1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

ĐỀ TÀI: Giúp trẻ lớp 1 phát triển lời nói mạch lạc thông qua phần luyện nói trong môn Tiếng Việt

22 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 6,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích của đề tài : - GV tìm ra những biện pháp phù hợp nhằm giúp trẻ: trước hết mạnh dạn hơntrong giao tiếp, tiếp đó là rèn những kĩ năng, thói quen dùng lời nói biểu cảmtrong giao t

Trang 1

MỤC LỤC

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1 Lí do chọn đề tài : 1

2 Mục đích của đề tài : 1

3 Nhiệm vụ thực hiện đề tài: 1

4 Phương pháp nghiên cứu: 2

5 Phạm vi, đối tượng và thời gian nghiên cứu: 2

PHẦN II: NHỮNG BIỆN PHÁP ĐỔI MỚI ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 2

I Cơ sở lí luận: 2

II Cơ sở thực tiễn: 2

III Tìm hiểu thực trạng: 2

IV.Biện pháp và các cách ứng dụng: 4

V Kết quả thực hiện có so sánh đối chứng: 18

PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ: 19

1 Kết luận : 19

2 Các đề xuất và khuyến nghị: 20

Trang 2

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1.Lí do chọn đề tài :

Như chúng ta đã biết chương trình môn Tiếng Việt bậc Tiểu học nóichung và lớp 1 nói riêng yêu cầu coi trọng cả bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viếttrong dạy học Tiếng Việt Trong đó 2 kĩ năng nghe - nói đã được quan tâm mộtcách thoả đáng Thông qua luyện nói sẽ giúp các em mạch dạn hơn, tự tin hơntrong giao tiếp Biết nói năng lưu loát rõ ràng, có nội dung, có lô gích, có hìnhảnh đúng ngữ pháp Tiếng Việt và giúp học sinh có khả năng sử dụng các loạicâu phong phú trong lời nói Đặc biệt là kĩ năng sử dụng các trợ từ, liên từ ….lờinói có sắc thái biểu cảm Đồng thời qua luyện nói học sinh có cơ hội để thể hiệnnhững tâm tư tình cảm và nuôi dưỡng những ước mơ hoài bão của mình Luyệnnói cho học sinh giúp học sinh có khả năng sử dụng từ đúng nghĩa trong từnghoàn cảnh phát ngôn Thông qua đó giáo viên nắm bắt được mức độ phát triển tưduy của mỗi học sinh ở từng giai đoạn cụ thể Qua luyện nói còn giúp các em cólời nói hay cử chỉ đẹp thể hiện nếp sống thanh lịch văn minh của người ViệtNam nói chung và người con của thủ đô Hà Nội nói riêng:

“ Chẳng thơm cũng phải hoa nhài

Dẫu không thanh lịch cũng người Tràng An”

- Ý thức được vai trò của việc sử dụng ngôn ngữ biểu cảm trong giao tiếp, thểhiện được nếp sống thanh lịch văn minh của người Hà Nội Và qua nhiều nămtrực tiếp giảng dạy lớp đầu cấp tôi thấy các em không biết diễn đạt hết ý củamình có tới trên 90 % các em chưa tự tin trong giao tiếp nên tôi đã lựa chọn vànghiên cứu đề tài:

“Giúp trẻ lớp 1 phát triển lời nói mạch lạc thông qua phần luyện nói trong mônTiếng Việt”.

2 Mục đích của đề tài :

- GV tìm ra những biện pháp phù hợp nhằm giúp trẻ: trước hết mạnh dạn hơntrong giao tiếp, tiếp đó là rèn những kĩ năng, thói quen dùng lời nói biểu cảmtrong giao tiếp, trong các giờ luyện nói của các tiết Học Vần (Tập Đọc) trongchương trình SGK lớp 1 và giúp HS yêu thích môn Tiếng Việt

- Học sinh mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp với bạn bè nói chung và có ý thức

tự phê, tự chữa, tự đánh giá …

- HS có kĩ năng trong giao tiếp và nâng cao tính tự giác trong học tập

Trang 3

- Nhằm nâng cao chất lượng dạy và học phân môn Học Vần (Tập Đọc) lớp 1theo hướng lấy học sinh làm trung tâm.

- Giúp học sinh có lời nói hay, cử chỉ đẹp và thể hiện nếp sống thanh lịch vănminh

3 Nhiệm vụ:

- Nghiên cứu các bài Học Vần và Tập Đọc trong môn Tiếng Việt lớp 1

- Nâng cao chất lượng rèn kĩ năng nói cho học sinh

- Đưa ra một số biện pháp giúp học sinh luyện nói được tốt hơn

4 Phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp điều tra – so sánh

- Phương pháp quan sát

- Phương pháp phân tích tổng hợp

- Phương pháp thực hành luyện tập

5 Phạm vi, đối tượng và thời gian nghiên cứu:

- Phạm vi nghiên cứu phần luyện nói trong giờ Học Vần và Tập Đọc

- Đề tài này được tham khảo từ những năm học trước và tiến hành thực hiệntrong năm học 2018 – 2019 với học sinh lớp 1 trường Tiểu học Phú Cường

PHẦN II: NHỮNG BIỆN PHÁP ĐỔI MỚI ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I Cơ sở lí luận:

- Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của xã hội loài người Ngônngữ tồn tại dưới dạng: nói và viết Kĩ năng nói là kĩ năng rất quan trọng tronggiao tiếp của con người Không chỉ giáo viên mà ngay cả khi nghe người khácnói đúng,nói đủ, nói trọng tâm sẽ giúp người nghe dễ hiểu nội dung câu chuyện.Người có giọng nói truyền cảm sẽ dễ đi vào lòng người hơn Đặc biệt đối vớigiáo viên mà có giọng nói mạch lạc, truyền cảm thu hút được học sinh nghegiảng tiết dạy thành công hơn Do đó cần phải giáo dục, rèn luyện lời nói củacác em ngay từ nhỏ, từ các lớp đầu cấp Tiểu học để sau này các em có thói quen

cư xử đúng mực, lịch sự trong giao tiếp Việc giáo dục lời nói từ xa xưa ông cha

ta rất trú trọng, thường giáo dục con cháu qua các câu ca dao tục ngữ như:

“Học ăn, học nói, học gói, học mở.”

II Cơ sở thực tiễn:

- Hệ thống chủ điểm của các bài luyện nói vừa mang tính khái quát vừa mangtính trừu tượng, góp phần cung cấp cho học sinh những hiểu biết về thiên nhiên,

xã hội, con người Qua các bài chủ đề về luyện nói, học sinh được cung cấpthêm về vốn từ ngữ, vốn diễn đạt và những hiểu biết về các chủ đề luyện nói đơn

Trang 4

giản Từ đó năng cao trình độ văn hóa nói chung và trình độ Tiếng Việt nóiriêng.

III Tìm hiểu thực trạng:

Trường Tiểu học tôi đang dạy nằm ở địa bàn dân cư có mặt bằng dân tríchưa cao Do chưa có sự quan tâm chu đáo, chặt chẽ của cha mẹ nên các em họcsinh ở đây thực tế rất đáng quan tâm đó là các em ngại giao tiếp, giao tiếp kémhoặc có thì nói năng cộc lốc, không biết cách diễn đạt hết ý của mình

Nghiên cứu thực trạng trẻ lớp 1 hiện nay có kiến thức, ý thức ra sao tronggiao tiếp hàng ngày cũng như sự bày tỏ quan điểm nhận thức của bản thân, trướcnhững vấn đề mà trẻ phải tự bộc lộ bản thân qua những lời nói, lời phát biểu trảlời theo nội dung bài học và sự giao tiếp với mọi người xung quanh ở trường, ởlớp

Sau khi tôi nhận nhiệm vụ dạy lớp 1, tôi tiến hành điều tra khảo sát thực

tế 102 học sinh của 3 lớp: 1A,1B, 1C tại trường Tiểu học Phú Cường Qua thămlớp dự giờ tôi thấy học sinh rất sợ học môn Tiếng Việt, không thích học mônTiếng Việt nhất là phần luyện nói Khi khảo sát tôi thấy số trẻ nói năng chưamạch lạc chiếm một tỉ lệ tương đối lớn

Số liệu cụ thể tại lớp 1B tôi chủ nhiệm là:

ít có điều kiện trò chuyện giao tiếp với bạn bè cũng như với người lớn Khi đượchỏi, những bậc cha mẹ của các trẻ này thường trả lời là ít khi đọc truyện hoặc kểchuyện cho con nghe trước khi đi ngủ hoặc là họ không trò chuyện chơi với con

vì công việc quá bận rộn hoặc không có thói quen này

- Thông qua thực tế lớp mình phụ trách và các đồng nghiệp trong khối chúngtôi đều có chung một nhận xét là trẻ nói năng không mạch lạc thường rơi vàonhững trẻ trầm tính, ít nói có khi là rất ngại nói trước đông người nếu gọi trẻ nóithì thường nói nhỏ, không tự tin, ấp úng cô phải sửa rất nhiều Đây chính là cốtlõi vấn đề vì sao phần luyện nói trong môn Tiếng Việt nói chung rất khó với học

Trang 5

sinh Trẻ lớp 1, trước khi đến trường đã: “ biết nghe, biết nói” Tiếng Việt, songvẫn chưa thật sự thành thạo và thực tế hoạt động nói năng của các em vẫn cònhạn chế, vốn ngôn ngữ tiếp nhận được trước khi đến trường còn ít ỏi… , vốnsống còn ít Mà học sinh lớp 1 lần đầu tiên được tiếp xúc với chữ cái, học âm-vần, luyện nói thành câu, đoạn, do đó vốn từ của học sinh còn rất ít, khả năngdiến đạt còn hạn chế nên khi luyện nói thì đây cũng là một trở ngại không nhỏđối với các em Mặt khác học sinh lớp 1 chưa đi xa nhiều, khả năng nhìn nhận,quan sát sự việc xung quanh còn rất hạn chế, do tâm lí còn rụt rè, e ngại, sợ nóisai ý của giáo viên, sợ bạn bè chê cười nên học sinh cũng rất ít thể hiện mình…

- Xuất phát từ thực trạng trên mà tôi trăn trở phải làm như thế nào để giúptrẻ khắc phục được những khó khăn này Tôi tự tìm cho mình một giải pháp đólà:

“Giúp trẻ lớp 1 phát triển lời nói mạch lạc thông qua phần luyện nói trong môn Tiếng Việt” làm đề tài nghiên cứu của mình.

IV Biện pháp và các cách ứng dụng:

Muốn giúp trẻ phát triển lời nói mạch lạc thông qua phần luyện nói, trước

tiên tôi phải nắm được yêu cầu kỹ năng nói đối với học sinh lớp 1 Sau đó tôithống kê nội dung dạy kỹ năng luyện nói và nhất là phần luyện nói tổng hợptrong chương trình Tiếng Việt lớp 1 tôi đã và đang dạy Cụ thể:

* Về yêu cầu kỹ năng nói đối với học sinh lớp 1:

+ Phát âm đúng, rõ các âm, vần và tiếng được học (trừ các tiếng có vần khó ítdùng) và chữa các lỗi về phát âm theo hướng dẫn của giáo viên

+ Phát âm liền mạch một lời nói (không lặp, không thiếu tiếng), biết nói to đủnghe trong giờ học tiếng Việt và các giờ học khác

* Về nội dung dạy kỹ năng luyện nói trong chương trình Tiếng Việt lớp 1:

+Phần Học Vần: cuối mỗi bài đều có phần luyện nói theo chủ đề

+ Phần luyện nói tổng hợp được bố trí các bài theo tuần với 3 chủ điểm lớn: Nhàtrường , Gia đình, Thiên nhiên- Đất nước (từ tuần 23 trở về sau) Qua nội dungcác bài học , học sinh vừa được ôn các chữ cái đã học (các âm, vần, các chữ thểhiện âm, vần) vừa được học cái mới ( vần khó, chữ viết hoa, luật chính tả)

Các bài học trong tuần đều tập trung vào chủ điểm của tuần đó nhằm tạo ra sựtích hợp Việc quay vòng chủ điểm này không phải là sự lặp lại y hệt mà vòngsau phát triển, mở rộng hơn vòng trước Từ những yêu cầu về kỹ năng nói đốivới học sinh lớp 1 tôi đã đưa ra giải pháp khắc phục cho phù hợp đối với họcsinh và giúp học sinh phát triển ngôn ngữ nói ngay từ đầu cấp học

Ngoài việc học hỏi đồng nghiệp tôi còn sử dụng những phương pháp:

Trang 6

- Phương pháp quan sát.

- Phương pháp phân tích - tổng hợp

- Phương pháp thực hành luyện tập (Nhiều học sinh được thực hành).Như phần đầu tôi đã nêu thông qua phần luyện nói trẻ sẽ dần dần biết nóinăng lưu loát rõ ràng, có lôgic có hình ảnh, đúng ngữ pháp Tiếng Việt …mà cònphát triển lời nói mạch lạc cho trẻ Vì thế để đánh giá mức độ phát triển lời nóimạch lạc của trẻ cần dựa vào những tiêu chí cụ thể Qua thực tế giảng dạy tôi đãxây dựng được 3 tiêu chí đánh giá mức độ phát triển ngôn ngữ của trẻ như sau: + Kĩ năng hiểu nghĩa từ và sử dụng từ để nói thành câu

+ Kĩ năng kể lại chuyện vừa nghe

+ Kĩ năng quan sát tranh tự miêu tả bằng ngôn ngữ những hình ảnh trong tranh

Tổng số điểm 3 tiêu chí trên là 10 điểm

Trong đó: tiêu chí 1 tối đa là: 2 điểm, tiêu chí 2 tối đa là: 4 điểm, tiêu chí

3 tối đa là: 4 điểm

Dựa vào việc phân bố các thang điểm cho từng tiêu chí nêu trên mà việcđánh giá kĩ năng phát triển lời nói mạch lạc của trẻ lớp 1 được thực hiện theo 3mức độ: Rất mạch lạc là những trẻ đạt từ :9 -> 10 điểm

Mạch lạc là những trẻ đạt từ: 5 -> 8 điểm

Chưa mạch lạc là những trẻ điểm từ 4 trở xuống

Đây chính là cơ sở để tôi có kết quả như đã nêu ở phần khảo sát thực trạng

Sau đây là một số giải pháp nhằm: “Giúp trẻ lớp 1 phát triển lời nói mạch lạc thông qua phần luyện nói trong giờ Học Vần (Tập Đọc)”.

Quá trình dạy môn Tiếng Việt tôi luôn xoáy vào 3 tiêu chí trên để dựng nềntảng giúp các em thực hiện tốt phần luyện nói qua đó phát triển ngôn ngữ mạchlạc cho trẻ và áp dụng một số phương pháp cụ thể như sau:

Phương pháp 1: Phương pháp quan sát:

- Phương pháp này được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu giáo dục Nhằmquan sát giờ dạy của giáo viên và học tập của học sinh trên lớp Đánh giá kếtquả học tập của học sinh thông qua những lời phát biểu của học sinh trong giờluyện nói của mỗi tiết học, qua lời nói của học sinh với mọi người xung quanhmọi nơi, mọi lúc qua các bài tập thực hành trong vở bài tập Tiếng Việt in

Trang 7

khiếm khuyết của học sinh, để từ đó có cái nhìn khái quát về việc sử dụng vốnngôn ngữ biểu cảm của học sinh Từ đó giáo viên dễ dàng phân loại khả nănggiao tiếp của từng học sinh trong lớp, qua đó lập kế hoạch bồi dưỡng nâng caocho học sinh xuất sắc và học sinh có thành tích vượt trội, luyện kĩ năng nói saocho đạt trình độ chuẩn cho học sinh khá và học sinh trung bình Quan sát phảnánh khá trung thực tình trạng của học sinh.

+ Ưu điểm của phương pháp này là: Sau khi phân loại học sinh, giáo viên chọnlọc những câu hỏi, câu gợi mở sao cho phù hợp với từng đối tượng học sinh đểcác em phát huy hết khả năng giao tiếp của bản thân trong phần luyện nói củatiết học môn Học Vần (tập đọc) và các môn khác trong chương trình

Phương pháp 2: Phương pháp phân tích - tổng hợp

- Qua những ghi chép cá nhân của giáo viên và những số liệu thống kê, giáoviên xử lý những thông tin ấy bằng cách phân tích, tổng hợp những mẫu lời nóithu thập được từ phía học sinh Từ đó có thể có sự đánh giá sát thực hơn về tìnhtrạng học sinh

- Biện pháp thực hiện:

Giáo viên tiến hành phân nhóm đối tượng học sinh theo các nhóm sau:

a Nhóm học sinh có lời nói lưu loát, mạch lạc Biết thể hiện lời nói biểu cảmtrong giao tiếp Đây chính là những nhóm trưởng, những người dẫn chươngtrình trong các giờ luyện nói trên lớp, những nhân vật nòng cốt trong các tiểuphẩm của các tiết Tiếng Việt mà học sinh tham gia rèn luyện kĩ năng nói trênlớp

b Nhóm học sinh có lời nói tương đối trôi chảy, rõ ràng tuy nhiên chưa thể hiệnđược lời nói biểu cảm trong giao tiếp một cách rõ nét

c Nhóm học sinh ngại giao tiếp, khả năng giao tiếp kém, hầu như không biết sửdụng lời nói biểu cảm trong giao tiếp

- Sau khi phân tích đặc điểm cũng như khả năng giao tiếp của từng học sinhtrong lớp, giáo viên tiến hành sắp xếp chỗ ngồi cho học sinh sao cho phân bốđều khắp 3 đối tượng học sinh nêu trên trong các tổ, các nhóm

- Ưu điểm của biện pháp này là: Sự tương trợ lẫn nhau trong quá trình học tậpcủa học sinh là việc làm hết sức bổ ích và mang tính khả quan Như ta từng nói:

“Học thầy không tày học bạn’

- Sự phấn khích trong quá trình học tập, đua thầy, đua bạn sẽ giúp trẻ mạnh dạnnăng động hơn rất nhiều trong quá trình rèn nói

- Sự cổ vũ động viên của các bạn trong nhóm, trong tổ sẽ giúp trẻ tự tin hơntrước lời phát biểu của mình

Trang 8

Phương pháp 3: Phương pháp thực hành luyện tập:

- Với phương pháp này, học sinh thường xuyên được thực hành luyện tập “nói”trong tất cả các tiết học Học Vần và tập đọc Chính vì vậy khả năng giao tiếp củacác em càng ngày càng được hoàn thiện Việc “nói” sao cho trôi chảy, mạch lạc,lời văn thể hiện biểu cảm rõ ràng, từ đó giáo viên đánh giá một cách chính xáckhả năng học tập của học sinh

* Biện pháp thực hiện:

1 Sử dụng trực quan (tranh minh họa, mẫu phát ngôn)

- Phương pháp sử dụng trực quan này giáo viên là người hướng dẫn học sinhquan sát tranh minh hoạ, đọc phát ngôn Từ đó, học sinh hiểu được nội dungluyện nói và thực hiện tạo lập lời nói Ngoài ra, từ mẫu quan sát đó, giáo viên cóthể đặt những câu hỏi gợi ý xung quanh đề tài, từ gợi ý phát ngôn mẫu để hướnghọc sinh thực hành

- Tôi thường nghiên cứu kỹ bài dạy – xác định những kiến thức cần cung cấptrong bài luyện nói – liên hệ để vận dụng cách tạo tiếng, tạo câu có âm, có vầnmới học nhằm tận dụng tối đa dụng ý bài luyện nói

Cụ thể ở giai đoạn đầu (10 tuần đầu) Khi dạy phần luyện nói tôi thường đặt câuhỏi để hướng dẫn học sinh nói theo các khía cạnh của chủ đề nhằm mở rộng nộidung luyện nói ( Với mỗi khía cạnh của chủ đề tôi có thể xây dựng 1, 2 câu hỏi)

* Giúp học sinh chuyển tải kênh hình sang kênh tiếng một cách linh hoạt – cụthể mà vẫn đảm bảo nội dung theo chủ đề

Ví dụ: ở bài: âm g, gh

Chủ đề luyện nói: Nhà bà có tủ gỗ – ghế gỗ Yêu cầu học sinh quan sáttranh – đặt câu hỏi phát vấn để nhận ra đồ đạc trong nhà bà có tủ gỗ – ghế gỗ

Qua đó rút ra quy tắc chính tả: viết gh với e, ê, i

* Giúp học sinh phân biệt để diễn đạt đúng các khái niện ban đầu về: Từ, câu,dấu chấm, dấu phẩy trong câu

Trang 9

Ví dụ: Tiếng sách – từ quyển sách – câu: Đây là quyển sách của em

Hoặc: Dì Na đi đò, bé và mẹ đi chợ

Yêu cầu : Học sinh đọc thành câu rõ tiếng Khi đọc câu hoặc trả lời cần nghỉ hơi

ở dấu phẩy, dấu chấm

* Có yêu cầu tăng dần đối với kỹ năng diễn đạt của trẻ theo thời gian và dunglượng bài học:

Ví dụ: Để có sách vở đẹp, không quăn góc chúng ta phải làm gỉ?

* Trong khi dạy tôi thường xuyên sử dụng đồ dùng trực quan và kết hợplinh hoạt các phương pháp dạy học nhằm giúp học sinh có hứng thú và tiếp thubài theo hướng tích cực nhất

Ví dụ: Tận dụng mô hình, tranh ảnh vẽ, sưu tầm… Để học sinh quan sát – thôngqua hiệu ứng quan sát tranh, trẻ sẽ diễn đạt đúng và phong phú hơn

* Cụ thể tôi phát huy trí tưởng tượng và óc sáng tạo trong loại bài quan sát tranh nói về chủ đề :

Ví dụ 1: Học vần lớp 1 (tập 1) ở bài 49, luyện nghe – nói về chủ đề « Biển cả »

Trang 10

1 Tranh vẽ cảnh gì ? (Tranh vẽ cảnh biển cả)

2 Cái gì đang lướt trên mặt biển ? (Những con thuyền đang lướt trên mặt biển)

3 Những con chim gì đang bay trên biển? (Những con chim Hải Âu đang bay trên biển

4 Sóng biển di chuyển nhanh hay chậm, có thành từng đợt sóng hay không ? (Sóng biển di chuyển nhanh, thành từng đợt sóng mạnh vào bờ)

5.Quan sát sóng biển, em thấy gió trên biển thổi mạnh hay yếu?

( Gió biển thổi mạnh )

* Câu hỏi mở rộng:

1 Nước biển mặn hay ngọt? (Nước biển mặn)

2 Người ta dùng nước biển để làm gì? (Người ta dùng nước biển để làm muốiăn)

3 Khoảng đất đá nổi lên ở giữa biển gọi là gì? (Khoảng đất đá nổi lên giữa biểngọi là đảo)

4 Con có thích biển không? (Con rất thích biển)

5 Con được bố mẹ cho đi tắm biển lần nào chưa ? Ở đấy con làm gì ?

( Con được bố mẹ cho đi tắm biển hè năm ngoái Ở đấy con được tắm, đượcnghịch cát, bắt con dã tràng trên bãi biển…)

Ví dụ 2: Khi dạy bài 66 luyện nói theo chủ đề: Ong, bướm, chim, cá cảnh

HS đã tự đặt câu hỏi, yêu cầu bạn trả lời:

1 Bạn cho biết tranh vẽ những gì ?

2 Con chim sâu có ích lợi gì bạn có biết không ?

3 Theo bạn, con bướm thích gì ?

4 Bạn biết những loại chim nào ?

Trang 11

5 Trong các con vật: ong, bướm, chim, con cá cảnh Bạn thích nhất con vậtnào ? Vì sao?

6 Nhà bạn nuôi những con gì ? …

* Nâng cao: “ Thi nói về những con vật mà mình thích”

Cách chơi: Gọi 6 học sinh chia thành 2 đội Học sinh sẽ tự thảo luận với nhau.

Sau đó mỗi đội sẽ phải nói khoảng 3- 5 câu văn về một con vật mà nhóm mìnhyêu thích

Đội nào nói năng lưu loát, rõ ràng, có nội dung logic, có hình ảnh và đúng ngữpháp thì đội đó thắng

Khi yêu cầu học sinh trả lời bao giờ tôi cũng hết sức chú trọng rèn luyện cho trẻcách trả lời đầy đủ cả câu (như đã thể hiện ở trên) chứ không cho phép trẻ trả lờicộc

- Trong quá trình dạy tôi luôn xoáy vào 3 tiêu chí trên để xây dựng nền tảng giúp các em thực hiện tốt phần luyện nói qua đó phát triển ngôn ngữ mạch lạc cho trẻ Tôi sử dụng phương pháp trực quan giúp trẻ hiểu nghĩa của từ một cách nhanh chóng và nhớ lâu

Ví dụ 1: Bài 68 có từ “chẻ lạt” cần giải thích GV giúp HS hiểu được nghĩa của từ này nếu tôi dạy chay chỉ dùng ngôn ngữ để giải thích thì học sinh

sẽ không hiểu được mà tôi phải đưa ra cho các em xem những chiếc lạt bằng tre(giang) cho học sinh quan sát Sau đó tôi lại đưa cho các em xem một thanh tre tươi và nói “Từ những thanh tre như thế này người ta chẻ (tôi làm động tác) thành những sợi mỏng dùng để buộc =>“chẻ lạt”

Ví dụ 2: Để học sinh hiểu khi nào dùng từ “trông” khi nào dùng từ “trôngthấy” Tôi phải đưa ra 2 bức tranh :

Tranh 1: Vẽ hình ảnh bà đang chơi đồ chơi với bé

Tranh 2: Vẽ hình ảnh bà đang nhìn ra xa ở đó có một đoàn tàu

Rồi tôi yêu cầu học sinh điền từ vào chỗ ….trong câu :

Bà ……cháu => Bà trông cháu

Bà … đoàn tàu => Bà trông thấy đoàn tàu

- Tóm lại : Để học sinh hiểu được nghĩa từ, dùng từ chính xác cũng như sử dụng

từ để nói thành câu, tôi phải kết hợp nhiều yếu tố như lời nói, thao tác, nét mặt,

đồ dùng trực quan … ….)

- Ví dụ khi dạy bài 81: Vần "ach" Sách Tiếng Việt tập 1 –lớp 1

Giúp học sinh luyện nói theo chủ đề:

Giữ gìn sách vở – Giáo viên tiến hành theo gợi ý:

Ngày đăng: 27/11/2021, 02:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w