Những người cung ứng cũng có những ràng buộc vềkỳ hạn và khối lượng, sẽ ảnh hưởng đến đầu vào.Tính linh động của nhân công, dù bên trong giờ thay đổi, them hợac bớt nhóm hay bên ngoài xí
Trang 1Linh động ngay lập tức là không tồn tại Những người cung ứng cũng có những ràng buộc về
kỳ hạn và khối lượng, sẽ ảnh hưởng đến đầu vào.Tính linh động của nhân công, dù bên trong( giờ thay đổi, them hợac bớt nhóm) hay bên ngoài xí nghiệp (CDD, thời vụ,…), phải được lâptrình trước (vấn đề nhân sự và nghề nghiệp) Về thiết bị, nó có thể có khả năng vượt yêu cầu,nhưng điều này không phải luôn luôn có và mọi sự thay đổi khả năng sản xuất là một tiến trìnhdài Hai nguyên nhân cơ bản buộc nhà máy phải làm việc theo cách dự đoán:
1 Sự chênh lệch trong kỳ hạn chấp nhận được bởi khách hàng để nhận hàng và thời hạn cầnthiết cho sản xuất
2 Khả năng thích ứng có giới hạn của xí nghiệp đối với sự thay đổi của thị trường bắt buộc
xí nghiệp phải dịch chuyễn công vịêc (lisser sa charge de travail) để bù trừ
6.1.1 Bản báo cáo kỳ hạn khách hàng và kỳ hạn sản xuất
Trong nhiều hợp đồng mua các vật liệu tiêu thụ thong thường (thực phẩm, điện gia dụng, …),khách hàng lựa chọn 1 trong số những hàng hoá đựoc bày bán cho họ dù rằng tồn tại trên thịtrường những sản phẩm chất lượng tốt hơn hoặc giá cả rẻ hơn Trong những điều kiện cực đoan,
sự thoả mãn ngay lập tức người tiêu dùng sẽ là điều kiện tiên quyết của sự bán Trong nhữngtrường hợp khác, khách hàng chấp nhận một kỳ hạn giửa thời điểm khi mà họ biểu lộ nhu cầu(sự ký hợp đồng) và thời điểm mà nhu cầu này phải được thoả mãn (sự nhận hàng) Khoảng thờigian này được gọi chung là kỳ hạn giao hàng
Đối với xí nghiệp, kỳ hạn giao hàng này tương ứng với:
1 thời gian hành chánh: năm bắt yêu cầu, kiểm tra hàng tồn kho, …
2 thời gian cung cấp hàng hoá: là khoảng thời gian từ lúc bộ phận sản xuất nhận nhữngthông tin liên quan đến nhu cầu và thời đoạn mà sản phẩm đã hoàn thành, sẵn sàng để gởi
3 thời gian vận chuyển, thời gian cần thiết để chuyển hàng hoá từ nơi sản xuất đến nơi tiêuthụ
Trang 26 Khâu hoàn tất (Kiểm tra và đóng gói).
Những hoạt động này có thể gối đầu lên nhau Chu kỳ sản xuất tương ứng với khoảng thờigian từ ngày kí hợp đồng đến ngày thành phẩm sẵn sàng Người ta có thể phân biệt những tìnhhuống khác nhau theo sơ đồ dưới đây:
Tình huống 1: người quản lý có thời gian để đưa ra những yêu cầu cung cấp, để sản xuất và để
giao hàng trong kỳ hạn dự đoán Sự quản lý dự đoán là vô ích nếu công cụ sản xuất có khả năngđáp ứng mọi nhu cầu, trong trường hợp ngược lại dự đóan là bắt buộc
Nguyễn Thành Văn-Nguyễn Hồng Hảo-Mai Anh Hoàng-Nguyễn Hữu Tuấn Trang
-2-Lập đơn hàng
Nhận sản phẩm
Thông tin về sản xuất Thành phẩm
Trang 3Tinh huống 2: những đơn hàng được chia làm 2 nhóm: một phần được thực hiện dựa trên dự
đoán, phần còn lại trên những đơn hàng chắc chắn
Tình huống 3-6: mọi sự cung cấp phải được dự đoán Về sản xuất, có thể giới hạn tác động của
tình huống bằng cách làm việc trên quan niệm về sản phẩm
Người ta gọi tỷ số bất ổn là tỷ số giữa kỳ hạn sản xuất và chu kỳ sản xuất Tỷ số này càngnhỏ thì nhà máy càng phải làm việc theo cách dự đoán Ngược lại, một tỷ số gần 1 không cónghĩa là không cần sự quản lý theo dự đoán Những tham số khác được dùng là: những sự thayđổi khối lượng cầu và những khả năng thích ứng của hệ thống sản xuất
6.1.2 Khả năng phản ứng khi nhu cầu giảm
Một trong những đặc trưng quan trọng của thị trường hiện tại là mức cầu ngày càng biếnđộng theo thời gian Những sự biến động này có thể là do bối cảnh kinh tế (tác động của thờitrang) hay theo thời vụ Đối mặt với mức cầu thay đổi xí nghiệp có thể có hai thái độ Một làđảm bảo một sự sản xuất đều đặn, với 1 lượng tồn kho thành phẩm và bán thành phẩm Hai làphải thường xuyên thích ứng các nguồn lực để thỏa mản sự mong đợi của khách hàng, do đóhoàn thiện khả năng đáp ứng của xí nghiệp với nhu cầu Khi mà điều đó khả thi, cách giải quyếtđược chấp nhận sẽ là sự thoả hiệp giữa tính năng động của nguồn lực và hàng dự trữ
déstockage
stockage
demande
production lissée
Hình 6.1 – Production lissée
Sự tìm kiếm một lượng sản xuất trước (xem hình 6.1) biểu thị nhiều thuận lợi: sự cungứng đều đặn, sự sử dụng tốt máy móc và lao động cân đối Điều đó cho phép đáp ứng một cáchrất đơn giản những thay đổi về khối lượng của 1 sản phẩm đã được hoàn toàn xác định hay chỉ
có biến đổi ở khâu sau cùng Lượng hàng dự trữ sẽ làm tăng phí tổn tài chính và thêm rủi ro dolượng hàng không bán được Hơn nữa nó không cho phép sản phẩm được thay đổi (có tính cánhân, sự khác biệt) Đây là phương thức áp dụng trong những nhà máy với thiết bị đắt tiền, sảnxuất những hàng hoá tầm thường, và việc bán sẽ rất giới hạn trong năm (đồ chơi, bàn ghế ngòaivườn)
Trang 4Sản xuất Nhu cầu
Hình 6.2 – Production collée à la demande
Sự thích ứng thường xuyên với nhu cầu đòi hỏi doanh nghiệp luôn năng động Khả năng nàychịu chi phối bởi những điều kiện khác nhau (xem hình 6.2)
1 Cung cấp phải dễ dàng và nhanh chóng đạt được, nếu không phải có hàng dự trữ
2 Trang thiết bị phải đáp ứng được khi có nhu cầu hay việc gọi gia công phải dễ dàng
3 Khối lượng nhân công phải có thể thay đổi mạnh (khả năng tuyển dụng theo mùa, hợpđồng ngắn hạn, …), tránh những khi nhân công không có việc
Tính năng động rất cần khi:
1 Khi sự sản xuất lệ thuộc vào sự cung cấp (mứt, trái cây đóng hộp) hay nhiều thứ khôngthể lưu trữ (khoai tây chiên, dồi trắng cho Noen), những đồ này thì thường xuyên đủtrong chế biến nông sản
2 Khi mà những sản phẩm cuối cùng rất đa dạng và chi phí lưu trữ, đặc biệt là chi phí lienquan với rủi ro bị ế hàng cao, điều này đặc biệt đúng trong công nghiệp xe hơi
Việc giảm tỷ số bất ổn có thể do giảm những thời gian hành chính (việc nhận đơn hàng bằngEDI), những kỳ hạn giao hàng ( hậu cần hòan thiện) hay chu kỳ công nghiệp Điều này sẽ đượcthấy trong chương cuối về sự sản xuất đủ nhất và đúng lúc
Hệ thống hoạch định dựa vào 3 giai đoạn chính:
1 Xác định những dự đoán của sự bán
Nguyễn Thành Văn-Nguyễn Hồng Hảo-Mai Anh Hoàng-Nguyễn Hữu Tuấn Trang
Trang 5-4-2 Xác định kế hoạch sản xuất bằng cách đối chiếu nhu cầu, nguồn lực sản xuất, khả năngcung cấp và nguồn nhân lực.
3 Xác định những nhu cầu nguyên vật liệu và thành phần cần thiết cho kế hoạch sản xuất
Những quyết định được chọn trong giai đoạn này sẽ cho phép:
- lên kế hoạch về ngày tiến hành sản xuất những thành phần được làm bên trong nhà máy
và ngày đặt hàng nếu được cung cấp bên ngoài,
- xác định mức dự trữ thành phẩm,
- định hình mức hoạt động của nguồn nhân lực trực tiếp,
- xác định những lời mời gia công
Tập hợp những quyết định được tổng hợp dưới hình thức những giai đọan được gọi là kế hoạchsản xuất (hay các kỳ hạn) Một kế hoạch sản xuất phải ghi rõ ít nhất, trong mỗi giai đọan trongthời gian cho phép, những mặt hàng nào phải sản xuất và số lượng bao nhiêu Một kế hoạch thoảđáng phải đáp ứng 3 đòi hỏi cấp thiết sau:
1 thoả mãn nhu cầu khách hàng,
2 tạo điều kiện tốt nhất cho sản xuất ( xưởng, người điều khiển…)
3 bảo đảm sản xuất ở gia thấp nhất, hay với khả năng sinh lợi lớn nhất
Hai điều kiện đầu tiên thì không rỏ ràng Trong phần lớn trường hợp, chúng thể hiện sự ràngbuộc về số lượng mà chúng ta tự định ra
1 Thoả mãn nhu cầu đòi hỏi nhà máy phải có khả năng:
2 Tạo những điều kiện cần thiết tối thiểu cho sản xuất, như ở mọi thời điểm những nguồnlực cần thiết trong sản xuất phải được có sẳn (trang thiết bị, nguồn nhân lực hay vật liệu).Đối với những nguồn lực quyết định người ta tìm sự cân bằng giữa nhu cầu và khả năngdoanh nghiệp
Để vận hành, hệ thống hoạch định sẽ sử dụng những thông tin và dử liệu đến từ những nguồnkhác nhau:
1 Từ ban giám đốc, với những chính sách chung để hiệu chỉnh nhu cầu (cân phân giửa sảnxuất trước hay sau đơn hàng), những mục tiêu chung (tài chính, mức tồn kho, chấtlượng…)
2 Từ phòng nhân sự để nắm bắt sự tiến triển của nhân viên và những phương tiện ưu đải đểcân chỉnh giửa nhân công và sản xuất
- giờ làm việc linh động,
- lao động thời vụ, tuyển dụng, gia công để tăng khả năng doanh nghiệp
- sa thải, thất nghiệp từng phần hay thất nghiêp do không có đơn hàng (kỹ thuật)
3 Từ bộ phận thương mại để xác định những nhu cầu chắc chắn và dự đoán cũng như cáchphản ứng của thị trường trong trường hợp thiếu hàng
4 Từ bộ phận sản xuất, liên quan đến trang thiết bị
5 Từ bộ phận thu mua, sự cung cấp và sự hiểu biết về các nhà cung cấp
6 Từ những dịch vụ kế toán, với những dử liệu tài chính (phí tồn kho, lương, lợi nhuận).6.3 Hệ thống thứ bậc và sự kết nhóm
Trang 6Giả sử rằng chúng ta sản xuất xe hơi có mẩu X, với kiểu 3 hoặc 5 cửa, với 5 khả năng vềđộng cơ, 20 màu sắc… và rằng chúng ta muốn thiết lập một hệ thống dự đoán về số lượng bánhoặc sản xuất Chúng ta cần đến mức độ chi tiết nào? Màu sắc có thể được lọai ra, đó là chi tiết
có thể thực hiện vào lúc cuối Động cơ, một đặc trưng quan trọng, nhưng nếu kỳ hạn sản xuấtcủa một động cơ là 3 tháng, 1 kê họach là 1 năm có phải lưu tám không, còn nếu kế họach là 3tháng ?
28/02/06
Qua ví dụ nhỏ này, hai câu hỏi được đặt ra: Kế họach trong bao lâu và dử liệu nào cần được quantâm.? Hai câu hỏi này được đặt ra cho phần lớn các phương pháp ra quyết định Đáp ứng thôngthường nhất là đặt ra một hệ thống phân cấp tương ứng gồm:
- những quyết định chiến lược cho thời kỳ dài
- những quyết định sách lược cho thời kỳ trung bình,
- những quyết định tác chiến cho thời kỳ ngắn hạn
Sự phân cấp 1 công việc trong một tình huống được xác định bởi việc mức ấy có một hay nhiềumức cao hơn không
Đồng thời, độ tinh vi của thông tin sẽ không như nhau Càng ở mức thấp thì thông tin càng chitiết Càng nhiều mức cao thông tin càng phải kết nhóm
6.3.1 Nguyên tắc kết nhóm
Nguyên tắc kết nhóm có thể được định nghĩa như là một phương pháp mà một tập hợp dữliệu được thay thế bởi một tập hợp ít dữ liệu hơn, nhưng vẩn giử lại những phần có nghĩa củathông tin khởi đầu Nguyên tắc này sẽ tự minh chứng đồng thời trong phạm vi dự đoán và trongphạm vi hoạch định
1 Sự dự đoán trên những dữ liệu tổng hợp là do hai nguyên nhân:
- việc thu thập thông tin càng phức tạp và tốn kém khi thông tin càng được chia nhỏ;
- sự chính xác của dự đoán tăng lên khi sự phân nhỏ thông tin giảm xuống Điều này có thểđược trực giác và được xác minh bởi thống kê Giả sử rằng sản phẩm nghiên cứu suy tànsau 10 phiên bản có thể và rằng sự bán mổi phiên bản tuân theo luật Normale với trungbình là 100 và độ lệch chuẩn là 5 Từ đó ta suy ra ở mức 95%, sẽ bán được 90 và 110 chomỗi phiên bản, nghĩa là số lượng bán của sản phẩm nằm giữa 900 và 1100
- Tổng của n luật phân bố chuẩn N (n,) là một phân bố chuẩn N( , )n n Tất cả sảnphẩm tuân theo luật phân bố chuẩn N (1000,16) và dự toán ở mức 95% cho ta số lượngsản phẩm trong khoảng từ 968 đến 1032 (so sánh với trường hợp đầu là 900 đến 1100)
2 Trong vấn đề kế hoạch sản xuất, ta được phép giảm số lượng thông tin xử lý xuống một mứcnào đó.Vì vậy sự kết nhóm (agrégation) sẽ có lợi cho việc đơn giản hóa mô hình (modélisation)của những loại vấn đề này, vì chúng thường dẫn đến những mô hình phức tạp và nặng nề donhiều thông số và biến số
3 Sự kết nhóm có thể thực hiện trên nhiều loại dử liệu sau:
Trang 7nhóm mong muốn Ở những quyết định chiến lược, có trách nhiệm trong việc quản lý sản xuấttrong dài hạn (vài năm), thời kỳ sẽ được tính theo tháng, trong khi đối với quản lý có tính ngắnhạn, như xác định lịch trình thao tác trên máy móc, thời kỳ đươc tính theo giờ Boskma đãnghiên cứu một ví dụ thực tế những tác động của sự kết nhóm thời gian Kết quả cho thấy sựquan trọng của chiều dài thời kỳ đối với hiệu quả của một kế hoạch trung hạn Thât ra nhữngthông tin có được bởi mô hình này sẽ càng chính xác nếu các thời kỳ càng ngắn.Sự chính xáccủa các dử liệu này có vẻ thú vị đối với những giai đọan ngắn, ở dài hạn lại trở nên nguy hiểm, vìthông tin mà ta sử dụng thường được dự đóan, nghĩa là yếu tố bất ngờ có thể rất quan trọng.Vìthế vấn đề là xác định chiều dài thích hợp với thời gian nghiên cứu Trong vài trường hợp người
ta có thể sủ dụng thời kỳ đủ ngắn trong thời gian đầu (ví dụ giờ), tiếp theo tăng chiều dài nhữngthời kỳ sau đó (ví dụ ngày hoặc tuần)
6.3.3 Sự kết nhóm sản phẩm
Trong mục đích giảm số tham số thao tác, người ta tìm cách để tập hợp lại những sản phẩm cùngloại Sự tập hợp này chắc chắn rằng phải dựa vào sự liên kết nào đó Người ta có thể có nhiềuphương pháp khác nhau:
1 Phương pháp đầu tiên là tập hợp trong cùng một lớp, những sản phẩm có những đặc trưngchung Đó là sự kết nhóm logic của những sản phẩm.Những đặc trưng chung này có thể ví làgamme của sự chế tạo, giá sản xuất, giá tồn trữ, nguồn lực cần thiết,… Sự tập hợp này đáng đượcquan tâm vì thường có nhiều sản phẩm chỉ khác nhau một vài đặc trưng thứ yếu như màu sắc, sựhoàn thành hoặc sự đóng gói Ví dụ: một xí nghiệp sản xuất các vật dụng nhà bếp (xoong, chảorán, ) với nhiều kiểu dáng và đường kính Trong quá trình sản xuất, việc xử lý phụ thuộc hai đặctrưng quan trọng: vật liệu (inox hay nhôm) và độ sâu của vật dụng (thấp hay cao hơn 10cm) Vìvậy người ta nhóm những sản phẩm cùng loại thành 4 lớp Những đặc trưng không giống nhau sẽđược bỏ qua ở giai đọan kết nhóm nhưng sẽ lại được tính đến nếu việc kết nhóm không còn
2 Một kỹ thuật đơn giản khác là xác định một sản phẩm chuẩn trung bình dựa trên trung bìnhcủa những sản phẩm thực tế Ví dụ, nếu chúng ta sản xuất 4 tivi mẫu mà thời gian sản xuất và tỷ
lệ phần trăm được bán cho bởi bảng sau:
Sự kết nhóm cũng có thể áp dụng vào những thành phần, bằng cách xem nhiều thành phần nhu
1 bộ phận Ví dụ, người ta sẽ nói đến động cơ mà không quan tâm nhiều đến các thành phần cấuthành Điều đó tương ứng với sự tập hợp những vật thể Nó được ứng dụng đặc biệt trong những
Trang 8xí nghiệp mà những hoạt động lắp ráp sẽ cho ra những sản phẩm cuối cùng Nhưng không phảiluôn luôn dễ dàng để xác định những đặc tính kỹ thuật của đối tượng được kết nhóm.
Mổi dịch vụ khác nhau của một xí nghiệp có thể có một cách kết nhóm Nếu chúng ta sử dụng lại
ví dụ của sự chế tạo đồ dùng nhà bếp Đối với bộ phận kinh doanh một họ sản phẩm sẽ xác địnhbởi những phương diện (mẫu mã, vật liệu chế tạo, chiều dầy của đáy, cán có thể tháo rời hay gắncứng) Vì vậy phải đi từ kết nhóm này đến một kết nhóm khác
6.3.4 Sự kết nhóm những phương tiện sản xuất
Người ta phân biệt 2 lập luận để kết nhóm:
1 Sự kết nhóm thành cụm sản xuất: nó dựa vào việc tập hợp lại những máy móc có những đặctrưng chung hay gần giống nhau, ví dụ những máy móc có thể thực hiện những thao nhưng khácnhau về thời gian thực hiện, điều chỉnh, những ràng buộc kỹ thuật,…Vì vậy người ta thay thếnhóm máy này bằng họ mà chúng phụ thuộc để có một mô hình kết nhóm Những sự khác nhaugiữa những máy móc của một cụm giống nhau sẽ được tính khi sự kết nhóm không còn
2 Sự kết nhóm tuyến: xem như chỉ một máy, một số máy móc mà người ta tìm thấy trong cùng
1 tiến trình sàn xuất.Ví dụ, nếu phần lớn sản phẩm khi hình thành sẽ đi qua máy A, sau đó quamáy B, thì có thể kết hợp hai máy và chỉ xem như là 1 máy kết hợp (AB) để làm giảm thông số.Nhưng loại kết hợp này có nhiều nguy cơ sai lệch
Ví dụ : Giả sử rằng năng suất của máy A là 20 đơn vị mỗi giờ, của máy B là 150 đơn vị vàrằng 75% sản phẩm của máy A sẽ qua máy B, 25% còn lại sẽ qua trên những máy khác Nếungười ta cho rằng năng suất máy kết hợp (AB) là năng suất của máy vào (máy B) thì người tađánh giá thấp năng suất của (AB)
Ví dụ này nhấn mạnh tầm quan trọng của sự hài hòa giữa các thông số dùng để kết nhóm Điềunày không phải luôn dễ dàng cũng như có thể thực hiện.Thêm nữa, loại kết nhóm này khó thựchiện vì những ràng buộc về kỹ thuật của máy móc có thể rất khác nhau thậm chí có khi tráingược và vì thế khó khăn để xác định những đặc tính của một nhóm như thế
Cuối cùng, một kết nhóm của máy móc theo cụm hay theo tuyến có thể có lời cho một loại sảnphẩm nhưng không thể thực hiện cho những lọai khác.Vì vậy phải theo dõi xem những kết nhómcủa máy móc phải hài hòa với tập hợp các sản phẩm, điều này sẽ giới hạn them các khả năng
ThángTuầnNgày
Loại sản phẩm
Họ sản phẩmMẫu sản phẩm
Nhà máy/xưởngXưởng/cụmCụm/máy móc
Mỗi phạm vi sẽ có một kỳ hạn chuyên biệt Những kỳ hạn này có một đặc tính chung : Chúng làkết quả của sự thỏa hiệp giữa điều mong đợi và những ràng buộc của bộ phận thương mại đối vớithực tế của bộ phận sản xuất và thu mua.Những người bán hàng, dựa trên nhựng kiến thức của
họ về thi trường và những dự đóan về số hàng bán, sẽ đưa ra 1 kỳ hạn để khách hàng chấp nhận.Với sản xuất, phải có nguồn lực, nghĩa là tất cả những điều cần cho sản xuất : nguyên vật liệu,máy móc,phương tiện di chuyễn, trụ sở, dụng cụ,…Nếu tính đến sự sẳn sàng của những nguồnlực này ( hàng tồn kho, khả năng cung ứng, lao động có sẵn, năng suất trang thiết bị) thì có kỳhạn cho sản xuất
Trong giai đoạn đầu tiên của việc thương lượng, sự cân bằng giữa nhu cầu và khả năng đượcxem xét sơ lược Người ta chỉ tính đến những nguồn lực quyết định mà khả năng đáp ứng củachúng hoặc gần bằng hoặc dưới với nhu cầu Giai đoạn sau sẽ được tính toán chính xác hơn tínhkhả thi của các kỳ hạn
Nguyễn Thành Văn-Nguyễn Hồng Hảo-Mai Anh Hoàng-Nguyễn Hữu Tuấn Trang
Trang 9-8-Khi sự tính toán này dẫn đến sự không khả thi vì nhu cầu trội hơn năng lực doanh nghiệp, mộtthỏa hiệp sẽ phải được tìm thấy:
Giảm dự đoán thương mại hoặc chấp nhận việc giao hàng chậm trễ
Tăng khả năng của nguồn lực có vấn đề: tăng số lượng giao nộp hoặc tìm nguồn cung ứngmới, tăng nhân lực hoặc kêu gọi gia công
Quá trình này sẽ được lặp lại cho đến khi đạt được một kỳ hạn khả thi và thỏa mãn tất cả cácbên Nhiều công cụ toán học có thể mang đến sự giúp đỡ quý giá trong sự tu chĩnh này Đối vớinhững kế họach dài và trung hạn, ta có thể cho rằng nhu cầu tỷ lệ với số lượng được chế tạo,điều này dẩn đến việc sử dụng những mô hình tuyến tính hoặc động mà chúng ta sẽ tìm hiểu kỹ
thiết lập đơn vị sản xuất mới
cải thiện công cụ sản xuất đang có
mua lại xí nghiệp cạnh tranh
2 Trên một phạm vi từ 6 tháng đến 2 năm, là kế hoạch công nghiệp và thương mại hay kếhọach sản xuất PIC (production plan).Kế hoạch này dựa trên những họ sản phẩm và trên nhữngchu kỳ vừa phải (tháng, nửa tháng) Nó tìm kiếm một sự cân bằng toàn cục một cách thô thiển,giữa nhu cầu dự đoán cần cho chế tạo và nguồn lực doanh nghiệp Những nguồn lực ở đây đượctính theo số lượng: thời gian tổng cộng của nhân lực sẳn có, năng suất của xưởng theo giờ, theotấn,…PIC sẽ cho phép thực hiện những điều chỉnh cần thời gian lâu: hợp đồng gia công, tìmkiếm những nguồn cung cấp mới, hợp đồng với công nhân về tính linh họat của giờ công…
sự khác nhau giữa lượng hàng tồn kho an tòan và lượng hàng tồn kho thực
PDP đòi hỏi một sự thỏa thuận giữa bộ phận thương mại, mua hàng và sản xuất
4 Lịch trình cho sản xuất và đặt hàng: Lịch trình này xuất phát trực tiếp từ PDP, chỉ rõ kỳ hạnsản xuất những thành phần, những module cấu thành của sản phẩm cuối cùng và thời gian đặthàng
Trang 105 Với những xí nghiệp lắp ráp theo nhu cầu, PDP căn cứ trên những module (được xem nhưsản phẩm đầu vào) Sau khi nhận hàng, chương trình lắp ráp (hoặc chương trình hoàn thành) sẽxác định thứ tự các hoạt động cho phép tạo ra thành phẩm
Nhận xét: trong thực tế, không phải luôn luôn có một sự tách biệt rõ ràng giữa PIC và PDP.Trong nhiều xí nghiệp, khái niệm PIC không tồn tại và người ta chỉ sử dụng PDP nhưng đượcthiết lập trên một phạm vi đủ dài Nhiều xí nghiệp sử dụng một PDP được thiết lập trong 52tuần PDP được dùng để xác định mức nguồn lực cần thiết trên phạm vi toàn cục và nhất làthiết lập một sự ước tính đối với những hàng cung ứng cần với thời hạn giao hàng dài Ngượclại, việc điều chỉnh năng suất chỉ hiện thực trên một phạm vi rất ngắn Đôi khi , ngòai thời hạnngắn, PDP được thiết lập cho những sản phẩm chuẩn (vì vậy kết nhóm) và không trên nhữngmẫu thật
Trong những chương tiếp theo, chúng ta đặc biệt quan tâm đến những phương pháp sử dụngtrong những thời kỳ khác nhau của kế hoạch :
Dự đoán nhu cầu,
Việc sử dụng những mô hình để xây dựng kế hoạch sản xuất,
Việc tính toán nhu cầu về thành phần
Nguyễn Thành VănNguyễn Hồng HảoMai Anh HoàngNguyễn Hữu Tuấn Trang 10-