Hàn Quốc Mặc dù cuộc khủng hoảng tài chính-ngân hàng trong giai đoạn 1997-1999tại Hàn Quốc có bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á, tuy nhiên,các nhà kinh tế và hoạch định chín
Trang 1NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DỰ ÁN LUẬT SỬA ĐỔI BỔ SUNG LUẬT CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG VỀ CÁC QUY ĐỊNH LIÊN QUAN ĐẾN XỬ LÝ TỔ CHỨC TÍN DỤNG YẾU KÉM
I KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
1 Hàn Quốc
Mặc dù cuộc khủng hoảng tài chính-ngân hàng trong giai đoạn 1997-1999tại Hàn Quốc có bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á, tuy nhiên,các nhà kinh tế và hoạch định chính sách Hàn Quốc đều nhận định nguyên nhânsâu xa của cuộc khủng hoảng bắt nguồn từ việc đầu tư tràn lan và vay nợ quámức của các tập đoàn kinh tế cũng như quy chế về an toàn hoạt động ngân hànglỏng lẻo, quản trị rủi ro yếu kém và thiếu sự minh bạch trong công tác tài chínhcủa hệ thống TCTD
Để giải quyết khủng hoảng, Chính phủ Hàn Quốc đã thực hiện một kếhoạch kinh tế tổng thể trong đó tập trung vào ổn định kinh tế vĩ mô và tái cấutrúc hệ thống ngân hàng, doanh nghiệp và thị trường lao động, trong đó tái cấutrúc hệ thống ngân hàng là một trong những mục tiêu ưu tiên hàng đầu của HànQuốc trong giai đoạn này Để có thể tiến hành tái cấu trúc hệ thống ngân hàngmột cách hiệu quả, Chính phủ Hàn Quốc đã xây dựng lộ trình các bước, theo đó:
1.1.Tiến hành rà soát và phân loại ngân hàng:
Một trong những việc làm đầu tiên của Chính phủ Hàn Quốc đó là tiếnhành áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế để đánh giá tình hình tài chính, các khoản
nợ xấu và tiến hành phân loại các ngân hàng thành 03 nhóm làm cơ sở cho quátrình hợp nhất và sáp nhập, bao gồm:
- Nhóm các ngân hàng dẫn đầu (nhóm các ngân hàng lớn);
- Nhóm các ngân hàng cỡ trung bình, chủ yếu tập trung vào hoạt động bánlẻ;
- Nhóm các ngân hàng nhỏ phục vụ cho các vùng địa phương đặc biệt Mục tiêu chính của việc phân loại này là nhằm: Thứ nhất, tạo ra các ngân hànglớn sau khi hợp nhất và sáp nhập có đủ năng lực về tài chính để có thể cạnhtranh hiệu quả đối với các ngân hàng nước ngoài cũng như nâng cao hiệu quả
Trang 2kinh doanh của các ngân hàng này; Thứ hai, thu hẹp phạm vi hoạt động của cácngân hàng có quy mô vừa, trong đó tập trung vào phát triển các hoạt động kinhdoanh chính; Thứ ba, các ngân hàng nhỏ nhưng hoạt động an toàn và hiệu quả,chỉ để phục vụ cho các vùng địa phương đặc biệt.
1.2 Hợp nhất, sáp nhập và mở rộng hình thức sở hữu:
Sau khi đánh giá được mức vốn thực có của các NHTM sau khi đã tiếnhành sau khi đã bù đắp các khoản thiệt hại về nợ xấu và dự phòng, Chính phủHàn Quốc đã tiến hành các bước đi mạnh mẽ để khuyến khích trên cơ sở tựnguyện hoặc buộc các NHTM phải sáp nhập lại với nhau hoặc tăng vốn để đảmbảo mức vốn tối thiểu an toàn cho hoạt động kinh doanh ngân hàng, thậm chí rútgiấy phép hoặc đóng cửa cũng như buộc phải tuyên bố phá sản
Tháng 7/1998, Chính quyền Hàn Quốc đã buộc 05 ngân hàng đóng cửa do
có tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu dưới 8% và yêu cầu các ngân hàng này phải hợpnhất và sáp nhập lại với nhau để đảm bảo đạt được mức an toàn vốn tối thiểu;buộc 07 ngân hàng yếu kém khác phải đưa ra lộ trình thực hiện tái cơ cấu dưới
sự giám sát của NHTW và Ủy ban giám sát tài chính (FSC) như tăng mức vốntối thiểu, thay đổi ban điều hành ngân hàng và giảm bớt quy mô và phạm vi hoạtđộng
Bên cạnh đó, Chính phủ Hàn Quốc cũng khuyến khích các NHTM lớn sápnhập và hợp nhất lại với nhau để trở thành các ngân hàng hàng đầu có khả năngcạnh tranh hiệu quả với các ngân hàng nước ngoài, cụ thể, vào cuối tháng11/2001, 02 ngân hàng lớn của Hàn Quốc là Kookmin Bank và Housing &Commercial Bank đã tự nguyện sáp nhập lại với nhau trở thành ngân hàng lớnnhất Hàn Quốc
Bảng 2: Số lượng các NHMT thay đổi trong giai đoạn 1/1998-9/2005
Số các NHTM tính
đến cuối năm 1997
Phá sản, hợp nhất và sáp nhập Số lượng
cácNHTMđượcthành lậpmới
Số lượngcác
NHTMhiện đanghoạt động
Phá sảnhoặc thugiấy phép(Exits)
Hợp nhất
và sápnhập(Mergers)
Nguồn: (BIS 1999)
Trang 31.3 Nâng cao chất lượng thanh tra, giám sát và an toàn hoạt động ngân hàng:
Song song với hoạt động mua bán, sáp nhập các TCTD, Chính quyền HànQuốc cũng tập trung vào nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan thanhtra, giám sát ngân hàng cũng như ban hành các quy định về an toàn hoạt độngngân hàng phù hợp với thông lệ quốc tế Các văn bản quy phạm pháp luật liênquan tới an toàn hoạt động ngân hàng cũng được điều chỉnh, sửa đổi để đảm bảo
hệ thống ngân hàng hoạt động ổn định và an toàn trong tương lai
2 Kinh nghiệm của Indonesia
2.1 Thực trạng
Vào những năm 90 của thế kỷ 20, Indonesia tiến hành tự do hóa nền kinh
tế, tuy mức độ can thiệp của Nhà nước (trực tiếp và gián tiếp) vẫn rất lớn Tronglĩnh vực tài chính, tiến trình tự do hóa làm gia tăng số lượng ngân hàng, màthường có mối liên hệ với các tập đoàn kinh tế Mặc dù vậy, các ngân hàngthương mại nhà nước vẫn đóng vai trò chủ đạo Trong quá trình đó, các yếuđiểm của hệ thống ngân hàng được tích tụ và bộc lộ, đó là vấn đề sở hữu khôngminh bạch, chất lượng tín dụng suy giảm, mức độ tập trung tín dụng cao vào khuvực bất động sản, rủi ro thị trường gia tăng khi các ngân hàng tham gia vào thịtrường vốn (cho thuê tài chính, góp vốn liên doanh, kinh doanh chứng khoán,quỹ đầu tư) thông qua các công ty con là các tổ chức tài chính phi ngân hàng.Trong khi đó, các quy định về quản lý, giám sát ngân hàng còn quá nhiều bấtcập, như quy định về phân loại nợ, trích lập dự phòng lỏng lẻo, không có cácquy định về phá sản, giải thể ngân hàng, dẫn tới các vi phạm trong hoạt độngngân hàng không được xử lý triệt để, công tác thanh tra ngân hàng không cóhiệu quả, một số ngân hàng mất vốn nhưng vẫn tiếp tục được tồn tại
Cùng với những bất ổn trong chính sách kinh tế vĩ mô, cuộc khủng hoảngtài chính-ngân hàng tại Indonesia nổ dưới tác động lan truyền của khủng hoảngtài chính tại Thái Lan năm 1997
2.2 Các giải pháp
Tại Indonesia, Chính phủ bơm vốn vào các ngân hàng tư nhân theochương trình tái cấp vốn ngân hàng vào năm 1999 dẫn đến quốc hữu hóa ngânhàng tư nhân trên quy mô lớn Bên cạnh đó, Chính phủ chia sẻ gánh nặng vớicác ngân hàng thương mại thông qua hình thức phát hành trái phiếu hoặc hỗ trợchủ sở hữu mua lại cổ phiếu của ngân hàng thông qua việc trả góp cho Chínhphủ trong thời hạn 03 năm Ngoài ra, để khuyến khích chủ sở hữu tăng vốn chongân hàng, Chính phủ cho phép chủ sở hữu giữ lại quyền kiểm soát quản lýngân hàng và số tiền Chính phủ hỗ trợ được coi như là một khoản Chính phủcho vay Số tiền thu được sử dụng để mua lại cổ phần ưu đãi của Chính phủ,
Trang 4điều này đem lại cho Chính phủ một khoản lợi nhuận và giảm số tiền mà chủ sởhữu cần trả lại để mua lại ngân hàng Tính đến giữa năm 1999, chi phí cơ cấu lại
hệ thống ngân hạng của Indonesia đã lên tới 51% GDP, phần lớn trong đó dùng
để tăng vốn và hỗ trợ thanh khoản cho các ngân hàng
3 Kinh nghiệm Thái Lan
3.1 Thực trạng
Trước khủng hoảng, Thái Lan theo đuổi chính sách tỷ giá cố định Tuynhiên, dưới áp lực của tình trạng thâm hụt cán cân vãng lai, giá trị thực của đồngnội tệ (bath) suy giảm làm gia tăng nợ nước ngoài ngắn hạn, ngân sách mất cânbằng, sau các biện pháp can thiệp không thành công nhằm giải tỏa áp lực tỷ giá,Chính phủ Thái Lan đã thực thi chính sách tỷ giá thả nổi vào tháng đầu 7/1997.Với việc thiếu các chính sách hỗ trợ đi kèm, chính sách tỷ giá thả nổi đã khiếnđồng bath mất ngay 20% giá trị so với đồng đô-la Mỹ chỉ ngay trong tháng7/1997, là nguyên nhân châm ngòi khủng hoảng toàn diện tại Thái Lan, sau đólan sang một số nước trong khu vực Đông Nam Á và Đông Á Khủng hoảngkinh tế - tài chính của Thái Lan bùng phát từ chính sách tỷ giá bất hợp lý, nhưng
có nguyên nhân sâu xa từ các bất ổn của hệ thống tài chính Đó là chất lượng tíndụng của các ngân hàng và công ty tài chính yếu, các ngân hàng và công ty tàichính không trích lập dự phòng rủi ro tín dụng đầy đủ; trong khi các quy định vềphân loại nợ, trích lập dự phòng và quy định kế toán không thích hợp; lãi dự thuđối với các khoản nợ (đã chuyển thành nợ xấu trên thực tế) tăng phản ánh khôngchính xác tình hình hoạt động của ngân hàng; khuôn khổ giám sát yếu kém vàphân khúc
đánh giá là không còn khả năng tồn tại Theo đó, NHTW đã bắt buộc sáp nhập 03 ngân hàng tư nhân vào các NHTM Nhà nước (Krung Thai Bank và Radanasin Bank), thành lập 01 ngân hàng mới (Bank Thai) từ 01 ngân
Trang 5Đến cuối năm 1998, chi phí cơ cấu lại khu vực tài chính của Thái Lan đãlên tới gần 25% GDP, trong đó 20% GDP được sử dụng cho mục đích hỗ trợthanh khoản, 8% còn lại dùng để tái cấu trúc vốn.
II HƯỚNG DẪN XỬ LÝ NGÂN HÀNG YẾU KÉM (Tháng 7/2015) CỦA ỦY BAN BASEL VỀ THANH TRA, GIÁM SÁT NGÂN HÀNG:
1 Một số yêu cầu chung:
- Trước khi bước vào giai đoạn xử lý, Hội đồng quản trị (HĐQT) và Banđiều hành (BĐH) của một ngân hàng sẽ phải chịu trách nhiệm chính trong việcxác định những yếu kém và vấn đề của ngân hàng Nếu cơ quan thanh tra, giámsát cần phải đưa ra quyết định về các biện pháp xử lý thì họ có rất nhiều công cụ
để sử dụng; nhưng việc sử dụng các công cụ này phải cân đối, phù hợp với quy
mô của vấn đề và trong một khung thời gian rõ ràng, cụ thể
- Khi xử lý các ngân hàng yếu kém, việc can thiệp sớm là cực kỳ quantrọng nhằm ngăn ngừa sự nghiêm trọng hơn của các vấn đề Trong nhiều trườnghợp, HĐQT và BĐH của ngân hàng cũng như cơ quan thanh tra, giám sát có xuhướng hoãn không thực hiện đầy đủ, kịp thời các biện pháp khắc phục Nguyênnhân cơ bản của sự trì hoãn này là vì họ hy vọng các vấn đề hiện hữu sẽ tự điềuchỉnh và tốt lên Bên cạnh đó, các chính trị gia hay các nhóm vận động hànhlang có thể sẽ tạo áp lực rõ rệt hoặc áp lực ngầm lên cơ quan thanh tra, giám sát
để trì hoãn áp dụng biện pháp khắc phục, xử lý Tuy nhiên, kinh nghiệm quốc tếcho thấy, vấn đề của các ngân hàng thường xấu đi nhanh chóng nếu không ápdụng ngay các biện pháp khắc phục, xử lý Vì vậy, việc tạo động lực, khuyếnkhích các cơ quan có thẩm quyền thanh tra, giám sát ngân hàng áp dụng sớm vàquyết liệt các biện pháp khắc phục, xử lý vấn đề là rất quan trọng
- Các hành động chỉnh sửa, biện pháp khắc phục đối với ngân hàng đượcnhận diện là ngân hàng yếu kém phải được lập thành kế hoạch cụ thể, chi tiết,nêu rõ phương thức làm thế nào để có thể phục hồi lại tình hình tài chính củangân hàng Cơ quan thanh tra, giám sát phải có khả năng xác định được tiến độkhắc phục có đáp ứng yêu cầu hay không hay cần phải có thêm các quyết sách,hành động khác Cơ quan thanh tra, giám sát cũng phải có cơ chế tham vấn hoặcthông báo cho chính phủ, các cơ quan có thẩm quyền liên quan đến việc xử lýngân hàng cũng như các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền khác ở trongnước và nước ngoài Sự phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước có thẩmquyền cần phải được tăng cường thêm nếu tình hình của ngân hàng suy yếu hơn
Cơ chế xử lý ngân hàng phải tạo điều kiện thuận lợi để cơ quan có thẩm quyền
xử lý ngân hàng thực hiện các biện pháp xử lý mà không làm gián đoạn nghiêmtrọng hệ thống và tránh làm người nộp thuế phải gánh chịu tổn thất
Trang 6- Khi một ngân hàng không còn khả năng “sống sót” hoặc có nguy cơkhông thể tiếp tục hoạt động, không có dấu hiệu khả quan về khả năng tiếp tụchoạt động, cơ quan có thẩm quyền xử lý ngân hàng cần phải có đầy đủ các công
cụ và thẩm quyền xử lý để quản lý sự đổ vỡ một cách trật tự, giảm thiểu tối đatác động lên sự ổn định tài chính Các công cụ này bao gồm giao dịch bán doanhnghiệp, xử lý bằng nguồn lực nội bộ ngân hàng (bail-in – dùng vốn của cổ đông,chủ nợ của ngân hàng), ngân hàng bắc cầu (bridge institution) hay từ từ chấmdứt hoạt động của ngân hàng
- Các cơ quan có thẩm quyền, trong một số trường hợp ngoại lệ, có thể hỗtrợ thanh khoản tạm thời hoặc hỗ trợ về khả năng thanh toán cho các ngân hànggặp khó khăn Tùy từng trường hợp và trên cơ sở quy định của pháp luật, ngânhàng trung ương có thể quyết định tạo điều kiện cho ngân hàng tiếp cận các cơchế hỗ trợ thanh khoản khẩn cấp của ngân hàng trung ương nếu xác định đượcngân hàng đó vẫn có khả năng thanh toán và có thể trở lại hoạt động bìnhthường Hỗ trợ thanh khoản và hỗ trợ khả năng thanh toán khi xử lý ngân hàngluôn luôn phải gắn liền với các biện pháp khắc phục khác mang tính dài hạn hơn
và chỉ là phương tiện hỗ trợ cuối cùng áp dụng vì mục đích tổng thể là duy trì sự
ổn định tài chính
2 Xác định các ngân hàng yếu kém
2.1 Định nghĩa “ngân hàng yếu kém”
Ngân hàng yếu kém là ngân hàng có khả năng thanh khoản hoặc khả năng thanh toán bị suy yếu hoặc sẽ nhanh chóng suy yếu nếu các nguồn tài chính, hồ sơ rủi ro, mô hình kinh doanh, hệ thống quản lý và kiểm soát rủi ro, và/hoặc chất lượng quản trị, điều hành của ngân hàng không được cải thiện rõ rệt, kịp thời.
Định nghĩa trên tập trung vào ngân hàng đang gặp phải nguy cơ ngaytrước mắt hoặc có nguy cơ mất khả năng thanh khoản hoặc mất khả năng thanhtoán chứ không phải các ngân hàng có những điểm yếu kém có thể khu biệt hoặcchỉ là yếu kém tạm thời và không đe dọa đến sự tồn tại của ngân hàng
Trong khi tất cả các yếu kém, bất kể độ lớn hay tính chất của nó, phảiđược ngân hàng xác định thì những vấn đề của ngân hàng yếu kém (theo địnhnghĩa trên đây) mang tính cơ bản hơn Những vấn đề này bao gồm, nhưng khônghạn chế trong những vấn đề sau đây: yếu kém trong quản trị, điều hành; không
đủ nguồn lực tài chính (vốn và thanh khoản); mô hình hoặc chiến lược kinhdoanh không khả thi, không hiệu quả; chất lượng tài sản kém; hệ thống và cácchốt kiểm soát lỏng lẻo
Trang 72.2 Nguyên tắc xử lý các ngân hàng yếu kém
Các nguyên tắc hướng dẫn cơ quan thanh tra, giám sát khi xử lý các ngânhàng yếu kém bao gồm:
Nhận diện rủi ro sớm Cơ quan thanh tra, giám sát phải kết hợp các
công cụ dự báo (ví dụ như hệ thống cảnh báo sớm (EWS), rà soát công tác quảntrị, điều hành, giám sát kinh tế vĩ mô và kiểm tra sức chịu đựng (stress testing))
để xác định, nhận diện được các ngân hàng yếu kém ngay từ đầu
Can thiệp sớm Cơ quan thanh tra, giám sát phải hành động ngay và ra
quyết định can thiệp sớm Kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy, sự chần chừ,trì hoãn của cơ quan thanh tra, giám sát, cơ quan quản lý nhà nước liên quan sẽlàm vấn đề của ngân hàng yếu kém trở nên trầm trọng hơn, làm cho các vấn đềlan rộng một cách nhanh chóng và có ảnh hưởng lên hệ thống
Hiệu quả Cơ quan thanh tra, giám sát khi đưa ra quyết định hành
động phải hết sức cố gắng, trong điều kiện thông tin có được, cân nhắc tất cảmọi chi phí
Độ linh hoạt Các cơ quan thanh tra, giám sát có thể áp dụng linh hoạt
các biện pháp khắc phục đối với một ngân hàng yếu kém Tuy nhiên, cần củng
cố, tăng cường thêm các biện pháp khắc phục nếu các biện pháp đã áp dụngtrước đó không tạo được hiệu quả cần thiết theo đúng lịch trình định sẵn và phảihành động quyết đoán khi ngân hàng yếu kém không còn khả năng tiếp tục hoạtđộng
Quy trình quản trị nội bộ rõ ràng Cơ quan thanh tra, giám sát phải
thiết kế các quy trình quản trị, phân cấp, ủy quyền của riêng mình nhằm đảmbảo các quyết định được đưa ra đúng thẩm quyền quy định, phù hợp với tầmquan trọng của vấn đề và có bằng chứng rõ ràng về các nguyên nhân dẫn đếnquyết định như vậy
Tính nhất quán.Các hành động của cơ quan thanh tra, giám sát phải
nhất quán và được hiểu thống nhất sao cho không bóp méo môi trường cạnhtranh và giảm thiểu sự nhầm lẫn,thiếu chắc chắn khi có khủng hoảng xảy ra
Tính minh bạch và hợp tác Ngân hàng và các cơ quan có thẩm quyền
liên quan phải hướng tới việc chia sẻ thông tin ở mức độ cao và đảm bảo tínhminh bạch của những hành động họ dự tính thực hiện Các quyết định về phạm
vi công khai thông tin (nếu có) rộng hơn đến cộng đồng tài chính và công chúngphụ thuộc vào từng tình huống cụ thể và cần phải được đánh giá một cách cẩntrọng trong từng trường hợp, cân nhắc việc công khai thông tin có đóng góp gìcho mục tiêu của cơ quan thanh tra, giám sát trong việc xử lý ngân hàng yếukém và rộng hơn là duy trì ổn định hệ thống hay không
Trang 8 Tránh các vấn đề có khả năng ảnh hưởng đến hệ thống Nhìn
chung,để ngăn ngừa việc làm hỏng môi trường cạnh tranh trong ngành tài chính,tất cả các ngân hàng phải chịu sự điều chỉnh của cùng một khuôn khổ quản lý,thanh tra, giám sát Điều kiện này áp dụng cả trong thời kỳ kinh tế bình thường
và trong thời kỳ căng thẳng Tuy nhiên, đối với các ngân hàng có tầm quan trọngđối với hệ thống, có thể phải áp dụng một khuôn khổ nghiêm ngặt hơn
Sự chuẩn bị sớm Cơ quan thanh tra, giám sát thực hiện sớm các bước
chuẩn bị để đảm bảo họ được trang bị đầy đủ trước khi ứng phó với tình huốngkhủng hoảng ở một ngân hàng thuộc thẩm quyền quản lý Đối với các ngân hàng
có tầm quan trọng trong hệ thống thì việc chuẩn bị cho các tình huống khủnghoảng cả từ phía cơ quan thanh tra, giám sát lẫn từ phía chính các ngân hàng cònđặc biệt quan trọng hơn Cơ quan thanh tra, giám sát phải nhận diện các ngânhàng có tầm quan trọng đối với hệ thống và rà soát, xem xét, thử thách kế hoạchkhắc phục của các ngân hàng; đồng thời cơ quan thanh tra, giám sát và cơ quan
có thẩm quyền xử lý ngân hàng phải chuẩn bị sẵn sàng trước sự đổ vỡ của mộtngân hàng có tầm quan trọng với hệ thống bằng cách lập sẵn các kế hoạch xử lýngân hàng
2.3 Nhận diện ngân hàng yếu kém
Nếu không có biện pháp khắc phục, mọi yếu kém ở các ngân hàng sẽ có
xu hướng tăng lên theo thời gian Thách thức đối với cơ quan thanh tra, giám sát
là nhận diện, xác định được mọi yếu kém trước khi những yếu kém này trở nên
vô phương cứu chữa thông qua phân tích, dự báo rủi ro và quyền can thiệp sớm
Để giải quyết được thách thức này, các cơ quan có thẩm quyền thanh tra, giámsát phải thiết lập một phương pháp cấu trúc để thực hiện thanh tra, giám sát cácngân hàng dựa trên nguyên tắc thanh tra, giám sát rủi ro và gắn với việc sử dụngcác phương pháp điều tra khác nhau, các nguồn thông tin khác nhau (thông tinphải kịp thời, phù hợp, có chất lượng tốt và phải bao gồm cả yếu tố định lượng
và định tính) Tuy nhiên, có phương pháp phù hợp và nguồn thông tin chính xác,đầy đủ không thôi vẫn chưa đủ; sự phán đoán, đánh giá của cơ quan thanh tra,giám sát hầu như vẫn luôn là yếu tố thiết yếu để diễn giải thông tin và chẩn đoánsức khỏe tài chính của một ngân hàng
Các yếu tố then chốt trong quy trình thanh tra, giám sát
Thanh tra, giám sát bao gồm việc thu thập các thông tin định tính, địnhlượng về những rủi ro mà ngân hàng đang gặp phải và đánh giá khả năng củangân hàng trong việc kiểm soát và giảm thiểu những rủi ro này thông qua cơ cấuquản trị và kiểm soát nội bộ cũng như vốn và các nguồn thanh khoản Cơ quanthanh tra, giám sát phải áp dụng một loạt các phương pháp thu thập thông tin,đồng thời phải thiết lập hệ thống chứng minh các phán đoán, nhận xét về khả
Trang 9năng giảm thiểu rủi ro đã nhận diện được của ngân hàng Việc rà soát, so sánhcác nhóm đồng dạng (nghĩa là rà soát các ngân hàng có quy mô hoạt động, hồ sơrủi ro và mô hình kinh doanh tương đồng với nhau, có thể so sánh được vớinhau) có thể là một phương pháp hữu hiệu để xác định những trường hợp ngoại
lệ (ngân hàng nằm ngoài nhóm).Việc áp dụng những quy trình này sẽ giúp các
cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan thanh tra, giám sát xác định các ngân hàng
có biểu hiện yếu kém, không đủ nguồn lực tài chính bù đắp rủi ro tương ứng –
có thể là nguyên nhân dẫn đến việc ngân hàng trở nên yếu kém Phần này giớithiệu các yếu tố then chốt của quy trình thanh tra, giám sát, gồm: (i) thanh tra tạichỗ, giám sát từ xa và thanh tra, giám sát với tâm thế dự báo (cảnh báo sớm); (ii)giám sát an toàn hệ thống ngân hàng và các công cụ giám sát an toàn vĩ mô; (iii)liên hệ với các nguồn thông tin; và (iv) hệ thống đánh giá thanh tra, giám sát
Thanh tra tại chỗ, giám sát từ xa và cảnh báo sớm
Thanh tra, giám sát ngân hàng hiệu quả phải bao gồm cả thanh tra tại chỗ
và giám sát từ xa với tinh thần dự báo, cảnh báo sớm Nếu phát hiện được sựyếu kém, suy giảm giá trị hoặc khả năng ngân hàng sẽ bị yếu kém, suy giảm giátrị trong quá trình giám sát từ xa – thường là nhờ phân tích thông tin do ngânhàng báo cáo lên – có thể áp dụng thanh tra tại chỗ để đánh giá chính xác hơn vềbản chất, độ rộng và độ sâu của vấn đề Thanh tra tại chỗ và giám sát từ xa phảicân nhắc xem xét một số nguồn thông tin và quy trình đánh giá để nhận diện rủi
ro và mọi yếu kém
Ngoài ra, cơ quan thanh tra, giám sát ngày một sử dụng nhiều hơn cáccông cụ dự báo để cảnh báo sớm các ngân hàng yếu kém Những công cụ nàybao gồm thanh tra, giám sát mô hình kinh doanh của ngân hàng, chất lượng quảntrị điều hành, quản lý rủi ro và các chức năng kiểm soát, khi cần thiết thì thựchiện kiểm tra sức chịu đựng Tựu chung lại, những phương pháp đánh giá này sẽcho ta bức tranh đầy giá trị về hồ sơ rủi ro trong tương lai của một ngân hàng.Kết quả đánh giá có thể được dùng làm cơ sở để quyết định các biện pháp xử lýsớm đối với các ngân hàng yếu kém, ngay cả khi báo cáo của ngân hàng về vốn
và trạng thái thanh khoản hay kết quả kinh doanh (thu nhập) vẫn cho thấy ngânhàng đang hoạt động tốt
Thanh tra tại chỗ
Mức độ sâu rộng và tần suất thanh tra tại chỗ sẽ tùy thuộc vào hồ sơ rủi rotổng thể của ngân hàng Có thể có các cuộc thanh tra tổng thể bao quát toàn diệnmọi hoạt động hoặc thanh tra chuyên đề tập trung vào một số phân khúc hoặchoạt động hoặc loại rủi ro của ngân hàng
Quy định về báo cáo và các chỉ số cảnh báo sớm
Trang 10Các ngân hàng thông thường phải nộp báo cáo tài chính cho cơ quanthanh tra, giám sát đúng thời hạn theo quy định (báo cáo định kỳ) và các báo cáotài chính đột xuất Tần suất báo cáo phụ thuộc vào bản chất số liệu Số liệu thịtrường và các số liệu khác thuộc dạng nhanh chóng lỗi thời đòi hỏi phải quyđịnh kỳ hạn báo cáo ngắn hơn Cơ quan thanh tra, giám sát phải được trao quyềnyêu cầu các ngân hàng báo cáo tất cả mọi số liệu liên quan đến công tác thanhtra, giám sát, có chế tài xử phạt đối với các ngân hàng thực hiện báo cáo khôngđầy đủ, sai sót hoặc trễ hạn.
Một số cơ quan thanh tra, giám sát đã hoặc đang xây dựng hệ thống cảnhbáo sớm dựa vào số liệu thống kê phần lớn trên cơ sở các báo cáo do ngân hàngnộp theo quy định của pháp luật Những mô hình này thông thường ước tính khảnăng đổ vỡ hoặc tình hình căng thẳng về mặt tài chính trong một khoảng thờigian nhất định Ngoài ra, một số hệ thống cảnh báo sớm (EWS) hướng tới dựbáo về việc mất khả năng thanh toán có thể xảy ra trong tương lai thông qua ướctính tổn thất có thể xảy ra
Đánh giá mô hình kinh doanh
Hiểu rõ mô hình kinh doanh của một ngân hàng có thể là một công cụ hữuhiệu đối với việc phát hiện sớm rủi ro và tính dễ tổn thương mà theo đó có thểlàm cho những ngân hàng tốt trở thành ngân hàng yếu kém
Đánh giá mô hình kinh doanh đòi hỏi cơ quan thanh tra, giám sát vừa phảihiểu rõ về tính khả thi của mô hình kinh doanh hiện tại của ngân hàng, vừa phảihình thành nhận xét, phán đoán về tính bền vững của mô hình đó trong bối cảnhlựa chọn chiến lược của ngân hàng và/hoặc tác động của những thay đổi lên môitrường kinh doanh mà ngân hàng đó đang hoạt động
Kết quả đánh giá có thể cung cấp cho cơ quan thanh tra, giám sát công cụthanh tra, giám sát giá trị, cho phép phát hiện sớm những rủi ro có khả năng xảy
ra hoặc những hành động của ngân hàng nhằm tạo lợi nhuận trong hiện tại hoặctương lai mà có thể dẫn đến đổ vỡ của ngân hàng Mỗi khi kết quả đánh giá chothấy mô hình kinh doanh không bền vững, không khả thi, không thể thực hiệnđược, cơ quan thanh tra, giám sát sẽ xem xét, quyết định các biện pháp xử lý,chỉnh sửa kịp thời, ngay cả khi ngân hàng chưa vi phạm các giới hạn hoạt động
Quản trị điều hành, quản lý rủi ro và các chốt kiểm soát
Chất lượng quản trị, điều hành, quản lý có lẽ là yếu tố quan trọng duynhất trong sự thành công của một tổ chức tài chính Vì vậy, yếu tố quan trọngtrong quy trình thanh tra, giám sát là thường xuyên đánh giá công tác quản trịđiều hành của ngân hàng, bao gồm chất lượng của HĐQT và BĐH, tính độc lậpcủa HĐQT và hiệu quả quản lý rủi ro và các chức năng kiểm soát của ngân hàng(bao gồm kiểm toán nội bộ, rà soát tín dụng và tuân thủ)
Trang 11Hệ thống thông tin quản lý MIS, tổng hợp dữ liệu và báo cáo
Các ngân hàng phải có hệ thống thông tin quản lý (MIS) để thu thập, phânloại, tổng hợp và báo cáo số liệu và các thông tin khác một cách hiệu quả, tincậy trong phạm vi từng hoạt động kinh doanh và trên toàn bộ ngân hàng Vớiquyền tiếp cận số liệu trong hệ thống MIS, cơ quan thanh tra, giám sát có thểtheo dõi chặt chẽ các chỉ số tài chính của ngân hàng và xác định sớm những biếnđộng bất lợi hoặc yếu kém ở ngân hàng
Cơ quan thanh tra, giám sát yêu cầu các ngân hàng phải duy trì hệ thốngMIS có thể cung cấp thông tin kịp thời cả trong thời kỳ bình thường (để nhậndiện yếu kém) và trong thời kỳ thuộc diện xử lý MIS cung cấp các thông tinchính như trạng thái rủi ro, trạng thái thanh khoản, tiền gửi liên ngân hàng vàcác khoản dư nợ rủi ro ngắn hạncấp cho và của các đối tác lớn Hệ thống MIS cóđầy đủ hay không sẽ được đánh giá bằng cách phân tích kịp thời các thông tinđịnh tính và định lượng
Kiểm tra sức chịu đựng (Stress test)
Kiểm tra sức chịu đựng (stress test) là công tác quản lý rủi ro liên tục, hỗtrợ ngân hàng đánh giá, dự báo rủi ro để có thể sẵn sàng nhận diện, xử lý cáctình huống bất lợi tốt hơn
(a) Stress test đối với toàn hệ thống
Ngoài việc được áp dụng ở tầm vi mô (danh mục của từng ngân hàng),các kỹ thuật stress test còn đóng vai trò quan trọng trong công tác phân tích ổnđịnh tài chính (stress test ở tầm kinh tế vĩ mô và toàn hệ thống) Stress test trongphân tích ổn định tài chính được các cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng vàcác cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan giám sát an toàn vĩ mô sử dụng để đánhgiá rộng hơn sức mạnh của hệ thống tài chính chứ không phải đặt trọng tâm vàomột ngân hàng cụ thể nào đó, có thể hỗ trợ nhận diện những điểm dễ tổn thươngtrong hệ thống
(b) Stress test do cơ quan thanh tra, giám sát thực hiện với từng ngânhàng
Cơ quan thanh tra, giám sát thực hiện stress test trên cơ sở các kịch bảnthông thường bổ sung thêm ngoài stress test mang tính dự báo do các ngân hàngthực hiện Trong số các bài test của cơ quan thanh tra, giám sát nổi bật lên nhất
là những bài test được thiết kế để đánh giá mức đủ vốn và khả năng thanhkhoản
(c) Stress test ngược (Reverse stress testing)
Stress test ngược là bài kiểm tra sức chịu đựng bổ sung cho các bài stresstest khác Khác với stress test thông thường và kiểm tra kịch bản – là các bài test
Trang 12kiểm tra kết quả phát sinh từ biến động trong bối cảnh, tình hình xung quanh –stress test ngược bắt đầu từ thất bại kinh doanh Sau đó, qua bài test sẽ xác địnhcác tình huống có thể phát sinh đổ vỡ, thất bại, nghĩa là các tình huống có thểlàm cho mô hình kinh doanh không tồn tại được, theo đó xác định những điểm
dễ tổn thương trong hoạt động kinh doanh có thể phát sinh
Rà soát lại kế hoạch phục hồi
Khung pháp luật quốc tế và của các quốc gia yêu cầu các ngân hàng cótầm quan trọng với hệ thống toàn cầu và hệ thống quốc gia phải xây dựng kếhoạch phục hồi, chuẩn bị thật tốt cho các cuộc khủng hoảng trong tương lai vàtriển khai các quy trình phục hồi trong cơ cấu tổ chức của ngân hàng Ở một sốquốc gia, yêu cầu này bắt buộc đối với tất cả các ngân hàng
Đánh giá khả năng xử lý
Ở nhiều quốc gia, các cơ quan quản lý có thẩm quyền xử lý ngân hàngphải thực hiện đánh giá khả năng xử lý ngân hàng đối với D-SIBs hoặc đối vớitất cả các ngân hàng Một điểm quan trọng của việc đánh giá khả năng xử lý là
cơ quan có thẩm quyền xử lý ngân hàng và/hoặc cơ quan thanh tra, giám sát cóthể sử dụng thông tin để yêu cầu ngân hàng thay đổi thông lệ, cơ cấu kinh doanhhay tổ chức của mình trước khi ngân hàng trở nên yếu kém
Giám sát an toàn vĩ mô và các quyết sách ứng phó
Giám sát an toàn vĩ mô
Với mục đích thanh tra, giám sát thì việc giám sát các ngân hàng tập trungchủ yếu vào việc nhận diện từng ngân hàng đang đối mặt với rủi ro đổ vỡ Côngtác giám sát từng tổ chức cụ thể này được tăng cường thông qua so sánh nhómngân hàng đồng dạng và rà soát trong toàn hệ thống Tuy nhiên, phương phápgiám sát an toàn vi mô được các cơ quan thanh tra, giám sát sử dụng ngày mộtnhiều hơn bên cạnh giám sát an toàn vĩ mô nhằm xác định các rủi ro trong toàn
hệ thống tài chính Phương pháp giám sát an toàn vĩ mô cho phép cơ quan thanhtra, giám sát thực hiện các hành động ngăn chặn sự bất ổn của hệ thống tài chínhhoặc củng cố khả năng chống đỡ của các ngân hàng có tầm quan trọng trong hệthống và hệ thống tài chính
Giám sát toàn bộ hệ thống ngân hàng và hệ thống tài chính có thể cho tacác chỉ số cảnh báo sớm về các vấn đề có thể ảnh hưởng tới từng ngân hàng.Phân tích tình hình kinh tế và điều kiện tín dụng có thể giúp đưa ra định hướng
về phương pháp thanh tra, giám sát đối với từng ngân hàng
Đối sách an toàn vĩ mô (Macroprudential responses)
Có rất nhiều công cụ an toàn vĩ mô khác nhau để ngăn ngừa những rủi ro
đã được xác định trong quá trình giám sát hệ thống Hiệp ước vốn Basel III đưa
Trang 13ra các công cụ ngăn ngừa rủi ro hệ thống Các công cụ này bao gồm phần đệmvốn nghịch chu kỳ, phần đệm vốn quy định đối với các ngân hàng có tầm quantrọng trong hệ thống và –trong phạm vi những công cụ này được sử dụng phục
vụ cho mục đích giám sát an toàn vĩ mô – các yêu cầu quốc tế về tỷ lệ đòn bẩy
và khả năng thanh khoản
Các nguồn thông tin khác
Các nguồn thông tin sau đây cũng có thể hỗ trợ cho cơ quan thanh tra,giám sát trong việc xác định các ngân hàng yếu kém
Quản trị và quản lý, điều hành ngân hàng
Thường xuyên liên hệ và trao đổi với cán bộ quản lý ngân hàng và HĐQT
là những cấu phần quan trọng trong thanh tra, giám sát ngân hàng hiệu quả Đểđảm bảo tính thực tiễn, cơ quan thanh tra, giám sát thường xuyên trao đổi, liênlạc với cán bộ quản lý của tất cả các ngân hàng chứ không riêng các ngân hàngđang ở trong tình trạng tài chính yếu kém Thảo luận với cán bộ điều hành cấpcao của ngân hàng về chiến lược, kế hoạch và những vấn đề đã chệch hướng sovới kế hoạch kinh doanh hiện tại hoặc thay đổi trong quản lý sẽ giúp cơ quanthanh tra, giám sát cập nhật và rà soát lại khung thanh tra, giám sát hiện thời nếucần thiết Cơ quan thanh tra, giám sát cũng cần rà soát lại với cán bộ quản lý,điều hành của ngân hàng về những nỗ lực của họ trong việc điều chỉnh nhữngsai sót, yếu kém đã phát hiện được từ những cuộc thanh tra tại chỗ trước đây
Kiểm toán độc lập
Cơ quan thanh tra, giám sát và kiểm toán độc lập cần thiết lập và duy trìmối quan hệ hiệu quả, bao gồm các kênh liên lạc phù hợp để trao đổi thông tinliên quan đến việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình Kiểm toán độc lậpcủa ngân hàng phải nhận diện và đánh giá những rủi ro liên quan đến việc thôngtin sai lệch trong báo cáo tài chính của ngân hàng Khi phát hiện được những rủi
ro trọng yếu, kiểm toán viên phải có hành động ứng phó phù hợp Ngoài ra,kiểm toán độc lập có thể cũng phát hiện ra các vấn đề mang tính trọng yếu khithực hiện kiểm toán, ví dụ vi phạm nghiêm trọng các yêu cầu về an toàn hoạtđộng ngân hàng cần phải trao đổi với cơ quan thanh tra, giám sát Vì vậy, thôngqua việc tổ chức họp định kỳ với kiểm toán độc lập và thường xuyên theo dõi sátbáo cáo và thư của kiểm toán, cơ quan thanh tra, giám sát có thể thu được nhữngtín hiệu sớm về yếu kém trong kiểm soát hoặc những lĩnh vực có rủi ro cao ởngân hàng
Kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ
Giống như kiểm toán độc lập, cơ quan thanh tra, giám sát phải có quyềntruy cập không giới hạn đối với các báo cáo và tất cả các tài liệu, chứng từ do bộ