Để ứng xử tốttrong công tác tiếp công dân và để phân loại xử lý đơn đúng, chính xác, cán bộ,KSV làm công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiểm sát việc giảiquyết khiếu
Trang 1Có thể nói rằng, công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiểmsát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp của ngành kiểm sát cónét đặc trưng riêng Không phải là phòng nghiệp vụ như các phòng nghiệp vụ củaViện KSND các cấp ( Phòng KSĐT án kinh tế, chức vụ…an ninh, trị an, ma túy…)nên không tồn tại khái niệm tội phạm, hình phạt, không bị áp lực bỡi oan, sai, bồithường theo Nghị quyết 388 Nhiều người thường nhận xét là Phòng kiểm sát vàgiải quyết đơn khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực tư pháp là phòng “ trung chuyển!” Tức là phòng chỉ có nhiệm vụ nhận đơn từ các nguồn gửi đến, vào sổ đơn, phânloại đơn, rồi chuyển cho các phòng nghiệp vụ hoặc các cơ quan khác có thẩmquyền xử lý là xong! Và như vậy, Phòng này không quan trọng “có” cũng được mà
“không” cũng chẳng sao! Bất cứ ai cũng có thể bố trí vào công tác tại phòng này,không cần người có năng lực! Do vậy, nhiều người về công tác tại Phòng đơnthường mang nặng tâm lý là “bị” phân công, nên không thật “mặn mà” với côngviệc, nhiệm vụ được giao
Nhưng thực tế, công tác : “ Tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo vàkiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp” của ngành kiểmsát không phải như vậy! Tuy ở lĩnh vực này không có nhiều văn bản pháp luậtphức tạp phải nghiên cứu như trong các hoạt động nghiệp vụ khác Nhưng để nắm
và hiểu rõ “ linh hồn” của công tác này không đơn giản chút nào Để ứng xử tốttrong công tác tiếp công dân và để phân loại xử lý đơn đúng, chính xác, cán bộ,KSV làm công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiểm sát việc giảiquyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp cần phải có kiến thức cơ bản, vững
và sâu về Hình sự, Tố tụng hình sự, Dân sự, Hành chính, Kinh tế, Lao động…vàcác văn bản pháp luật về công tác này và nếu hời hợt, không chịu khó nghiên cứu,tìm tòi, học hỏi thì khó có thể làm tốt công tác này
Trang 2Qua thời gian làm công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo tronghoạt động tư pháp, kết quả kiểm tra thực tế công tác này ở các đơn vị VKSND cấphuyện và các cơ quan tư pháp huyện và tỉnh, chúng tôi thấy nổi cộm vấn đề là việcgiải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực tư pháp chưa tuân thủ đúng thủ tục, trình
tự theo luật định, hay nói cách khác là cán bộ, KSV được phân công làm công tácnày không chịu đọc, nghiên cứu các văn bản pháp luật để giải quyết đúng các giảiquyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền Nên xét thấy cần hướng dẫn cho cán bộ,KSV làm công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiểm sát việc giải quyết khiếu
nại, tố cáo trong lĩnh vực tư pháp về “ Kỷ năng lập hồ sơ giải quyết khiếu nại,
tố cáo trong lĩnh vực tư pháp thuộc thẩm quyền”
Đảng, Nhà nước ta và ngành Kiểm sát nhân dân luôn coi trọng công táctiếp công dân Do vậy, bản thân tôi luôn trăn trở là làm thế nào để công tác tiếpcông dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáotrong hoạt động tư pháp của ngành kiểm sát của cán bộ, Kiểm sát viên ngành kiểmsát Bình Định đạt hiệu quả cao? Làm sao qua công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo
và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực tư pháp khẳng địnhđược uy tín, tuyên truyền được vai trò, chức năng của Viện KSND? Làm thế nào đểdân hiểu, dân tin và xem ngành kiểm sát là “chỗ dựa công lý” ?
Vì vậy, tôi mạnh dạn viết chuyên đề : “ Kỷ năng lập hồ sơ giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực tư pháp thuộc thẩm quyền”, đây là chuyên đề
không mang tính lý luận mà là chuyên đề có tính thực tiễn Cán bộ, KSV làm công
tác kiểm sát và giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp, có thể ápdụng trong khi tác nghiệp Hy vọng chuyên đề này, có thể giúp ích một phần nào
đó cho cán bộ, kiểm sát viên làm công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tốcáo có hiệu quả, “thấu tình, đạt lý”, đúng quy định của pháp luật, không để việcgiải quyết khiếu nại, tố cáo dây dưa, kéo dài gây mất lòng tin của quần chúng nhândân đối với cơ quan pháp luật
Chuyên đề: “Kỷ năng lập hồ sơ giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực tư pháp thuộc thẩm quyền” gồm có 5 phần.
PHẦN I: CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TÁC TIẾP CÔNG DÂN, GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VÀ KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO TRONG HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP
Trang 31 Các văn bản luật, dưới luật do Quốc Hội, Chính phủ ban hành.
2. Các văn bản về tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo do ViệnKSNDTC ban hành
PHẦN II: CÁC THAO TÁC BẮT BUỘC KHI GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO TRONG LĨNH VỰC TƯ PHÁP.
1 Đọc kỹ đơn khiếu nại, tố cáo để xác định có phải đơn thuộc thẩm quyền?
2 Kiểm tra đơn khiếu nại, tố cáo có còn thời hiệu giải quyết hay không?
PHẦN III: TRÌNH TỰ CÁC BƯỚC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO TRONG LĨNH VỰC TƯ PHÁP.
1 Vào sổ thụ lý đơn khiếu nại, tố cáo
2 Tham mưu lãnh đạo ban hành Quyết định thụ lý việc giải quyết đơnkhiếu nại, tố cáo, phân công người xác minh
3 Thông báo việc thụ lý khiếu nại, tố cáo cho người khiếu nại, tố cáo
4 Lập Kế hoạch xác minh khiếu nại, tố cáo
5 Ban hành công văn yêu cầu cá nhân ( cơ quan) bị khiếu nại, tố cáo báocáo giải trình về nội dung bị khiếu nại, tố cáo và quá trình giải quyếtkhiếu nại, tố cáo
6 Ban hành văn bản đề nghị người có thẩm quyền áp dụng biện pháp cầnthiết nhằm ngăn chặn thiệt hại có thể xảy ra
7 Tổ chức đối thoại với người khiếu nại, tốc cáo, người bị khiếu nại, tố cáo
8 Ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo; Quyết định đình chỉgiải quyết khiếu nại, tố cáo
9 Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo phải được lập hồ sơ
PHẦN IV: KẾT LUẬN.
PHẦN V: PHỤ LỤC ( gợi ý các mẫu về trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực tư pháp, theo điều 13, 16 Quy chế 51)
Giải quyết khiếu nại, tố cáo đúng trình tự, thủ tục luật định, thấu tình, đạt lý
sẽ góp phần đáng kể trong việc hạn chế các trường hợp đơn thư khiếu nại, tố cáobức xúc, kéo dài làm giảm uy tín của các cơ quan pháp luật Do vậy, song song vớiviệc nâng cao ý thức trách nhiệm của cán bộ, KSV làm công tác tiếp công dân, giảiquyết và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực tư pháp thì, việc
nâng cao “ Kỷ năng lập hồ sơ giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực tư pháp
Trang 4thuộc thẩm quyền” là việc làm cần thiết để đội ngũ cán bộ, KSV làm công tác này
hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao
Bản thân tôi kinh nghiệm thực tiễn về công tác tiếp công dân, kiểm sát vàgiải quyết đơn khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực tư pháp không nhiều Do vậy, việctìm ra một giải pháp, một “sáng kiến” đối với lĩnh vực công tác này thực sự là rấtkhó Mặt khác, kiến thức, năng lực, trình độ của bản thân có hạn nên khi viếtchuyên đề này, chắn chắn còn nhiều vấn đề thiếu sót
Rất mong sự góp ý, xem xét của lãnh đạo Viện và các đồng chí đồng nghiệp,tôi xin chân thành cảm ơn./
Trang 5
-* -PHẦN I:
CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TÁC TIẾP CÔNG DÂN, GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VÀ KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO TRONG HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP
Ai cũng biết quần chúng nhân dân là một bộ phận cấu thành không thể thiếucủa bất kỳ đất nước nào trên thế giới Do vậy, tư tưởng lấy dân làm gốc có từ ngànxưa, câu nói nổi tiếng của Khổng Tử, nhà tư tưởng lớn dưới chế độ phong kiếnTrung Quốc: “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” (Dân là quý, xã tắc là phụ,vua là nhẹ) Và Nguyễn Trãi, nhà thơ, nhà chính trị, quân sự, vị anh hùng của dântộc ta, cũng thể hiện tư tưởng lấy dân làm gốc, thấy được sức mạnh của nhân dân:
“ Nâng thuyền cũng là dân mà lật thuyền cũng là dân”
Đặc biệt, Bác Hồ vị lãnh tụ thiên tài của dân tộc ta, rất coi trọng tư tưởng lấydân làm gốc, coi trọng sức mạnh, trí tuệ của nhân dân: “Dễ trăm lần không dâncũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”, suốt cuộc đời Bác luôn tận tụy, hết sứchết lòng phục vụ tổ quốc, phục vụ nhân dân Kế thừa tư tưởng lấy dân làm gốc củaBác, Đảng và Nhà nước ta, trong quá trình xây dựng và phát tiển đất nước luôn đặtlợi ích của nhân dân lên hàng đầu, xây dựng Nhà nước do dân, vì dân Địa vị pháp
lý của nhân dân đã được “Luật hóa” vào trong Hiến pháp và các dự luật khác, nhândân dưới chế độ Cộng hòa XHCN Việt Nam không còn là những người “thấp cổ béhọng” như nhân dân dưới thời phong kiến mà là người chủ thật sự của đất nước
Việc “Luật hóa” địa vị pháp lý của nhân dân của Đảng và Nhà nước ta đượcthể hiện trong Hiến pháp, căn cứ vào Hiến pháp, hàng loạt văn bản Luật, Pháp lệnhcũng đã được ban hành, trong đó quy định về công tác tiếp công dân và giải quyếtkhiếu nại, tố cáo Chúng tôi nêu các Văn bản luật cơ bản dưới đây để vận dụngtrong quá trình tác nghiệp
1/ Các Văn bản luật, dưới luật do Quốc Hội, Chính phủ ban hành:
Trang 6+Pháp lệnh quy định việc xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân năm1981;
+ Pháp lệnh khiếu nại, tố cáo năm 1991;
+ Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998;
+Luật khiếu nại, tố cáo sửa đổi bổ sung (năm 2004) và (năm 2005);
+ Luật khiếu nại (năm 2011);
+ Luật tố cáo (năm 2011)
+ Luật tiếp công dân (năm 2013)
Đặc biệt đối với công tác tiếp công dân, ngày 7/8/1997 Chính phủ có Nghịđịnh số 89/CP Ban hành kèm theo Quy chế tổ chức tiếp công dân (Quy chế 89) vàmới đây Luật tiếp công dân (năm 2013) Ban hành, Chính phủ có Nghị định64/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2014 Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luậttiếp công dân( năm 2013)
2/ Các Văn bản về Tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo do Viện KSNDTC ban hành:
Ngành Kiểm sát nhân dân cũng rất xem trọng công tác tiếp công dân và giảiquyết khiếu nại, tố cáo của công dân Theo đó, Viện KSND Tối cao đã ban hànhmột số quy chế, về công tác tiếp công dân:
Trang 7quốc phòng, Bộ tư pháp “Hướng dẫn thi hành một số quy định của BLTTHS vềkhiếu nại, tố cáo.
+ Danh mục Đơn khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp và Hướng dẫn liên ngành số 24/HD-VKSTC-TATC-BCA-BTP-BQP ngày 08 tháng 5 năm 2014 của
VKSND tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ công an, Bộ quốc phòng “ về việcphân loại đơn khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp
+ Đặc biệt, Quyết định số 51/QĐ-VKSTC-V12 ngày 02/02/2016 ( gọi tắt là Quy chế 51) của Viện KSND tối cao vừa mới được ban hành, quy định rất cụ thể về
công tác “Tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiểm sát việc giải quyếtkhiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp” Quy chế này là “ cẩm nang” rất cầnthiết cho cán bộ, KSV làm công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại tố cáotrong lĩnh vực tư pháp
Như vậy, Đảng và Nhà nước cùng với Ngành kiểm sát nhân dân đặc biệt coitrọng công tác tiếp công dân và giải quyết những khiếu nại, tố cáo của họ Địa vịpháp lý của công dân dưới chế độ XHCN Việt Nam được nâng cao Nhân dân làngười làm chủ thật sự của đất nước Do vậy, việc tiếp công dân và giải quyết cáckhiếu nại, tố cáo của họ phải được chú trọng Bỡi vì, nhà nước ta là nhà nước dodân, vì dân Và trong quá trình xây dựng đất nước, đây đó còn làm mất lòng dân,thì việc thông qua công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo chính đángcho họ của Ngành kiểm sát có ý nghĩa rất lớn trong việc lấy lại niềm tin của nhândân đối với Đảng với Nhà nước ta Nếu chúng ta làm tốt công tác tiếp công dân,giải quyết những khiếu nại, tố cáo của họ, chắc chắn trong tương lai sẽ hạn chế đếnmức thấp nhất những vụ khiếu kiện đông người, bức xúc, vượt cấp, kéo dài Mà đểlàm tốt công tác này, ngoài những kiến thức cơ bản về pháp luật hình sự, dân sự,hành chính, kinh tế…cán bộ, kiểm sát viên cần phải nắm thật chắc các văn bảnLuật như đã nêu trên thì mới có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao./
Trang 8
-* -PHẦN II:
CÁC THAO TÁC BẮT BUỘC KHI GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO
TRONG LĨNH VỰC TƯ PHÁP.
1 Đọc kỹ đơn khiếu nại, tố cáo để xác định có phải đơn thuộc thẩm quyền?
Các đơn thư khiếu nại, tố cáo mà Viện kiểm sát nhận được từ nhiều nguồn.rất đa dạng và phong phú Theo số liệu thống kê năm 2015, Viện kiểm sát 2 cấp đãtiếp nhận: 1.081 đơn ( cấp tỉnh 630 đơn; KN: 218;TC:13;KNPA: 383;TBTGTP:16), trong đó có 21 đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Viện kiểm sát ( cấptỉnh:7; Huyện: 14) Với số lượng lớn đơn khiếu nại, tố cáo như vậy, đòi hỏi cán bộ,KSV làm công tác giải quyết đơn không được “ cưỡi ngựa xem hoa” mà phải đọcthật kỹ nội dung đơn để tìm cho được “ cốt lõi” vấn đề mà đơn đã phản ánh đểphân loại, xử lý đúng, chính xác Bỡi vì, những người gửi đơn khiếu nại, tố cáotrình độ, nhận thức, sự hiểu biết pháp luật rất khác nhau, nên giữa đầu đề đơn vànội dung đơn không giống nhau Đơn cử, đầu đề đơn ghi: “Đơn kêu cứu khẩn cấp”,nhưng nội dung đơn phản ánh “ khiếu nại” hoặc “ kiến nghị, phản ánh” Rất nhiềuđơn ghi “ Tố cáo” nhưng thực ra chỉ là “ Khiếu nại”… Nếu chúng ta hời hợt chỉxem lướt đầu đề của đơn khiếu nại, tố cáo mà không đọc nghĩ nội dung đơn thìkhông thể phân loại xử lý đơn chính xác được
Sau khi đọc kỹ nội dung đơn khiếu nại, tố cáo của công dân gửi đến, chúng
ta đối chiếu với bản “ Danh mục đơn khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp”
và Hướng dẫn liên ngành số: 24/HD-VKSTC-TATC-BCA-BTP-BQP ngày
08/5/2014 của Viện kiểm sát tối cao, Tòa án tối cao, Bộ công an, Bộ tư pháp, Bộ
quốc phòng , về việc “ phân loại đơn khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp”
để xác định đúng, chính xác đơn khiếu nại, tố cáo đó có thuộc lĩnh vực tư pháp vàthuộc thẩm quyền giải quyết của Viện kiểm sát hay không?
Qua thực tiễn kiểm tra công tác giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo trong lĩnhvực tư pháp ở Viện kiểm sát huyện và các cơ quan tư pháp tỉnh nhiều năm qua,
Trang 9thấy rằng, nhiều đơn vị không hề quan tâm đến bản “ Danh mục đơn khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp” và Hướng dẫn số 24 nêu trên ! ( Phòng 12 đã sao
gửi cho tất cả VKS huyện), nên rất lúng túng trong việc xác định, phân loại đơn tưpháp thuộc thẩm quyền và giải quyết không tuân theo thủ tục, trình tự luật định Vìvậy, khi chúng ta đã đọc kỹ nội dung đơn khiếu nại, tố cáo của công dân gửi đến,chúng ta phải đối chiếu với bản danh mục đơn khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư
pháp, đây là thao tác bắt buộc để xác định chính xác có phải đơn thuộc lĩnh vực tư
pháp và thuộc thẩm quyền của cơ quan nào giải quyết !( Cơ quan điều tra, Viện
kiểm sát, Tòa án, Thi hành án)
2. Kiểm tra đơn khiếu nại, tố cáo có còn thời hạn giải quyết hay không? Sau khi xác định nội dung đơn khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực tư pháp thuộc
thẩm quyền, bước tiếp theo là kiểm tra xem đơn khiếu nại, tố cáo có còn thời hạn
giải quyết hay không? Đây là thao tác bắt buộc, bỡi lẽ, nếu thụ lý giải quyết đơnkhiếu nại, tố cáo đã hết thời hiệu, thời hạn khiếu nại là vi phạm vào Khoản 6 Điều
11 Luật khiếu nại ( năm 2012) Khoản 6 Điều 11 quy định các khiếu nại không
được thụ lý giải quyết: “ Thời hiệu, thời hạn đã hết mà không có lý do chính
đáng” Do vậy, khi kiểm tra về thời hiệu, thời hạn khiếu nại của các đơn khiếu nại,
tố cáo trong lĩnh vực tư pháp thuộc thẩm quyền, chúng ta phải căn cứ vào các quyđịnh của các Bộ luật tương ứng quy định về giải quyết khiếu nại, tố cáo để xácđịnh thời hiệu khiếu nại, tố cáo, như Điều 328 BLTTHS; Điều 394/BLTTDS; Điều
252/BLTTHC ( đều quy định thời hiệu khiếu nại là 15 ngày) Như vậy, nếu đơn
khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực tư pháp hết thời hiệu quy định là 15 này, nếu người
khiếu nại, tố cáo không chứng minh được: “ vì ốm đau, thiên tai, địch họa, đi công
tác, học tập ở nơi xa hoặc vì những trở ngại khách quan mà người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hiệu”, thì không được thụ lý đơn
khiếu nại, tố cáo của họ và ban hành Thông báo về việc không thụ lý đơn khiếu nại
vì quá thời hiệu khiếu nại Lưu ý, nếu người khiếu nại chứng minh được là do “ có
sự kiện bất khả kháng (ốm đau, thiên tai, địch họa) hoặc trở ngại khách quan mà người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại của họ theo đúng thời hạn luật định, thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan đó không tính vào thời hiệu khiếu nại” và chúng ta phải thụ lý giải quyết.
Qua kiểm tra thực tiễn việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực tư phápthuộc thẩm quyền của các cơ quan tư pháp huyện và tỉnh cho thấy, có nhiều trường
Trang 10hợp, đơn khiếu nại đã hết thời hiệu khiếu nại, nhưng vẫn thụ lý giải quyết là vi
phạm vào Khoản 6 Điều 11 Luật khiếu nại ( năm 2012) như đã nêu trên
1.Vào sổ thụ lý đơn khiếu nại:
Việc vào sổ đơn khiếu nại, tố cáo là việc làm bắt buộc, thường xuyên.Nhưng cần lưu ý trong việc vào sổ các đơn khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực tư pháp
gửi đến bất cứ từ nguồn nào, khi nhận được, chúng ta đều phải cập nhật ngay vào
sổ Đối với các đơn gửi qua đường bưu điện, chúng ta phải ghi cả ngày nhận và ngày gửi ( dấu bưu điện) vào sổ thụ lý để có cơ sở xem xét các trường hợp về thời
hiệu khiếu nại, tố cáo Việc cập nhật hóa các đơn khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực tư
pháp vào sổ thụ lý là việc làm rất đơn giản Tuy nhiên, qua kiểm tra thực tế, nhiều
VKS huyện và các cơ quan tư pháp tỉnh, vào sổ thụ lý đơn rất tùy tiện, lộn xộn vàkhông thực hiện ngay khi nhận được đơn Nhiều đơn nhận rất lâu nhưng “quên”không vào sổ thụ lý, dẫn đến vi phạm về thời hạn thụ lý Vi phạm này mang tínhchất “thường xuyên, phổ biến và kéo dài”, cần phải được khắc phục
2.Tham mưu lãnh đạo ban hành Quyết định thụ lý việc giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo; phân công người xác minh.
Theo quy định tại khoản 3 Điều 13; Điều 16 của Quy chế 51 về Nhiệm vụ
và thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp”, thì khi xác định
đơn khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của Viện kiểm sát, việc đầu tiên
là cán bộ, KSV phải làm đề xuất báo cáo với lãnh đạo ( Phòng- Viện) ban hành
Quyết định thụ lý việc giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo và phân công cán bộ, KSV xác minh khiếu nại, tố cáo Tùy theo tính chất của nội dung khiếu nại, tố cáo ( phức
tạp hay đơn giản) mà tham mưu với lãnh đạo Viện phân công 01 hay nhiều cán bộ,
Trang 11KSV ( phối hợp với phòng nghiệp vụ, thành lập tổ xác minh) để xác minh khiếu
nại, tố cáo Trong Quyết định này, phải ghi rõ thời hạn giải quyết khiếu nại, tố cáo,
theo quy định về thời hạn giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực tư pháp ở những Bộluật và các Văn bản hướng dẫn tương ứng với nội dung khiếu nại, tố cáo( BLTTHS; BLTTDS; BLTTHC…)
3.Thông báo việc thụ lý khiếu nại, tố cáo cho người khiếu nại, tố cáo.
Sau khi lãnh đạo ký ban hành Quyết định thụ lý việc giải quyết đơn và phân
công cán bộ, KSV xác minh khiếu nại, tố cáo, cán bộ, KSV được phân công xác
minh khiếu nại, tố cáo phải Thông báo băng văn bản cho người khiếu nại, tố cáo biết về việc thụ lý đơn và thời hạn giải quyết khiếu nại, tố cáo của họ Điều này rất
cần thiết để tránh việc họ gửi đơn khiếu nại, tố cáo nhiều lần vì cho rằng cơ quanpháp luật không xem xét đơn khiếu nại, tố cáo của họ
Qua kiểm tra Viện kiểm sát các huyện và các cơ quan tư pháp tỉnh, về việcgiải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực tư pháp thuộc thẩm quyền, chỉ có cơ
quan Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình Định là thực hiện tốt việc Thông báo thụ lý
đơn khiếu nại, tố cáo cho người khiếu nại, tố cáo đúng quy định của pháp luật, còn
các cơ quan như: Cơ quan điều tra, Tòa án hầu như không làm việc này Và do vậy,người khiếu nại, tố cáo không biết việc khiếu nại, tố cáo của mình có được các cơquan pháp luật giải quyết hay không, nên liên tục gửi đơn, đi lại nhiều lần rất phiền
hà và phần nào đó làm giảm niềm tin của nhân dân đối với các cơ quan pháp luật vì
họ luôn có tư tưởng là “dân đen” luôn “ thấp cổ bé họng” và rất định kiến khi đếncác cơ quan công quyền gửi đơn khiếu nại, tố cáo
4 Lập Kế hoạch xác minh khiếu nại, tố cáo:
Để việc xác minh đạt hiệu quả, cán bộ, KSV được phân công xác minh khiếu
nại, phải lập Kế hoạch xác minh và Kế hoạch này, phải được lãnh đạo Viện phê
duyệt Nội dung Kế hoạch xác minh phải thể hiện đầy đủ về thời gian, địa điểm, nội dung, đối tượng xác minh; căn cứ vào Kế hoạch này để thực hiện, trong quá
trình xác minh phải lập biên bản xác minh và khi kết thúc xác minh phải báo cáobằng văn bản kết quả xác minh nội dung khiếu nại, tố cáo và đề xuất hướng giải
quyết khiếu nại, tố cáo ( tiếp tục xác minh; gia hạn thời hạn giải quyết; bác đơn;
chấp nhận đơn ) Lưu ý: Kế hoạch phải được lập một cách cụ thể, chi tiết, khoa
học, phù hợp và sát với nội dung, yêu cầu xác minh, chứ không được lập kế hoạch
Trang 12sơ sài, chiếu lệ Vì kết quả xác minh có đáp ứng yêu cầu giải quyết nội dung khiếunại hay không sẽ tùy thuộc rất lớn vào Kế hoạch xác minh.
5 Ban hành công văn yêu cầu cá nhân ( cơ quan) bị khiếu nại báo cáo giải trình về nội dung bị khiếu nại, tố cáo và quá trình giải quyết khiếu nại, tố cáo.
Việc ban hành Công văn yêu cầu cá nhân ( đơn vị) bị khiếu nại, tố cáo Báo
cáo giải trình bằng văn bản về nội dung khiếu nại, tố cáo và quá trình giải quyết
khiếu nại, tố cáo là bắt buộc, được quy định tại điểm b Khoản 3 Điều 29 Luậtkhiếu nại ( năm 2012) và điểm b khoản 3 Điều 13 Quy chế 51 ngày 02.02.2016 của
Viện KSNDTC, quy định về thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo phải “ ban hành
văn bản yêu cầu cơ quan, đơn vị, cá nhân có liên quan giải trình bằng văn bản về hành vi, quyết định bị khiếu nại, tố cáo”
Chúng ta cần lưu ý về nội dung văn bản yêu cầu giải trình về 2 vấn đề: Một
là về nội dung hành vi, quyết định bị khiếu nại, tố cáo, các căn cứ giải quyết khiếu
nại, tố cáo; Hai là về trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo có đảm bảo đúng
quy định của pháp luật (về việc thụ lý, thời hiệu khiếu nại, tố cáo…)
6 Ban hành văn bản đề nghị người có thẩm quyền áp dụng biện pháp cần thiết nhằm ngăn chặn thiệt hại có thể xảy ra
Nội dung này được quy định tại điểm c khoản 3 Điều 13 , Điều 16 Quy chế
51 ngày 02.02.2016 Viện KSNDTC Trong quá trình xác minh, giải quyết khiếunại, tố cáo nếu phát hiện có vi phạm trong quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo
bị khiếu nại, tố cáo thì cán bộ, KSV được phân công thụ lý xác minh, giải quyếtkhiếu nại phải báo cáo với lãnh đạo Viện ban hành văn bản đề nghị người có thẩmquyền áp dụng biện pháp cần thiết nhằm ngăn chặn thiệt hại có thể xảy ra Đây làđiểm mới trong Quy chế 51 chúng ta cần phải đặc biệt lưu ý trong quá trình tácnghiệp Nếu Quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo bị khiếu nại, tố cáo vì có saiphạm nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khiếunại, tố cáo mà chúng ta không kịp thời ngăn chặn thì việc giải quyết khiếu nại, tốcáo sẽ mất tác dụng
7 Tổ chức đối thoại với người khiếu nại, tố cáo; người bị khiếu nại, tố cáo :
Trong quá trình xác minh để giải quyết khiếu nại, tố cáo nếu thấy nội dungkhiếu nại, tố cáo khác cơ bản với nội dung bị khiếu nại, tố cáo thì chúng ta phải tổ