phù hợp với hoàn cảnh của người bệnh, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: Phân tích thực trạng sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp trên bệnh nhân điều trị ngoại trú tại Khoa khám bện
TỔNG QUAN
Đại cương về bệnh tăng huyết áp
Tăng huyết áp đƣợc xác định khi huyết áp tâm thu ≥ 140 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương ≥ 90mm Hg [13]
1.1.2 Dịch tễ bệnh tăng huyết áp
Theo ƣớc tính của Hội tim mạch châu Âu và Hội tăng huyết áp châu Âu (ESC/ESH) tỷ lệ tăng huyết áp toàn cầu là 1,13 tỷ người trong năm 2015 Còn theo các nhà khoa học Mỹ, tỷ lệ tăng huyết áp (THA) trên thế giới năm 2000 là 26,4% (tương đương 972 triệu người, riêng các nước đang phát triển chiếm 639 triệu) và sẽ tăng lên 29,2% vào năm 2025 với tổng số người mắc bệnh trên toàn thế giới khoảng 1,56 tỷ người [32]
Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc THA đang gia tăng một cách nhanh chóng Theo thống kê, năm 1960, tỷ lệ THA ở người trưởng thành phía bắc Việt Nam chỉ là 1% và hơn 30 năm sau (1992) theo điều tra trên toàn quốc của Viện Tim mạch thì tỷ lệ này đã là 11,2%, tăng lên hơn 11 lần Theo kết quả điều tra năm 2008, tỷ lệ tăng huyết áp ở người độ tuổi 25-64 là 25,1% [15] Theo Tổng điều tra toàn quốc về yếu tố nguy cơ bệnh không lây nhiễm ở Việt Nam năm 2015, có 18,9% người trưởng thành trong độ tuổi 18-69 tuổi bị tăng huyết áp, trong đó có 23,1% nam giới và 14,9% nữ giới Còn nếu xét trong độ tuổi 18-25 tuổi thì tỷ lệ tăng huyết áp tăng từ 15,3% năm 2010 lên 20,3% năm 2015 Như vậy là cứ 5 người trưởng thành 25-64 tuổi thì có 1 người bị tăng huyết áp [5]
Những thông tin về hiểu biết và kiểm soát THA ở Việt Nam cho thấy còn nhiều thách thức do nhận thức cộng đồng còn hạn chế Năm 2007, Viên Văn Đoan và cộng sự theo dõi 5.840 bệnh nhân THA trong 5 năm cho thấy 90,8% được quản lý tốt, 9,2% chưa được quản lý tốt; trong nhóm được quản lý tốt có tới 71,48% đạt huyết áp mục tiêu và 28,52% không đạt được huyết áp mục tiêu Theo thống kê năm 2015 của Hội Tim mạch học Việt Nam, trên 5.454 người trưởng thành từ 25 tuổi trở lên thuộc quần thể 44 triệu người ở 8 tỉnh thành trên toàn quốc có 52,8% huyết áp bình thường và 47,3% bị THA; trong số những người bị THA, 39,1% không được phát hiện, 7,2% chưa được điều trị và 69% THA chưa kiểm soát được huyết áp.
Phần lớn THA ở người trưởng thành là THA nguyên phát, chỉ khoảng 10% THA là THA thứ phát Nguyên nhân của THA thứ phát có thể được phát hiện thông qua khai thác tiền sử, khám lâm sàng và các kết quả cận lâm sàng thường quy, được đề cập trong [24].
- Bệnh thận cấp hoặc mạn tính: viêm cầu thận cấp/mạn, viêm thận kẽ, sỏi thận, thận đa nang, thận ứ nước, suy thận
- Cường Andosterone tiên phát (Hội chứng Conn)
- Bệnh lý tuyến giáp/cận giáp, tuyến yên
- Do thuốc, liên quan đến thuốc( kháng viêm non-steroid, thuốc tránh thai, corticoid, cam thảo, hoạt chất giống giao cảm trong thuốc cảm/thuốc nhỏ mắt…)
- Hẹp eo động mạch chủ
Hiện nay có nhiều tài liệu hướng dẫn phân độ THA theo các chỉ số huyết áp khác nhau Ở đây chúng tôi chọn phân độ THA theo khuyến cáo của Hội Tim mạch Việt Nam năm 2018, được trình bày theo bảng 1.1 dưới đây [13].
Bảng 1.1: Phân loại tăng huyết áp theo Hội tim mạch Việt Nam 2018
Phân độ Huyết áp tâm thu
Huyết áp tâm trương (mmHg)
HA bình thường** 120-129 Và/hoặc 80-84
HA bình thường cao** 130 – 139 Và/hoặc 85 – 89
THA độ 1 (nhẹ) 140 – 159 Và/hoặc 90 – 99
THA độ 2 (trung bình) 160 – 179 Và/hoặc 100 – 109
THA độ 3 (nặng) ≥ 180 Và/hoặc ≥ 110
THA tâm thu đơn độc ≥140 Và 3mmol/l, hoặc HDL nam 140/90 mmHg nên được phối hợp 2 thuốc UCMC/CTTA với chẹn kênh calci hoặc lợi tiểu để đạt mục tiêu huyết áp ở bệnh nhân dưới 65 tuổi.
≤130/80mmHg nếu bệnh nhân dung nạp tốt, bệnh nhân trên ≥65 đích HA18 tuổi theo khuyến cáo của Hội tim mạch học 2018 Tỷ lệ bệnh nhân đạt huyết áp mục tiêu ban đầu T0 chỉ là 3,7%, sau đó tăng đều, rõ rệt sau từng tháng theo dõi điều trị, tại thời điểm T6 tỷ lệ bệnh nhân đạt huyết áp mục tiêu chiếm 47,7% Kết quả của chúng tôi thấp hơn so với nghiên cứu của Hoàng Quốc Vinh với tỷ lệ bệnh nhân đạt huyết áp mục tiêu tại T12 là 63,8% [22] Cao hơn không đnags kể so với nghiên cứu của Phạm Thị Thu Mai ( 46,1%)[25] Sự khác nhau này có thể là do đích huyết áp đƣợc áp dụng cho mỗi nghiên cứu là khác nhau Nghiên cứu của chúng tôi sử dụng Khuyến cáo mới của Hội tim mạch 2018 còn nghiên cứu khác sử dụng Khuyến cáo năm 2015[12][13] Sử dụng kiểm định thống kê đo lường lặp lại cũng đã chỉ ra huyết áp tâm thu và tâm trương giảm rõ rệt theo thời gian Điều này cho thấy hiệu quả của kiểm soát huyết áp khi bệnh nhân đến điều trị tại phòng khám ngoại trú
4.2.6 Tỷ lệ bệnh nhân đạt huyết áp mục tiêu
Theo khuyến cáo của Hội tim mạch học Việt Nam 2018, trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ bệnh nhân đạt huyết áp mục tiêu tại thời điểm T0 chỉ là 3,7%, tỷ lệ huyết áp mục tiêu có xu hướng tăng đều theo từng tháng Tuy nhiên tại thời điểm T12 tỷ lệ bệnh nhân đạt huyết áp mục tiêu vẫn còn thấp chiếm tỷ lệ 47,7%
4.2.7 Phân tích việc thay đổi phác đồ thuốc huyết áp trên các bệnh nhân đạt và không đạt huyết áp mục tiêu
Những bệnh nhân chưa đạt huyết áp mục tiêu tại các thời điểm theo dõi là đối tượng cần cân nhắc điều chỉnh lại phác đồ điều trị, có thể sau mỗi tháng điều trị theo khuyến cáo của Hội Tim mạch Việt Nam 2018 Tuy vậy, tỷ lệ bệnh nhân không được đổi phác đồ lại có lúc chiếm tới 80,0%; 83,9% tại thời điểm T3 và T6; đặc biệt tỷ lệ này là 93,1% tại thời điểm T2 Bên cạnh đó, một số bệnh nhân còn được giảm thuốc, giảm liều mặc dù vẫn chưa đạt huyết áp mục tiêu như tại thời điểm T5, tỷ lệ bệnh nhân giảm thuốc giảm liều là 8,5% Sự thay đổi này chưa thực sự hợp lý theo khuyến cáo của Hội Tim mạch Việt Nam 2018.
Qua ghi nhận các lý do dẫn đến quyết định thay đổi phác đồ điều trị của bác sĩ, lý do phổ biến nhất là hiệu quả điều trị thấp và huyết áp của bệnh nhân giảm không đáng kể Tuy nhiên, một số bệnh nhân đáp ứng tốt điều trị và nhanh chóng đạt huyết áp mục tiêu nên bác sĩ có thể đơn giản hóa phác đồ để duy trì mục tiêu này Thực tế tại bệnh viện cho thấy một số nguyên nhân khác có thể dẫn đến thay đổi phác đồ: thuốc hết thầu hoặc hết lượng không thể cung ứng khiến bác sĩ phải thay thế bằng nhóm thuốc khác mà bệnh viện đang có, hoặc tác dụng phụ với nhóm thuốc huyết áp đang dùng buộc đổi sang nhóm thuốc khác nhằm đảm bảo an toàn và hiệu quả điều trị.
4.3 Một số ƣu điểm và hạn chế của nghiên cứu
Trong khuôn khổ của một luận văn tốt nghiệp, chúng tôi nhận thấy nghiên cứu có một số ƣu điểm và hạn chế nhƣ sau:
Nghiên cứu đã khảo sát đặc điểm của bệnh nhân tăng huyết áp tại Trung tâm Y tế huyện Na Rì, nhằm làm rõ các yếu tố lâm sàng, nhân khẩu học và mức độ kiểm soát THA ở nhóm này Dữ liệu thu thập được từ nghiên cứu cung cấp cái nhìn toàn diện về đặc điểm bệnh nhân THA và các yếu tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ điều trị trong cộng đồng ngoại trú Những kết quả dựa trên dữ liệu này có thể phát huy hiệu quả cho chương trình quản lý bệnh nhân ngoại trú mắc THA mà Trung tâm Y tế đang triển khai, bằng cách cải thiện quy trình chăm sóc, giáo dục sức khỏe và theo dõi huyết áp Từ đó giúp tăng cường chất lượng chăm sóc sức khỏe huyết áp tại địa phương và tối ưu hóa kết quả điều trị cho người dân.
Nghiên cứu đã phân tích đƣợc thực trạng kê đơn của bác sỹ tại trung tâm y tế huyện Na Rì trên nhóm đối tƣợng bệnh nhân THA, chỉ ra những ƣu điểm và những hạn chế chƣa phù hợp trong kê đơn, cung cấp thông tin cho bác sỹ để có thể điều chỉnh việc kê đơn cho hợp lý
Nghiên cứu đã khảo sát hiệu quả điều trị THA ở bệnh nhân trong vòng 6 tháng và cho thấy tỷ lệ đạt mục tiêu điều trị theo khuyến cáo hiện hành của Hội Tim mạch Việt Nam Kết quả này cung cấp thông tin quan trọng cho bác sĩ để điều chỉnh kê đơn sao cho phù hợp, hiệu quả và an toàn, đồng thời tối ưu hóa quản lý điều trị và tăng cường tuân thủ thuốc Những bằng chứng này hỗ trợ quyết định lâm sàng cá nhân hóa, giúp giảm biến chứng và cải thiện chất lượng chăm sóc sức khỏe cho người bệnh.
Đây là nghiên cứu đầu tiên về tăng huyết áp tại Trung tâm Y tế huyện Na Rì, cho thấy nỗ lực triển khai bài bản và tuân thủ các nguyên tắc khoa học cùng việc tham khảo các nghiên cứu liên quan để đạt mục tiêu đề ra Mặc dù đã cố gắng bám sát quy trình nghiên cứu và học hỏi từ các công trình khác, nghiên cứu của chúng tôi vẫn không tránh khỏi một số hạn chế nhất định.
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu là hồi cứu, không can thiệp, đồng thời khai thác thông tin từ hồ sơ bệnh án nên thiếu tính chủ động trong việc tiếp cận bệnh nhân và thu thập dữ liệu Do đó, thời gian mắc tăng huyết áp, chỉ số creatinin và chỉ số BMI của bệnh nhân chưa được thu thập đầy đủ, và một số yếu tố nguy cơ tim mạch cùng các bệnh mắc kèm cũng chưa được khai thác đầy đủ Hệ quả là khả năng đánh giá toàn diện các yếu tố nguy cơ và ảnh hưởng của các điều kiện sức khỏe lên người bệnh bị hạn chế.
Một số ƣu điểm và hạn chế của nghiên cứu
Tên đề tài: Phân tích thực trạng sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp trên bệnh nhân điều trị ngoại trú tại Khoa khám bệnh Trung tâm Y tế huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn năm 2019
Mã hồ sơ bệnh án:
Nghề nghiệp: Địa chỉ: Điện thoại:
II – TIỀN SỬ BỆNH NHÂN
1 Các yếu tố nguy cơ
- Uống rƣợu bia 1 Có 2 Không