Tuy nhiên tình huống thực tế nhiều khi rất phức tạp vàkhông mang tính chất đại diện, vì thế cần có các giả thuyết để đảm bảo rằngbuộc điều kiện áp dụng của mô hình Phương pháp so sánh tĩ
Trang 1CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ HỌC
1.1 Tổng quan về kinh tế học
1.1.1 Kinh tế học
Kinh tế học là môn khoa học nghiên cứu cách thức xã hội phân bổ các
nguồn lực khan hiếm để sản xuất ra các hàng hóa và dịch vụ có giá trị và phânphối chúng cho các thành viên trong xã hội
Trong khái niệm này có hai vấn đề cần làm rõ: đó là nguồn lực có tínhkhan hiếm và xã hội phải phân bổ các nguồn lực đó một cách có hiệu quả
Tính cấp thiết của kinh tế học là nhận thức được thực tế của sự khanhiếm và dự kiến tổ chức xã hội như thế nào để sử dụng các nguồn lực mộtcách hiệu quả nhất
1.1.2 Các bộ phận của kinh tế học
Căn cứ theo phạm vi nghiên cứu kinh tế học được chia thành: kinh
tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô
Kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô
Kinh tế học vi mô là môn học nghiên cứu cách thức ra quyết định của
các chủ thể kinh tế cũng như sự tương tác của họ trên các thị trường cụ thể
Kinh tế học vi mô nghiên cứu hành vi của từng cá nhân, từng doanhnghiệp trong việc lựa chọn và ra quyết định ba vấn đề kinh tế cơ bản cho sảnxuất là: Sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai? để có thểđứng vững, phát triển và cạnh tranh trên thị trường
Kinh tế học vi mô nghiên cứu các vấn đề:
- Mục tiêu của các thành viên kinh tế
- Các giới hạn các thành viên kinh tế
- Phương pháp đạt được mục tiêu các thành viên kinh tế
Kinh tế học vi mô, với tư cách là một môn khoa học cơ sở, nghiên cứubản chất và các hiện tượng kinh tế, tính quy luật và xu hướng vận động củacác hiện tượng và quy luật kinh tế
Kinh tế học vĩ mô là môn học nghiên cứu hoạt động của toàn bộ nền
kinh tế như nghiên cứu ảnh hưởng của vay nợ của chính phủ đến tăng trưởngkinh tế của một đất nước, thay đổi của tỷ lệ thất nghiệp trong nền kinh tế,
Trang 2quan hệ giữa thất nghiệp và lạm phát, nghiên cứu các tác động của các chínhsách nhằm ổn định nền kinh tế…
Mối quan hệ giữa kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô
Cả hai môn Kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô đều là những nội dungquan trọng của kinh tế học, không thể chia cắt, mà bổ sung cho nhau, tạo thành
hệ thống kiến thức của kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước
Kinh tế vĩ mô tạo hành lang, tạo môi trường, tạo điều kiện cho kinh tế
vi mô phát triển Thực tế đã chứng minh, kết quả của kinh tế vĩ mô phụ thuộcvào các hành vi của kinh tế vi mô, kinh tế quốc dân phụ thuộc vào sự pháttriển của các doanh nghiệp, của các tế bào kinh tế trong sự tác động ảnhhưởng của nền kinh tế
Nói một cách so sánh, nếu chúng ta hình dung nền kinh tế như là mộtbức tranh lớn thì kinh tế học vĩ mô nghiên cứu các vấn đề chung của bứctranh lớn đó Trong bức tranh đó, các thành viên kinh tế - hộ gia đình, doanhnghiệp và Chính phủ các tế bào, các chi tiết của bức tranh và đó là hiện tượngnghiên cứu của kinh tế học vi mô Để hiểu được về hoạt động của nền kinh tế,chúng ta vừa phải nghiên cứu tổng thể vừa phải nghiên cứu từng chi tiết củamột nền kinh tế
Theo cách tiếp cận kinh tế học được chia thành: Kinh tế học thực chứng và kinh tế học chuẩn tắc
Kinh tế học thực chứng và kinh tế học chuẩn tắc
Kinh tế học thực chứng mô tả và phân tích các sự kiện, những mối quan
hệ trong nền kinh tế - cái gì, thế nào và cho ai - và các hành vi ứng xử củachúng Nói cách khác nó giải thích sự hoạt động của nền kinh tế một cáchkhách quan và khoa học
Kinh tế học thực chứng là để trả lời cho câu hỏi là bao nhiêu? Là gì?Như thế nào?
Mục đích của kinh tế học thực chứng là tìm hiểu lý do vì sao nền kinh
tế lại hoạt động như vậy Trên cơ sở đó dự đoán phản ứng của nó khi có sựthay đổi của hoàn cảnh, đồng thời chính phủ có thể sử dụng các công cụ điềuchỉnh để hạn chế các tác động tiêu cực và khuyến khích mặt tích cực nhằmđạt được các kết quả mong muốn
Trang 3Kinh tế học chuẩn tắc đưa ra các chỉ dẫn hoặc kiến nghị dựa trên những
đánh giá, nhận định chủ quan vào vấn đề cái gì, thế nào và cho ai của nền kinh tế
Có rất nhiều vấn đề đặt ra mà câu trả lời tùy thuộc vào quan điểm của
cá nhân và cũng có nhiều phương pháp giải quyết khác nhau về một hiệntượng kinh tế tùy theo cách đánh giá của mỗi người Ví dụ, hiện nay giá họcphí đối với trường Đại học Nông Lâm hiện nay là 95.000 đồng/1 tín chỉ Bạnđưa ra nhận định rằng, giá học phí đại học là cao Đây là một nhận định mangtính chuẩn tắc vì đây là một đánh giá hoàn toàn chủ quan Mức học phí đó cóthể là cao so với những sinh viên mà gia đình họ có thu nhập thấp nhưng vớimức thu nhập bình quân các gia đình Việt Nam hiện nay đã tăng họ có thể chitrả ở mức học phí đó và còn rất nhiều vấn đề liên quan khi học phí tăng như:chất lượng dạy và học tốt hơn, điều kiện học được phát triển hơn…
Nghiên cứu kinh tế thường được tiến hành từ kinh tế học thực chứngrồi chuyển sang kinh tế học chuẩn tắc Kinh tế học vi mô nghiên cứu cả vấn
đề thực chứng lẫn chuẩn tắc
1.1.3 Một số nội dung nghiên cứu chủ yếu kinh tế học
- Nghiên cứu giá lao động, giá vốn và giá đất đai được xác định trongnền kinh tế như thế nào, và các loại giá này được vận dụng ra sao trong việcphân bổ nguồn lực
- Khám phá các hành vi của thị trường tài chính, và phân tích xem cácthị trường này phân bổ vốn vào các lĩnh vực kinh tế khác nhau như thế nào
- Phân tích những hậu quả của các chính sách điều tiết của chính phủtới hiệu quả của kinh tế thị trường
- Khảo sát tình hình phân phối thu nhập, và kiến nghị các giải pháp trợgiúp người nghèo mà không làm cản trở các hoạt động của nền kinh tế
- Nghiên cứu tác động của chi tiêu Nhà nước, thuế và thâm hụt ngânsách tới tăng trưởng
- Nghiên cứu những thăng trầm về tình hình của thất nghiệp và sản xuấttrong chu kỳ kinh doanh, kiến nghị các chính sách của chính phủ để kích thíchtăng trưởng kinh tế
- Khảo sát hình thái thương mại giữa các nước và phân tích tác độngcủa hàng rào thương mại
Trang 4- Nghiên cứu sự tăng trưởng tại các quốc gia và đề ra các giải phápkhuyến khích sử dụng có hiệu quả nguồn lực…
1.2 Ba vấn đề kinh tế cơ bản của một nền kinh tế
Nền kinh tế là một cơ chế phân bổ các nguồn lực khan hiếm cho cácmục đích sử dụng khác nhau nhằm giải quyết ba vấn đề cơ bản:
- Sản xuất cái gì?
- Sản xuất như thế nào?
- Sản xuất cho ai?
Sản xuất cái gì là vấn đề cơ bản đầu tiên cần phải được trả lời Vì
nguồn lực khan hiếm nên không thể dễ dàng đáp ứng mọi nhu cầu của xã hội.Trong khả năng hiện có, xã hội phải lực chọn để sản xuất một số loại hànghóa nhất định Việc lựa chọn loại hàng hóa, dịch vụ gì nên được ưu tiên sảnxuất sẽ được căn cứ vào nhiều yếu tố ví dụ như cầu thị trường, khả năng vềcác yếu tố đầu vào của doanh nghiệp, tình hình cạnh tranh, giá cả trên thịtrường Trong nền kinh tế thị trường, giá cả sẽ là tín hiệu trực tiếp nhất giúpngười sản xuất quyết định sản xuất cái gì
Sản xuất như thế nào sau khi quyết định được hàng hóa, dịch vụ gì nên
được sản xuất, xã hội phải trả lời câu hỏi sản xuất như thế nào tức là tìm raphương pháp, công nghệ thích hợp cho sản xuất, và sự kết hợp hợp lý và hiệuquả giữa các nguồn lực đầu vào để sản xuất ra hàng hóa đã lựa chọn Đồngthời tìm ra câu trả lời cho những câu hỏi sau: Hàng hóa đó nên sản xuất ởđâu? Sản xuất bao nhiêu? Khi nào thì sản xuất và cung cấp? Tổ chức và quản
lý các khâu từ lựa chọn đầu vào đến tiêu thụ sản phẩm ra sao?
Sản xuất cho ai Sau khi xác định được loại hàng hóa, dịch vụ nào nên
được sản xuất và phương pháp sản xuất các loại sản phẩm đó, xã hội cần phảigiải quyết vấn đề cơ bản thứ ba là sản xuất cho ai Câu hỏi này liên quan đếnviệc lựa chọn phương pháp phân phối các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ đượcsản xuất ra tới tay người tiêu dùng như thế nào Tất nhiên vì nguồn lực khanhiếm sẽ có cạnh tranh trên thị trường và trong tiêu dùng thì sản phẩm sẽ thuộc
về những người có đủ khả năng thanh toán cho việc mua sản phẩm
Trang 51.3 Các hệ thống kinh tế
Hệ thống kinh tế là cách thức tổ chức các hoạt động kinh tế trong mộtquốc gia để giải quyết vấn đề về khan hiếm và ba vấn đề kinh tế cơ bản: Sảnxuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai
Tiến trình phát triển kinh tế ở các quốc gia trên thế giới đã cho thấy, có
ba hệ thống kinh tế là hệ thống kinh tế kế hoạch hóa tập trung, hệ thống kinh
tế thị trường tự do và hệ thống kinh tế hỗn hợp, trong đó cách thức giải quyết
ba vấn đề kinh tế cơ bản là khác nhau
Hệ thống kinh tế kế hoạch hóa tập trung Trong nền kinh tế này tất cả
việc lựa chọn ba vấn đề kinh tế cơ bản đều được nhà nước thực hiện và quyếtđịnh Nhà nước tiến hành quốc hữu hóa, xóa bỏ kinh tế tư nhân Ưu điểm của
mô hình này là: Quản lý được tập trung, thống nhất và giải quyết được cácnhu cầu công cộng của xã hội, giải quyết được vấn đề an ninh quốc phòng,hạn chế sự phân hoá giàu nghèo, bất công trong xã hội, tập trung được nguồnlực để giải quyết được cân đối lớn của nền kinh tế quốc dân… Tuy nhiênnhược điểm của mô hình là nảy sinh cơ chế tập trung, bao cấp không thúcđẩy, không kích thích sản xuất phát triển; phân phối bình quân không xuấtphát từ nhu cầu thị trường; bộ máy nhà nước cồng kềnh, kém hiệu quả; doanhnghiệp ỷ lại, thiếu năng động, sáng tạo Có thể nói nền kinh tế kế hoạch hoátập trung là nền kinh tế quan liêu bao cấp
Hệ thống kinh tế thị trường Nền kinh tế thị trường giải quyết các vấn
đề kinh tế cơ bản đều thông qua hoạt động của quan hệ cung cầu trên thịtrường Nền kinh tế thị trường tôn trọng các hoạt động của thị trường, quyluật sản xuất và lưu thông hàng hóa Ưu điểm của mô hình là: thúc đẩy sự đổimới, phát triển; các thành phần kinh tế tự do lựa chọn và quyết định việc sảnxuất và tiêu dùng của mình; doanh nghiệp năng động hơn và sử dụng hiệu quảhơn các nguồn lực của mình Nhược điểm của mô hình: do chú trọng đến lợinhuận nên dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường, sự phân hoá giàu nghèo,bất công trong xã hội, không giải quyết được vấn đề an ninh quốc phòng Cóthể nói nền kinh tế thị trường là nền kinh tế năng động và khách quan
Hệ thống kinh tế hỗn hợp là nền kinh tế thị trường nhưng vẫn tồn tại
vai trò và sự can thiệp của Chính phủ Cả Chính phủ và thị trường đều thamgia giải quyết các vấn đề kinh tế cơ bản Nền kinh tế đòi hỏi trước hết phải
Trang 6phát triển các quan hệ cung cầu, cạnh tranh tôn trọng vai trò của giá cả thịtrường, lấy lợi nhuận làm mục tiêu và động cơ phấn đấu Mặt khác, Nhà nướccũng cần có sự can thiệp để khắc phục những khuyết tật của nền kinh tế thịtrường.
Tại Việt Nam, chúng ta đang áp dụng nền kinh tế thị trường theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa Đó là mô hình kinh tế vừa tôn trọng vai trò kháchquan với những ưu điểm của kinh tế thị trường vừa phát huy vai trò quản lý vĩ
mô của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa khắc phục những khuyếttật của nền kinh tế thị trường Trên thế giới các nước lựa chọn mô hình khácnhau hoặc giống nhau nhưng việc giải quyết các vấn đề kinh tế cơ bản đó thìkhông hề giống nhau ở các nước
1.4 Các phương pháp phân tích kinh tế
Phương pháp mô hình hoá
Phương pháp cơ bản được sử dụng trong kinh tế học vi mô dựa trênviệc xây dựng các mô hình kinh tế để phân tích, lý giải và kết luận về nhữngquy tắc lựa chọn lựa chọn kinh tế tối ưu
Mô hình là sự đơn giản hóa thực thể nền kinh tế bao gồm các thànhphần chính như các khái niệm, các giả định và các kết luận rút ra từ mô hình
Để mô hình thực sự có ích trong việc rút ra các kết luận chính xác và có căn
cứ khoa học thì mô hình phải đảm bảo đơn giản hóa thục tế và được xây dựng
từ tình huống có thực Tuy nhiên tình huống thực tế nhiều khi rất phức tạp vàkhông mang tính chất đại diện, vì thế cần có các giả thuyết để đảm bảo rằngbuộc điều kiện áp dụng của mô hình
Phương pháp so sánh tĩnh
Trong nền kinh tế học nói chung và kinh tế học vi mô nói riêng cácbiến số kinh tế như cung, cầu về một số hàng hóa hay dịch vụ nào đó luônluôn thay đổi và chịu sự tác động đồng thời của nhiều nhân tố Do đó mốiquan hệ giữa các biến số kinh tế các nhà kinh tế thường sử dụng phương pháp
so sánh tĩnh
Theo phương pháp này các giả thuyết kinh tế về mối quan hệ giữa cácbiến luôn luôn phải đi kèm với giả định Ceteris Paribus trong mô hình Làmột thuật ngữ Latinh có nghĩa là các yếu tố khác không thay đổi Trong ví dụ
về cầu đi lại bằng ô tô, giả định quan trọng của mô hình là thu nhập người tiêu
Trang 7dùng, giá ô tô, giá cả các hàng hoá liên quan và một số biến khác là khôngthay đổi Giả định này cho phép chúng ta tập trung vào mối quan hệ giữa haibiến số chính yếu: chính sách thuế và lượng ôtô nhập khẩu trong từng tháng.
Phương pháp phân tích cận biên
Đây là phương pháp đặc thù của kinh tế học vi mô còn gọi là phươngpháp tối ưu hóa hay phương pháp phân tích lợi ích - chi phí Nó cũng làphương pháp cơ bản của sự lựa chọn kinh tế tối ưu bởi vì bất cứ sự lựa chọnnào cũng phải dựa trên sự so sánh kết quả mang lại và chi phí bỏ ra Mộtquyết định được đưa ra chỉ có thể làm tăng lợi ích kinh tế cho chủ thể nếutổng lợi ích thu được vượt quá tổng chi phí phát sinh từ việc thực hiện quyếtđịnh đó Nói cách khác mục tiêu cuối cùng của sự lựa chọn là tối đa hóa hiệu
số giữa tổng lợi ích thu được và tổng chi phí phát sinh từ việc sản xuất hoặctiêu dùng một số lượng hàng hóa nhất định Phương pháp phân tích cận biênđược sử dụng để tìm ra điểm tối ưu của sự lựa chọn Theo phương pháp nàychúng ta phải so sánh lợi ích và chi phí tại mỗi đơn vị hàng hóa, dịch vụ đượcsản xuất hoặc tiêu dùng tăng thêm Lợi ích và chi phí đó được gọi là lợi íchcận biên và chi phí cận biên Theo quy luật khi lượng hàng hóa, dịch vụ đượcsản xuất tăng dần thì lợi ích cận biên thu được của chúng giảm dần đi trongkhi chi phí cận biên phát sinh tăng dần lên Như vậy mỗi chủ thể tham gia thịtrường sẽ gia tăng việc sản xuất hoặc tiêu dùng các đơn vị hàng hóa, dịch vụnhất định cho đến khi lợi ích cận biên của đơn vị hàng hóa, dịch vụ cuối cùngđược sản xuất bằng chi phí cận biên của đơn vị đó Tại đây họ đạt đến điểmtối ưu cho tổng lợi ích lớn nhất và quyết định được số lượng hàng hóa, dịch
vụ tối ưu cần phải sản xuất hoặc tiêu dùng
1.5 Lý thuyết lựa chọn kinh tế
1.5.1 Quy luật khan hiếm
Mọi hoạt động của con người, trong đó có hoạt động kinh tế đều sửdụng các nguồn lực Các nguồn lực đều khan hiếm, có giới hạn đặc biệt là cácnguồn lực tự nhiên khó hoặc không thể tái sinh
Tác động của quy luật: Doanh nghiệp phải lựa chọn những vấn đề kinh
tế cơ bản của mình trong giới hạn cho phép của khả năng sản xuất hiện có mà
xã hội đã phân bổ cho nó Nói cách khác doanh nghiệp phải sử dụng tối ưucác nguồn lực khan hiếm tránh các sự lãng phí và tổn thất
Trang 81.5.2 Chi phí cơ hội
Chi phí cơ hội là giá trị của cơ hội tốt nhất bị bỏ qua khi thực hiện một
sự lựa chọn về kinh tế
Ví dụ: Một người có một lượng tiền mặt là 1 tỷ đồng Anh ta giữ tiềntrong két ở nhà Nếu như anh ta gửi lượng tiền đó vào ngân hàng với lãi suất
có kỳ hạn 1 tháng là 1,1% thì sau một tháng anh ta có được một khoản lãi là
11 triệu đồng Như vậy, chúng ta nói rằng, chi phí cơ hội của việc giữ tiền làlãi suất mà ta có thể thu được khi gửi tiền vào ngân hàng Một ví dụ khác vềchi phí cơ hội của người lao động là thời gian nghỉ ngơi bị mất Nếu bạnquyết định đi làm thêm vào thứ bảy và chủ nhật, bạn có thể kiếm được mộtlượng thu nhập nào đó ví dụ 400 nghìn đồng để chi tiêu Tuy nhiên, thời gianthứ bảy và chủ nhật đó lại không được sử dụng để nghỉ ngơi Các nhà kinh tếcoi thời gian nghỉ ngơi bị mất là chi phí cơ hội của việc làm thêm cuối tuầncủa bạn
Như vậy, khi đưa ra bất cứ sự lựa chọn kinh tế nào chúng ta cũng phải cânnhắc so sánh các phương án với nhau dựa vào chi phí cơ hội của sự lựa chọn
Ngoài ra, chúng ta thường gặp một khái niệm khác về chi phí cơ hội lànhững hàng hoá, dịch vụ cần thiết nhất bị bỏ qua để thu được những hànghoá, dịch vụ khác Ví dụ: khi người nông dân quyết định trồng rau trên thửaruộng của mình thay cho cây lúa hiện có, thì chi phí cơ hội của việc trồng rau
là sản lượng lúa bị mất đi
1.5.3 Đường giới hạn khả năng sản xuất và quy luật chi phí cơ hội tăng dần
Đường giới hạn khả năng sản xuất là đường mô tả các kết hợp hàng hoádịch vụ tối đa mà nền kinh tế có thể sản xuất được với nguồn lực sản xuấthiện có và công nghệ nhất định
Giả sử một nền kinh tế với công nghệ và tài nguyên hiện có chỉ sảnxuất 2 loại hàng hoá là đầu DVD và ti vi như sau
Các khả năng Đầu DVD (chiếc) Ti vi (chiếc)
Trang 9E 0 10 Lưu ý rằng, đây là các mức sản lượng tối đa mà nền kinh tế có thể sảnxuất được với các nguồn lực hiện có và được sử dụng hiệu quả nhất trongđiều kiện công nghệ nhất định.
Nếu minh hoạ tất cả các khả năng này bằng đồ thị chúng ta sẽ cóđường giới hạn khả năng sản xuất của nền kinh tế trên
Hình 1.1 Đường giới hạn khả năng sản xuất
Đường này cho thấy sản xuất ở các điểm trên đường PPF đều có hiệuquả về mặt kinh tế vì đã tận dụng hết năng lực sản xuất và đã đạt được sảnlượng tối đa có thể
Nếu nền kinh tế sản xuất tại điểm H nằm trong đường giới hạn khảnăng sản xuất thì các nguồn lực chưa được sản xuất một cách hiệu quả vì vớinăng lực hiện có nền kinh tế có thể đạt được các mức sản lượng tốt hơn ởđiểm B hoặc điểm D
Nền kinh tế không thể sản xuất tại K nằm ngoài khả năng sản xuất củanền kinh tế
Độ dốc của đường PPF biểu thị chi phí cơ hội của việc sản xuất ti vi,
tức là lượng đầu DVD phải từ bỏ để có thể sản xuất thêm một đơn vị ti vi ( = đầu DVD/ti vi) Quy luật chi phí cơ hội tăng dần cho thấy độ dốc ngày càng lớn do đó đường PPF có dạng lõm so với gốc tọa độ
Quy luật chi phí cơ hội tăng dần: Để có thêm một số lượng bằng nhau về
một mặt hàng, xã hội phải hy sinh ngày càng nhiều số lượng mặt hàng khác trongđiều kiện công nghệ và tài nguyên hiện có
DVD 25 20 15 10 5
E
D C
K
H B A
Trang 10Điều này được giải thích một cách đơn giản là do nguồn lực khan hiếm, nếu
ta tăng dần số lượng một loại hàng hóa được sản xuất thì đối với những đơn vị hànghóa càng sản xuất ra sau, nguồn lực để sản xuất ra chúng càng ít đi và việc sản xuất
ra chúng càng đắt đỏ hơn (lượng hàng hóa khác cần phải đánh đổi càng nhiều lên)
Quy luật này giúp cho chúng ta tính toán và lựa chọn sản xuất cài gì, như thế nào là có lợi nhất
Quy luật chi phí cơ hội tăng dần được minh họa cụ thể dưới đây
Chi phí cơ hộ của việc sản xuất ti vi
Chi phí cơ hội của 1 ti vi
(số đầu DVD)
4 ti vi đầu tiên đòi hỏi phải bỏ qua 5 đầu DVD 5/4
3 ti vi tiếp theo đòi hỏi phải bỏ qua 5 đầu DVD 5/3
2 ti vi tiếp theo đòi hỏi phải bỏ qua 6 đầu DVD 6/2 = 3
1 ti vi cuối cùng đòi hỏi phải bỏ qua 9 đầu DVD 9/1 = 9
Tương tự, chi phí cơ hội của việc sản xuất đầu DVD
Chi phí cơ hội của 1 đầu DVD
(số ti vi)
9 đầu DVD đầu tiên đòi hỏi phải bỏ qua 1 ti vi 1/9
6 đầu DVD tiếp theo đòi hỏi phải bỏ qua 2 ti vi 1/3
5 đầu DVD tiếp theo đòi hỏi phải bỏ qua 3 ti vi 3/5
5 đầu DVD cuối cùng đòi hỏi phải bỏ qua 4 ti vi 4/5
Đặc điểm của đường giới hạn khả năng sản xuất
- Phản ánh trình độ sản xuất và công nghệ hiện có
- Phản ánh phân bổ nguồn lực một cách có hiệu quả
- Phản ánh chí phí cơ hội: Cho thấy chi phí cơ hội của một hàng hóa này nhờ vào việc đo lường trong giới hạn của hàng hóa
- Phản ánh tăng trưởng và phát triển khi nó dịch ra phía ngoài
1.5.4 Hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là mối quan tâm duy nhất của kinh tế học nói chung
và kinh tế học vi mô nói riêng Hiệu quả nói một các khái quát nghĩa là khônglãnh phí
Trang 11Hiệu quả có quan hệ chặt chẽ với việc sử dụng năng lực sản xuất hiện
có, nghĩa là nó có mối quan hệ chặt ché với việc sử dụng nguồn lực khanhiếm Chính vì vậy khi xem xét hiệu quả chúng ta thường dựa vào đường giớihạn khả năng sản xuất
Mức sản xuất có hiệu quả nằm trên đường PPF, nhưng điểm có hiệuquả nhất là điểm thoả mãn hai điều kiện: sản xuất tối đa các hàng hoá theonhu cầu thị trường và sử dụng đầy đủ năng lực sản xuất
Một số vấn đề hiệu quả theo quan điểm của kinh tế học vi mô là
- Tất cả các quyết định sản xuất cái gì trên đường giới hạn khả năng sảnxuất là có hiệu quả vì nó tận dụng hết nguồn lực
- Số lượng hàng hoá đạt trên đường PPF càng ở xa gốc toạ độ thì càng
có hiệu quả
- Sự thoả mãn tối đa về mặt hàng, chất lượng, số lượng hàng hoá theonhu cầu thị trường trong giới hạn của đường PPF cho ta đạt được hiệu quảkinh tế cao nhất
- Kết quả trên một đơn vị chi phí càng lớn hoặc chi phí trên một đơn vịkết quả càng nhỏ thì hiệu quả kinh tế càng cao
Hiệu quả kinh tế là tiêu chuẩn cao nhất của mọi sự lựa chọn kinh tế củacác doanh nghiệp
1.5.5 Phương pháp lựa chọn kinh tế tối ưu
Lựa chọn là cách thức mà các tác nhân trong nền kinh tế đưa ra quyết
định tối ưu về việc sử dụng các nguồn lực của họ
Sự cần thiết phải lựa chọn do nguồn lực kinh tế có hạn và sự lựa chọn
có thể thực hiện được vì một nguồn lực có thể được sử dụng vào nhiều mụcđịch khác nhau và chúng có thể thay thế được cho nhau trong sản xuất vàtrong tiêu dùng
Mục tiêu của sự lựa chọn là nhằm tìm cách tối đa hóa (hay có thể thu
được nhiều lợi ích nhất) trong điều kiện có những giới hạn về nguồn lực
Cơ sở của sự lựa chọn chi phí cơ hội là khái niệm hữu ích nhất được sử
dụng trong lý thuyết lựa chọn
Bản chất là căn cứ vào nhu cầu vô hạn của con người, của xã hội, của
thị trường để ra quyết định tối ưu về sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào vàsản xuất cho ai trong giới hạn cho phép của nguồn lực hiện có
Trang 12Phương pháp tiến hành lựa chọn tối ưu Trong lựa chọn kinh tế tối ưu,
thông thường người ta sử dụng toán với các bài toán tối ưu Với mục tiêu củacác tác nhân kinh tế đã được xác định cộng với những rằng buộc về ngân sách,khi đưa ra quyết định lựa chọn, các tác nhân thường sử dụng phương pháp sosánh giữa lợi ích và chi phí của sự lựa chọn để đạt được mục tiêu đã định.Phương pháp này gọi là phương pháp phân tích cận biên
Phương pháp lựa chọn tối ưu thông qua phân tích cận biên Phép phân
tích cận biên sẽ giúp chúng ta hiểu được cách thức lựa chọn của các thànhviên kinh tế Bất cứ sự lựa chọn kinh tế nào cũng liên quan đến hai vấn đề cơbản là: chi phí và lợi ích của sự lựa chọn, cả hai biến số này đều thay đổi khicác thành viên kinh tế đưa ra các sự lựa chọn với quy mô khác nhau Mọithành viên kinh tế đều mong muốn tối đa hoá lợi ích ròng (Hiệu số giữa lợiích và chi phí)
Lợi ích ròng = Tổng lợi ích - Tổng chi phí
→ MB = MC (Lợi ích cận biên = chi phí cận biên)
Bản chất của phương pháp phân tích cận biện được hiểu như sau:
- Nếu MB > MC thì mở rộng quy mô hoạt động vì khi đó lợi ích thu thêmcủa đơn vị tăng thêm còn lớn hơn so với chi phí tăng thêm của đơn vị đó
- Nếu MB = MC thì quy mô hoạt động là tối ưu
- Nếu MB < MC thì thu hẹp quy mô hoạt động vì khi đó lợi ích thuthêm của đơn vị tăng thêm dã vượt quá chi phí tăng thêm của đơn vị đó
Trang 13- Khi MB = MC thì lợi ích ròng đạt giá trị tối đa.
Như vậy khi đưa ra quyết định về sự lựa chọn kinh tế các thành viênkinh tế luôn phải so sánh giữa phần tăng thêm về lợi ích và phần tăng thêm vềchi phí nhằm mục đích xác định một mức sản lượng tối ưu
Tóm tắt
Kinh tế học là môn khoa học giúp con người hiểu về cách thức vận
hành của nền kinh tế nói chung và cách thức ứng xử của từng thành viên thamgia vào nền kinh tế nói riêng
Trang 14Sự khan hiếm của các nguồn lực là một đặc trưng vốn có của thế giới
kinh tế Sự khan hiếm là việc xã hội với các nguồn lực hữu hạn không thểthoả mãn tất cả mọi nhu cầu vô hạn và ngày càng tăng của con người Kinh tếhọc giúp chúng ta hiểu về cách giải quyết vấn đề khan hiếm đó trong các cơchế kinh tế khác nhau
Nền kinh tế là một cơ chế phân bổ các nguồn lực khan hiếm cho mục
đích sử dụng khác nhau Cơ chế này nhằm giải quyết ba vấn đề cơ bản: Sảnxuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai? Các bộ phận hợp thànhnền kinh tế là người ra quyết định bao gồm: hộ gia đình, doanh nghiệp vàChính phủ Các thành viên này tương tác với nhau theo các cơ chế phối hợpkhác nhau Mỗi thành viên có những mục tiêu và hạn chế của mình
Kinh tế học bao gồm hai bộ phận kinh tế cơ bản là kinh tế học vĩ mô và
kinh tế học vi mô Kinh tế vĩ mô nghiên cứu các vấn đề kinh tế tổng hợp củacác nền kinh tế như: vấn đề về tăng trưởng, lạm phát, thất nghiệp… Kinh tế vĩ
mô nghiên cứu hành vi của các thành viên kinh tế đó là hộ gia đình, doanhnghiệp và Chính phủ
Chi phí cơ hội là giá trị của cơ hội tốt bị bỏ qua khi thực hiện một sự
lựa chọn về kinh tế Chi phí cơ hội luôn tuân theo quy luật: để thu thêm đượcmột số lượng hàng hoá bằng nhau, xã hội phải hy sinh ngày càng nhiều hànghoá khác
Đường giới hạn khả năng sản xuất (PPF) là đường mô tả các kết hợp
hàng hoá dịch vụ X và Y mà nền kinh tế có thể sản xuất được với nguồn lựcsản xuất hiện có và công nghệ nhất định Đường giới hạn khả năng sản xuấtthể hiện sự khan hiếm của các nguồn lực và quy luật chi phí cơ hội tăng dần.Khi các ràng buộc nguồn lực và công nghệ thay đổi sẽ làm dịch chuyển
Phương pháp phân tích cận biên chỉ ra rằng các thành viên kinh tế sẽlựa chọn tại mức mà lợi ích cận biên bằng với chi phí cận biên (MC = MB)
Các thuật ngữ
Trang 15Kinh tế học Economics
Kinh tế học vi mô Microeconomics
Kinh tế học vĩ mô Macroeconomics
Kinh tế học thực chứng Positive Economics
Kinh tế học chuẩn tắc Normative Economics
Lý thuyết kinh tế Economic Theory
Đường giới hạn khả năng sản xuất Production Possibility Frontier (PPF)Lợi ích cận biên Marginal Benefit
Chi phí cận biên Marginal Cost
Trang 16CHƯƠNG 2
LÝ THUYẾT CUNG - CẦU 2.1 Lý thuyết cầu
2.1.1 Các khái niệm cơ bản
Cầu là số lượng hàng hoá hoặc dịch vụ mà người mua có khả năng mua
và sẵn sàng mua ở các mức giá khác nhau trong một khoảng thời gian nhấtđịnh với giả định các nhân tố khác không đổi
Ví dụ: Một sinh viên có nhu cầu mua chiếc máy tính để bàn với giá 8triệu đồng (sẵn sàng mua), người sinh viên này tiết kiệm được 4 triệu và được
bố mẹ cho 4 triệu, tức là đủ tiền mua máy tính (khả năng mua) Do đó, xuấthiện cầu về máy vi tính của người sinh viên
Như vậy, khi nói đến cầu chúng ta phải hiểu được 2 yếu tố cơ bản củacầu đó là: khả năng mua (sự thanh toán) và sẵn sàng mua (sở thích, mongmuốn) hàng hoá hoặc dịch vụ đó
Nếu thiếu 1 trong 2 yếu tố trên thì không được gọi là cầu về hàng hoáhoặc dịch vụ đó
Ví dụ: bạn đang muốn mua 1 chiếc xe máy Piagio với giá 120 triệu đồng(sẵn sàng mua) - đó là nhu cầu, mong muốn của bạn nhưng bạn không có đủ tiền
để mua (khả năng mua) thì như vậy cầu của bạn về xe máy bằng không
Cầu khác nhu cầu: Nhu cầu là những mong muốn và nguyện vọng củacon người (thường là vô hạn) Sự khan hiếm làm cho hầu hết nhu cầu khôngđược thỏa mãn Cầu là nhu cầu có khả năng thanh toán, tức là nhu cầu được đảmbảo bằng một số lượng tiền tệ để có thể mua được số hàng hóa có nhu cầu
Lượng cầu (QD) là số lượng hàng hoá hoặc dịch vụ người mua sẵn sàngmua hoặc có khả năng mua ở mức giá đã cho trong khoảng thời gian nhấtđịnh
Cầu cá nhân và cầu thị trường
Cầu cá nhân là số lượng hàng hoá hoặc dịch vụ mà một người tiêu
dùng có khả năng mua và sẵn sàng mua ở các mức giá khác nhau trongkhoảng thời gian nhất định
Cầu thị trường là tổng lượng hàng hoá hoặc dịch vụ mà mọi người có khả
năng mua và sẵn sàng mua ở các mức giá khác nhau trong khoảng thời gian đã cho
Cầu thị trường là tổng hợp các cầu cá nhân
Trang 172.1.2 Các công cụ biểu diễn cầu
Biểu cầu là bảng chỉ số lượng hàng hoá hoặc dịch vụ người tiêu
dùng có khả năng mua và sẵn sàng mua ở các mức giá khác nhau trong 1thời gian nhất định
Biểu cầu thường thể hiện bằng hai cột hoặc hai dòng trong đó mộtcột thể hiện các mức giá bán hàng hoá còn một cột thể hiện số lượng hànghoá tương ứng người tiêu dùng mua
Để hiểu rõ về vấn đề này chúng ta sẽ đi nghiên cứu ví dụ cầu về hoa hồngcủa một nam sinh viên A trong ngày 8-3 Cầu này sẽ phụ thuộc vào 2 yếu tố:
- Lượng tiền nam sinh viên A có
- Giá bán hoa hồng trên thị trường
Giả sử nam sinh viên A có biểu cầu như sau:
Giá bán một bông hoa hồng (đồng) Lượng cầu (bông)
600050004000300020001000
048121620Biểu này cho thấy cách ứng xử của sinh viên A sẽ khác nhau khi giábán hoa hồng thay đổi Nếu giá bán hoa thấp thì sinh viên A mua nhiều hoahơn và nếu giá cao thì sinh viên A mua ít hoa hơn
Đường cầu là đường biểu diễn mối quan hệ giữa lượng cầu và giá
được gọi là đường cầu Quy ước:
- Trục tung biểu diễn giá hàng hoá hoặc dịch vụ Kí hiệu là: P
- Trục hoành biểu diễn lượng hàng hoá hoặc dịch vụ tiêu dùng Kí hiệu là: Q Chúng ta có thể minh hoạ biểu cầu trên bằng đồ thị như sau:
Hình 2.1 Đường cầu đối với hoa hồng của sinh viên A
Trang 18Một điểm chung của các đường cầu là chúng nghiêng xuống dưới vềphía bên phải Khi giá giảm thì lượng cầu tăng lên và ngược lại Mối quan hệngược chiều giữa giá và lượng cầu là rất phổ biến
Hàm cầu là hàm số thể hiện mối quan hệ giữa lượng cầu tiêu dùng và
các yếu tố liên quan đến nó Trong trường hợp này, chúng ta chỉ nghiên cứu
sự thay đổi lượng cầu phụ thuộc vào duy nhất yếu tố giá
Trong quá trình học, để tiện cho việc phân tích vấn đề, chúng ta thường
sử dụng hàm cầu ở dạng tuyến tính nó phụ thuộc vào giá bán của hàng hóa
Luật cầu là số lượng hàng hoá hoặc dịch vụ được cầu của người tiêu
dùng trong khoảng thời gian đã cho tăng lên khi giá hàng hoá hoặc dịch vụgiảm xuống và ngược lại
Tại sao giá hàng hoá cao hơn lại dẫn đến lượng cầu giảm và ngược lại?
Trang 19- Hiệu ứng thu nhập: Khi giá hàng hoá, dịch vụ giảm người tiêu dùng
có cảm giác họ giàu có hơn vì vậy họ sẽ sử dụng hàng hoá đó nhiều hơn nên
số lượng hàng hoá sẽ tăng lên, và ngược lại
2.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới cầu
Trên thực tế, lượng cầu về một hàng hóa hoặc dịch vụ không chỉ phụthuộc vào giá của hàng hóa đó mà còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố kháctrên thị trường
Thu nhập của người tiêu dùng (I: Income)
Thu nhập là một yếu tố quan trọng xác định cầu, nó ảnh hưởng trực tiếp
đến khả năng mua của người tiêu dùng Khi thu nhập tăng lên người tiêu dùngthường mua nhiều hàng hoá hơn và ngược lại Tuy nhiên, với từng loại hànghoá lại có sự thay đổi khác nhau của cầu
Những hàng hoá khi thu nhập tăng lên thì lượng tiêu dùng hàng hoá đótăng lên và ngược lại được gọi là hàng hoá thông thường
Ví dụ: Quần áo, giày dép,…
Những hàng hoá khi thu nhập tăng lên thì lượng tiêu dùng hàng hoá đógiảm đi được gọi là hàng hoá thứ cấp
Ví dụ: than, củi, ngô, sắn,…
Giá của các hàng hoá liên quan (Py: Price Y)
Cầu đối với hàng hoá không chỉ phụ thuộc vào giá của bản thân nó màcòn phụ thuộc vào giá của các hàng hoá liên quan Nếu giá hàng hoá liên quantăng lên hoặc giảm xuống sẽ làm cầu hàng hoá thay đổi Hàng hoá liên quanđược chia làm hai loại: hàng hoá thay thế, hàng hoá bổ sung
Hàng hoá thay thế là hàng hoá có thể sử dụng thay cho hàng hoá khác.
Ví dụ: - Quạt điện (X) và Máy điều hoà (Y- hàng hoá thay thế)
- Kem (X) và Sữa chua (Y)Khi giá hàng hoá này (Py) tăng lên thì cầu của hàng hoá kia (QD
X)tăng lên và ngược lại giá hàng hoá này (Py) giảm xuống thì cầu của hànghoá kia (QD
Trang 20Ví dụ: - Điện thoại di động (X) và Dịch vụ viễn thông (Y)
- Xe máy (X) và Xăng dầu (Y)Khi giá hàng hoá này (Py) tăng lên thì cầu của hàng hoá kia (QD
X) giảmxuống và ngược lại giá hàng hoá này (Py) giảm xuống thì cầu của hàng hoá kia (QD
X)tăng lên
Đối với hàng hoá bổ sung, khi giá của một hàng hoá tăng lên thì cầu đối với hàng hoá bổ sung kia sẽ giảm đi, và ngược lại
Số lượng người tiêu dùng (C: Customer)
Số lượng người tiêu dùng càng lớn thì lượng tiêu thụ hàng hoá, dịch vụnào đó cũng lớn hơn Do đó lượng cầu về hàng hoá đó lớn hơn
Ví dụ: - Lượng cầu về điện của Thủ đô Hà Nội lớn hơn lượng cầu vềđiện của tỉnh Hà Giang
- Lượng cầu về lương thực của Ấn Độ lớn hơn lượng cầu vềlương thực của Iran
Thị hiếu của người tiêu dùng (T: Taste)
Thị hiếu là sở thích hay sự ưu tiên của người tiêu dùng đối với hàng hoá
hay dịch vụ
Người tiêu dùng thường hướng tới việc tiêu dùng những hàng hóa mà họthích Với khả năng có hạn, người tiêu dùng sẽ ưu tiên các hàng hóa mà họ thíchnhất hay thích hơn
Nếu thị hiếu người tiêu dùng về một loại hàng hóa nào đó tăng lên thìđường cầu sẽ dịch chuyển sang phải và ngược lại
Ví dụ: Những người theo đạo Hindu coi Loài bò là con vật linh thiêng nên
họ không ăn thịt bò, do vậy ở các nước theo đạo Hindu cầu đối với thịt bò thấp
Các kỳ vọng (E: Expectances)
Kỳ vọng là sự mong đợi của người tiêu dùng đối với hàng hoá, dịch vụ đó.
Ví dụ: Người tiêu dùng hy vọng trong thời gian tới Chính phủ sẽ giảmthuế nhập khẩu đối với ôtô nguyên chiếc và như vậy giá ôtô sẽ thấp đi Do đócầu hiện tại đối với ôtô sẽ giảm xuống
Trên đây là một số yếu tố chính ảnh hưởng đến cầu, ngoài ra còn rấtnhiều các nhân tố khác cũng tác động đến cầu hàng hoá hay dịch vụ nào đónhư: Chính sách chính phủ, thiên tai, chiến tranh, dịch bệnh,…
Trang 21Sau khi nghiên cứu những yếu tố xác định cầu ta có thể tóm tắt cầudưới dạng hàm số như sau:
Hàm số cầu QD
X , t = f ( P X , t , I t , P Y , t , C , T , E , )
Trong đó:
QD
X , t Lượng cầu đối với hàng hoá X trong thời gian t
PX , t Giá hàng hoá X trong thời gian t
I t Thu nhập của người tiêu dùng trong thời gian t
PY , t Giá hàng hoá Y trong thời gian t
C Dân số (hay người tiêu dùng)
T Thị hiếu (sở thích) của người tiêu dùng
E Các kỳ vọng
2.1.5 Phân biệt sự vận động và sự dịch chuyển của đường cầu
Sự vận động trên đường cầu: Giá của hàng hóa hoặc dịch vụ đang
nghiên cứu là nhân tố nội sinh Khi giá thay đổi làm lượng cầu thay đổi tạo ra
sự vận động của các điểm trên một đường cầu
Nếu giá hàng hoá tăng lên và các yếu tố khác không đổi, sẽ có hiện tượnggiảm xuống của lượng cầu (vận động phía trên của đường cầu), và ngược lại
Sự dịch chuyển của đường cầu: Các nhân tố còn lại trong hàm cầu là
nhân tố ngoại sinh Khi các nhân tố này thay đổi làm cầu thay đổi tạo ra sựdịch chuyển đường cầu
(a) Sự vận động (b) Sự dịch chuyển Hình 2.2 Sự vận động và dịch chuyển của đường cầu
Trang 222.2 Lý thuyết cung
2.2.1 Các khái niệm cơ bản
Cung là số lượng hàng hoá hay dịch vụ mà người bán có khả năng và
sẵn sàng bán ở các mức giá khác nhau trong một thời gian nhất định với giảđịnh các nhân tố khác không đổi trong một thời gian nhất định
Cũng giống khái niệm cầu, khi nói đến cung chúng ta cũng phải hiểuđược 2 yếu tố cơ bản của cung đó là: khả năng bán (phụ thuộc vào năng lựcsản xuất) và sẵn sàng bán (phụ thuộc vào lợi nhuận) hàng hoá hay dịch vụ đó
Ví dụ: Một gia đình ở nông thôn trồng rau cải, lượng rau cải cung cấp chogia đình dư thừa (có khả năng bán) nhưng họ không có ý định bán mà chỉ để chohàng xóm và chăn nuôi (không muốn bán), do vậy cung đối với rau cải bằngkhông Tương tự như vậy, nhận thấy nhu cầu làm đẹp của người dân hiện naytăng cao, ta có mong muốn mở Trung tâm thẩm mỹ (có mong muốn bán) nhưng
ta không có đủ tiền vì đầu tư trong lĩnh vực này đòi hỏi số tiền rất lớn (không cókhả năng bán), vì thế cung về Trung tâm thẩm mỹ bằng không
Lượng cung (Q S) là lượng hàng hoá hay dịch vụ mà người bán sẵnsàng và có khả năng bán ở mức giá đã cho trong 1 thời gian nhất định
Cung cá nhân và cung thị trường
Cung cá nhân là lượng hàng hoá hay dịch vụ mà một người bán có khả
năng và sẵn sàng bán ra thị trường ở mỗi mức giá trong 1 thời gian nhất định
Cung của thị trường là tổng mức cung của các cá nhân với nhau ở mỗi
mức giá trong 1 thời gian nhất định
2.2.2 Các công cụ biểu diễn cung
Biểu cung là một bảng miêu tả số lượng hàng hoá hoặc dịch vụ mà
người bán sẵn sàng và có khả năng bán ở các mức giá khác nhau trong 1thời gian nhất định
Biểu cung thường thể hiện bằng hai cột hoặc hai dòng trong đó mộtcột thể hiện các mức giá bán hàng hoá còn một cột thể hiện số lượng hànghoá tương ứng người sản xuất bán
Ví dụ: Trở lại ví dụ bán hoa hồng cho sinh viên, ta thấy 1 cửa hàng bánhoa thể hiện khả năng cung cấp hoa của họ như sau:
Trang 23Giá bán một bông hoa hồng (đồng) Lượng cung (bông)
600050004000300020001000
50403020100Biểu này cho thấy khi giá hoa hồng thay đổi thì lượng hoa mà cửa hàngmuốn bán cũng thay đổi Nếu giá bán hoa thấp thì họ bán ít hoa hơn, và nếugiá bán hoa cao thì họ bán nhiều hoa hơn
Đường cung là đường mô tả cung về hàng hoá trên đồ thị trong mối
tương quan với giá cả của nó (Các yếu tố khác không đổi)
Quy ước:
- Trục tung biểu diễn giá hàng hoá hoặc dịch vụ Kí hiệu là: P (Price)
- Trục hoành biểu diễn lượng hàng hoá hoặc dịch vụ được bán Kí hiệulà: Q (Quantity)
Từ biểu cung trên, ta có thể minh hoạ bằng đồ thị về cung hoa hồng củacửa hàng như sau:
Hình 2.3 Đường cung đối với hoa hồng của cửa hàng
Đường cung dốc lên từ trái sang phải thể hiện mối quan hệ cùng chiều giữahai đại lượng giá bán hàng hoá và lượng cung hàng hoá Khi giá hàng hoá haydịch vụ tăng lên, lượng cung về hàng hoá hay dịch vụ đó tăng lên, và ngược lại
Trang 24Hàm cung là hàm số thể hiện mối quan hệ giữa lượng cung cấp và các
yếu tố liên quan đến nó Trong trường hợp này, chúng ta chỉ nghiên cứu sựthay đổi lượng cung phụ thuộc vào duy nhất yếu tố giá
Trong quá trình học, để tiện cho việc phân tích vấn đề, chúng ta thường
Luật cung là số lượng hàng hoá được cung trong khoảng thời gian đã
cho tăng lên khi giá của nó tăng lên và ngược lại (Các yếu tố khác không đổi)
Khi Ptăng thì QS tăng lên và ngược lại khi P giảm thì QS giảm xuống.Nguyên nhân của nó chính là lợi nhuận, khi giá hàng hoá cao hơn cónghĩa là lợi nhuận mà nhà sản xuất nhận được cao hơn họ sẽ sản xuất nhiềuhơn và lôi kéo được thêm nhiều doanh nghiệp vào sản xuất và ngược lại
2.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới cung
Trình độ công nghệ
Trình độ công nghệ và kỹ thuật sản xuất có ảnh hưởng đến năng suấtlao động, qua đó ảnh hưởng đến chi phí và hiệu quả của quá trình sản xuất.Công nghệ tiên tiến, kỹ thuật sản xuất hiện đại sẽ giúp sản xuất ra nhiều sảnphẩm hơn với cùng một lượng yếu tố sản xuất như cũ; ngược lại cung sẽgiảm Điều này giải thích các hãng đều quan tâm đến vấn đề đổi mới côngnghệ sản xuất
Trang 25Giá của các yếu tố sản xuất (đầu vào)
Giá của các yếu tố sản xuất ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí sản xuất do
đó ảnh hưởng đến khả năng cung của sản phẩm
Giá của các yếu tố sản xuất giảm dẫn đến giá thành sản phẩm giảm,doanh nghiệp có cơ hội kiếm được lợi nhuận cao hơn
Giá của các yếu tố sản xuất tăng dẫn đến giá thành sản phẩm tăng, lợinhuận của doanh nghiệp có thể thấp đi
Chính sách của Chính phủ
Chính sách của Chính phủ ảnh hưởng quan trọng đến quyết định sảnxuất của các hãng, do đó ảnh hưởng đến việc cung sản phẩm
Chính sách này có thể giảm cung (thuế) hay tăng cung (trợ cấp) Ngoài
ra ở những chính sách khác như quy định về tiền lương tối thiểu, quy định về
an toàn lao động, quy định về vệ sinh môi trường tùy tính chất của từngchính sách có thể dẫn tới tăng cung hoặc giảm cung
Số lượng người sản xuất
Số lượng người sản xuất càng nhiều thì lượng cung hàng hoá ra thịtrường càng lớn và ngược lại
Sau khi nghiên cứu những yếu tố xác định cung ta có thể tóm tắt cungdưới dạng hàm số như sau:
Hàm số cung: QS
X , t = f ( P X , t , P i , T, N S , E )
Trong đó: QS
X , t Lượng cung đối với hàng hoá X trong thời gian t
PX , t Giá hàng hoá X trong thời gian t
P I Giá của các yếu tố sản xuất (đầu vào)
N S Số lượng người sản xuất
T Công nghệ
E Các kỳ vọng
Trang 262.2.5 Phân biệt sự vận động và sự dịch chuyển của đường cung
Sự vận động trên đường cung: Giá của hàng hóa hoặc dịch vụ đang
nghiên cứu là nhân tố nội sinh Khi giá thay đổi làm lượng cung thay đổitạo ra sự vận động của các điểm trên một đường cung
Sự dịch chuyển của đường cung: Các nhân tố còn lại trong hàm cung
là nhân tố ngoại sinh Khi các nhân tố này thay đổi làm cung thay đổi tạo ra
sự dịch chuyển đường cung
Tại trạng thái cân bằng chúng ta có giá cân bằng và sản lượng cân bằng
Xác định trạng thái cân bằng cung cầu
Xác định bằng biểu cung và biểu cầu
Điểm cân bằng trên thị trường được xác định bằng cách kết hợp biểucung và biểu cầu
Trang 27Xác định bằng đồ thị
Hình 2.5 Cân bằng thị trường
Để xác định trạng thái cân bằng của thị trường bằng đồ thị cung cầu,chúng ta quay trở lại ví dụ về thị trường hoa hồng Hình 2.5 minh hoạ đườngcung và cầu thị trường hoa hồng Các đường này cắt nhau tại điểm E, đó là trạngthái cân bằng thị trường với giá cân bằng là PE và lượng cân bằng QE Đây chính
là lượng mà người tiêu dùng muốn mua và các nhà sản xuất muốn bán
Xác định bằng phương pháp toán học
Chúng ta có thể xác định cân bằng thị trường bằng công cụ toán học nhờviệc sử dụng các phương trình cung cầu: QS = f (PS) và QD = f (PD) Đặt QS = QD
Giải phương trình trên, ta thu được giá cân bằng và lượng cân bằng
Cân bằng thị trường là trạng thái ổn định Tuy nhiên trạng thái nàykhông phải là bất biến Khi có một nhân tố trong hàm cung hoặc hàm cầu thayđổi, điểm cân bằng sẽ bị tác động và thị trường sẽ có trạng thái cân bằng mớivới giá cân bằng mới và lượng cân bằng mới
2.3.2 Trạng thái không cân bằng
Bất kỳ một yếu tố nào tác động đến cung và cầu cũng có thể gây ra sựthay đổi trong giá cân bằng Khi thị trường chưa kịp điều chỉnh hoặc khôngđiều chỉnh được (do có sự can thiệp của Chính phủ) trạng thái không cân bằng
sẽ xảy ra đó là trạng thái dư thừa (dư cung) và trạng thái thiếu hụt (dư cầu)
Trạng thái thiếu hụt là kết quả của việc lượng cầu lớn hơn lượng cung ở
1 mức giá nào đó Xuất hiện khi giá hàng hóa thấp hơn giá cân bằng thịtrường
Giải thích cho vấn đề này: Khi giá hàng hóa thấp hơn giá cân bằng thịtrường, lợi nhuận của nhà sản xuất giảm và họ sẽ ít có mong muốn cung cấp
Trang 28hàng cho thị trường (theo luật cung) Đồng thời, giá thấp sẽ kích thích ngườimua hàng hóa nhiều hơn (theo luật cầu) và do đó khoảng cách giữa cung vàcầu càng lớn, gây nên hiện tượng thiếu hụt thị trường.
Nếu giá ban đầu thấp hơn giá cân bằng, người tiêu dùng muốn muanhiều hơn lượng mà người bán muốn bán Do vậy, chỉ có một số người tiêudùng may mắn sẽ mua được hàng hoá với giá P1 Những người không muađược hàng hoá đó họ sẽ làm gì? Vài người trong số họ sẵn sàng trả mức giácao hơn P1 Tương tự như vậy, người bán nhận ra những người đó có thể nânggiá lên Những hành động đó của người mua và người bán sẽ làm cho giáhàng hoá tăng lên Khi giá tăng lên, lượng hàng các hãng muốn bán cũng tănglên và lượng hàng người tiêu dùng muốn mua giảm xuống Sức ép tăng giánày sẽ tiếp tục cho đến khi giá đạt mức cân bằng PE, tại đó sẽ không còn tìnhtrạng thiếu hụt hàng hóa
Trạng thái dư thừa là kết quả của việc lượng cung lớn hơn lượng cầu ở 1
mức giá nào đó Xuất hiện khi mức giá hàng hoá cao hơn mức giá cân bằng thịtrường
Giải thích cho vấn đề này: Khi giá hàng hóa cao hơn giá cân bằng thịtrường, lợi nhuận của nhà sản xuất tăng và họ sẽ có mong muốn cung nhiều hàngcho thị trường (theo luật cung) Đồng thời, giá cao sẽ khiến người tiêu dùnggiảm bớt cầu của mình (theo luật cầu) và như vậy gây nên hiện tượng dư thừa
Nếu giá ban đầu giá hàng hoá cao hơn giá cân bằng, người tiêu dùngmuốn mua ít hơn lượng mà người bán muốn bán Do vậy, không phải tất cả cáchãng đều bán được lượng hàng như mong muốn Thay vì phải chi phí thêm cáckhoản chi phí để bảo quản, các hãng sẽ giảm giá bán để thu hút thêm kháchhàng Giá sẽ giảm xuống tới mức cân bằng PE, tại đó hiện tượng dư thừa sẽ mất
đi và không còn sức ép giảm giá nữa
Tóm lại, tại bất cứ mức giá nào khác giá cân bằng, hoặc người tiêu dùnghoặc người bán sẽ không mua hoặc bán một lượng hàng hoá mà họ mong muốn
Họ sẽ hành động để thay đổi giá, làm cho giá quay trở về trạng thái cân bằng.Mức cân bằng đó do thị trường xác định, tại đó sẽ không có dư thừa hoặc thiếuhụt hàng hoá
Trang 29Hình 2.6 Trạng thái không cân bằng thị trường
2.4 Kiểm soát giá
Kiểm soát giá là việc quy định giá của Chính phủ đối với một số hànghóa hoặc dịch vụ nào đó nhằm thực hiện những mục tiêu cụ thể trong từngthời kỳ
Đây là cách Chính phủ can thiệp trực tiếp vào thị trường Nếu không có
sự can thiệp này, thị trường luôn hoạt động một cách trôi chảy theo cơ chế tựđiều chỉnh
Kiểm soát giá của Nhà nước được thực hiện thông qua giá trần và giá sàn
Giá trần (Pc)
Giá trần là mức giá cho phép tối đa của một hàng hoá hoặc dịch vụ do
Chính phủ ấn định để bảo vệ lợi ích người tiêu dùng nhằm thực hiện một sốmục tiêu như để khuyến khích tiêu dùng hay để thực hiện một số chính sách
xã hội
Ví dụ: Quy định giá xăng dầu hiện nay,
Khi Chính phủ áp đặt giá trần cho một thị trường hàng hóa nào đó, cóthể xảy ra hai trường hợp sau:
- Giá trần cao hơn giá cân bằng: Trường hợp này được coi như là khôngrằng buộc do giá cân bằng cung cầu thấp hơn giá trần Thị trường cân bằngmột cách tự nhiên và giá trần không gây ảnh hưởng gì
- Giá trần thấp hơn giá cân bằng
Khi PC < PE lượng cầu QD sẽ lớn hơn lượng cung QS dẫn đến sự thiếuhụt thị trường Thị trường cân bằng tại mức giá PE và lượng QE, nhưng vìChính phủ ấn định mức giá Pc nên không khuyến khích các hãng sản xuất, họ
Trang 30chỉ sản xuất tại mức QS mà nhu cầu của người tiêu dùng tăng lên đến QD Dovậy, dẫn đến hiện tượng thiếu hụt một hàng hoá lượng: ΔQ = QS - QD.
Đối với hiện tượng thiếu hụt này Chính phủ sẽ khắc phục bằng các biệnpháp như trợ giá, hỗ trợ bằng lãi suất cho nhà sản xuất
Hình 2.7 Ảnh hưởng của giá trần
Giá sàn (P F )
Giá sàn là mức giá thấp nhất của một hàng hoá hoặc dịch vụ nào đó do
Chính phủ ấn định để bảo vệ lợi ích người sản xuất
Hình 2.8 Ảnh hưởng của giá sàn
Ví dụ: Nhà nước ấn định mức tiền công tối thiểu cho cán bộ công nhânviên
Chính phủ quy định giá sàn cho một thị trường hàng hóa nào đó, có thểxảy ra hai trường hợp
- Giá sàn thấp hơn giá cân bằng Trường hợp này được coi như làkhông rằng buộc do giá cân bằng cung cầu cao hơn giá sàn Thị trường cânbằng một cách tự nhiên và giá sàn không gây ảnh hưởng gì
- Giá sàn cao hơn giá cân bằng
Giá sàn
Trang 31Khi PF > PE lượng cầu QD sẽ nhỏ hơn lượng cung QS dẫn đến sự dư thừathị trường Thị trường cân bằng tại mức giá PE và lượng QE, nhưng vì Chínhphủ ấn định mức giá PF nên đã khuyến khích các hãng sản xuất nhiều hơn và
họ sẽ sản xuất tại mức QS Nhưng khi giá tăng nhu cầu của người tiêu dùng vềhàng hoá đó giảm xuống đến QD Do vậy, dẫn đến hiện tượng dư thừa mộthàng hoá lượng: ΔQ = QS - QD
Giá sàn đã làm cho lợi ích của người sản xuất tăng lên và lợi ích củangười tiêu dùng giảm xuống
Như vậy việc can thiệp của Chính phủ vào thị trường dưới hình thứckiểm soát giá sẽ dẫn đến sự dư thừa hay thiếu hụt, làm thay đổi lợi ích củangười sản xuất và người tiêu dùng
Tuy vậy việc can thiệp của Chính phủ vẫn cần thiết để đạt được mụctiêu nhất định trong mỗi giai đoạn nào đó
Trang 32Tóm tắt
Cầu: số lượng hàng hoá hay dịch vụ mà người mua có khả năng mua
và sẵn sàng mua ở các mức giá khác nhau trong 1 thời gian nhất định (Cácyếu tố khác không đổi) Cầu phụ thuộc vào nhiều nhân tố như: Thu nhập củangười tiêu dùng, giá của các hàng hoá liên quan, số lượng người tiêu dùng, thịhiếu, các kỳ vọng Nếu các điều kiện khác không thay đổi, khi giá hàng hoáhoặc dịch vụ giảm xuống số lượng hàng hoá hoặc dịch vụ được cầu của ngườitiêu dùng trong khoảng thời gian đã cho tăng lên và ngược lại Sự thay đổi giá
cả của bản thân hàng hoá gây ra sự vận động dọc theo đường cầu Sự thay đổicác yếu tố ngoài giá cả của hàng hoá làm đường cầu dịch chuyển Cầu thịtrường là tổng hợp các cầu cá nhân theo chiều ngang
Cung: số lượng hàng hoá hay dịch vụ mà người bán có khả năng và sẵn
sàng bán ở các mức giá khác nhau trong một thời gian nhất định (Các yếu tốkhác không đổi) Cung phụ thuộc vào nhiều nhân tố như: công nghệ, giá của cácyếu tố sản xuất, chính sách thuế, số lượng người sản xuất, các kỳ vọng Nếu cácđiều kiện khác không thay đổi khi giá hàng hoá giảm xuống lượng cung hànghoá hoặc dịch vụ giảm xuống và ngược lại Sự thay đổi giá bản thân hàng hoágây ra sự vận động dọc theo đường cung Sự thay đổi các nhân tố khác giá làmdịch chuyển đường cung Cung của thị trường là tổng đường cung cá nhân theochiều ngang
Cân bằng thị trường: Sự tương tác của cung và cầu xác định giá và
lượng cân bằng trên thị trường Tại mức giá cao hơn giá cân bằng sẽ xuất hiện
dư thừa hàng hoá, giá sẽ có xu hướng giảm xuống Tại mức giá thấp hơn giácân bằng sẽ xuất hiện thiếu hụt hàng hoá, giá sẽ có xu hướng tăng lên
Sự thay đổi trạng thái cân bằng: Một sự thay đổi của yếu tố không phải
là giá của hàng hoá sẽ làm cho đường cung hoặc đường cầu dịch chuyển Mộttrạng thái cân bằng mới được thiết lập
Sự can thiệp của Chính phủ: có thể làm thay đổi trạng thái cân bằng thị
trường bằng cách can thiệp vào thị trường là thay đổi đường cung hoặc đườngcầu Chính phủ đặt giá trần hoặc giá sàn sẽ làm xuất hiện dư thừa hoặc thiếuhụt hàng hoá
Trang 33Các thuật ngữ
Lượng cân bằng Equilibrium QuantityHàng hóa thay thế Substitutes
Hàng hóa bình thường Normal goods
Hàng hóa cấp thấp Inferior good
Hàng hóa thiết yếu Necessities
Trang 35CHƯƠNG 3
ĐỘ CO GIÃN
3.1 Độ co giãn của cầu
Độ co giãn của cầu là đại lượng đo sự thay đổi của lượng cầu khi
có sự thay đổi của các nhân tố ảnh hưởng tới cầu và được tính bằng phần trămthay đổi của lượng cầu chia cho phần trăm thay đổi của các nhân tố ảnhhưởng tới cầu
Có 3 loại Độ co giãn của cầu là: Co giãn của cầu theo giá, co giãn củacầu theo thu nhập và co giãn chéo
3.1.1 Độ co giãn của cầu theo giá là đại lượng đo sự thay đổi của lượng cầu
khi có sự thay đổi trong giá cả của hàng hóa đó
Gọi lượng cầu hàng hoá X là QDx, mức phần trăm thay đổi tuyệt đối củalượng cầu là ΔQDx và mức thay đổi phần trăm là %ΔQDx Do đó:
Độ co giãn của cầu = 20%/ 10% = 2
Như vậy, Độ co giãn trong trường hợp này bằng 2 cho chúng ta biếtrằng sự thay đổi của lượng cầu lớn gấp hai lần sự thay đổi của giá cả
Độ co giãn của cầu theo giá hàng hoá cho ta biết khi giá hàng hoá thayđổi 1% thì lượng cầu hàng hoá thay đổi bao nhiêu phần trăm Thông thường,
Độ co giãn giá càng lớn, mức độ phản ứng của lượng cầu đối với giá càngmạnh
Dấu và độ co giãn âm: Đường cầu dốc xuống nên khi giá của hàng hoá
tăng thì lượng cầu giảm, phần trăm thay đổi của lượng cầu luôn trái dấu vớiphần trăm thay đổi của giá Vì giá cả tăng theo dẫn đến lượng cầu giảm nên
độ co giãn của cầu theo giá là số âm Tuy nhiên, độ lớn hay giá trị tuyệt đối
Phần trăm thay đổi của lượng cầu
Độ co giãn của cầu theo giá =
Phần trăm thay đổi của giá
Trang 36của độ co giãn của cầu theo giá mới cho biết mức phản ứng (co giãn như thếnào) của cầu Để so sánh độ phản ứng, chúng ta dùng độ lớn của độ co giãncủa cầu và bỏ qua dấu âm.
Phương pháp xác định
Co giãn điểm: co giãn trên một điểm nào đó của đường cầu
Dựa vào phương trình đường cầu có thể tính độ co giãn điểm bằng đạohàm theo công thức sau
Ta có Q = f (p) hàm cầu được biểu diễn bằng công thức QD = b+ aP thì
ED
p = Q’
(P) x (P/Q) = a P/Q
Tính theo quy tắc PAPO
Quy tắc này thường được sử dụng bằng đồ thị
P
O
P
D
0 A Q
Hình 3.1 Co giãn trên một điểm của đường cầu
Xác định độ co giãn điểm ta có thể áp dụng quy tắc ba bước sau:
- Bước 1: Xác định tiếp tuyến đối với đường cầu tại điểm P cần đo độ
co giãn
- Bước 2: Dọc theo tiếp tuyến đó, đo độ dài (theo đơn vị quy ước nào
đó về độ dài) từ điểm đó tới trục hoành và độ dài từ điểm đó tới trục tung
- Bước 3: Độ co giãn ở điểm P cần đo sẽ bằng độ dài PA từ điểm P dọctheo tiếp tuyến tới hoành độ A, chia cho độ dài PO từ điểm P dọc theo tiếptuyến tới tung độ O Vậy Độ co giãn được xác định theo công thức ED
P = PA/PO
Co giãn khoảng: là độ co giãn trên khoảng hữu hạn nào đó của đường cầu.
Nếu tính Độ co giãn của cầu theo giá giữa hai điểm trên một đườngcầu, ta sẽ gặp phải một vấn đề khó chịu, đó là Độ co giãn từ điểm A đến điểm
B có thể khác với Độ co giãn từ điểm B đến điểm A
Trang 37Chúng ta có thể trình bày phương pháp trung điểm từ công thức tính Độ
co giãn của cầu giữa hai điểm:
Độ co giãn của cầu theo giá = (Q 2 - Q 1 )/(Q 2 + Q 1 )
(P 2 - P 1 )/(P 2 + P 1 )
Tử số trong công thức trên là phần trăm thay đổi của lượng tính theophương pháp trung điểm, mẫu số là phần trăm thay đổi của giá tính theophương pháp trung điểm Nếu cần tính toán Độ co giãn, chúng ta nên sử dụngcông thức trên
Phân loại co giãn của cầu theo giá
Các nhà Kinh tế phân loại đường cầu theo Độ co giãn, chúng ta có cáctrường hợp sau:
- E p D > 1: Cầu tương đối co giãn, đường cầu thoải Đây là đường cầu củanhững hàng hóa có nhiều khả năng thay thế như thịt bò và thịt lợn, bún và phở
- E D p < 1: Cầu ít co giãn, đường cầu dốc Đây là đường cầu của nhữnghàng hóa ít có khả năng thay thế như xăng, điện…
- E D p = 1: Cầu co giãn đơn vị, nghĩa là lượng cầu thay đổi cùng 1 tỉ lệvới giá
- ED
P = 0: Cầu hoàn toàn không co giãn và đường cầu có dạng song songvới trục tung (thẳng đứng) Trong trường hợp này, bất kể giá cả thay đổi thế nào,lượng cầu vẫn hoàn toàn không thay đổi Đây là đường cầu của những hàng hóakhông có khả năng thay thế như những loại biệt dược để chữa bệnh, …
- ED
P = ∞: Cầu hoàn toàn co giãn và đường cầu nằm ngang Đường cầunày phản ánh thực tế là sự thay đổi rất nhỏ của giá cả cũng ảnh hưởng cực lớntới lượng cầu Ví dụ: trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo, khi có 2 cửa hàngcùng bán văn phòng phẩm, nếu giá hàng hoá như nhau thì lượng khách của 2cửa hàng không đổi Nhưng nếu 1 cửa hàng tăng giá còn cửa hàng kia khôngtăng, thì lượng khách sẽ chuyển hết sang cửa hàng không tăng giá Khi đólượng hàng hoá bán ra của hai cửa hàng có sự chênh lệch cực lớn
Với 2 trường hợp cuối cùng, để lấy được ví dụ về nó chúng ta chỉ nên xemxét trong một phạm vi hẹp và hạn chế sự tác động của các yếu tố khác liên quan
Do Độ co giãn của cầu theo giá phản ánh mức độ phản ứng của lượngcầu trong sự thay đổi giá cả, nên nó quan hệ chặt chẽ với độ đốc của đườngcầu Quy tắc đơn giản sau đây giúp bạn nhanh chóng hình dung ra quy mô của
Trang 38Độ co giãn: đường cầu đi qua 1điểm nhất định càng phẳng (tức càng ít dốc),thì Độ co giãn giá của đường cầu càng lớn; Ngược lại đường cầu đi qua 1điểm nhất định càng dốc thì Độ co giãn của đường cầu càng nhỏ.
Các nhân tố ảnh hưởng đến sự co giãn của cầu theo giá
Chúng ta đã biết, khi giá một hàng hoá nào đó tăng lên làm cho cầuhàng hoá đó giảm xuống, và ngược lại Độ co giãn của cầu theo giá phản ánhmức độ phản ứng của cầu trước sự thay đổi của giá Cầu về một hàng hoáđược coi là co giãn với giá cả nếu lượng cầu thay đổi mạnh khi giá thay đổi
Và cầu được coi là không co giãn với giá cả nếu lượng cầu thay đổi rất ít khigiá thay đổi
Những yếu tố nào quyết định đến việc nhu cầu về một hàng hoá co giãnhay không co giãn? Do nhu cầu về một hàng hoá bất kỳ phụ thuộc vào sởthích của người tiêu dùng, nên Độ co giãn giá của cầu phụ thuộc vào rất nhiềuyếu tố kinh tế, xã hội, tâm lý - những yếu tố tạo ra nguyện vọng cá nhân.Song dựa vào kinh nghiệm, chúng ta có thể nêu ra một vài nguyên tắc chung
về các yếu tố quyết định Độ co giãn của cầu theo giá
* Sự sẵn có của hàng hoá thay thế
Nếu một hàng hoá càng có nhiều hàng hoá thay thế, cầu hàng hoá đócàng co giãn Ví dụ: kim loại có hàng hoá thay thế tốt như nhựa nên cầu kimloại co giãn Ngược lại, dầu lửa có ít hàng hoá thay thế nên cầu co giãn thấp
Khi nghiên cứu Quy luật Engel, ông đã chia hàng hoá ra làm 2 loại:hàng hoá thông thường và hàng hoá thứ cấp Mỗi loại hàng hoá này sẽ có sự
co giãn khác nhau, cụ thể:
- Hàng hoá thông thường: có hai loại:
+ Hàng hoá xa xỉ: hàng hoá được cầu tương đối nhiều khi thu nhập tănglên: đi du lịch, khám chữa bệnh,… Loại hàng hoá này thường có cầu co giãn
+ Hàng hoá thiết yếu: là các hàng hoá được cầu nhiều hơn khi thu nhậptăng lên nhưng sự tăng cầu tương đối nhỏ hoặc xấp xỉ như sự tăng của thunhập: thực phẩm, quần áo, giày dép Thông thường chúng rất ít có hàng hoáthay thế và quan trọng với cuộc sống của chúng ta, vì vậy nhìn chung chúng
có cầu không co giãn
- Hàng hoá thứ cấp là những hàng hoá dịch vụ khi thu nhập tăng lênngười tiêu dùng ít sử dụng và ngược lại
Trang 39* Tỷ trọng của việc chi tiêu hàng hóa đó trong tổng thu nhập
Trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, tỷ lệ thu nhập chi dùng chohàng hoá càng cao, cầu hàng hoá đó càng co giãn Nếu chỉ có phần nhỏ thunhập chi dùng cho hàng hoá thì giá cả hàng hoá thay đổi có tác động rất ít đếnngân sách tổng thể của người tiêu dùng và do đó người tiêu dùng không mấyquan tâm đến sự thay đổi của giá Tuy nhiên, sự gia tăng nhỏ của giá cả hànghoá mà chiếm tỷ lệ lớn trong ngân sách của người tiêu dùng sẽ làm người tiêudùng phải giảm đáng kể lượng mua hàng hoá đó
Ví dụ: Khi giá thịt lợn tăng cao người tiêu dùng sẽ hạn chế dùng thịtlợn và chuyển sang các loại thực phẩm khác như: thịt gà, bò, cá, trứng Nhưngkhi giá muối ăn tăng gấp 2 lần thì hầu như không có sự thay đổi về lượng cầuđối với muối Sở dĩ có sự khác nhau đó là vì: thịt lợn chiếm tỷ lệ lớn trongngân sách của các hộ gia đình, trong khi muối chỉ chiếm một phần quá nhỏ
bé Các hộ gia đình không muốn tăng giá, nhưng họ rất ít khi để ý đến ảnhhưởng của giá muối tăng, trong khi giá thịt lợn tăng ảnh hưởng rất lớn tớingân sách của các hộ gia đình
* Khoảng thời gian từ khi giá thay đổi
Khoảng thời gian từ khi giá thay đổi càng dài, độ co giãn càng lớn Khigiá thay đổi, người tiêu dùng thường tiếp tục mua lượng hàng hoá tương tựtrong thời điểm đó Tuy nhiên, khi có đủ thời gian, họ tìm hàng hoá thay thế
có thể chấp nhận được và có chi phí ít hơn Khi quá trình thay thế xảy ra,lượng cầu đối với hàng hoá ban đầu sẽ giảm mạnh hay là cầu co giãn Ở đâykhái niệm ngắn hạn liên quan đến thời kỳ trong đó ít nhất một vài sự điềuchỉnh là không thể thực hiện được Dài hạn là một thời kỳ đủ để thực hiện các
sự điều chỉnh Thông thường cầu dài hạn co giãn hơn cầu ngắn hạn
Ví dụ: Vài năm gần đây, giá xăng dầu tăng cao, trong ngắn hạn ngườidân vẫn tiếp tục sử dụng nó với số lượng ban đầu Họ chỉ khắc phục bằngcách sử dụng tiết kiệm hơn và như vậy cầu xăng dầu tương đối co giãn Tuynhiên, trong dài hạn, người dân bắt đầu chuyển sang sử dụng các phương tiệncông cộng
Quan hệ giữa co giãn của cầu với doanh thu của người bán (tổng mức chi của người tiêu dùng
Trang 40Tổng doanh thu (TR): là thu nhập bán hàng của người bán Nó được xác
định bằng tích giữa lượng sản phẩm bán ra và giá sản phẩm đó
Tổng doanh thu = Giá bán x Lượng sản phẩm bán ra (TR = P x Q)
Tổng doanh thu của người bán hàng cũng chính là tổng mức chi của người tiêu dùng
Việc tăng hay giảm giá đều ảnh hưởng đến tổng doanh thu hay tổngmức chi Những lý thuyết về co giãn của cầu theo giá của hàng hóa đó đượcứng dụng ở đây cho biết sự thay đổi của tổng doanh thu như thế nào khi giáthay đổi
Một cách khái quát chúng ta có các trường hợp:
- Giá tăng sẽ làm tăng tổng doanh thu nếu cầu không co dãn (E < 1)
- Giá tăng sẽ làm giảm tổng doanh thu nếu cầu co dãn (E > 1)
- Giá tăng sẽ không làm thay đổi tổng doanh thu nếu như cầu co dãn đơn vị (E = 1)
Quan hệ giữa co giãn của cầu đối với giá và tổng doanh thu hay mức chi
Nếu cầu là Giá tăng, tổng
doanh thu sẽ
Giá giảm, tổng doanh thu sẽ
Co dãn (E > 1)
Không co dãn (E < 1)
Co dãn đơn vị (E = 1)
GiảmTăngKhông thay đổi
TăngGiảmKhông thay đổi
3.1.2 Độ co giãn của cầu theo giá chéo (Co giãn của cầu theo hàng hóa có lên quan)
Lượng của bất kỳ hàng hoá nào mà người tiêu dùng định mua phụ thuộcvào giá hàng hoá thay thế và hàng hoá bổ sung của nó
Độ co giãn của cầu theo giá chéo là phần trăm thay đổi về lượng cầu trênphần trăm thay đổi của giá cả hàng hóa liên quan
Độ co giãn được tính bằng cách sử dụng công thức sau:
Thay đổi phần trăm của lượng cầu
Độ co giãn của cầu theo giá HH liên quan =
Thay đổi phần trăm của hàng hóa liên quan %ΔQ x
E XY D =
%ΔP Y