng ký nhãn hiệu nhằm lợi dụng uy tín của nhãn hiệu nổi tiếng;

k) Dấu hiệu trùng hoặc tương tự với tên thương mạiđang được sử dụng của

người khác, nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có thể gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng

về nguồn gốc hàng hoá,dịch vụ;

l) Dấu hiệu trùng hoặc tương tự với chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ nếu việc

sử dụng dấu hiệu đó có thể làm cho người tiêu dùng hiểu sai lệch về nguồn gốc địa

lý của hàng hoá;

m) Dấu hiệu trùng với chỉ dẫn địa lý hoặc có chứa chỉ dẫn địa lý hoặc được dịch nghĩa,phiên âm từ chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ cho rượu vang,rượu mạnh nếu dấu hiệu được đăng ký để sử dụng cho rượu vang,rượu mạnh không có nguồn gốc xuất xứ từ khu vực địa lý mang chỉ dẫn địa lý đó;

n) Dấu hiệu trùng hoặc không khác biệt đáng kể với kiểu dáng công nghiệp của người khác được bảo hộ trên cơ sở đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp có ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên sớm hơn so với ngày nộp đơn,ngày ưu tiên của đơn đăng ký nhãn hiệu

1.3.1.5 Bảo hộ bí mật kinh doanh

Theo quy định của Điều 84 Luật Sở hữu trí tuệ , Bí mật kinh doanh sẽ được bảo hộ khi đáp ứng các điều kiện sau: không phải là hiểu biết thông thường và không dễ dàng có được; khi được sử dụng trong kinh doanh sẽ tạo cho người nắm

Trang 22

giữ lợi thế so với người không nắm giữ hoặc không sử dụng Bí mật kinh doanh đó; được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết để Bí mật kinh doanh đó không bị bộc lộ và không dễ dàng tiếp cận được.

Ví dụ: công thức chế biến đố uống nhẹ mang tên Coca Cola là một bí mật kinh doanh của công ty Coca Cola Chỉ một vài người trong công ty biết được công thức này; và nó được giữ bí mật trong một chiếc hầm của ngân hàng ở Atlanta, bang Georgia; những người biết được công thức bí mật này đã ký hợp đồng không tiết lộ Chính vì quyết định giữ bí mật về công thức này thay vì đang ký cấp bằng sáng chế, đến nay, công ty Coca Cola vẫn là doanh nghiệp duy nhất có thể sản xuất được loại nước uống đặc biệt được toàn cầu ưa chuộng Còn nếu công thức này được cấp bằng sáng chế (chỉ đươc bảo hộ tối đa là 20 năm, sau đó sẽ trở thành tài sản chung của nhân loại), mọi thành phần và công đoạn chế biến Coca Cola sẽ được bộc

lộ công khai, và cả thế giới đều có thể sản xuất Coca Cola

Bí mật kinh doanh có thể liên quan đến các loại thông tin khác nhau như kỹ thuật và khoa học (công thức sản xuất, cấu tạo kỹ thuật, mã máy tính, dữ liệu thử nghiệm…); thương mại (danh sách các nhà cung cấp và khách hàng, các chiến lược tiếp thị, quảng cáo và kinh doanh, kết quả nghiên cứu thị trường, phương pháp bán hàng…); tài chính (cơ cấu giá nội bộ, danh mục giá…); thông tin phủ định (tình trạng bế tắc trong nghiên cứu, các giải pháp kỹ thuật đã bị rút bỏ…)…

Cũng theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ thì các thông tin bí mật sau đây không được bảo hộ với danh nghĩa bí mật kinh doanh như bí mật về nhân thân, như tình trạng hôn nhân, tài sản của cá nhân, bí mật về quản lý nhà nước, bí mật về quốc phòng, an ninh, các thông tin bí mật khác không liên quan đến kinh doanh

1.3.1.6Bảo hộ tên thương mại

Tên thương mại được bảo hộ nếu có khả năng phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên thương mại đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh

Tên thương mại được coi là có khả năng phân biệt nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:

Trang 23

1 Chứa thành phần tên riêng,trừ trường hợp đã được biết đến rộng rãi do sử dụng;

2 Không trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với tên thương mại mà người khác đã sử dụng trước trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh;

3 Không trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người khác hoặc với chỉ dẫn địa lý đã được bảo hộ trước ngày tên thương mại đó được sử dụng

Danh tiếng của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý được xác định bằng mức độ tín nhiệm của người tiêu dùng đối với sản phẩm đó thông qua mức độ rộng rãi người tiêu dùng biết đến và chọn lựa sản phẩm đó

Chất lượng,đặc tính của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý được xác định bằng một hoặc một số chỉ tiêu định tính,định lượng hoặc cảm quan về vật lý,hoá học,vi sinh và các chỉ tiêu đó phải có khả năng kiểm tra được bằng phương tiện kỹ thuật hoặc chuyên gia với phương pháp kiểm tra phù hợp

1.3.2 Xác lập quyền sở hữu công nghiệp

Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì việc xác lập các đối tượng quyền sở hữu công nghiệp gồm hai cách thức là: theo nguyên tắc tự động và theo nguyên tắc đăng ký

1.3.2.1 Các đối tượng quyền sở hữu công nghiệp được bảo hộ theo nguyên tắc tự động

Trang 24

Các đối tượng quyền sở hữu công nghiệp gồm: Bí mật kinh doanh, tên thương mại

và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp được bảo hộ tự động không phải trải qua thủ tục đăng ký hoặc cấp văn bằng bảo hộ

- Quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh được xác lập trên cơ sở có được một cách hợp pháp bí mật kinh doanh và thực hiện việc bảo mật bí mật kinh doanh đó;

- Tên thương mại :Quyền đối với tên thương mại được xác lập trên cơ sở sử dụng

mà không phụ thuộc vào bất kỳ thủ tục đăng ký nào Việc đăng ký tên chủ thể kinh doanh theo quy định của pháp luật về thủ tục đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật về thủ tục đăng ký kinh doanh, thủ tục đăng ký hoạt động của doanh nghiệp và các chủ thêt kinh doanh khác chỉ có ý nghĩa ghi nhận ý định sử dụng tên gọi cảu chủ thể đó mà không có ý nghĩa xác lập quyền

Khi cá nhân, tổ chức tiến hành hoạt động kinh doanh thì cần phải có tên gọi, tên giao dịch và thông thường tên gọi này được xác lập trong bản khai đăng ký kinh doanh được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận Điều 20 Luật thương mại Việt

Nam quy định: “nội dung đăng ký kinh doanh gồm: Tên thương mại, tên người đại

diện có thẩm quyền, tên thương nhân, biển hiệu, địa chỉ giao dịch chính thức, ngành nghề kinh doanh, vốn điều lệ hoặc vốn đầu tư ban đầu, thời hạn hoạt động chi nhánh, cửa hàng, văn phòng đại diện nếu có” Như vậy, tên thương mại được xác

định chính thức ngay trong giấy đăng ký kinh doanh của chủ thể kinh doanh nhưng không có nghĩa là quyền đối với tên thương mại được phát sinh ngay tại thời điểm thủ tục đăng ký kinh doanh hòa thành Hay nói cách khác, đó chỉ là thời điểm khẳng định ý nghĩa của chủ thể sẽ sử dụng tên thương mại đó còn theo Luật sở hữu trí tuệ thì quyền đối với tên thương mại chỉ phát sinh khi nó được đưa vào sử dụng thực sự trên thực tế

1.3.2.2 Bảo hộ các đối tượng quyền sở hữu công nghiệp trên cơ sở đăng ký

1.3.2.2.1Chủ thể có quyền nộp đơn

a Người có quyền nộp đơn sáng chế, giải pháp hữu ich, kiểu dáng công nghiệp

Trang 25

Một trong những người sau đây có quyền nộp đơn đăng ký sáng chế, giải pháp hữu ích:

Tác giả là người tạo ra sáng chế, giải pháp hữu ích bằng công sức và chi phí của mình;

Tổ chức, cá nhân đầu tư kinh phí, phương tiện vật chất cho tác giả, dưới hình thức giao việc, thuê việc, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác Trường hợp Nhà nước đầu tư toàn bộ kinh phí, phương tiện vật chất - kỹ thuật thì quyền đăng ký thuộc về tổ chức, cơ quan được nhà nước giao thực hiện nhiệm vụ này sẽ có trách nhiệm đại diện cho nhà nước để đăng ký

Trong trường hợp nhiều tổ chức, cá nhân cùng nhau tạo ra hoặc đầu tư để tạo ra sáng chế, giải pháp hữu ích thì các tổ chức, cá nhân đó đều có quyền đăng ký và quyền đăng ký này chỉ được thực hiện khi tất cả các tổ chức, cá nhân đó đều đồng ý

Trường hợp nhà nước góp một phần kinh phí, điều kiện kỹ thuật thì một phần đăng

ký tương ứng với tỷ lệ góp vốn thuộc về nhà nước

Trường hợp sáng chế được tạo ra trên cơ sở hợp tác nghiên cứu giữa cơ quan nhà nước với tổ chức cá nhân khác, nếu trong hợp đồng hợp tác không có quy định nào khác, thì phần quyền đăng ký tương ứng với tỷ lệ đóng góp của nhà nước trong việc hợp tác nghiên cứu

Tổ chức, cá nhân có quyền đăng ký thì có quyền chuyển giao quyền đăng ký đó cho

tổ chức, cá nhân khác dưới hình thức hợp đồng bằng văn bản, có quyền để thừa kế quyền nộp đơn, hoặc thừa kế theo quy định của pháp luật, kể cả trong trường hợp đã nộp đơn đăng ký

b Chủ thể có quyền nộp đơn nhãn hiệu

Theo Điều 87, Luật sở hữu trí tuệ thì Tổ chức,cá nhân có quyền đăng ký nhãn hiệu dùng cho hàng hoá do mình sản xuất hoặc dịch vụ do mình cung cấp hoặc Tổ chức,cá nhân tiến hành hoạt động thương mại hợp pháp có quyền đăng ký nhãn hiệu cho sản phẩm mà mình đưa ra thị trường nhưng do người khác sản xuất với điều kiện người sản xuất không sử dụng nhãn hiệu đó cho sản phẩm và không phản đối việc đăng ký đó

c Chủ thể có quyền nộp đơn đăng ký chỉ dẫn địa lý

Trang 26

Quyền đăng ký chỉ dẫn địa lý của Việt Nam thuộc về Nhà nước

Nhà nước cho phép tổ chức,cá nhân sản xuất sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý,tổ chức tập thể đại diện cho các tổ chức,cá nhân đó hoặc cơ quan quản lý hành chính địa phương nơi có chỉ dẫn địa lý thực hiện quyền đăng ký chỉ dẫn địa lý Người thực hiện quyền đăng ký chỉ dẫn địa lý không trở thành chủ sở hữu chỉ dẫn địa lý đó

1.3.2.2.2 Thủ tục đăng ký và cấp văn bằng bảo hộ

a Bảo hộ sáng chế

- chủ thể có quyền nộp đơn sáng chế chuẩn bị hồ sơ gồm:

+ Tờ khai (02 bản theo mẫu);

+ Bản mô tả (02 bản, bao gồm cả hình vẽ, nếu có);

+ Yêu cầu bảo hộ (02 bản);

+ Các tài liệu có liên quan (nếu có);

+ Chứng từ nộp phí, lệ phí

- Số lượng hồ sơ: 01 (bộ)

Trong bộ hồ sơ thì bản mô tả là tài liệu quan trọng nhất:

Bản mô tả sáng chế gồm 2 phần: phần mô tả sáng chế và phạm vi bảo hộ sáng chế

Phần mô tả sáng chế gồm các nội dung:

 Tên sáng chế: thể hiện vắn tắt đối tượng hoặc các đối tượng được đăng ký (sau đây gọi là “đối tượng”); tên sáng chế phải ngắn gọn và không được mang tính khuếch trương hoặc quảng cáo;

 Lĩnh vực sử dụng sáng chế: lĩnh vực trong đó đối tượng được sử dụng hoặc liên quan;

 Tình trạng kỹ thuật của lĩnh vực sử dụng sáng chế: tình trạng kỹ thuật thuộc lĩnh vực nói trên tại thời điểm nộp đơn (các đối tượng tương tự đã biết, nếu có);

 Bản chất kỹ thuật của sáng chế: bản chất của đối tượng, trong đó phải nêu rõ các dấu hiệu (đặc điểm) tạo nên đối tượng và phải chỉ ra các dấu hiệu (đặc điểm) mới so với các giải pháp kỹ thuật tương tự đã biết;

 Mô tả vắn tắt các hình vẽ kèm theo (nếu có);

 Mô tả chi tiết các phương án thực hiện sáng chế;

 Ví dụ thực hiện sáng chế;

Trang 27

Phạm vi bảo hộ sáng chế:

Phạm vi bảo hộ được dùng để xác định phạm vi quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế Phạm vi bảo hộ được trình bày rõ ràng, ngắn gọn phù hợp với phần mô tả

và bản vẽ trong đó phải làm rõ những dấu hiệu mới của đối tượng yêu cầu bảo hộ

Thủ tục cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan có thẩm quyền

- Thẩm định hình thức đơn: Kiểm tra việc tuân thủ các quy định về hình thức đối với đơn, từ đó đưa ra kết luận đơn có được coi là hợp lệ hay không

- Ra thông báo chấp nhâ ̣n/từ chối chấp nhâ ̣n đơn:

+ Trường hợp đơn hợp lệ, Cục Sở hữu trí tuệ sẽ ra thông báo chấp nhận đơn;

+ Trườ ng hợp đơn không hợp lệ, Cục sẽ ra thông báo từ chối chấp nhận đơn

- Công bố đơn: Đơn được coi là hợp lệ sẽ được công bố trên Công báo sở hữu công nghiệp

- Thẩm định nội dung đơn:

+ Được tiến hành khi có yêu cầu thẩm định nội dung;

+ Đánh giá khả năng được bảo hộ của đối tượng nêu trong đơn theo các điều kiện bảo hộ (tính mới, trình độ sáng tạo, khả năng áp dụng công nghiệp), qua đó xác định phạm vi bảo hộ tương ứng

- Ra quyết định cấp/từ chối cấp văn bằng bảo hộ:

+ Nếu đối tượng nêu trong đơn không đáp ứng được các yêu cầu về bảo hộ, Cục Sở hữu trí tuệ sẽ ra quyết định từ chối cấp văn bằng bảo hộ;

+ Nếu đối tượng nêu trong đơn đáp ứng được các yêu cầu về bảo hộ, và người nộp đơn nộp lệ phí đầy đủ thì Cục Sở hữu trí tuệ sẽ ra quyết định cấp văn bằng bảo hộ, ghi nhận vào Sổ đăng ký quốc gia về sở hữu công nghiệp , và công bố trên Công báo Sở hữu trí tuệ

Trang 28

- Chủ thể có quyền nộp đơn bảo hộ kiểu dáng công nghiệp Chuẩn bị hồ sơ gồm: + Tờ khai yêu cầu cấp bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp

+ Bộ ảnh chụp hoặc bộ ảnh vẽ kiểu dáng công nghiệp thể hiện đầy đủ các góc nhìn của đối tượng cần đăng ký

+ Bản mô tả đăng ký kiểu dáng công nghiệp

+ Thông tin của người nộp đơn

Bản mô tả kiểu dáng công nghiệp là một thành phần không thể thiếu trong đơn đăng

ký kiểu dáng công nghiệp Đới với bản mô tả kiểu dáng công nghiệp, pháp luật có những yêu cầu nhất định Dưới đây là những quy định của pháp luật đối với bản mô

tả kiểu dáng công nghiệp:

Người nộp đơn phải nộp 01 bản mô tả kiểu dáng công nghiệp có các nộp dung sau:

Tên kiểu dáng công nghiệp: là chính tên sản phẩm mang kiểu dáng công nghiệp, tên

được thể hiện bằng những từ ngữ thông dụng, không có yếu tố mang tính chất quảng cáo,…

Lĩnh vực sử dụng kiểu dáng công nghiệp: là lĩnh vực sử dụng cụ thể của sản phẩm

mang kiểu dáng công nghiệp, trong đó nêu rõ mục đích sử dụng của sản phẩm đó

Kiểu dáng công nghiệp tương tự gần nhất: nêu rõ kiểu dáng công nghiệp có ít khả

năng phân biệt nhất đối với kiểu dáng công nghiệp cùng loại sản phẩm nêu trong đơn đã được biết đến một cách rộng rãi trước ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên

Liệt kê các ảnh chụp, bản vẽ kiểu dáng công nghiệp: liệt kê lần lượt các ảnh chụp,

bản vẽ phối cảnh… của kiểu dáng công nghiệp

Phần mô tả kiểu dáng công nghiệp: phải nêu được đặc điểm của kiểu dáng công

nghiệp,…

Phạm vi bảo hộ kiểu dáng công nghiệp: phải liệt kê đầy đủ các đặc điểm tạo dáng

cần và đủ để xác định bản chất kiểu dáng công nghiệp yêu cầu bảo hộ để từ đó xác định phạm vi bảo hộ kiểu dáng công nghiệp

Trang 29

- Giai đoạn nộp đơn và thẩm định đơn

+ Thẩm định hình thức (trong thời hạn 1 tháng kể từ ngày nộp đơn)

+ Công bố Đơn trên công báo sở hữu công nghiệp trong thời hạn 2 tháng kể từ ngày được chấp nhận đơn hợp lệ

+ Sau 03 tháng kể từ ngày công bố đơn sẽ có thông báo đăng bạ và cấp bằng nếu không có tranh chấp từ bên thứ 3

d Bảo hộ nhãn hiệu

- Chuẩn bị hồ sơ gồm:

Bộ hồ sơ đơn đăng ký nhãn hiệu hàng hoá phải bao gồm các tài liệu sau đây:

- Tờ khai yêu cầu cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hàng hoá (Tờ khai), làm theo Mẫu do Cục Sở hữu công nghiệp ban hành, gồm ba (3) bản;

- Quy chế sử dụng nhãn hiệu hàng hoá, nếu nhãn hiệu yêu cầu bảo hộ là nhãn hiệu tập thể, gồm một (1) bản;

- Mẫu nhãn hiệu hàng hoá, gồm mười lăm (15) bản;

- Bản sao tài liệu xác nhận quyền kinh doanh hợp pháp (Giấy phép kinh doanh hoặc Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, ), gồm một (1) bản;

- Tài liệu xác nhận quyền nộp đơn hợp pháp, nếu người nộp đơn thụ hưởng quyền nộp đơn của người khác (Chứng nhận thừa kế, Chứng nhận hoặc Thoả thuận chuyển giao quyền nộp đơn, kể cả đơn đã nộp, Hợp đồng giao việc hoặc Hợp đồng lao động, ), gồm một (1) bản;

- Giấy uỷ quyền, nếu cần;

- Bản sao đơn đầu tiên hoặc Giấy chứng nhận trưng bày triển lãm, nếu trong đơn có yêu cầu hưởng quyền ưu tiên theo Điều ước quốc tế, gồm một (1) bản;

- Tài liệu xác nhận về xuất xứ, giải thưởng, huy chương, nếu trên nhãn hiệu có chứa đựng các thông tin đó, gồm một (1) bản;

Trong bộ hồ sơ thì phần mô tả nhãn hiệu là thành phần rất cần thiết

Phần mô tả nhãn hiệu trong Tờ khai phải làm rõ khả năng phân biệt của nhãn hiệu, trong đó phải chỉ rõ từng yếu tố cấu thành của nhãn hiệu và ý nghĩa tổng thể của nhãn hiệu.Nếu nhãn hiệu có chứa từ ngữ không phải là tiếng Việt, thì phải ghi rõ cách phát âm (phiên âm ra tiếng Việt) và nếu từ ngữ đó có nghĩa, thì phải dịch nghĩa ra tiếng Việt

Ngày đăng: 27/11/2021, 08:51

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w