Chương 14 - CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ CHÍNH TRỊ Will Rogers cho rằng khi mà mọi người dân đều chưa ý thức được một cách đầy đủ về vai trò, chức năng, sự cần thiết của hoạt động ngân hàng đối
Trang 1Chương 14 - CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ CHÍNH TRỊ
Will Rogers cho rằng khi mà mọi người dân đều chưa ý thức được một cách đầy đủ về vai trò, chức năng, sự cần thiết của hoạt động ngân hàng đối với đời sống kinh tế và tương lai tăng trưởng của đất nước thì cho đến lúc đó, hoạt động ngân hàng và NHTW vẫn có thể chưa phát huy hết một cách đúng nghĩa trách nhiệm và quyền hạn của nó Bởi lẽ, sẽ tồn tại áp lực
từ nhiều phía của các thế lực chính trị khác nhau chi phối mọi quyết định của NHTW Trong trường hợp này, đường lối chính trị và quan điểm của nhà cầm quyền chỉ đạo phần lớn chính sách tiền tệ của hoạt động ngân hàng
Bản thân việc chính trị chỉ đạo đường lối hoạt động ngân hàng (nói vắn tắt là NHTW) không phải là điều dở Trong lúc nền kinh tế cần sự tập trung tối đa mọi nguồn lực và tài chính cho những mục tiêu phát triển dài hạn, thì sự phân tán về chủ trương sẽ rất dễ tạo ra những tổn thất nặng nề về tài nguyên Vào những trường hợp như vậy, tính áp đặt của chính trị lên trên hoạt động của NHTW phần lớn là cần thiết và tỏ ra hiệu quả, như ở Hàn Quốc vào thời Pắc Chung Hy, Singapore thời Lý Quang Diệu, Đài Loan thời Tưởng Giới Thạch… Sự chỉ đạo thống nhất của chính phủ đối với NHTW cũng đã từng tồn tại ở Nhật nhiều thập niên, trong thời kỳ khôi phục và phát triển kinh tế cao tốc của đất nước này
Mâu thuẫn và những ý kiến ngược lại nằm ở tính hai mặt của sự kiện Mặt thứ nhất của vấn đề chính trị chỉ đạo hoạt động ngân hàng là những thành công trong việc huy động mọi sức người, sức của cho những giai đoạn tăng trưởng chiến lược mà chúng ta vừa nêu Bên cạnh đó, mặt thứ hai, một tình trạng hoàn toàn có thực, là khi chính trị chỉ huy NHTW, chính sách tiền tệ trở thành công cụ của chính trị Cho rằng có đến 6/10 trường hợp công cụ được vận dụng một cách hợp lý, thì vẫn không loại trừ rằng hoàn toàn có khả năng xảy ra những tình huống có những quyết định không chính xác được đưa ra từ phía chính quyền Một trong những khả năng ấy là khi ngân sách thâm hụt, chính phủ có thể ra lệnh in tiền quá giới hạn,
mà hậu quả của nó là làm đời sống của toàn bộ nhân dân bị ảnh hưởng vì lạm phát, đặc biệt là nhân dân nghèo
Vì ngân sách thâm hụt là vấn đề khá thường xuyên và phổ biến cho mọi chính quyền, phổ biến đến mức việc in tiền quá giới hạn hàng năm khi NHTW do chính phủ chỉ đạo, là điều đã từng xảy ra ở nhiều nơi và nhiều lần như Bôlivia, Brazil, Argentina và Mêhicô Từ đầu thế kỷ XX, khi NHTW chưa có tên gọi, ở những nước phát triển trước, người ta đã tích lũy quá nhiều kinh nghiệm như thế Do vậy, Tây Âu và Bắc Mỹ sau năm 1945 đã tìm cách tách hoạt động của NHTW ra khỏi ảnh hưởng của chính trị, với ý nghĩ là ngân hàng không lệ thuộc một chiều, và hoàn toàn bị động trước áp lực của chính quyền hay nói một cách khác, ngân hàng có vai trò độc lập tương đối của nó
Nỗ lực ấy cho đến nay, chưa phải đã chấm dứt, vì hiện nay ngay cả ở châu Âu, các nước trong OECD, nhiều chính quyền vẫn còn tìm cách chi phối theo hướng này hay hướng khác đến hoạt động của NHTW, bởi lý do đơn giản, NHTW là cơ quan tối cao về mọi hoạt động tài chính - kinh tế Chính phủ nào cũng phải cần tài chính để tồn tại, hoạt động và thực hiện đường lối của mình Hơn nữa, nắm được NHTW có nghĩa là gián tiếp nắm được cả sự vận động của nền kinh tế
Do vậy, chính trị tác động đến NHTW và chính sách tiền tệ gần như đang tồn tại ở khắp các quốc gia Sự khác nhau nằm ở chỗ trực tiếp hay gián tiếp, cường độ và ảnh hưởng nhiều hay ít Những phần sau đây sẽ cung ứng cho chúng ta các ảnh hưởng của chính trị đến NHTW và hoạt động ngân hàng, hệ quả của những ảnh hưởng này đến đời sống xã hội
14.1 CHU KỲ CHÍNH TRỊ VÀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ
Nhật Bản, Hoa Kỳ, Cộng hòa Liên bang Đức và Thụy Sĩ là 4 nước trong khối OECD có hoạt động của NHTW đạt được mức độ độc lập tương đối cao so với chính trị và nhà nước tư sản trung ương Người ta cho rằng ở đó, các NHTW chỉ lắng nghe những đề nghị hoặc ý kiến
Trang 2Trong những hoạt động hàng ngày như nghiệp vụ thị trường mở, gia giảm cung ứng tiền, tác động vào tỷ giá, lãi suất, dự trữ… hầu như Quốc hội và Chính phủ không can thiệp
và không có quyền can thiệp đến Bởi lẽ, theo luật định thì chương trình và kế hoạch tác nghiệp trong chính sách tiền tệ đã được báo cáo và được Quốc hội duyệt và thông qua hàng năm vào những khóa họp định kỳ Một khi chương trình đã được chấp thuận, NHTW cứ theo mục tiêu đó mà làm, thành bại thế nào đến kỳ họp năm sau, Quốc hội sẽ truy cứu, chất vấn hoặc bãi miễn Còn trong quá trình tác nghiệp, cả Chính phủ và Quốc hội chỉ duy nhất có một quyền là theo dõi, chứ không được xen vào quyết định hàng ngày, hàng tháng của NHTW
Vì thế, trong những điều kiện bình thường, Quốc hội và Chính phủ các nước nói trên thường là tìm cách thuyết phục hoặc khuyến cáo NHTW cẩn thận trong hoạt động, kể cả cố gắng giữ chính sách tiền tệ vận động hài hòa và không quá xung đột với chính sách tài chính của Chính phủ Trong thực tế, những thuyết phục, khuyến cáo và đôi khi cả tranh cãi đã có những tác động nhất định đến chính sách của NHTW Đặc biệt, các nhà chính trị đương quyền
ở các nước nói trên luôn luôn quan tâm đến những kỳ bầu cử Họ thường tìm cách thỏa mãn
cử tri trong mùa bầu cử Chính sách tài chính của chính phủ thường hướng về phục vụ những mục tiêu này Cử tri thì quan tâm đến thu nhập khi họ quyết định việc bỏ phiếu cho ai
Trong khi lạm phát và thất nghiệp là 2 cực của một vấn đề, thì các chính phủ không thể đồng thời thỏa mãn cho nhân dân cả hai yêu cầu Cử tri thích lạm phát thấp, bởi lẽ lạm phát thấp làm cho tiền lương nói riêng, thu nhập nói chung được bảo đảm về mặt giá trị Đời sống họ ổn định và tốt hơn Tuy nhiên, họ cũng hiểu rằng thất nghiệp còn đáng sợ hơn vì thất nghiệp không thể có thu nhập mà tính đến lạm phát cao hay thấp Đó là chưa nói đến việc thất nghiệp kéo dài làm cho con người mòn mỏi, thui chột đi cả về thể xác, đầu óc, tinh thần Do
đó, nhân dân coi trọng công ăn việc làm hơn, coi thất nghiệp là kẻ thù của họ Một điều dễ hiểu khác là khi lạm phát dao động tăng, nó thường báo hiệu sự mở rộng tổng cầu và tiếp theo
đó là sản lượng Và sự kiện đó có nghĩa là có thêm nhiều công ăn việc làm, thu nhập tốt hơn Nếu phải chọn giữa lạm phát và thất nghiệp, nhân dân sẽ chọn cách sống với lạm phát hơn là thất nghiệp
Hệ quả tương đương là chính quyền tại các nước nói trên quan tâm đến việc mở rộng sản lượng, chống thất nghiệp để làm hài lòng cử tri trước ngày họ đi bầu Do thấy rõ mặt thứ hai của chính sách tài chính nới lỏng để kích thích sản xuất sẽ là lạm phát, cho nên sau khi bầu cử xong, họ luôn quay sang làm lạnh trở lại nền kinh tế Thái độ trái ngược nhau trước và sau ngày bầu cử tổng thống hoặc thủ tướng, được châu Âu đặt tên là “Chu kỳ chính trị kinh doanh (Political business cycle)”
Biểu đồ 14.1 minh họa tình hình nói trên tại Hoa Kỳ từ năm 1960 đến năm 1992 Chỉ
số thất nghiệp luôn luôn tăng lên sau bầu cử vì chính sách quay sang thắt chặt hầu bao kinh tế
để chống lạm phát của những tổng thống đã đắc cử Ngược lại, trước và trong mùa bầu cử, nếu thất nghiệp thấp, chắc chắn đảng cầm quyền sẽ tiếp tục thắng cử Nếu thất nghiệp cao, hầu như thất bại là điều không thể tránh khỏi
Trang 3Biểu đồ 14.1: Chu kỳ chính trị kinh doanh tại Hoa Kỳ 1960-1996
Nguồn: Garry Smith - P.389 and BIS - 65 Th Annual report
Published by the Bank - April 1995 - P 12-29
Không nhiều thì ít, chính sách tiền tệ cũng bị lôi cuốn phần nào vào vòng xoáy của chu kỳ Khi các tổng thống hoặc thủ tướng đương nhiệm cắt giảm thuế, gia tăng chi tiêu trong khu vực chính phủ nhằm kích thích tổng cầu để thúc đẩy sự mở rộng sản xuất, cố gắng hạ tỷ
lệ thất nghiệp từ 9 tháng trước ngày bầu cử, lúc đó, sức ép yêu cầu bành trướng tiền tệ về phía NHTW sẽ tăng lên một cách mạnh mẽ NHTW sẽ có 1 trong hai lựa chọn: (1) Ngả theo chính phủ, tăng cung ứng tiền để kích thích tổng cầu và sản lượng, chấp nhận lạm phát Ưu tiên cho việc giải quyết thất nghiệp Những NHTW nào bị chính phủ chi phối hoặc nằm dưới sự quản trị của chính phủ, dễ dàng đi theo con đường này (2) Kiên định với chính sách tiền tệ đang theo đuổi của mình Bỏ ngoài tai mọi áp lực và chỉ trích của chính quyền
Chỉ những NHTW thực sự giữ vai trò độc lập tương đối mới làm nổi điều thứ 2 Điều
đó cho phép nó không ngả theo chính quyền, mà thực hiện những công việc có thể bất thường dưới mắt nhiều người, nhất là các chính khách, nhưng rất cần thiết cho sự ổn định và phát triển của nền kinh tế về lâu dài Chính phủ các nước nói trên trong những ngày bầu cử chỉ thấy mục tiêu giảm thất nghiệp là lớn nhất, bởi nó hỗ trợ cho họ khả năng đắc cử trở lại Nhưng NHTW có thể nhận thức hoàn toàn khác, với cái nhìn lâu dài và không đắm vào các mục tiêu giai đoạn như chính phủ Đối với nó, bành trướng tiền tệ có thể là nguy hại cho nền kinh tế trong tương lai Năm 1980, Jimmy Carter của Hoa Kỳ thất cử bởi vì mâu thuẫn với Chủ tịch hội đồng thống đốc Hệ thống dự trữ Liên bang Hoa Kỳ về quan điểm Trong lúc ông
ta giảm thuế, tăng chỉ tiêu để chống thất nghiệp, NHTW Hoa Kỳ lại siết chặt tiền tệ để chống lạm phát Hệ quả là thất nghiệp tăng ngay vào mùa bầu cử, đẩy lùi độ tín nhiệm của cử tri vào đảng của ông ta, và Ronald Reagan vào Nhà Trắng
Thống đốc các NHTW Hoa Kỳ, Nhật Bản, Đức và Thụy Sĩ không phải do dân cử mà
do tổng thống hoặc thủ tướng bổ nhiệm nhưng họ lại chịu trách nhiệm trực tiếp với Quốc hội
Họ không cần phải hướng tới việc mua lòng cử tri trong chính sách của mình Nhiệm kỳ của thống đốc như ở Mỹ là 14 năm, trong khi tổng thống chỉ có thể ở tối đa trong Nhà Trắng 2 nhiệm kỳ là 8 năm Cho nên, khi đã được bổ nhiệm, thống đốc không còn ngại gì Nhà Trắng
Ai sẽ lên thay thế tổng thống cũ là điều không có vai trò quyết định với họ Luật lệ còn ràng buộc rằng việc bổ nhiệm thống đốc mới phải nằm vào giữa nhiệm kỳ của tổng thống đương nhiệm Và tổng thống chỉ có quyền bổ nhiệm hoặc từ chối bổ nhiệm một người đã được Quốc
Trang 4Khi NHTW thắt chặt cung ứng tiền, lãi suất lập tức vọt lên ngay Đơn cử một thí dụ như năm 1991, chính phủ Hoa Kỳ nợ cả thảy hơn 4.000 tỷ USD, trong đó, nợ dưới hình thức chứng khoán của chính quyền là 3.600 tỷ USD Với lượng chứng khoán này, trong năm, chính quyền các bang và liên bang phải trả hơn 196 tỷ USD tiền lãi cho nhân dân Mỹ Chính sách tiền tệ chỉ cần làm lãi suất tăng thêm 1% thôi, cũng đã làm chính phủ phải trả thêm (3.600 tỷ USD x 0,01 =) 36 tỷ USD
Chính phủ có muốn những khoản trả thêm này phát sinh không? Dĩ nhiên là không
Do vậy, chính phủ không muốn nâng lãi suất lên mặc dù cũng lo ngại về lạm phát Đây là một trong những lý do khiến họ luôn luôn tìm cách gây ảnh hưởng đến quyết định và hoạt động của NHTW
Thứ hai, ngân sách của chính phủ phụ thuộc vào tiền thuế thu được từ sản xuất Khi chính sách tiền tệ tác động đến sản lượng và thu nhập, nó gián tiếp làm thay đổi tình hình thu ngân sách Sản lượng và thu nhập càng lên cao, nguồn thu của ngân sách càng lớn và các khoản phải trợ cấp giảm đi Ngược lại, kinh tế càng kém tăng trưởng, thuế thu ít hơn hẳn và ngân sách phải tốn nhiều tiền hơn cho trợ cấp thất nghiệp và các khoản trợ cấp xã hội khác Khi thu nhập và sản lượng bành trướng, thâm hụt ngân sách giảm rõ rệt Tương tự, khi kinh tế trì trệ vì chính sách thắt chặt tiền tệ, ngân sách thâm hụt nặng nề vì cả 3 lý do: (1) Thuế thu được ít hơn, (2) Phải trợ cấp nhiều hơn và (3) Phải trả tiền lãi lớn hơn cho công trái vì lãi suất lên cao
Rõ ràng, chính phủ các nước công nghiệp không thích việc thắt chặt cung ứng tiền mỗi khi ngân sách có khó khăn Nếu không đủ cách để tạo áp lực trực tiếp với NHTW, họ tìm cách đưa vấn đề ra trước quốc hội mỗi khi mâu thuẫn bắt đầu Và vì quyền độc lập của NHTW do quốc hội trao cho, quốc hội cũng có thể quyết định lấy đi tính độc lập này Do vậy, mỗi khi quốc hội ủng hộ lập trường của thủ tướng hoặc tổng thống, thống đốc NHTW buộc phải nhượng bộ
Nhiều khi chính sách tiền tệ còn phải điều chỉnh theo những mục tiêu quan hệ quốc tế của chính quyền Các nước công nghiệp lớn ngày nay như Mỹ, Nhật, Đức, Pháp và Anh hiểu rất rõ sự chi phối lẫn nhau trong việc thiết kế chính sách tiền tệ và chính trị Một NHTW đơn phương thắt chặt cung ứng tiền, nâng lãi suất, tăng giá đồng tiền của mình, sẽ không thể duy trì chính sách ấy được lâu, nếu các NHTW những nước còn lại - những nước mà tiềm lực kinh
tế xấp xỉ hoặc không thua quá xa - cùng phản ứng bằng cách tập trung thắt chặt cung ứng tiền theo để chống sự xuất khẩu lạm phát Việc nâng cao lãi suất của các nước còn lại sẽ làm cho cung ứng tiền của nước đầu tiên khó mà thu hẹp như ý định
Do quan hệ tương hỗ giữa các nền kinh tế lớn với nhau như vây, nên chính sách của NHTW không thể không bị chi phối bởi thời tiết chính trị và quan hệ quốc tế cho dù nó độc lập tới đâu về mặt tác nghiệp Thí dụ như khủng hoảng vịnh Péc Xích 1989 - 1991 đã tạo cho
Trang 5những nguồn tài chính khổng lồ từ Trung Đông tìm đường lánh nạn chảy vào nước Mỹ, làm USD lên giá ngoài dự kiến trong chính sách tiền tệ của NHTW Hoa Kỳ
14.2.2 Các hình thức tác động của chính trị
Để giúp bạn đọc cùng thâm nhập dễ dàng vào thế giới của mối quan hệ độc lập, có sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa chính trị và chính sách tiền tệ cùng các hệ quả của nó, chúng tôi lấy thí dụ về mối quan hệ này tại một nước phát triển mà hoạt động tác nghiệp của NHTW có thể được xem là độc lập nhất, hoàn thiện cũng vào loại hàng đầu trên thế giới hiện nay là Hoa Kỳ
Thế giới tồn tại những xu thế chung mà hầu hết các quốc gia trên đường phát triển đều phải đi qua Có rất nhiều dấu hiệu để chứng tỏ rằng lề lối tổ chức và hoạt động của NHTW Hoa Kỳ (Fed) từ đầu thế kỷ là phần lớn được học tập từ mô hình nước Anh Giống như Ngân hàng Nhật Bản từng được tổ chức theo phương thức của Reich Bank và Hà Lan Nhưng đến lượt họ, song song với quá trình phát triển nhanh về kinh tế, NHTW được liên tục hoàn thiện Ngân hàng Nhật trở thành hình mẫu cho nhiều nước trong đó có Hàn Quốc Fed của Hoa Kỳ được các quốc gia như Nam Phi, New Zealand, Salvador, Peru, Israel… mô phỏng
Mọi loại tri thức, trong đó có tri thức về hoạt động ngân hàng không từ trên trời rơi xuống cho bất kỳ nước nào, mà chỉ có thể sản sinh bởi việc học tập những tri thức đã được người khác, nước khác đúc kết, rồi dần dần bồi bổ thêm trong quá trình phát triển tự thân Do
đó, những nước đang phát triển như Việt Nam cần học tập một cách có chọn lọc và với tinh thần phê phán những gì đã đúc kết sẵn từ các nước Và đương nhiên, chúng ta phải chọn những mô hình được xem là tốt nhất, là hàng đầu hiện nay
Đó là lý do chúng tôi phân tích quan hệ giữa chính trị và chính sách tiền tệ dựa trên minh họa về tình hình và kinh nghiệm Hoa Kỳ Chúng ta sẽ thấy rằng, để hoạt động của Fed
có một ranh giới xác định với chính trị như hiện nay (kể cả những quan hệ tế nhị của nó), nó
đã thực sự trải qua nhiều mâu thuẫn, xung đột, và sửa đổi liên tục theo nhu cầu của nền kinh
tế cùng với những thay đổi về hoàn cảnh Cũng chính vì điều này, kinh nghiệm đã qua của nó
là điều cần nghiên cứu cho tất cả mọi ngân hàng và những ai quan tâm
Giữa chiến tranh thế giới thứ hai, cũng như chiến tranh thế giới thứ nhất, Fed của Hoa
Kỳ lệ thuộc khá nặng vào chính sách của chính phủ mà kho bạc là đại diện Kho bạc yêu cầu Fed phải giữ lãi suất thấp để tối thiểu hóa tiền lãi mà chính phủ phải trả cho công trái từ mục tiêu phục vụ chiến tranh
Giá cả lên 25% giữa thời kỳ 1941 - 1945 bởi chính sách nới lỏng cung ứng tiền của Fed mặc dù nó đã được kiểm soát khá cứng rắn Cuối năm 1945, chiến tranh kết thức, nhưng kho bạc vẫn tiếp tục gây áp lực và yêu cầu Fed phải giữ lãi suất thấp Quốc hội Hoa Kỳ bị thuyết phục rằng nếu để lãi suất lên cao, thứ nhất, ngân sách phải gánh những khoản trả lãi khổng lồ từ công trái mỗi năm Bởi nợ của chính quyền Liên bang đã tăng từ mức 38 tỷ USD năm 1938 lên đến 279 tỷ USD năm 1945 hay hơn 7 lần chỉ trong 6 năm chiến tranh Thứ hai, lãi suất cao sẽ làm giá trái phiếu hạ, gây thiệt hại cho những công dân đã mua công trái để ủng
hộ chính quyền Do đó, Quốc hội Hoa Kỳ quay sang ủng hộ kho bạc Fed bị bó buộc phải tăng cung ứng tiền, hạ giá USD và giữ lãi suất thấp cho đến năm 1951
Lãi suất thấp từ năm 1942 qua 1945 đến 1951 đã làm cho nhân dân Mỹ dần dần rút bớt tiền ngân hàng ra mua hàng hóa, nhà cửa, bất động sản bởi lạm phát giá cả đã lên cao hơn lãi suất danh nghĩa Họ nhanh chóng bán trái phiếu ra để mua tài sản khác Giá nhà cửa và một vài loại hàng hóa khác tăng lên 50% trong vòng từ năm 1945 đến 1948 Fed ý thức được hiện tượng sắp bùng ra của lạm phát, cố gắng thuyết phục quốc hội cho nâng lãi suất vào năm
1948 Nỗ lực này tiếp tục bất thành Chính sách tiền tệ tiếp tục phụ thuộc vào Nhà Trắng và kho bạc
Tháng 6/1950, chiến tranh tại Hàn Quốc bùng nổ Lạm phát lên 23% trong tháng 8/1950 Chờ cho đến khi cả kho bạc và quốc hội nhận ra nguy hiểm của lạm phát, Fed mới được phép đưa lãi suất lên Cuối năm 1950, tất cả mọi công cụ chính sách tiền tệ của nó đều
Trang 6Kho bạc vẫn tiếp tục khó chịu, và thực sự Fed đã phải hành động một cách thận trọng trước cặp mắt cú vọ của kho bạc trong những năm đầu thập niên 50 William McChesney Martin - người vừa là Chủ tịch Ban Thống đốc và cũng từng là phát ngôn viên của Fed trong suốt 20 năm (1950 - 1970) là người thiết kế chính sách tiền tệ cẩn thận nhưng cứng rắn
“Chính sách hỗ trợ tiền kho bạc” được Fed bãi bỏ dần dần, nâng lãi suất dài hạn để kích thích
mở rộng đầu tư
Năm 1960, J.F Kennedy thay Eisenhower, dứt khoát cắt giảm thuế để bắt đầu chương trình kích thích kinh tế tăng trưởng Fed ủng hộ kế hoạch này và bắt đầu nới lỏng cung ứng tiền Giữa lúc Kennedy sắp đi đến quyết định thôi can thiệp vào Đông Dương để giảm chi phí chiến tranh, hỗ trợ cho việc giảm thuế thì phe diều hâu thắng thế, Kennedy bị ám sát Fed, do không muốn ở vào thế đối kháng với tổng thống nên đã tiếp tục bành trướng tiền tệ trong giai đoạn của Johnson Lạm phát vọt lên 4,7% năm 1968, và 6,1% năm 1969 Cuối năm 1969, Fed phải chuyển sang thắt chặt cung ứng tiền
Chính sách thắt chặt kéo dài cho đến năm 1972 Năm 1970, Arthur Burns thay thế William McChesney Martin làm Chủ tịch Ban thống đốc Bị Nhà Trắng thuyết phục, cuối năm 1971, Arthur Burns nới lỏng cung ứng tiền để hỗ trợ cho Richard Nixon Năm 1973, khủng hoảng giá dầu lần thứ nhất đã làm tăng chi phí, đẩy lạm phát lên 12,2% năm 1974 Fed chuyển sang thắt chặt cung ứng tiền Năm 1975, lạm phát còn 7,0% Mặc dù Gerald Ford tìm mọi cách để thuyết phục Burns nới lỏng cung ứng tiền để phục vụ cho đợt bầu cử năm 1975, nhưng Fed chỉ miễn cưỡng nới lỏng một ít cung ứng tiền
Nhưng Jimmy Carter đắc cử, chương trình hành động thống nhất giữa Nhà Trắng và Fed trong việc chống thất nghiệp được thỏa thuận Fed tăng cường vận tốc cung ứng M1, hạ lãi suất chiết khấu và dự trữ bắt buộc Nền kinh tế nước Mỹ phục hồi trong 2 năm 1977 -
1978 Tuy nhiên, tổng cầu tăng nhanh cộng hưởng với con sốc dầu lửa lần thứ hai vào tháng 8 năm 1978 đẩy lạm phát nước Mỹ lên 9% năm 1978, và 11,3% năm 1979 Một cách miễn cưỡng, Carter phải để cho Fed quay sang thắt chặt tiền tệ Năm 1980, suy thoái bắt đầu Kết quả là Carter thất cử và Ronald Reagan vào Nhà Trắng năm 1981
Paul A.Volcker thay William G.Miller làm Chủ tịch Ban thống đốc ngày 6 tháng 8 năm 1979, chuyển mục tiêu điều tiết trung hạn từ lãi suất chiết khấu sang “dự trữ không vay mượn” để thay đổi cung ứng tiền và chống lạm phát Volcker thắt chặt tiền tệ từ 1981 cho đến
1983 mặc dù Reagan thay đổi chính sách, chấp nhận thâm hụt, gia tăng chi tiêu để kích thích kinh tế Năm 1984, Nhà Trắng tạo mọi áp lực để Fed nới lỏng cung ứng tiền ngay giữa lúc nó đang nâng giá USD nhằm điều chỉnh cán cân thanh toán tổng thể Sau nhiều tranh cãi, cuối năm 1984, Volcker đành phải nới lỏng dần cung ứng tiền Năm 1985, thất nghiệp giảm, Ronald Reagan tái đắc cử tổng thống, nhưng cung ứng tiền tăng đã làm cho giá USD lên tới đỉnh cao nhất, trong vòng 16 năm, về giá trị so với các ngoại tệ mạnh khác, giảm xuống hơn 35% giá trị vào đầu 1986
Trang 70 2 4 6 8 10 12 14
Nguồn: John P.Frendreis and Raymond Tatalovich - The Modern Presidency and Economic
Policy F.E.Peacock Publishers, Inc Itasca, Illinois - USA, 1994 - P 189
Năm 1988, tăng trưởng kinh tế và thất nghiệp thấp tiếp tục giúp Đảng Cộng hòa thắng thế và George Bush thay Reagan làm tổng thống Trong 3 năm đầu 1988 - 1989 và 1990, Fed được tự do hành động và với bản chất cố hữu, luôn luôn quan tâm đặc biệt đến lạm phát Alan Greenspan - người thay Volcker làm Chủ tịch Ban thống đốc Fed ngày 11 tháng 8 năm 1987 tiếp tục trở lại thắt chặt cung ứng tiền đầu năm 1989 khi OPEC quyết định nâng giá dầu Lạm phát dao động ở mức dưới 6%, và thất nghiệp vẫn tiếp tục ở mức thấp cho đến năm 1990 một phần nhờ vào dư hưởng của đợt bành trướng kinh tế 4 năm sau của triều đại Reagan, phần nữa, nhờ vào các luồng tài chính từ Trung Đông đổ vào đầu tư sau khi Irắc đưa quân vào Cô oét và chiến tranh vịnh Persian xảy ra Năm 1991, thất nghiệp vọt lên hơn 6% giữa lúc bầu cử đang gần kề vì sự thắt chặt tiền của Fed
Mùa xuân năm 1991, Bush gây áp lực, yêu cầu Fed nới lỏng cung ứng tiền bằng cách đặt ra một số dấu hỏi và chần chừ không chịu bổ nhiệm Alan Greenspan trở lại làm Chủ tịch Ban thống đốc Đến tháng 7 sau khi Greenspan được bổ nhiệm xong thì tháng 8, Quốc hội mà Đảng Cộng hòa của George Bush chiếm đa số, lại hỗ trợ Bush, ra sức thuyết phục Fed nới lỏng tiền tệ bằng cách đe dọa sẽ có thể cách chức chủ tịch “Hội đồng chính sách thị trường mở” (Federal Open Market Committee) của Alan Greenspan Bầu cử càng đến gần, áp lực từ tổng thống và quốc hội đến chính sách của Fed càng nặng nề hơn Mọi chuyện càng ầm ĩ vào cuối năm và Fed bị bắt buộc phải miễn cưỡng nới lỏng cung ứng tiền Tuy nhiên, chính sách thắt chặt từ năm 1989 đã làm cho lạm phát - còn quán tính - tiếp tục giảm xuống 3% vào năm
1992 Ngược lại, thất nghiệp vọt lên gần 8% Hệ quả là Bush thất cử, chấm dứt 12 năm liên tục cầm quyền của Đảng Cộng hòa - một thời kỳ lâu nhất trong lịch sử nước Mỹ kể từ 1945
và Bill Clinton vào Nhà Trắng
Không có gì nổi bật bằng khi đảng nắm đa số trong Quốc hội Mỹ lại đồng thời là đảng đang cầm quyền hành pháp Lúc đó, tác động của chính trị đến chính sách tiền tệ của Fed trở nên cực kỳ mạnh Thực sự Fed khó mà cưỡng lại để theo quan điểm của riêng nó vào những hoàn cảnh như vậy Còn ngoài ra, vào cuối mỗi chu kỳ chính trị, áp lực của Nhà Trắng dưới nhiều hình thức, đều được tăng cường để kéo Fed và chính sách của nó ủng hộ cho bầu cử Có thể nói rằng, ngay ở đất nước mà hoạt động và sự tồn tại độc lập của NHTW và chính sách
Trang 8Xuất phát từ sự lo ngại như vậy, họ cho rằng, sự phân ra làm 2: quyền lực kinh tế riêng ra với quyền lực chính trị - hành pháp, là cần thiết Alberto Alesina, giáo sư Đại học Harvard trong công trình nghiên cứu nhan đề “Chính trị và chu kỳ kinh doanh ở các nước công nghiệp” xuất bản tháng 4 năm 1989 đã chứng minh một cách hợp lý mối quan hệ có thực giữa mức độ hoạt động tác nghiệp độc lập của NHTW với tỷ lệ lạm phát và thất nghiệp Ông thống kê 17 nước trong OECD từ năm 1973 đến năm 1986 và nhận ra rằng hai nước có mức
độ độc lập của NHTW cao nhất thế giới là Đức và Thụy Sĩ cùng với hai nước có mức độ độc lập đứng vào hàng thứ nhì - Hoa Kỳ và Nhật Bản - là 4 nước có tỷ lệ lạm phát và thất nghiệp thấp vào hàng nhất thế giới Ngược lại, ở Italy, New Zealand, Tây Âu, và Australia nơi mà NHTW phụ thuộc khá nhiều vào chính trị và quyền hành pháp trong việc quyết định chính sách tiền tệ, thì cũng là nơi có tỷ lệ lạm phát và thất nghiệp luôn luôn cao nhất Kinh tế tăng trưởng cũng chậm hơn rất nhiều
Biểu đồ 14.3: Quan hệ giữa mức độ độc lập1 của NHTW với chính trị
và vấn đề lạm phát - thất nghiệp
Nguồn: Meir Kohn - P.802
Tỷ lệ thất nghiệp là thước đo mức độ tăng trưởng kinh tế của mỗi nước Sự giảm đi của tỷ lệ thất nghiệp phản ánh rằng sản xuất đã được mở rộng, công ăn việc làm nhiều hơn,
1 Độc lập được hiểu theo nghĩa tương đối trong hoạt động tác nghiệp của ngân hàng Bởi vì về bản chất, ngân hàng ở các nước tư bản là thuộc các tập đoàn tư bản tài chính (BT)
Trang 9sản lượng tiềm năng bành trướng xa hơn, và đây chính là những tiêu chuẩn để xác định tính phát triển căn bản và lành mạnh của nền kinh tế Ngược lại, sự tăng cao của tỷ lệ này cho biết đầu tư và sản xuất kém mở rộng, công ăn việc làm không đủ cho lực lượng lao động mới tăng thêm, thu nhập không đủ để thỏa mãn về nhu cầu tiêu dùng tối thiểu của người lao động Nói cách khác, kinh tế tăng trưởng chậm hoặc không tăng về mặt thực tế Đời sống nhân dân khó khăn hơn
Do vậy, 2 chỉ số lạm phát và thất nghiệp đủ để khái quát toàn bộ tình trạng kinh tế đã qua và tiềm năng sắp đến của một nước Nó cũng phản ánh phần lớn kết quả của chính sách tiền tệ nói riêng Biểu đồ 14.3 minh họa rằng càng đi về phía tay trái, quyền quyết định chính sách tiền tệ của NHTW không độc lập được về mặt hoạt động và suy nghĩ, thì lạm phát và thất nghiệp sẽ cao hơn nhiều, kinh tế có nhiều yếu tố không ổn định, tiềm năng bị lãng phí
Đi về bên phải là những NHTW có mức độ độc lập cao so với quyền hành pháp Cần lưu ý rằng sở dĩ Thụy Điển, Na Uy và Thụy Sĩ có những mức lạm phát và thất nghiệp thấp một cách đặc biệt là vì các nước này phát triển theo mô hình xã hội: Kiểm soát giá cả, bao cấp những hàng tiêu dùng cơ bản với giá cung cấp rất rẻ Nhiều ngành sản xuất chỉ hướng về giải quyết công ăn việc làm chứ không quá chú trọng đến lợi tức kinh doanh Do những đặc thù
đó, lạm phát và thất nghiệp đều ở tỷ lệ rất thấp Còn các nước thị trường hỗn hợp khác như Hà Lan, Hoa Kỳ, Đức, Nhật, mức độ độc lập của NHTW càng cao về mặt hành động, lạm phát càng thấp một cách rõ rệt
14.4 TƯƠNG LAI CỦA HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG
Chúng ta sẽ đi về đâu, cũng như hoạt động ngân hàng sẽ đi về đâu đều là những câu hỏi rất thú vị Câu hỏi thứ nhất xin dành cho những công trình về triết học, nhân văn và kinh
tế vĩ mô Riêng với hoạt động ngân hàng, bản thân mối quan hệ tế nhị và phức tạp của nó đối với xã hội và chính trị đã đủ làm cho câu trả lời cũng phức tạp theo
Tùy theo cách nghĩ, tài liệu mà mỗi bạn đang có trong tay, mỗi người trong chúng ta đều có thể trả lời theo ý của mình cho câu hỏi nói trên Xin được nhắc lại rằng khoa học dạy chúng ta bài học đầu tiên là “đừng bao giờ áp đặt cách nghĩ của mình lên cho người khác Nếu cách nghĩ của mình thực sự tốt, hãy để tự họ chấp nhận”
Trong hơn một thế kỷ gần đây, sự phát triển nhanh chóng của hoạt động ngân hàng, và những hỗ trợ vô cùng to lớn của nó đối với sự phát triển của đời sống và hoạt động kinh tế, đã làm cho ngân hàng trở thành một thiết chế ngày càng quan trọng Từ thập niên 50, châu Âu và Bắc Mỹ đã đưa ra công thức “Hoạt động kinh tế là một hệ thống gồm 3 bước liên hoàn và kết nối chặt chẽ, lần lượt từ thấp đến cao là: SẢN XUẤT - KINH DOANH - TÀI CHÍNH, NGÂN HÀNG”
Nhiều nhà quản trị đã phát biểu: kinh doanh lớn là phải chen chân vào thị trường tài chính - ngân hàng Hiện tượng ấy ngày càng phổ biến đến nỗi không có một công ty, xí nghiệp hay tập đoàn sản xuất nào từ quy mô vừa trở lên ở các nước công nghiệp, mà lại không
có riêng một hoặc nhiều công ty tài chính và ngân hàng
Chính vì các đơn vị kinh tế vừa là mô hình thu nhỏ, vừa là thành tố cấu tạo nên của nền kinh tế vĩ mô, nên xu thế phát triển của các đơn vị kinh tế cũng chính là xu thế phát triển của nền kinh tế nói chung Trong khi không có một xí nghiệp hoặc đơn vị sản xuất nào là không có liên hệ hàng ngày với ngân hàng, trong khi mọi xí nghiệp nhỏ nhất đều nuôi tham vọng đến ngày nào đó đủ sức sẽ thành lập hoặc mua cổ phần để làm chủ riêng một ngân hàng, thì thực sự xu thế phát triển chung mà nền kinh tế buộc sẽ vươn tới đó là “kinh doanh kết hợp với ngân hàng”
Vấn đề này, ở các nước đang phát triển cũng không khác Nhiều công trình nghiên cứu gần đây của Ngân hàng thế giới (WB) đã chỉ ra rằng, ở những nước phát triển nhanh, bao giờ ngân hàng và thị trường tài chính cũng phải phát triển trước làm đầu máy để kéo các ngành khác lên theo Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Mêhicô, Ái Nhĩ Lan… là những thí
dụ Khi hoạt động ngân hàng được chú trọng đầy đủ để liên tục củng cố và hoàn thiện, được đặt
Trang 10Chương 14 - Chính sách tiền tệ và chính trị
vào đúng vị trí, chức năng, được cho đủ quyền hạn… thì nó có khả năng thực hiện tốt việc huy động tài chính trong toàn xã hội, ngăn ngừa lãng phí, phục vụ một cách thuận lợi nhất cho việc phát triển các ngành sản xuất còn lại Điều tương tự cũng luôn luôn xảy ra là nơi đâu mà hoạt động ngân hàng kém phát triển, kém kỹ năng cả về kỹ trị lẫn nhận thức, không được coi trọng đúng mức, chỉ được chính quyền xem là công cụ bình thường thì dứt khoát ở đó tình trạng kém phát triển, trì trệ, lạm phát hoặc tăng trưởng không căn bản là điều chắc chắn xảy ra
Con người không thể sống nếu thiếu những sản phẩm đơn giản như gạo, muối, vải vóc… Xã hội và cộng đồng không thể phát triển nếu thiếu những bước liên tục sản xuất ra những sản phẩm ngày càng tinh vi, phức tạp và nhiều trí óc hơn, để phục vụ cho việc vươn ra với vũ trụ bí mật Chính hoạt động ngân hàng đã tập trung mọi nguồn lực, tài nguyên và phương tiện để những sản phẩm đơn giản ngày càng được sản xuất ra với giá rẻ, nhiều, để con người ngày càng ít bận tâm hơn đến vấn đề ăn uống, đến nền kinh tế có đủ điều kiện vươn tới sản xuất sản phẩm phức tạp Hoạt động ngân hàng, do đó, là yếu tố không thể thiếu được của các nền kinh tế hiện đại Nó ngày càng cần thiết cho mọi nước cả trong hiện tại và tương lai ■
Trang 11PHẦN V - THƯ MỤC THAM KHẢO
VÀ TÀI LIỆU GỢI Ý ĐỌC THÊM
4 PAUL EINZIG: Primitive Money, Eyre and Spottiswood Published, London, 1948
5 D.H.ROBERTSON: Money, James Nisbet, Cambridge Press, Great Britain, 1922
6 W.A.SHAW: The History of currency: 1252 to 1894 Second edi., Second edi., Augustus M.Kelly Press, New York, USA, 1967
7 WILLARD PRICE: Japan’s islands of mistery, John Day Press, New York, USA,
8 ROBERT CLOWER: Introduction in the monetary theory: Selected readings, Penguin Books Press, New York, USA, 1969
9 JAMES PIERCE: Monetary and Financial economics, John Wiley and Sons Press, New York 1984
10 MARK S.FLANNERY & JAFFEE J DWIGHT: The economics implications of an Electronic Monetary transfer system - Lexington Books, Massachusetts, USA, 1973
11 BRYAN HIGGINS & JON FAUST: NOWS AND SUPER NOWS: lmplications for defining and measuring money, Economic Review, Federal Reserve Bank of Kansas city, January, 1983
12 FRITZ K.RINGER: The German inflation of 1923, Oxford university press, New York, USA, 1969
CHƯƠNG 3
1 ARMEN ALCHIAN: Why money, Journal of Money, Credit and Banking No.9, USA, February 01, 1977
Trang 12Phần V - Thư mục tham khảo và tài liệu gợi ý đọc thêm
2 NORMAN ANGELL: The story of money, Frederick A Stokes Co Press, New York, USA, 1929
3 KARL BRUNNER & MELTZER A.ALLAN: The uses of money in the theory of
an exchange Economy, American economic review, December 5, 1971, USA, 1971
4 W.S.JEVONS: Barter in money and the mechanism of exchange, D.Appleton Press, New York, 1892
5 WILLIAM M.GOUGE: A short history of paper money and banking in the United States, Augustus M.Kelly Press, New York, 1968
6 JOHN KENNETH GALBRAITH: Money, Houghton Mifflin Press, Boston, USA,
4 M.H.DEKOCK: Central banking, Staples Printers Ltd Press, England, 1967
5 CLAIR M.ST.CLARKE & HALL D.A: Legislative and documentary history of the Bank of the United States, Augustus M.Kelley Press, New York, 1967
6 DUMAS MALONE: Jefferson and his time vols, 1 & 2, Little Brown Press, Boston, USA, 1948 & 51
7 JAMES D.TRACY: A Financial revolution in the Habsburg Netherlands: Renten and Renteniers in the country of Holland 1515 - 1565, University of California Press, 1985
8 Lawrence G.Goldberd & Hanweck A.Gerald: The Growth of the world’s 300 largest banking organizations by country, Journal of banking and finance No.15, USA, February 1991
3 WESLEY LIDOW: Inside the money market, Random House Press, USA, 1972
4 CLIFTON H.KREPS: Banking and monetary policy, University of Carolina Press, USA, February, 1962
5 LEWIS M.K & DAVIS K.T.: Domestic and International banking, M.I.T Press, Cambridge, England, 1987
6 MARCIA L.STIGUM - The money market, Down Jones, Irwin Press, USA, 1990
7 TIMOTHY KOCK: Bank management, Dryden Press Second Ed., USA, 1992
8 GEORGE I.BENSTON: The separation of commercial and investment banking: The Glass Steagall Act Revisited and Reconsidered, Oxford University Press, New York, 1990
9 ALTON R.GILBERT: Bank market structure and competition: A Survey, Journal of Money Credit and Banking No.16, USA, November, 1984
10 DEUTSCHE BUNDESBANK: Annual report 1980 to 1995
11 DEUTSCHE BUNDESBANK: Monthly report 1990 to 1996
12 BANK OF KOREA: Financial system in Korea, 1976 - 1995
13 FEDERAL RESERVE ANNUAL REPORT: 1980 - 1995
14 FEDERAL RESERVE BULLETIN: 1980 to July 1996
15 BANQUE DE FRANCE: Annual report, 1990 to 1995
16 BANQUE DE FRANCE: Bulletin digests from March 1990 to March 1996
17 BANK OF JAPAN: Annual review, 1990 - 1995
Trang 13CHƯƠNG 6
l M.H.DEKOCK: Central banking, Staples Printers Ltd Press, England, 1967
2 IRVING FISHER: The purchasing power of money, Mac Millan Press, USA, 1911
3 RICHARD H.TIMBERLAKE: The origins of the central banking in the United States, Harvard University Press, Cambridge, 1978
4 GLENN G.MANN: Encyclopedia of banking and finance, Bankers Publishing Company Press, USA, 1991
5 CHARLES GOODHART: The evolution of central banks, MIT Press, 1988
6 VERA C.SMITH: The rationable of central banking and the free banking alternative, Liberty Press, Indianapolis, USA, 1990
7 BRUCE J.SUMMERS: Clearing and payment systems: The role of the central bank, Federal Reserve Bulletin, February, 1991
8 RICHARD H.TIMBERLAKE: The central banking role of clearing associations - Journal of Money, Credit and Banking No.16, USA, February 1984
9 MARVIN GOODFRIEND: Monetary Mystique: Secrecy and Central banking, Journal of Monetary economics No.17, USA, January 1986
10 BANQUE DE FRANCE BANK OF JAPAN, FEDERAL RESERVE SYSTEM, AND DEUTSCHE BUNDESBANK ANNUAL REPORT, REVIEW AND MONTHLY REPORT, BULLETIN,
3 DONALD HODYMAN: Commercial bank loan and investment policy, University
of Illinois Press, USA, 1963
4 PAUL S.NADLER: Commercial banking in the economy, Random House Press, USA, 1973
5 STEPHEN M.GOLDFELD: Commercial bank behavior and economic activity, North Holland, 1966
6 GEOGRE MORRISON: Liquidity preferences of commercial banks, University of Chicago Press, LISA, 1966
7 LEONALL C.ANDERSON & ALBERT E.BURGER: Asset management and commercial bank Portfolio behavior: Theory and practice, journal of Finance, USA, May 1969
8 HENRY ALLEN LATANCE: Cash balances and interest rate: A pragmatic approach, Review of Economics and Statistics, USA, November, 1954
9 PETER A.FROST: Banking services, Minimum cash balances and the Firm's demand for money, Journal of Finance, December, 1970
10 WILLIAM R.KEATON: The new risk - based capital Plan for commercial banks, Federal Reserve Bank of Kansas City Economic review No.74, USA, December, 1989
11 JOHN DUCA & MARY M.MC LAUGHLIN: Developments affecting the prontability of commercial banks, Federal Reserve bulletin No.77, July, 1990
12 WILLIAM H.BRUNSEN & SPENCER H.AUSTIN & OTHERS: Commercial banking and the Financial services industry, Reston, USA, 1985
13 MOULTON, H.G.: Commercial banking and capital formation, Journal of Political Economy, July, 1918
14 PROCHNOW HERBERT: Terms loans and theories of bank liquidity, Prentice Hall, New York, 1949
15 ROLAND ROBINSON: The management of bank funds, Mc Graw-Hill, New York, USA, 1962
16 William L.Silber - Commercial bank liability management, Association of Reserve City bankers Press, Chicago, 1978
Trang 14Phần V - Thư mục tham khảo và tài liệu gợi ý đọc thêm
17 SINKEY J.R: Commercial bank financial management, Mc Millan, New York,
20 FEDERAL RESERVE ANNUAL REPORT: 1960 to 1995
21 FEDERAL RESERVE BULLETIN: 1960 to 1996
22 BANK OF KOREA: Quarterly economic review 1976 to 1996
23 BANK OF KOREA: Financial System in Korea 1976 to 1995
24 BANK FOR INTERNATIONAL SETTLEMENT: Annual report 1980 to 1995
25 BANQUE DE FRANCE: Bulletin digest, 1980 to April 1996
26 INTERNATIONAL MONETARY FUND: World Economic Outlook, every May from 1980 to 1995
27 FEDERAL DEPOSIT INSURANCE CORPORATION: Annual Report, 1990 - 1995
28 SIAM CITY BANK: Annual report, 1994 - 1995
29 RICHARD H.TIMBERLAKE: Time deposits and definition of money - American Economic Review, March 1972, USA, 1972
30 KALMAN J.COHEN & FREDERICK S.HAMMER: Analytical Methods in banking, Irving Press, USA, 1966
31 JOHN G.GURLEY: Financial institutions in the saving, Investment Process, Proceedings of the conference in 1959 on saving and residential Financing, USA, 1959
32 DONALD P.MORGAN: Bank credit commitments: protection from a credit crunch, Federal reserve bank of Kansas city Economic review No.75, October 1990
33 GEORGE SOFIANOS & PAUL WACHTEL…: Loan commitments and monetary policy, Journal of Banking and Finance No.14, WA, October 1990
34 DWAYNE WRIGHTSMAN: An introduction to monetary theory and policy, The Free Press, New York, USA, 1976
35 ROGER LEROY MILLER & DAVID D.VANHOOSE: Modern money and Banking, Mc Grawhill Inc Press, USA, 1993
9 BERYL SPRINKEL: Money and stock prices, Homewood Press, USA, 1964
10 ALFRED COWELS: Stock market forecasting, Econometrica Review, USA,
1944
ll MARCIA STIGUM: After the trade, dealer and clearing bank operations in money market and government securities, Homewood Press, USA, 1988
Trang 1512 FEDERAL RESERVE ANNUAL REPORT AND BULLETIN: Deutsche Bundesbank annual report and monthly report, Banque de France annual report and Bulletin digest from 1980 to 1996
13 NEW YORK TIMES in 1996
4 ORLIN J.GRABBE: International financial markets, Elsevier Press, 1986
5 JEFF MADURA: International financial management, West Publishing Co Published, USA, 1986
6 JAMES MARKUSEN & JAMES MELVIN: The theory of international trade, Harper & Row Press, New York, 1988
7 MICHAEL MELWIN: International money and finance, Harper & Row Press, New York, 1989
8 BRUNO SOLNIK: International investments, Addison, Wesley publishing Co., Massachusett, 1988
9 BETH YARBROUGH & OTHERS: The world economy: Trade and Finance, The Dryden Press, New York, 1988
10 FRANCESCO GIAVAZZI & ALBERTO GIOVANNINI: Limiting exchange rate flexibility, MIT Press, USA, 1991
11 HEINZ RICHL & RITA M.RODRIGUZ: Foreign exchange markets, Mc Grawhill Inc Press, USA, 1977
12 WILLARD PRICE NORLING: Monetary policy in Europe after Maastricht, Martin's Press, USA, 1993
13 PAUL DE GRAUWE & LUCAS PAPADEMOS: The European monetary system
in the 1990, Center of European Policy studies Published, New York, 1990
14 WORLD BANK: Annual report 1950 to 1995, published by the Bank, Washington DC20433, USA
15 BANK FOR INTERNATIONAL SETTLEMENTS: Annual report 1990 - 1995, Published by the Bank, NY 10017
16 ASIAN DEVELOPMENT BANK: Annual report 1990 to 1995, Publiched by the Bank, Manila, Philippines
17 FEDERAL RESERVE SYSTEM: Deutsche Bundesbank, Banque de France, Annual report, Bulletin, monthly report, Bulletin digest 1984 to 1996
18 DAVID D.DRISCOLL: What is the international Monetary Fund, IMF Press, Washington DC, January, 1991
3 ROB DIXON: Banking in Europe: The single market, Routledge Press, London,
1991
4 DAVID FOLKERTS LANDAU: The case for international coordination of financial policy, University of Chicago Press, Chicago, 1990
Trang 16Phần V - Thư mục tham khảo và tài liệu gợi ý đọc thêm
5 CHARLES A.E.GOODHART: International considerations in the formulation of Monetary policy, Federal reserve bank of the New York Press, New York, 1990
6 ALBERTO GIOVANNINI & COLIN MAYER: European financial integration, Cambridge university Press, Great Britain, 1991
7 GEORGE KAHN: International policy coordination in an interdependent world, Federal reserve bank of Kansas city Press, Economic review No.72, 1987
8 RONALD MC KINNON: An international standard for monetary stabilization, Institute for international Economics Press, USA, 1984
9 JURG NICHANS: International monetary economics, Johns Hopkins University Press, Baltimore, 1984
10 DENNIS SWANN: The Economics of the common market, Penguin Books, London, 1988
11 FEDERAL RESERVE BULLETIN: from 1960 to 1996
12 BANQUE DE FRANCE: Deutsche Bundesbank, Annual report, Bulletin Digest, Monthly report 1980 - 1996
CHƯƠNG 11
1 JOHN MAYBARD KEYNES: The general theory of employment, Interest, and Money, Harcourt Brace Jovanovich Press, New York, 1964
2 IRVING FISHER: The rate of interest, Mc Millan Press, New York, 1907
3 IRVING FISHER: The theory of interest, Mc Millan Press, New York, 1930
4 MILTON FRIEDMAN: Studies in the quantity theory of money: A Restatement, Chicago University Press, 1956
5 A.C.PIGOU: The value of money, Quarterly journal of Economics, USA, November, 1917
6 MILTON FRIEDMAN: The supply of money and changes in prices and output, Joint Economic committee of US Congress, 1958
7 MILTON FRIEDMAN: The demand for money: Some theoretical and empirical results, Journal of Political economy, August, 1959
8 MILTON FRIEDMAN: Interest and demand for money, Journal of Law and Economics, October, 1966
9 MILTON FRIEDMAN: A Theoretical framework for monetary analysis, Journal of political Economy, April, 1970
10 MILTON FRIEDMAN: A monetary theory of nominal income, Journal of Political economy, April, 1971
11 MILTON FRIEDMAN: Dollars and deficits Prentice Hall inc Published, New Jerseyl, 1968
12 MILTON FRIEDMAN: The role of monetary policy, American Economic Review, March, 1968
3 PAUL SAMUELSON: Inflationary Slowdown, newsweek, June 23, 1969
4 HENRY HAZLITT: Inflation in one Page, The Freeman, May, 1978
5 MILTON FRIEDMAN: What price guidepost, University of Chicago Press, Chicago, 1966
6 DAVID BEGG AND OTHERS: Economics, Mc Graw Hill book Co Published, London, 1994
7 A.W.PHILIPS: The relation between unemployment and rate of Change of money wage rate in the United Kingdom (1861 - 1957), Economica, 1958