Trong quá trình tham gia trực tiếp giảng dạy tiếng Việt cho học viênquân sự Lào tại đây, chúng tôi nhận thấy, các bạn học viên sang Việt Namhọc tập, tiếp xúc với một nền văn hóa mới, một
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA NGỮ VĂN
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỬ DỤNG TIẾNG VIỆT CHO HỌC VIÊN NƯỚC NGOÀI (TRƯỜNG HỢP HỌC VIÊN QUÂN SỰ LÀO HỌC TIẾNG VIỆT TRÌNH ĐỘ CƠ SỞ TẠI TRƯỜNG SĨ QUAN LỤC QUÂN 1)
GVHD: PGS.TS Nguyễn Thị Thu Thủy Học viên cao học: Mai Thùy Linh
Khoa: Ngữ Văn Lớp: K27 Ngôn ngữ học
Hà Nội, tháng 10 năm 2021
Trang 2MỤC LỤC DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT 5
DANH MỤC CÁC HÌNH – BẢNG BIỂU 6
MỞ ĐẦU 7
1 Lý do chọn đề tài 7
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 8
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11
3.1 Đối tượng nghiên cứu 11
3.2 Phạm vi nghiên cứu 11
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 12
4.1 Mục đích nghiên cứu 12
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 12
5 Phương pháp nghiên cứu 12
6 Ý nghĩa của luận văn 13
7 Cấu trúc của luận văn 13
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 15 1.1 Quá trình phát triển của việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài ở Việt Nam 15
1.2 Lí luận về dạy ngôn ngữ 18
1.2.1 Ngôn ngữ và quá trình tiếp nhận ngôn ngữ 18
1.2.2 Những đặc điểm cơ bản của việc dạy ngôn ngữ 19
1.2.3 Các kĩ năng ngôn ngữ 21
1.3 Một số khái niệm cơ bản 24
Trang 31.3.1 Ngôn ngữ thứ nhất và ngôn ngữ thứ hai 24
1.3.2 Quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai 25
1.3.3 Năng lực sử dụng ngôn ngữ 27
1.3.4 Phát triển năng lực ngôn ngữ 29
1.4 Dạy Tiếng Việt như ngôn ngữ thứ 2 30
1.4.1 Tiếng mẹ đẻ và ngoại ngữ 30
1.4.2 Đường hướng giao tiếp 30
1.4.3 Một số nguyên tắc khi dạy học Tiếng Việt 31
1.5 Một số phương pháp dạy học Tiếng Việt 35
1.5.1 Khái niệm phương pháp dạy học 35
1.5.2 Một số phương pháp dạy học tiếng Việt tích cực 36
Tiểu kết chương 1 43
CHƯƠNG 2 : KHẢO SÁT MỘT SỐ GIÁO TRÌNH DẠY TIẾNG VIỆT CHO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI HIỆN NAY VÀ THỰC TRẠNG DẠY HỌC TIẾNG VIỆT CHO HỌC VIÊN QUÂN SỰ LÀO TẠI TRƯỜNG SĨ QUAN LỤC QUÂN 1 45 2.1 Tiêu chí, mục đích, tư liệu khảo sát 45
2.2 Kết quả khảo sát 47
2.3 Thực trạng dạy học tiếng Việt cho cho HVQS Lào tại Trường Sĩ quan Lục quân 1 75
2.3.1 Một số thuận lợi và khó khăn trong dạy tiếng Việt cho học viên quân sự Lào học tiếng Việt trình độ cơ sở tại Trường Sĩ quan Lục quân 1 75
2.3.2 Chương trình dạy học tiếng Việt, giáo trình và các phương tiện hỗ trợ hoạt động dạy học 79
Trang 4Tiểu kết chương 2 81
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SỬ DỤNG TIẾNG VIỆT CHO HỌC VIÊN QUÂN SỰ LÀO TẠI TRƯỜNG SĨ QUAN LỤC QUÂN 1 83 3.1 Cơ sở đề xuất giải pháp 83
3.1.1 Cơ sở lý luận 83
3.1.2 Cơ sở pháp lý 83
3.1.3 Cơ sở thực tiễn 83
3.2 Nguyên tắc phát triển năng lực sử dụng tiếng Việt cho học viên nước ngoài (trường hợp học viên quân sự Lào học tiếng Việt trình độ cơ sở tại Trường Sĩ quan Lục quân 1) 84
3.2.1 Phát triển năng lực tiếng Việt đảm bảo việc rèn luyện kĩ năng ngôn ngữ cho học viên, phục vụ cho việc học tập và hoạt động thực tiễn sau này 84
3.2.2 Phát triển năng lực tiếng Việt đảm bảo phát huy vai trò chủ động, tích cực, sáng tạo của người học 85
3.2.3 Phát huy tối đa điểm gặp gỡ giữa tư duy, văn hoá của người Việt Nam và Lào 87
3.2.4 Phát triển năng lực từ ngữ gắn liền với hoạt động sử dụng ngôn ngữ 88
3.3 Một số giải pháp dạy học nhằm phát triển năng lực tiếng Việt cho học viên Lào tại trường Sĩ quan Lục quân 1 89
3.3.1 Tạo nhóm học tập tạo ra sự thi đua cần thiết, sự “kích thích” kịp thời đối với việc học tiếng Việt 89
Trang 53.3.2 Tăng cường tổ chức các hoạt động trải nghiệm, hoạt động ngoại khóa 90 3.3.3 Tăng cường đổi mới từ cách dạy truyền thống sang cách dạy hiện
đại, trong đó tăng cường phương pháp sử dụng hình ảnh 96
3.3.4 Biện pháp lập bản đồ tư duy 104
Tiểu kết chương 3 108
CHƯƠNG 4: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 109
4.1 Mục đích thực nghiệm 109
4.2 Đối tượng, địa bàn và thời gian thực nghiệm 109
4.3 Nội dung, mục tiêu, phương pháp dạy học và cách thức tiến hành thực nghiệm 111 4.4 Giáo án thực nghiệm 113 4.5 Đánh giá kết quả thực nghiệm 121 Tiểu kết chương 4 129
TÀI LIỆU THAM KHẢO 135
PHỤC LỤC 141
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Giải thích
TVCNNN Tiếng Việt cho người nước ngoài
QĐNDVN Quân đội Nhân dân Việt Nam
QĐNDL Quân đội Nhân dân Lào
DANH MỤC CÁC HÌNH – BẢNG BIỂU
Hình 1.1 Sơ đồ cấu trúc ngôn ngữ 24
Trang 7Hình 1.2 Mô hình thuyết thụ đắc ngôn ngữ .24
Bảng 2.1 Số lượng chủ đề và hệ thống từ vựng trong các giáo trình 44
Bảng 2.2 Số lượng chủ đề và hệ thống từ vựng trong các giáo trình 53
Bảng 2.3 Số lượng bài đọc trong các giáo trình 57
Bảng 2.4 Số lượng chủ điểm ngữ pháp theo chủ đề trong các giáo trình 60
Bảng 2.5 Số lượng và tỷ lệ bài tập, bài luyện trong các giáo trình 63
Bảng 3.1 Thống kê kết quả kiểm tra đầu vào và đầu ra của HVQS Lào 135
Biểu đồ 1 Kết quả kiểm tra đầu vào của HVQS Lào 135
Biểu đồ 2 Kết quả kiểm tra đầu ra của HVQS Lào 136
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam ngày nay đang ngày càng mở rộng, hội nhập giao lưu quốc tếtrên mọi mặt kinh tế, văn hóa, chính trị; do vậy, nhiều năm gần đây, nhu cầuhọc tiếng Việt của người nước ngoài ngày càng tăng nhanh với mục đích đadạng Việc nghiên cứu và giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài cũng vìthế đang nhận được sự quan tâm của nhiều học giả cũng như giáo viên trong
và ngoài nước
Trong các mối giao lưu tiếp xúc văn hóa, không thể không kể đến mốiquan hệ hữu nghị truyền thống đặc biệt Việt Nam – Lào Mối quan hệ đã sớmđược xây dựng, phát triển trong suốt quá trình lịch sử của hai dân tộc ViệtNam, Lào là hai nước láng giềng thân thiện gần gũi, có quan hệ đoàn kết, gắn
bó đặc biệt, luôn giúp đỡ nhau trong suốt hơn bảy thập kỷ qua
Tăng cường hợp tác trong lĩnh vực giáo dục và phát triển nguồn nhân lực
là một trong những hướng ưu tiên trong quan hệ Việt – Lào và đã có bề dàylịch sử Từ năm 1955, nước bạn Lào đã gửi 150 cán bộ, chiến sĩ và một sốthanh thiếu niên đầu tiên sang Việt Nam học tập, cho đến hiện nay số lượnglưu học sinh Lào đến Việt Nam học ngày càng tăng lên Tính đến năm 2019,
có hơn 16.600 lưu học sinh Lào được đào tạo tại Việt Nam và Việt Nam đứngđầu danh sách các nước tiếp nhận sinh viên Lào [45]
Trước yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới, việc nâng cao hiệu quả đàotạo nguồn nhân lực chất lượng cao của Lào đã trở thành nhiệm vụ quan trọng,đặc biệt trong hợp tác giáo dục và đào tạo từ 2011 tới 2020, đặc biệt với đốitượng học viên là sĩ quan, hạ sĩ quan Quân đội Nhân dân Lào (QĐNDL) Căn
cứ vào Hiệp định đã kí kết giữa hai Đảng, Nhà nước và Quân đội Việt Nam –Lào; căn cứ vào tình hình thực tế, QĐNDVN mà trực tiếp là Bộ Quốc Phòng
Trang 9đã chỉ thị cho một số trường quân đội (QĐ) tổ chức đào tạo tiếng Việt, trong đó
có Trường Sĩ quan Lục quân 1
Trong quá trình tham gia trực tiếp giảng dạy tiếng Việt cho học viênquân sự Lào tại đây, chúng tôi nhận thấy, các bạn học viên sang Việt Namhọc tập, tiếp xúc với một nền văn hóa mới, một môi trường mới, một ngônngữ mới, thêm vào đó, do đặc thù của các trường quân đội, theo quy định cáchọc viên hai tuần mới được ra ngoài một lần cũng làm ảnh hưởng tới việc thụđắc ngoại ngữ của học viên vì môi trường giao tiếp bị hạn chế, chủ yếu là chỉgiao tiếp với giáo viên, còn rất ít khi có cơ hội tiếp xúc và trò chuyện vớingười Việt Bên cạnh đó, các học viên được cử sang Việt Nam học tiếng Việtthì bao gồm nhiều độ tuổi, trình độ học vấn, vùng miền khác nhau Điều đódẫn đến việc tiếp thu vốn từ vựng, cấu trúc ngữ pháp cũng như khả năng vậndụng kiến thức vào giao tiếp của từng học viên là khác nhau Xuất phát từ
thực tiễn trên, chúng tôi chọn đề tài “Phát triển năng lực sử dụng tiếng Việt cho học viên nước ngoài” (trường hợp học viên quân sự Lào học tiếng Việt trình độ cơ sở tại Trường Sĩ quan Lục quân 1) làm đề tài nghiên cứu cho
luận văn thạc sĩ của mình với hi vọng có thể có một đóng góp nhỏ vào việcgiúp học viên nước ngoài, học và sử dụng tiếng Việt tốt hơn đồng thời giúpviệc giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài đạt hiệu quả cao hơn
Trong đó, tác giả đã khảo sát lỗi ngữ pháp, khảo sát phân tích lỗi hiện đại và
đề xuất thủ pháp xử lý lỗi ngữ pháp Như vậy, luận án đã “giới thiệu một cách
Trang 10có hệ thống những cơ sở lý luận về vấn đề lỗi và phân tích lỗi của người họcngôn ngữ thứ hai theo cách nhìn của ngôn ngữ học ứng dụng”[33]
Phan Thanh Tâm (2013) đã nghiên cứu về lỗi ngữ pháp của người nước
ngoài khi học tiếng Việt và cho xuất bản tài liệu “Bàn về lỗi ngữ pháp của người nước ngoài khi học Tiếng Việt” Nghiên cứu cho thấy: Mắc lỗi của
người nước ngoài khi học Tiếng Việt là điều không thể tránh khỏi Để hoànthiện kỹ năng này cần rất nỗ lực của người học Lỗi trong thời gian học đượcxem là bước tích cực, thể hiện sự tham gia tích cực của HV trong quá trìnhhọc, là lúc người học áp dụng để khám phá ngôn ngữ Từ những lỗi của ngườihọc mà GV có thêm những kinh nghiệm cho mình Đây là một vấn đề mở vàmong nhận được nhiều ý kiến đóng góp để công tác dạy tiếng Việt ngày càngđược nâng cao về chất lượng Vậy làm thế nào để giúp người học học tiếngViệt có hiệu quả Đó là mối quan tâm hàng đầu của chúng tôi Ngữ pháp tiếngViệt rất khó sử dụng đối với người nước ngoài Người học nói các ngôn ngữthứ nhất khác nhau đều mắc nhiều lỗi ngữ pháp giống nhau Ngay cả khingười học theo đúng cấu trúc ngữ pháp, từ vựng nhưng lại mắc phải nhiều lỗinhư giao thoa văn hoá, phát âm sai…thì vẫn gây khó hiểu hoặc gây hiểu nhầmcho người bản ngữ
Đinh Huyền Trang (2012), trong “Dạy tiếng Việt cho sinh viên người nước ngoài”, chị đã trình bày về cơ sở khoa học áp dụng phương pháp giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài Sau khi khảo sát một số giáo trình dạy
tiếng Việt vốn đã và đang được áp dụng tại thành phố Hồ Chí Minh, đồngthời phỏng vấn một số học viên trong lớp học tiếng Việt, tác giả đã nghiêncứu và đề nghị bổ sung thêm một số phương thức quan trọng trong việc dạy
và học Tiếng Việt nhằm đem lại kết quả tốt nhất trong công tác giảng dạyTiếng Việt, đáp ứng được yêu cầu của người học, trong thời kỳ phát triển vàhội nhập của đất nước ta
Trang 11Ngoài ra còn có một số nghiên cứu liên quan đến phương pháp dạy họccho học viên quân sự nước ngoài như: Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Yến
“Hệ thống bài tập phát triển năng lực sử dụng từ ngữ tiếng Việt cho học viên quân sự Lào (2018), “Khảo sát lỗi từ vựng và ngữ pháp của sinh viên Lào và Campuchia học tiếng Việt tại trường Hữu Nghị” của Đinh Lê Huyền Trâm (Luận văn thạc sĩ ngôn ngữ); “Xây dựng hệ thống bài tập nhằm củng cố và làm giàu vốn từ tiếng Việt cho lưu học sinh Lào (trình độ A)” của Lê Phương Thảo (Luận văn thạc sĩ sư phạm ngữ văn), “Lỗi sử dụng một số hành vi ngôn ngữ của học viên Lào học tiếng Việt (Tại Đoàn 871 – TCCT)” của Hứa Thị
Chính (Luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học), một bài viết trên tạp chí Khoa học
Ngoại ngữ Quân sự của Nguyễn Thị Yến về “Nâng cao vốn từ vựng tiếng
Việt cho học viên quân sự Lào thông qua dạy học theo định hướng phát triểnnăng lực”…
Nhìn chung, các công trình trên đều đã giải quyết được một số yêu cầu
về phát hiện và đưa ra những cách khắc phục lỗi đồng thời đã có một số côngtrình chú trọng tới nhiệm vụ rèn các kĩ năng ngôn ngữ, năng lực sử dụng ngônngữ cho học viên nước ngoài trong quá trình học tiếng Việt, đóng góp khôngnhỏ vào công tác dạy và học tiếng Việt cho người nước ngoài như một ngoạingữ nói chung
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu quá trình dạy và học tiếng Việt (trình độ
cơ sở) nhằm phát triển năng lực sử dụng tiếng Việt cho học viên quân sự Làotại Trường Sĩ quan Lục quân 1
Trang 123.2 Phạm vi nghiên cứu
Chúng tôi chỉ tiến hành khảo sát đội ngũ giáo viên tham gia giảng dạytiếng Việt và 80 HVQS Lào đang học tiếng Việt cơ sở tại trường Sĩ quan Lụcquân 1; hệ thống giáo trình, bài giảng, chương trình đang áp dụng tại trường
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở khảo sát, chúng tôi đưa ra một số giải pháp nhằm phát triểnnăng lực sử dụng tiếng Việt cho HVQS Lào góp phần nâng cao chất lượngdạy và học tiếng Việt như một ngoại ngữ
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ sở lí luận liên quan đến đề tài với nội dung chủ yếu vềphát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ cho học viên người nước ngoài
- Khảo sát một số giáo trình đã và đang được sử dụng dạy tiếng Việt chongười nước ngoài phổ biến hiện nay đồng thời tìm hiểu thực trạng dạy và họctiếng Việt cho HVQS Lào tại trường Sĩ quan Lục quân 1
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển năng lực sử dụng tiếng Việtcho HVQS Lào
- Bước đầu thực nghiệm để kiểm tra tính khả thi của những giải phápphát triển năng lực sử dụng tiếng Việt cho HVQS Lào mà luận văn đưa ra
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề thực hiện luận văn của mình, chúng tôi sử dụng các phương phápchính sau:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Sử dụng để tìm hiểu lịch sử vấn đề,đưa ra những kết luận cần thiết về lí luận và thực tiễn phương tháp thực hiệnthông qua việc tìm hiểu các nghiên cứu giáo dục học, ngôn ngữ học, phươngpháp giảng dạy tiếng Việt,…có liên quan tới đề tài
Trang 13- Phương pháp phỏng vấn sâu: Sử dụng để phỏng vấn trực tiếp GV và
HV để điều tra thực tiễn dạy học, về các biện pháp dạy học, hứng thú của HVkhi học các tiết học thực nghiệm do chúng tôi soạn và tổ chức
- Phương pháp điều tra, khảo sát: Sử dụng để thu nhận thông tin thực tế
về tình hình dạy và học tiếng Việt đang diễn ra ở trường Sĩ quan Lục quân 1như chương trình dạy học, giáo trình, phương pháp giảng dạy, phương tiện hỗtrợ dạy học, năng lực sử dụng tiếng Việt của HVQS Lào….thông qua phiếukhảo sát, đánh giá, bài giảng mẫu, bài kiểm tra Kết quả điều tra, khảo sát sẽđược chúng tôi phân tích những con số cụ thể
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Sử dụng để đánh giá tính khả thicủa đề tài Từ đó, giúp chúng tôi kiểm tra, đánh giá được khả năng áp dụng
đề tài vào thực tiễn dạy học
- Thủ pháp thống kê: Sử dụng để xử lí các số liệu thu thập khi khảo sát,thực nghiệm, giúp cho việc phân tích, tổng hợp để đạt tới những kết luậnđúng nhất
6 Ý nghĩa của luận văn
Trên cơ sở khảo sát, đánh giá giáo trình và thực trạng dạy, học củaHVQS Lào tại trường Sĩ quan Lục quân 1, luận văn đưa ra các giải phápnhằm phát triển năng lực sử dụng tiếng Việt cho HVQS Lào sẽ góp phần vàoviệc nâng cao chất lượng giảng dạy tiếng Việt đồng thời chúng tôi cũng mongmuốn, những kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là tài liệu tham khảo hữu íchgiúp cho việc dạy và học tiếng Việt như một ngoại ngữ ngày càng được hoànthiện hơn
Từ góc độ thực tế, luận văn có ý nghĩa đối với việc dạy và học tiếng Việtcho đối tượng là học viên quân sự Lào, đặc biệt kết quả nghiên cứu sẽ hỗ trợđào tạo tiếng Việt cho học viên Lào tại Trường Sĩ quan Lục quân 1 đạt hiệuquả cao hơn
Trang 147 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dungchính của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Một số giải pháp phát triển năng lực sử dụng tiếng Việt chohọc viên nước ngoài (trường hợp học viên quân sự Lào học tiếng Việt trình độ
cơ sở tại trường Sĩ quan Lục quân 1)
Chương 4: Thực nghiệm sư phạm
lí do khác nhau và theo đó việc sử dụng ngôn ngữ bản địa đã trở thành nhu cầucấp thiết của họ Tuy nhiên, suốt thời gian dài này trong lịch sử, việc dạy tiếngViệt cho người nước ngoài chưa được đặt ra theo đúng ý nghĩa của việc “dạyngoại ngữ” Giai đoạn này, chủ yếu người nước ngoài học tiếng Việt chủ yếutheo lối tự phát, truyền khẩu Cho đến trước thời điểm thực dân Pháp xâm lượcViệt Nam (thế kỉ XIX), ở Việt Nam chưa thấy xuất hiện tài liệu giáo khoachính thức nào được sử dụng cho việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài
Trang 15Lịch sử của việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài như một ngoại ngữ
ở nước ta về thực chất chỉ diễn ra trong khoảng hơn 100 năm nay Tính phổbiến và hệ thống trong việc biên soạn sách có lẽ phải tới khi chúng ta có sựtiếp xúc một cách có hệ thống với người Pháp Trong suốt thời gian dài từcuối thế kỉ XIX đến năm 1945 sách dạy tiếng Việt căn bản do người Phápviết Tài liệu sớm nhất liên quan đến việc dạy - học tiếng Việt được tìm thấy
là cuốn “Giáo trình dẫn đàng nói chuyện tiếng Phalangsa (tiếng Pháp) và tiếng An Nam (tiếng Việt)” (1889) dạy hội thoại tiếng Pháp và dạy tiếng Bắc
Kỳ (tiếng An Nam) do cha xứ M.Bon (cố Bân) và Droket (cố Ân) Mục tiêuban đầu của quyển sách này là phục vụ cho việc truyền giáo của các giáo sĩChâu Âu ở Việt Nam, sau đó là giúp cho các quan chức người Pháp Ngoài racòn vài tài liệu do các học giả, giám mục Trương Vĩnh Ký và Trương VĩnhTống biên soạn Họ được coi là một trong những người đầu tiên dạy tiếngViệt cho người nước ngoài (dạy cho các cha cố người nước ngoài) Với nhậnthức đã là ngôn ngữ thì đều giống nhau về mặt hình thức, nên các sách dạytiếng Việt thời kỳ này là đều dựa vào tiếng Pháp để biên soạn sách dạy tiếngViệt
Nhu cầu dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ chỉ thực sự được đặt ra saunăm 1954 Sau khi nhà nước Việt Nam DCCH thành lập, việc thiết lập quan
hệ trong khu vực và thế giới tuy còn hạn chế nhưng chắc chắn đã làm nảysinh nhu cầu trong việc dạy và học ngoại ngữ và ngược lại Đến những năm
50 của thế kỉ XX, nhu cầu truyền bá ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam, việcquảng bá hình ảnh, đất nước, con người và ngôn ngữ Việt Nam cũng đã trởthành mục đích mang tính chiến lược của quốc gia Điều này được thể hiện rõnét nhất là ngay sau khi trường Đại học Tổng hợp Hà Nội được thành lập vào
năm 1956, tổ Việt ngữ chuyên dạy tiếng Việt cho người nước ngoài cũng được hình thành Đến năm 1968 thì chuyển thành khoa Tiếng Việt, sau này lại
Trang 16đổi tên thành khoa tiếng Việt và Văn hóa Việt Nam cho người nước ngoài.
Đến năm 2008, để phù hợp với định hướng nghiên cứu, giảng dạy cũng như
thực tế, khoa được đổi tên thành Khoa Việt Nam học và tiếng Việt thuộc
trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.Nhiệm vụ của khoa trong những ngày đầu mới thành lập chủ yếu là giúp (sinhviên) người nước ngoài hiểu được nội dung bài giảng, đọc và hiểu được cáctác phẩm viết bằng tiếng Việt trong kho tàng văn học, sử học Việt Nam Quanhững lần đổi tên như trên đã cho chúng ta thấy sự thay đổi nhằm phù hợp vớiyêu cầu thực tế của từng thời kì phát triển của đất nước Hiện nay, ngoài các
cơ sở truyền thống trong và ngoài nước thì việc dạy tiếng Việt cho ngườinước ngoài đang được đẩy mạnh ở các nước như Hàn Quốc, Nhật Bản, Úc,Thái Lan, …
Trong giai đoạn đấu tranh giải phóng – thống nhất đất nước (1945-1975)
và thời kì đất nước thống nhất tiến lên xây dựng CNXH (1975-1986), đốitượng chủ yếu của việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài là các đối tượngđến từ các nước trong khối XHCN như: Liên Xô, Trung Quốc, Lào,Campuchia, …đó là thời kì chúng ta nhận được sự giúp đỡ cả nhân lực(chuyên gia) và vật lực từ các nước đồng thời là sự hỗ trợ lẫn nhau giữa cácnước Đông Dương: Việt Nam – Lào – Campuchia Những thay đổi lớn chỉthực sự diễn ra vào năm 1986 khi Việt Nam tiến hành công cuộc Đổi Mới mộtcách toàn diện trong sự nghiệp phát triển đất nước Thực hiện đường lối độclập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế trên tinh thần muốn
là bạn với tất cả các nước, Việt Nam đã được phát triển và mở rộng quan hệtrên mọi lĩnh vực hơn bao giờ hết Hiện nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệvới 169 quốc gia, có quan hệ kinh tế, thương mại và đầu tư với gần 200 quốcgia và vùng lãnh thổ Trong bối cảnh hội nhập quốc tế như vậy, Việt Namngày nay đã trở thành một điểm đến hấp dẫn cho các nhà đầu tư và du khách
Trang 17quốc tế Theo đó, vị thế của tiếng Việt với vai trò là ngôn ngữ quốc gia ở ViệtNam ngày càng được nâng cao và không ngừng phát huy mạnh mẽ Đối tượng
là người nước ngoài lựa chọn tiếng Việt như một ngoại ngữ cũng rất đa dạng,
có thể là các nhà chính trị, các nhà ngoại giao, các doanh nhân, các nhà đầu
tư, các nhà khoa học,…
Hiện nay, trong không gian đổi mới và mở cửa, bên cạnh dạy và họctiếng Việt cho người nước ngoài ngày một tăng Theo đó, các trung tâm dạyngoại ngữ và tiếng Việt ngày một nhiều, đáp ứng nhu cầu học ngoại ngữ nóichung và tiếng Việt nói riêng
1.1.2 Lí luận về dạy ngôn ngữ
1.1.2.1 Ngôn ngữ và quá trình tiếp nhận ngôn ngữ
Cho đến nay có rất nhiều định nghĩa về ngôn ngữ đã được các nhà ngônngữ học và giáo dục học đưa ra (khoảng hơn 400 định nghĩa về ngôn ngữ).Ngày nay, đứng trên phương diện giáo dục ngôn ngữ, các nhà ngôn ngữ học
và các nhà giáo dục học đã chấp nhận định nghĩa sau:
“Ngôn ngữ là một hệ thống ký hiệu âm thanh mà con người dùng đểgiao tiếp”
Các nhà ngôn ngữ học cũng thống nhất rằng, ngoài ngôn ngữ đầu tiên khimột con người sinh ra được tiếp xúc và là ngôn ngữ thứ nhất (tiếng mẹ đẻ), tức
là ngôn ngữ này sẽ được sử dụng từ khi sinh ra cho đến khi trưởng thành trong
xã hội của dân tộc sử dụng ngôn ngữ đó, thì bất cứ ai cũng có khả năng tiếpnhận thêm ít nhất một ngôn ngữ nữa và tất cả các ngôn ngữ tiếp nhận sau ngônngữ thứ nhất đều được gọi là ngôn ngữ thứ hai (ngoại ngữ)
Quá trình tiếp nhận ngôn ngữ thứ nhất được diễn ra qua hai giai đoạn.Giai đoạn thứ nhất cũng là giai đoạn con người tiếp nhận ngôn ngữ một cách
vô thức và theo thói quen; giai đoạn thứ hai là giai đoạn con người phát triểnngôn ngữ thứ nhất thông qua việc học tập trong trường học và các hoạt động
Trang 18giao tiếp ngôn ngữ trong môi trường ngôn ngữ tự nhiên [21, tr26] Điều này
có liên quan đến năng lực ngôn ngữ của con người Năng lực ngôn ngữ là khảnăng tiếp thu và sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp Theo quan điểm của ngữpháp học tạo sinh, con người sinh ra đã có năng lực nắm vững tiếng mẹ đẻ.Quá trình tiếp nhận ngôn ngữ thứ hai được phân biệt với ngôn ngữ thứ nhấtbởi thứ tự tiếp nhận và học tập ngôn ngữ Ngôn ngữ thứ hai còn gọi là ngônngữ đích – ngôn ngữ mà một người đang học và muốn thông qua quá trìnhhọc tập thụ đắc được ngôn ngữ này Quá trình tiếp nhận ngôn ngữ thứ haicũng không giống ngôn ngữ thứ nhất Ngôn ngữ thứ nhất được tiếp nhận mộtcách tự nhiên hơn còn ngôn ngữ thứ hai được tiếp nhận chủ yếu qua các tàiliệu học tập và phức tạp hơn bởi có sự tác động của chính ngôn ngữ thứ nhất
và các yếu tố khác Ngôn ngữ thứ hai thường học ở trường lớp, chịu sự chiphối của của giáo viên và giáo trình, người học ít được tham gia vào nhữnghoàn cảnh giao tiếp thực tế, ngôn ngữ trong giáo trình nhiều khi cũng khác sovới ngôn ngữ trong giao tiếp thực tế Ngoài ra còn có các nhân tố tác độngkhác như vấn đề tuổi tác, quan niệm của cá nhân, gia đình và xã hội đối vớingôn ngữ thứ hai, vấn đề sức khoẻ, tâm lí, động cơ thúc đẩy người học, cácđiều kiện về các phương tiện kĩ thuật hỗ trợ…
Với dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ, những kết quả, nghiên cứu vềquá trình tiếp nhận ngôn ngữ thứ nhất và ngôn ngữ thứ hai của con người nhưtrên có tác dụng to lớn trong việc giúp cho các giáo viên và người học tìm tòinhững phương pháp dạy và học phù hợp, có hiệu quả
1.1.2.2 Những đặc điểm cơ bản của việc dạy ngôn ngữ
Cùng với sự phát triển của nhu cầu học ngoại ngữ, đã xuất hiện nhiềuquan điểm về phương pháp dạy tiếng Từ phương pháp ra đời sớm nhất làphương pháp ngữ pháp - dịch, tiếp đó là một số phương pháp nhằm đáp ứngnhững nhu cầu học khác nhau như phương pháp trực tiếp, phương pháp thực
Trang 19hành có ý thức hay những phương pháp ra đời khi có sự phát triển của cácphương tiện kĩ thuật như phương pháp nghe – nói, phương pháp nghe – nhìn
và một phương pháp được nhắc đến nhiều trong thời gian gần đây là phươngpháp giao tiếp (hay hay còn gọi là tiến trình giao tiếp: The communicativelanguage teaching approach) với việc coi người học là đối tượng trung tâmtrong lớp học và chú trọng việc phát triển năng lực giao tiếp bằng ngoại ngữ Việc giảng dạy ngôn ngữ thứ hai (second language teaching) là các hoạtđộng giảng dạy một ngôn ngữ mới cho người đã thụ đắc được ngôn ngữ thứnhất [21] Các hoạt động này thông thường được tiến hành một cách chínhquy trong môi trường nhà trường Mặc dù việc giảng dạy ngôn ngữ thứ nhất
và ngôn ngữ thứ hai đều là các hoạt động giảng dạy ngôn ngữ và đều cónhững quy tắc học tập ngôn ngữ giống nhau nhưng do đối tượng, môi trường
và văn hoá nền của người học khác nhau nên việc giảng dạy ngôn ngữ thứ haicũng có những đặc điểm riêng, chủ yếu thể hiện ở những mặt sau đây:
- Mục tiêu của việc giảng dạy ngôn ngữ thứ hai chủ yếu là giúp chongười học có khả năng vận dụng ngôn ngữ đích để giao tiếp;
- Giảng dạy ngôn ngữ thứ hai lấy việc luyện tập các kĩ năng làm trungtâm, thông qua việc luyện tập để chuyển các kiến thức ngôn ngữ thành các kĩnăng;
- Hình thức giảng dạy “tập trung hoá” ở mức độ cao vì đối tượng họchầu hết là người đã trưởng thành nên trong một thời gian ngắn nhất cần học
để tiếp nhận ngôn ngữ thứ hai
- Vấn đề giảng dạy ngôn ngữ thứ hai ở giai đoạn cơ sở được coi trọnghơn ở các giai đoạn khác vì đây là giai đoạn định hình, tạo nền móng chongôn ngữ đích Số lượng người học ở giai đoạn này cũng nhiều hơn Giaiđoạn này thể hiện những đặc điểm và quy tắc giảng dạy ngôn ngữ thứ hai mộtcách rõ nét nhất;
Trang 20- Việc giảng dạy ngôn ngữ thứ hai rất coi trọng vấn đề so sánh, đối chiếucác ngôn ngữ Thông qua việc so sánh đối chiếu ngôn ngữ thứ hai với ngônngữ thứ nhất sẽ xác định được những dạy và những thuận lợi, khó khăn khigiảng dạy.
- Việc giảng dạy ngôn ngữ thứ hai có tác dụng chuyển dịch tư duy từ ngônngữ thứ nhất sang ngôn ngữ đích Dần dần, HV sẽ từng bước rời xa ngôn ngữthứ 1 và ngày càng tiến gần ngôn ngữ thứ 2 trong quá trình học
- Việc giảng dạy ngôn ngữ thứ hai càng coi trọng giảng dạy văn hoá hơn.Hai hoạt động này không thể tách rời nhau, đặc biệt là giảng dạy các kiếnthức văn hoá giao tiếp;
Như vậy, người giáo viên dạy tiếng cần nắm vững những đặc điểm củahoạt động giảng dạy ngôn ngữ thứ hai để xây dựng những bài học, bài giảngphù hợp với đối tượng học cũng như giảng dạy ngôn ngữ thứ hai một cách cóphương pháp và hiệu quả
1.1.2.3 Các kĩ năng ngôn ngữ
Trong giao tiếp, con người thường sử dụng chữ viết hoặc tiếng nói; dovậy, ngôn ngữ đã phát triển với hai hệ thống: hệ thống chữ viết và hệ thốngtiếng nói Sự phân biệt hai hệ thống đó sẽ giúp cho việc giảng dạy có hiệu quảhơn, phục vụ cho nhu cầu giao tiếp ngôn ngữ tốt hơn
Hệ thống tiếng nói là một hệ thống phát âm và thu nhận âm giữa ngườinói và người nghe Nói cách khác, để có thể giao tiếp được bằng tiếng nói,người ta phải nói được, nghe được và hiểu được Đây là hai kĩ năng cơ bảncần được rèn luyện để người học có thể sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp
Hệ thống chữ viết là một hệ thống ký hiệu để ghi lại âm thanh của hệthống tiềng nói Muốn giao tiếp bằng chữ viết, người học phải được trau dồi
kĩ năng đọc hiểu và viết
Trang 21Trên phương diện giáo dục ngôn ngữ, chúng ta có thể hình dung đượccấu trúc ngôn ngữ như sau:
Hình 1.1: Sơ đồ cấu trúc ngôn ngữ
Dựa vào sơ đồ trên, chúng ta có thể nhận thấy, mục tiêu của việc giảngdạy ngôn ngữ chính là luyện bốn kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết Để phát triểnngôn ngữ nói, chúng ta phải tập trung vào hai kĩ năng: nghe - hiểu và nói; đểphát triển ngôn ngữ viết, chúng ta phải tập trung vào hai kĩ năng: đọc - hiểu
và viết Tuy nhiên, trình tự chung cho việc dạy ngôn ngữ vẫn là: nghe, nói,đọc, viết như nhà giáo học pháp nổi tiếng L.G Alexander đã nói:
“Nothing should be spoken before it has been heard (Không nói trướckhi nghe) Nothing should be read before it has been spoken (Không đọctrước khi nói) Nothing should be written before it has been read (Không viếttrước khi đọc)”
(“First things first”, New Concept English, Longman, 1967)
Trang 22Trong thực tế đời sống hằng ngày, việc giao tiếp trực tiếp nhiều hơn làgiao tiếp gián tiếp, nghĩa là chúng ta dùng phần lớn hệ thống tiếng nói tronggiao tiếp Chính vì vậy, các kỹ năng nói và nghe cần được chú trọng hơn nhất
là trong giai đoạn đầu, trình độ cơ sở và trình độ trung cấp
Tiếp cận ở một góc độ khác, ngành tâm lí học thần kinh hiện đại đã chứngminh được rằng bốn kĩ năng ngôn ngữ nói trên được định vị bởi những khu vựctrung khu khác nhau trong não bộ của con người Cơ chế hoạt động của não bộxác lập những nhiệm vụ chuyên môn khác nhau tương ứng với từng khu vực.Nếu muốn nâng cao một kĩ năng nào cần tăng cường cơ chế hoạt động của não
bộ ở khu vực tương ứng Việc chia thành các kĩ năng riêng rẽ để giảng dạy vàhọc tập ngoại ngữ là phù hợp với cơ chế hoạt động của não bộ con người, giúpcho người học có thể phát triển kĩ năng còn hạn chế hơn so với các kĩ năngkhác để cuối cùng đạt được sự phát triển hài hoà, đồng đều cho cả bốn kĩ năngngôn ngữ
Tiếng Việt đã và đang được giảng dạy với tư cách là một ngoại ngữ, mộtngôn ngữ thứ hai Việc chia thành các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết để giảngdạy và luyện tập là điều cần thiết, phù hợp với quy luật thụ đắc ngôn ngữ thứhai cho người nước ngoài học tiếng Việt
Thêm vào đó, khi học tiếng Việt, người học sẽ tiếp nhận văn hóa ViệtNam thông qua sự truyền giảng và giải mã của giáo viên Chính bởi vậy,ngoài kiến thức về ngôn ngữ ra, người thầy cần phải hiểu biết về văn hóa càngnhiều càng tốt
Đứng trên quan điểm và góc nhìn của Việt Nam học, người làm côngtác giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, ngoài kiến thức về Việt ngữhọc, về phương pháp sư phạm ngoại ngữ cũng cần phải có kiến thức nhất định
về văn hóa Việt Nam và văn hóa của người học Dạy và học một thứ tiếng làdạy và học ngôn ngữ của một cộng đồng có những đặc thù văn hóa riêng hay
Trang 23nói một cách khác, tức là dạy và học một bộ phận văn hóa của dân tộc đó Bởingôn ngữ là một trong những thành tố quan trọng nhất cấu thành nên nền vănhóa dân tộc và phản ánh chính nền văn hóa đó.
Ngôn ngữ và văn hóa đóng vai trò quan trọng đối với mỗi cá nhân, quagiao tiếp ta có thể đánh giá một người có văn hóa hoặc thiếu văn hóa, lịch sựhoặc không lịch sự Văn hóa còn ảnh hưởng đến phong cách, tư duy của mỗicon người Ngôn ngữ và văn hóa phát triển trong sự tác động qua lại lẫn nhau
Vì vậy, khi dạy ngôn ngữ dù ở cấp độ nào ta không thể tách rời văn hóa khỏingôn ngữ Việc sử dụng các yếu tố văn hóa trong giảng dạy ngôn ngữ sẽ manglại những kết quả tốt nhất cho học viên Có như thế người dạy tiếng Việt mới
có thể giới thiệu văn hóa, đất nước và con người Việt Nam cho người nướcngoài một cách hiệu quả thông qua việc giảng dạy ngôn ngữ tiếng Việt
1.1.3 Một số khái niệm cơ bản
1.1.3.1 Ngôn ngữ thứ nhất và ngôn ngữ thứ hai
Đa số các nhà ngôn ngữ học đều quan niệm rằng [44,tr30]: Ngôn ngữthứ nhất là tiếng mẹ đẻ (mother tongue), là tiếng nói được sử dụng từ khi sinh
ra cho đến khi trưởng thành trong xã hội của dân tộc sử dụng ngôn ngữ đó.Ngôn ngữ thứ hai thường được hiểu ở hai góc độ:
Thứ nhất, khi mọi người học một ngôn ngữ khác với ngôn ngữ mẹ đẻcủa họ thì ngôn ngữ đó được gọi là ngôn ngữ thứ hai
Thứ hai, ở một số quốc gia sử dụng đa ngôn ngữ: Ngôn ngữ phổ thôngđược gọi là ngôn ngữ thứ nhất, còn ngôn ngữ của một cộng đồng được gọi làngôn ngữ thứ hai, chẳng hạn ở Mỹ, tiếng Anh là ngôn ngữ thứ nhất, các ngônngữ của các cộng đồng dân tộc khác ở Mỹ như tiếng Tây Ban Nha, tiếngPháp, tiếng Trung…là các ngôn ngữ thứ hai; ở Úc, tiếng Anh là ngôn ngữ thứnhất, các ngôn ngữ của các cộng đồng dân tộc khác nhau là ngôn ngữ thứ hai(Languages other than English - LOTE)
Trang 241.1.3.2 Quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai
Lý thuyết Thụ đắc ngôn ngữ (Language Acquisition) của giáo sưStephen Krashen là những nguyên tắc về học ngôn ngữ rất nổi tiếng tronggiới học thuật Krashen chỉ ra rằng con người có khả năng học ngôn ngữ bẩmsinh Ta học qua quá trình hấp thụ trực tiếp, không phải từ việc học thuộcdanh sách từ vựng, ngữ pháp Hiệu quả học diễn ra khi ta có thể tiếp nhậntrong trạng thái thoải mái Đây là quá trình tích lũy dài, đa dạng, nhiều
Hình 1.2 Mô hình thuyết thụ đắc ngôn ngữ
Theo giáo sư Stephen Krashen: “Để tiếp thu và sử dụng được một ngônngữ, người học không cần chú trọng quá nhiều tới những quy tắc ngữ pháp,
và không cần luyện tập theo chỉ dẫn một cách nhàm chán” [33,tr31]
“Tiếp nhận ngôn ngữ” là một quá trình thấm nhuần ngôn ngữ một cách
tự nhiên, bao gồm việc một người học ngôn ngữ một cách chủ động lẫn bịđộng trong một thời gian nhất định
“Tiếp nhận” là sản phẩm của sự tương tác, tương quan thực tế giữanhiều người trong môi trường của ngôn ngữ và văn hóa cần học
Việc tiếp thu một ngôn ngữ là một quá trình lâu dài để dần dần tạo ra
và mài dũa những kỹ năng ngôn ngữ (Nghe – Nói – Đọc – Viết) trong mộtmôi trường nhất định mà không cần kiến thức lý thuyết chuyên sâu về ngữpháp hay văn phạm
Trang 25Trẻ em nếu học theo phương pháp này sẽ có thể học được ngôn ngữ đầutiên bất kì nào đó một cách vô thức, đồng thời các em sẽ giao tiếp sáng tạo vàxác định các giá trị văn hóa một cách tự nhiên Ví dụ: các em biết phải cư xửkhác nhau với người khác hoặc tùy ngữ cảnh khi nói tiếng Anh/ tiếng Việt.
Điều này cũng đúng với người học tiếp thu ngôn ngữ thứ hai một cách
tự nhiên vào thời điểm ban đầu Người học có thể sử dụng các công cụ hỗ trợnhư hình ảnh, âm thanh, … để học nghĩa của các từ, cấu trúc câu Các cấutrúc ngữ pháp sẽ được học một cách tự nhiên từ dễ đến khó thay vì bị bó buộcvào việc học các lý thuyết
1.1.3.3 Năng lực ngôn ngữ
Các nhà nghiên cứu như: Chomsky (1965), Canale và Swain (1980),Bachman (1990),…đã đưa ra khái niệm năng lực ngôn ngữ với ý nghĩa là kiếnthức của người nói (người nghe) về ngôn ngữ của mình, khác với ngữ hành(được hiểu là thực tế sử dụng ngôn ngữ trong các tình huống cụ thể) Nó đềcập đến trình độ sử dụng ngôn ngữ mà người ta đã làm chủ được, bao gồm kiếnthức về từ vựng, quy tắc phát âm và chính tả, cấu tạo từ và cấu trúc câu Hệ thốngkiến thức ngôn ngữ gồm [44,tr31]:
- Bậc 1: Hiểu, sử dụng được cấu trúc ngôn ngữ; biết sử dụng các từ ngữ
cơ bản đáp ứng được nhu cầu giao tiếp: tự giới thiệu bản thân và người khác;trình bày được những thông tin về bản thân như: nơi sinh sống, người
Trang 26thân/bạn bè … Có khả năng giao tiếp đơn giản nếu người đối thoại nói chậm,
rõ ràng và sẵn sàng hợp tác giúp đỡ
- Bậc 2: Hiểu các câu, cấu trúc ngôn ngữ được sử dụng thường xuyên,liên quan đến nhu cầu giao tiếp: thông tin về gia đình, bản thân, đi mua hàng,hỏi đường, việc làm Có khả năng trao đổi thông tin về những chủ đề đơngiản, quen thuộc hằng ngày, mô tả đơn giản về bản thân, môi trường xungquanh và những vấn đề thuộc nhu cầu thiết yếu
- Bậc 3: Hiểu được các ý chính của một đoạn văn, bài phát biểu chuẩnmực, rõ ràng về những chủ đề trong công việc, trường học, giải trí, Có thể
xử lý được hầu hết các tình huống xảy ra; viết được đoạn văn liên quan đếnnhững chủ đề quen thuộc hoặc cá nhân mình quan tâm; mô tả được nhữngkinh nghiệm, sự kiện, mong muốn, và trình bày ngắn gọn được lý do, giảithích ý kiến và kế hoạch của mình
- Bậc 4: Hiểu được ý chính của một văn bản phức tạp về các chủ đềkhác nhau, kể cả những trao đổi có nội dung thuộc lĩnh vực chuyên môn củabản thân Có thể giao tiếp trôi chảy, tự nhiên; viết được những văn bản rõràng, chi tiết với nhiều chủ đề khác nhau và giải thích được quan điểm củamình về một vấn đề, nêu ra được những ưu - nhược điểm của các phương ánlựa chọn
- Bậc 5: Nhận biết và hiểu được hàm ý của những văn bản dài, có phạm
vi nội dung rộng Có khả năng diễn đạt trôi chảy, tức thì, không có khó khănkhi tìm từ ngữ diễn đạt; sử dụng ngôn ngữ hiệu quả phục vụ các mục đíchquan hệ xã hội, mục đích học thuật và chuyên môn; viết rõ ràng, chặt chẽ, chitiết về các chủ đề phức tạp, tổ chức văn bản, sử dụng tốt từ ngữ nối câu, cáccông cụ liên kết trong văn bản
- Bậc 6: Dễ dàng hiểu hầu hết các văn bản nói - viết Có khả năng tómtắt được các nguồn thông tin nói hoặc viết, sắp xếp lại, trình bày lại một cách
Trang 27logic; diễn đạt rất trôi chảy và chính xác và phân biệt được những khác biệttrong các tình huống.
1.1.3.4 Phát triển năng lực ngôn ngữ
Khái niệm phát triển năng lực ngôn ngữ được dùng ở đây nhằm chỉchiến lược và phương pháp cung cấp, giới thiệu, giúp người học thụ đắc ngônngữ một cách hiệu quả và nhanh chóng
Nói về việc dạy học nhằm phát triển năng lực ngôn ngữ, hiện đã có rấtnhiều chiến lược được các nhà nghiên cứu đề xuất như: phương pháp từ khoá,phương pháp ngữ nghĩa, phương pháp từ khoá - xử lí ngữ nghĩa, chiến lượcđoán nghĩa của từ, chiến lược sử dụng từ điển đơn ngữ, chiến lược mã hoá,chiến lược kích hoạt, chiến lược tạo ghi chú, chiến lược diễn tập/ thực hànhgiả định, chiến lược học từ mới thông qua đọc, thông qua nói, thông qua cácphương tiện truyền thông, thẻ từ, từ trong mối liên hệ với tranh, từ trong mốiliên hệ với một chủ đề Tuy nhiên, về cơ bản, có thể quy về ba phương phápdạy học từ vựng chính: một là phương pháp trực quan, hai là phương phápdịch, ba là phương pháp thuần ngôn ngữ học Ở nước ta, việc phát triển nănglực ngôn ngữ dành cho các học viên nước ngoài muốn học tiếng Việt cũng đãđược chú trọng với việc xây dựng các giáo trình dạy TV cho người nướcngoài (Nguyễn Thị Lệ Hằng (2011); Bùi Duy Dương (2016),…), giới thiệumột số phương pháp cung cấp từ vựng cơ bản và mở rộng vốn từ trong dạytiếng thực hành (Trần Thị Minh Giới (2003); Nguyễn Văn Phúc (2013),…)
1.1.4 Dạy Tiếng Việt như ngôn ngữ thứ hai
Trang 28không phải là tiếng bản ngữ của một nước, thường là hoặc để giao tiếp vớingười nước ngoài nói ngôn ngữ đó hoặc để đọc tài liệu viết bằng ngôn ngữđó” Như vậy, theo quan điểm này thì người nước ngoài học tiếng Việt nhưmột ngoại ngữ cần theo quy định về dạy học ngoại ngữ hiện đại [42,tr24]
1.1.4.2 Một số nguyên tắc khi dạy học Tiếng Việt
* Dạy tiếng theo quan điểm giao tiếp
- Những cơ sở đề xuất quan điểm giao tiếp
+ Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng, đơn giản và thuận lợicủa con người
+ Bằng giao tiếp, sử dụng giao tiếp, HV sẽ tiếp thu tốt ngôn ngữ vàviệc dạy học tiếng mới thành công và không nhàm chán, ngược lại trở nênhấp dẫn, hứng thú với HV
- Những chú ý khi dạy tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp
+ Chú ý tới công cụ giao tiếp, chức năng xã hội của ngôn ngữ, vì vậylíthuyết không cần học quá sâu mà thậm chí cần được lược bỏ Người học họccấu trúc ngôn ngữ là để nắm cách sử dụng chúng
+ Phối hợp việc học lí thuyết ngôn ngữ với thực hành giao tiếp Cầndạykiến thức ngôn ngữ từ dễ đến khó Đi đôi là giao tiếp với ngữ liệu phù hợpvới giao tiếp thực tế
+ Giao tiếp trong học cần gần gũi với tình huống giao tiếp đời sống đểgiúp người học tiếp thu bài tốt, có thể sử dụng ngay các kĩ năng nghe nói đọcviết trong học vào thực tế
- Những yêu cầu của hướng dạy và học theo hướng giao tiếp
+ Giao tiếp cần đặt trong một tình huống nhất định, cần tạo mọi tìnhhuống và lợi dụng mọi tình huống để giảng dạy GV và HV cần được chuẩn
bị chu đáo về nội dung giao tiếp, lựa chọn phương án tốt nhất phù hợp vớimục đích giao tiếp
Trang 29+ Dù HV nói hay viết có sai cũng cần được GV và HV tôn trọng, lắngnghe Khi HV hỏi, GV có nhiệm vụ trả lời.
+ Phương pháp giao tiếp cũng cần sử dụng một loạt các phương tiện vàbài tập rèn luyện riêng như: tạo tình huống, tọa đàm,kể chuyện, ghi chép, thảoluận,…
*Dạy theo tính chất thực hành
Khâu thực hành cần theo những yêu cầu sau:
- Giúp cho HV phát âm đúng, viết đúng, hiểu nghĩa của từ, hiểu cấutạo và hệ thống hóa những từ đã học, mở rộng vốn từ, bổ sung cho mình
- Giúp học sinh hình thành các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết qua các bàitập dịch xuôi, dịch ngược và làm bài tập sáng tạo, thể hiện toàn diện hiệu quảcủa dạy học tiếng Việt
*Phát huy vai trò chủ động, tích cực, sáng tạo của người học
- Đặc điểm đối tượng
Quá trình dạy học quyết không thể là quá trình thầy đọc- trò ghi theomột giáo án với những kết luận có sẵn mang tính áp đặt
Trang 30● Cần có sự phân hóa trong giáo án cho cả 3 đối tượng khá giỏi, trungbình, yếu kém; động viên kịp thời để cả lớp cùng chủ động tìm tòi suy nghĩtìm hiểu bài học.
+ Hỏi- đáp và bài tập trên lớp để phát huy tính chủ động, tích cực sángtạo của học sinh phải tuân theo những yêu cầu sau:
● Phần hướng dẫn HV, nhất là bài tập phải có tính hệ thống để giúp
HV tự rút ra những kiến thức, hình thành tri thức và từ đó có cơ sở để hiểubài
● Câu hỏi, bài tập cần phù hợp với HV, diễn đạt bằng một ngôn ngữtrong sáng
1.1.5 Một số phương pháp dạy học Tiếng Việt
1.1.5.1 Khái niệm phương pháp dạy học
“ Phương pháp”- gốc Hi Lạp là Methodos có nghĩa là đường hướng,
cách thức nhận thức, là hệ thống những nguyên tắc, quan điểm đối với việcnghiên cứu các hiện tượng, các qui luật phát triển của tự nhiên, xã hội và tưduy Trong khoa học và trong các hoạt động thực tiễn, khái niệm “ phươngpháp” có ý nghĩa cụ thể tùy thuộc vào từng đối tượng nghiên cứu và hình thứchoạt động [44,tr40] Phương pháp tổng hợp những tri thức về các hiện tượng
và qui luật của hiện thực khách quan, bổ sung tính chủ quan của người dùng.Dạy học tiếng Việt cũng cần phương pháp, đó chính là nói cách dạy tốt nhất,hiệu quả nhất để việc dạy học có kết quả cao nhất
Tóm lại, phương pháp là cách tốt nhất để làm công việc nào đó Từ đó,suy ra, phương pháp dạy học là những cách tổ chức hoạt động của GV nhằmhướng dẫn HS học có hiệu quả nhất
Trang 311.1.5.2 Một số phương pháp dạy học tiếng Việt tích cực
Phương pháp Ngữ pháp – Dịch
Phương pháp này tập trung chủ yếu vào phát triển kỹ năng đọc hiểu, từvựng, dịch văn bản, viết luận và ngữ pháp Các bài học được biên soạn vàchia ra thành từng đoạn văn bản ngắn HV được học ngữ pháp rút ra từ cácbài đọc HV cần phải dịch các bài đọc sang tiếng mẹ đẻ
Ưu điểm:
- HV được học ngữ pháp và từ vựng kĩ
- HV được đọc các đoạn văn mẫu và có thể đọc hiểu nhanh các vănbản
Hạn chế: Không giúp HV giao tiếp được HV thụ động ngồi nghe và
ghi chép, khả năng sáng tạo và kỹ năng nói của HV hạn chế nhiều
Phương pháp Nghe – Nói
Phương pháp Nghe - Nói chú trọng vào việc dạy kỹ năng nói nghe,
cung cấp kiến thức ngôn ngữ (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp) Phương phápkhuyến khích dùng ngoại ngữ trong lớp, trong quá trình dạy học HV học theocác cách: hỏi và trả lời về bài đối thoại mẫu, thực hành thêm một số bài tậpcấu trúc
Ưu điểm: phù hợp với những HV mới học vì HV cảm thấy phấn khởi
và tự tin khi được nghe và tập bắt chước theo giáo viên
Hạn chế:
- HV có trình độ cao rất dễ nhàm chán với phương pháp này
- HV áp dụng những gì đã được lĩnh hội trong lớp học vào thực tiễngiao tiếp ngôn ngữ là khó Tuy HV có khả năng nghe hiểu, nhớ ngay tại chỗtrong lớp học, song các em cũng khó khăn khi gặp tình huống tương tự tronggiao tiếp thực dù đã học một thời gian dài
Trang 32Tóm lại, trên đây là một số phương pháp chính trong việc dạy học tiếngViệt được áp dụng hiện nay Trong thực tế, tùy vào từng đối tượng HV, trình
độ của HV, các phương pháp thường được sử dụng cùng nhau GV cần linhhoạt sư dụng các phương pháp trong những tình huống cụ thể để đạt kết quảcao Không thể có một phương pháp dạy học vạn năng mà phải áp dụng linhhoạt, phù hợp từng bài học, tình huống
- Mục đích: Luận văn khảo sát các giáo trình để nghiên cứu ưu, nhượcđiểm của các giáo trình hiện nay Dựa vào kết quả khảo sát, chúng tôi sẽ thiết
kế nội dung bài học và bài kiểm tra đánh giá trình độ năng lực sử dụng tiếngViệt phù hợp với học viên quân sự Lào trình độ cơ sở
1.2.1.2 Tư liệu khảo sát
Về giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài: Giáo trình hiện naykhá đa dạng Hầu hết các giáo trình do cá nhân hoặc 2-3 tác giả đồng biênsoạn, bài học quá dài, phân chia các bài tập không theo trọng tâm của chủ dềchính mà có tính cách chia đều, bình quân
Bên cạnh đó, phần lớn các giáo trình được biên soạn cho trình độ theochủ ý của tác giả Ví dụ: “Tiếng Việt cơ sở” của Vũ Văn Thi, Bùi Duy Dân,Nguyễn Hồng Ngọc (2008), Nxb ĐHQGHN, Tiếng Việt cơ sở của Mai NgọcChừ, Trịnh Cẩm Lan (2010), Nxb Phương Đông, Tiếng Việt nâng cao (cho
Trang 33người nước ngoài) của Nguyễn Thiện Nam (1998), Nxb Giáo dục Hạn chế
là rất khó phát triển ở các bậc
Một số cuốn giáo trình, tác giả dồn nội dung của các cấp độ trong mộtcuốn giáo trình Ví dụ: “Tiếng Việt cho người nước ngoài” (Nguyễn AnhQuế) (1996), Nxb Giáo dục, Tiếng Việt cho người nước ngoài, do Bùi Phụng(chủ biên) (1992), trường ĐH Tổng hợp, Tiếng Việt cho người nước ngoài,của Mai Ngọc Chừ (2004), Nxb Thế giới, Thực hành tiếng Việt của NguyễnViệt Hương (1996), Nxb Giáo dục, Sách thống nhất, kế thừa về chủ đềnhưng với quá nhiều nội dung
Để có cơ sở cho việc đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển năng lực
sử dụng tiếng Việt cho học viên nước ngoài ở chương tiếp theo, chúng tôi tiếnhành khảo sát một số giáo trình dạy tiếng Việt CNNN đã và đang sử dụng chủyếu ở các cơ sở, trung tâm đào tạo khắp cả nước như sau:
1 Nguyễn Văn Huệ (chủ biên), Trần Thị Minh Giới, Nguyễn Thị NgọcHân, Thạch Ngọc Minh (2003), Giáo trình tiếng Việt dành cho người nướcngoài (quyển 1), Nxb Giáo dục
2 Đoàn Thiện Thuật (chủ biên) (2004), Tiếng Việt A (tập 1, tập 2), Nxb
Trang 34- Phần lời nói đầu (Giới thiệu về giáo trình của tác giả)
- Phần khái quát (Khái quát đặc điểm tiếng Việt)
- Phần phát âm (Ngữ âm, chữ viết và các bài thực hành phát âm)
- Phần bài học (Các bài học theo chủ đề, bài tập, bài luyện và phần ôn tập)
- Phần phụ lục (Các bảng ghi chú ngữ âm, ngữ pháp, đáp án bài viết,bảng từ ngữ trong giáo trình)
b Cấu trúc tổng thể một bài học trong các giáo trình
GT1: Cấu trúc bài học gồm 12 bài Mỗi bài có: tên chủ điểm ngữ pháp,
hội thoại, thực hành nói, từ vựng, nghe,…
Về cơ bản, giáo trình được trình bày mạch lạc, dễ hiểu song còn sơ lược
So với yêu cầu học tập hiện tại thì cần bổ sung thêm
GT2: Giáo trình tiếng Việt A được cấu trúc tách riêng từng phần gồm:
phần đầu sách là các bài học tại lớp theo các chủ đề (không có chú thích haydịch chủ điểm ngữ pháp), phần sau của sách là hệ thống bài tập ở nhà (cảnghe và bài tập viết), phần ngữ âm, phần chú thích ngữ pháp, phần từ vựngcho các bài, đáp án các bài nghe, đáp án bài tập
Trong mỗi bài học được tách ra thành hai phần: bài học tại lớp gồm bàiluyện và mẫu câu, phần bài tập về nhà được chuyển thành phần riêng
Phần ghi chú ngữ âm ngắn gọn, ghi chú ngữ pháp chỉ làm rõ thêm bàihọc trong sách Các phần này cũng có thêm phần tiếng Anh nhưng có thể thấy
Trang 35đây không phải là loại sách song ngữ Sách đã áp dụng phương pháp dạytiếng tiếng Việt hiệu quả là phương pháp giao tiếp
Cuốn sách rõ ràng chi tiết, cập nhật, hiện đại hơn so với cuốn trước.Song việc đơn giản hoá và tách biệt riêng từng phần trong cuốn sách đã gây ranhững lúng túng nhất định trong cho người dạy hay người học, dẫn đến sựkhó hiểu hoặc hiểu không đầy đủ
GT2a: Giáo trình Tiếng Việt A(tập 1), Nxb Thế Giới, 2004
Trình độ A1 gồm 12 bài học và 2 bài ôn tập Mỗi bài học được cấu trúcgồm: hệ thống các bài tập rèn luyện các kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết và phầnphát âm ở cuối bài học
GT2b: Giáo trình Tiếng Việt A(tập 2), Nxb Thế Giới, 2004
Trình độ A2 gồm 12 bài học và 2 bài ôn tập Mỗi bài được cấu trúc gồm:
hệ thống các bài tập rèn luyện các kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết và phần phát
âm ở cuối bài học
Nhìn chung giáo trình tiếng Việt A có cấu trúc các chủ đề tốt và đượcphân bố thành từng bài học hợp lý với đầy đủ phần nội dung (kết hợp đan xen
từ vựng, ngữ pháp, bài luyện, phát âm), bài tập về nhà, đáp án, bài nghe, giảithích ngữ pháp và bảng từ bằng song ngữ Việt – Anh Hơn nữa, bộ sách đưavào khá đủ các vấn đề ngữ pháp, lượng từ phong phú cho trình độ cơ sở vàchú trọng rèn cả 4 kỹ năng nghe, nói, đọc, viết cho người học
GT3: Giáo trình Tiếng Việt (tập 1, tập 2) của tác giả Phan Văn Giưỡng,
Nxb Văn hóa Sài Gòn, 2009
GT3a (tập 1) gồm 14 bài, có cấu trúc gồm các phần: đàm thoại, từ ngữ,ngữ pháp, thực hành nói, thực hành viết
GT3b (tập 2) có cấu trúc bài học gồm 12 bài Mỗi bài có các mục: đàmthoại, từ ngữ, ngữ pháp, thực hành, tập đọc
Trang 36Bộ sách khá chi tiết và đã đáp ứng được nhu cầu luyện tập tiếng Việt củasinh viên nước ngoài.
GT4: Giáo trình Tiếng Việt hiện đại (Tập 1, tập 2) của tác giả Phan Văn
Giưỡng, Nxb Văn hóa Sài Gòn, 2009
GT4a (tập 1) có cấu trúc bài học gồm 20 bài Mỗi bài được thiết kế gồmcác phần chính: đàm thoại, từ ngữ, ngữ pháp, thực hành, tập đọc
GT4b (tập 2) có cấu trúc gồm 12 bài học Mỗi bài có các mục: đàmthoại, từ ngữ, ngữ pháp, thực hành nói, thực hành viết, tập đọc
GT5: Giáo trình Tiếng Việt Cơ sở (Quyển 1, quyển 2) của tác giả
Nguyễn Việt Hương, Nxb ĐHQG, 2010
GT5a: Tiếng Việt cơ sở (Quyển 1) được chia làm 2 phần: phần Thựchành phát âm (5 bài) và phần Thực hành giao tiếp (7 bài và 1 bài ôn tập) Cấutrúc mỗi bài gồm: luyện tập, hội thoại, thực hành, ghi chú ngữ pháp, bài tập
về nhà, từ ngữ thường dùng
GT5b: Tiếng Việt cơ sở (Quyển 2) gồm 12 bài, trong đó có 10 bài học và
2 bài ôn tập Cấu trúc trong mỗi bài của cuốn này giống như phần Thực hànhgiao tiếp của quyển 1 nhưng có bổ sung thêm phần bài đọc
GT6: Tiếng Việt 123, Tiếng Việt cho người nước ngoài, do tập thể giáo
viên Trung tâm 123 Vietnamese biên soạn, NXB Thế giới ấn hành vào cuốinăm 2016
Cấu trúc gồm: phần giới thiệu hệ thống nguyên âm, phụ âm, thanh điệutiếng Việt, 3 bài ôn tập, 5 bài văn hóa, sách gồm 16 bài học Một bài học cócấu trúc gồm hội thoại – từ vựng – ngữ pháp và ngữ âm
Nhìn chung, các giáo trình đều có sự tách biệt rõ ràng về các phần trongbài học như hội thoại, phần giải thích ngữ pháp, phần bài tập và bài luyện.Các mục bài học theo kĩ năng cũng được phân chia rạch ròi thành các phầnriêng theo các kĩ năng ngôn ngữ: ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp và các kĩ năng
Trang 37thực hành tiếng: nghe - nói - đọc - viết Về cơ bản, các giáo trình đã đáp ứngđược nhu cầu học tập căn bản của học viên nước ngoài Tuy nhiên, các giáotrình này vẫn cần sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình mới.
1.2.2.2 Cấu trúc từng đơn vị kiến thức trong các giáo trình
a Phần ngữ âm trong các giáo trình
GT1: Trình bày khá chi tiết và cụ thể về ngữ âm tiếng Việt Mở đầu giáo
trình là phần phát âm với hai nội dung chính: 1) Ngữ âm và chữ viết; 2)Luyện phát âm Phần ngữ âm và chữ viết được trình bày khái quát với 5 nộidung chính: 1) Bảng chữ cái tiếng Việt; 2) Hệ thống nguyên âm trong tiếngViệt; 3) Hệ thống phụ âm đầu; 4) Hệ thống âm cuối; 5) Hệ thống thanh điệu.Phần luyện phát âm gồm 9 bài: 1) Âm và chữ; 2) Nghe và lặp lại; 3) Nhậndiện và thay thế; 4) Đọc; 5) Viết chính tả Trong mỗi bài luyện lại có nhữngbài tập nhỏ như luyện phụ âm đầu, luyện nguyên âm, luyện thanh điệu, Chẳng hạn, trong bài 1 mục âm và chữ có các bài tập nhỏ sau: luyện phụ âmđầu b, đ, m, n; luyện nguyên âm i, ê, e và luyện thanh điệu: thanh ngang vàthanh huyền
Về cơ bản, phần ngữ âm trong giáo trình được thiết kế đầy đủ và tươngđối phù hợp với người học Tuy nhiên, nhiều phần giải thích còn chứa nhiềuthuật ngữ chuyên ngành ngôn ngữ học gây khó hiểu như trong bài 3 (phần âm
và chữ), giới thiệu về âm đầu g (gh) như sau: Trong tiếng Việt, g là một âmxát, khác với g trong tiếng Anh là một âm tắc Trước các nguyên âm dòngtrước i, ê, e, âm này được ghi bằng gh
GT2: Phần ngữ âm không được chia thành phần riêng mà được phân bố
ở cuối mỗi bài học có tên: Phát âm Các tác giả chú trọng rất nhiều luyện tập
phát âm các thanh điệu tiếng Việt và công việc này được thực hiện ở nhiều
bài (từ bài 1 đến bài 10) Mục phát âm bắt đầu bằng ghi chú cách phát âm khó
Trang 38của một số từ chưa gặp, cảnh báo những lỗi thường gặp khi phát âm các phụ
âm, nguyên âm của tiếng Việt
Tuy nhiên có một vài hạn chế: phần Ngữ âm được cài vào mỗi bài rất tốtcho việc rèn luyện và nâng cao kỹ năng nói và đọc cho HV nhưng lại khôngtheo một quy luật nào Từ bài 1 đến bài 28, chúng tôi không thấy sự sắp xếp
từ dễ đến khó hay từ nguyên âm, âm đầu, đến vần Một vài bài phân biệt âmđầu sau đó đến một số bài phân biệt nguyên âm, có vài bài phân biệt phầnvần Thiếu các ví dụ và phần bài luyện về ngữ âm một cách triệt để
GT3: Hệ thống ngữ âm tiếng Việt, gồm 2 phần lớn:
Phần 1 Giới thiệu về hệ thống phát âm tiếng Việt có cấu trúc: A: Giớithiệu bảng chữ cái tiếng Việt; B: Hệ thống âm vị của tiếng Việt; C: Nguyên
âm đôi trong tiếng Việt; D: Thực hành Giới thiệu hệ thống chữ viết tiếngViệt
Phần 2 Gồm các nội dung nhỏ sau: A: Giới thiệu bảng chữ cái tiếngViệt; B: Sự hình thành cấu trúc các từ tiếng Việt; C: Cấu trúc câu trong tiếngViệt; D: Thực hành Phần 1 trong giáo trình đã giới thiệu được một cách kháiquát về hệ thống ngữ âm tiếng Việt với bảng chữ cái chi tiết trình bày theo hệthống phiên âm quốc tế Các nguyên âm, phụ âm và thanh điệu được trình bàytheo bảng có phiên âm quốc tế, miêu tả, ví dụ và ý nghĩa, đồng thời có thêmphần thực hành đơn giản, dễ hiểu, có ích cho người học Tuy nhiên, trongphần 2 giới thiệu về hệ thống chữ viết tiếng Việt khá khó với phần cấu trúccâu tiếng Việt Phần này giới thiệu ngay những bài đầu được coi là khó vớingười mới bắt đầu học, thêm nữa, kiến thức lại khá đơn giản, chưa đầy đủ, cóthể dẫn đến những sai lầm về mặt kiến thức Vì vậy, theo ý kiến của chúngtôi Phần này thiết kế chưa hợp lí đối với trình độ A của người học
GT4: Phần ngữ âm không được chia thành phần riêng Hệ thống ngữ âm
tiếng Việt gồm bảng chữ cái, nguyên âm, phụ âm và thanh điệu tiếng Việt
Trang 39Từng phần của kiến thức được cấu trúc theo chương trình học và phân bố vàotừng bài học cụ thể Chẳng hạn, trong bài 4, học về các phụ âm: p, q, r, s, t, v,
x, gi, ng Mỗi phần có hình vẽ minh họa, có ví dụ minh họa Phần kiến thứcngữ âm được biên soạn như vậy là khá đầy đủ Tuy nhiên, theo chúng tôi,phần ví dụ minh họa trong mỗi bài còn ít và thiếu các bài luyện tập Như vậy,người học sẽ chỉ nắm được qua loa, mơ hồ, thiếu tính hiệu quả
GT5: Phần ngữ âm được tách thành một phần riêng bao gồm hai nội
dung chính: 1) Khái quát về tiếng Việt gồm đặc điểm chung của tiếng Việt, hệthống nguyên âm, phụ âm và thanh điệu của tiếng Việt, cấu trúc từ tiếng Việt,bảng chữ cái tiếng Việt; 2) Thực hành phát âm gồm 5 bài với các nội dung:đọc các kết hợp giữa phụ âm và vần sau, phân biệt các thanh điệu (không-bằng-sắc, không-hỏi-ngã-nặng, sắc-nặng), thực hành phát âm, đọc các câu,thực hành nghe
GT6: Mở đầu giáo trình giới thiệu về bảng chữ cái, hệ thống nguyên âm
đơn, hệ thống phụ âm đơn, phụ âm đôi, hệ thống thanh điệu tiếng Việt, phầnluyện tập ngữ âm được phân bố ở cuối mỗi bài học Ví dụ ở bài 1, học phânbiệt các b/m/v; bài 2 học phân biệt t/th, đ/n; bài 4 học phân biệt h/kh và phát
âm thanh huyền/hỏi/ nặng…
Phần luyện ngữ âm được thiết kế với các hình ảnh, màu sắc sinh động,
rõ nét giúp cho người học luyện tập một cách hứng thú, dễ dàng hơn Tuynhiên, sách không có nhiều bài luyện điều này đỏi hỏi người dạy phải tíchcực, sáng tạo chuẩn bị bài luyện phù hợp với mỗi đối tượng học Đặc biệt,phần ngữ âm cần sắp xếp theo hướng từ dễ đến khó, luyện phân biệt nguyên
âm trước sau đó hoặc kết hợp với âm đầu, thanh điệu và cuối cùng là vần
Nhận xét:
Phần ngữ âm ở các giáo trình được sắp xếp theo các cách khác nhaunhưng có thể tổng kết lại như sau:
Trang 40- Một số giáo trình phần ngữ âm được tách thành một phần riêng nhưGT1 (Nguyễn Văn Huệ chủ biên), GT3a (Phan Văn Giưỡng), GT 5a (NguyễnViệt Hương)
- Giáo trình không có phần dạy ngữ âm riêng mà được lồng ghép vàotrong các bài học như: GT2a, GT2b (Đoàn Thiện Thuật chủ biên), GT4a,GT4b (Phan Văn Giưỡng), GT6 (Tập thể giáo viên 123 Vietnamese)
- Giáo trình không có phần dạy ngữ âm như: GT 3b, 3c, 3d (Phan VănGiưỡng), GT 4c,4d (Phan Văn Giưỡng), GT 5b (Nguyễn Việt Hương)
Các dạng bài luyện phát âm trong các giáo trình tương dối đa dạng vàphù hợp với trình độ Tuy mỗi giáo trình có cách đưa nội dung phần ngữ âmvào bài học là khác nhau nhưng tựu chung lại hầu hết các giáo trình đều rấtchú trọng việc dạy phát âm cho người nước ngoài mới học tiếng Viêt
b Phần từ vựng trong các giáo trình
Chúng tôi khảo sát phần từ vựng trong các giáo trình thông qua cácphần: hệ thống chủ đề, hội thoại và bài đọc
- Hệ thống chủ đề trong các giáo trình
GT1: Có 12 chủ đề, các chủ đề được thể hiện bằng các dạng câu hỏi
như: xin lỗi anh tên gì? Cô là người nước nào? Dạo này anh làm gì? Điều đógiúp học viên nhớ ngữ pháp cũng như nhớ được bài học nhanh hơn, lâu hơn.Các chủ đề cung cấp như: chào hỏi, quốc tịch, nghề nghiệp….khá cần thiết vàgần gũi cuộc sống hằng ngày, phù hợp với trình độ sơ cấp
Tồng số từ vựng trong GT1 là 289 từ
GT2: Giáo trình 2a và 2b có tổng 8 chủ đề lớn, được chia đều cho hai
cuốn, mỗi cuốn có 4 chủ đề lớn Giáo trình 2a gồm các chủ đề: Giới thiệu vàlàm quen, Gia đình, Thời gian, Chỗ ở và đồ vật Giáo trình 2b gồm các chủđề: Du lịch và giao thông, Sở thích và giải trí, Dịch vụ, Sức khỏe và thể thao.Mỗi chủ đề lớn được chia ra thành các chủ để nhỏ giúp học viên nắm bắt