Việc dạy giải toán ở Tiểu học là một trong những nội dung trong chươngtrình môn Toán ở Tiểu học nhằm giúp học sinh tiếp thu và vận dụng những kiếnthức về Toán, được rèn luyện kĩ năng thự
Trang 1- Môn Toán góp phần quan trọng trong việc rèn luyện phương pháp tư duy,phương pháp suy luận, phương pháp giải quyết vấn đề góp phần phát triển tríthông minh, độc lập, sáng tạo, góp phần vào việc hình thành các phẩm chất củangười lao động mới.
Việc dạy giải toán ở Tiểu học là một trong những nội dung trong chươngtrình môn Toán ở Tiểu học nhằm giúp học sinh tiếp thu và vận dụng những kiếnthức về Toán, được rèn luyện kĩ năng thực hành với những yêu cầu được thểhiện một cách đa dạng phong phú Dạy học Toán giúp học sinh có điều kiện rènluyện và phát triển năng lực tư duy và có đủ tư cách, phẩm chất của con ngườimới
Trong thực tế, chất lượng của bộ môn Toán nói chung và đặc biệt môn Toánlớp 3 nói riêng đã có nhiều kết quả khả quan song chưa thực sự đáp ứng đượcvới nhiệm vụ và yêu cầu môn học đề ra Cụ thể là chất lượng môn Toán lớp 3 -trường Tiểu học chưa thực sự tương xứng với vị trí của môn Toán lớp 3 trongchương trình học Đặc biệt là kỹ năng giải toán của học sinh lớp 3 chính là vấn
đề cần quan tâm Trước thực tế như vậy tôi luôn suy nghĩ: Làm thế nào để giúphọc sinh nắm vững kiến thức và vận dụng vào trong giải toán, góp phần nângcao chất lượng học môn Toán của học sinh lớp 3, giúp các em có kỹ năng giảitoán với tinh thần tự giác và hứng thú học tập
Trang 2Giải toán có lời văn thực chất là những bài toán thực tế, nội dung bài toánđược thông qua những câu văn nói về những quan hệ, tương quan và phụ thuộc,
có liên quan tới cuộc sống thường xảy ra hàng ngày Cái khó của bài toán có lờivăn chính là ở chỗ làm thế nào để lược bỏ được những yếu tố lời văn đã cheđậy bản chất toán học của bài toán Hay nói một cách khác là làm sao phải chỉ
ra được các mối quan hệ giữa các yếu tố toán học chứa đựng trong bài toán vàtìm được những lời giải phép tính thích hợp để từ đó tìm được đáp số của bàitoán
Là một giáo viên trực tiếp chủ nhiệm và giảng dạy ở khối lớp 3, qua kinhnghiệm của bản thân và học hỏi, trao đổi kinh nghiệm cùng đồng nghiệp, tôi đãrút ra được: “Một vài biện pháp giúp học sinh giải tốt bài toán có lời văn lớp 3”
để góp phần nâng cao chất lượng dạy và học của nhà trường nói chung và đốivới học sinh lớp 3 nói riêng
II CƠ SỞ LÍ LUẬN.
Trong dạy học toán ở Tiểu học, giải toán có vị trí quan trọng, có thể coi dạyhọc giải Toán là "Hòn đá thử vàng" của dạy học toán Trong giải toán, học sinhphải tư duy một cách tích cực linh hoạt, huy động thích hợp các kiến thức vàkhả năng đã có vào tình huống khác nhau, trong nhiều trường hợp phải biếtphát hiện những dữ kiện hay điều kiện chưa được nêu một cách tường minh vàtrong chừng mực nào đó, phải biết suy nghĩ năng động sáng tạo Vì vậy có thểcoi giải toán là một trong những biểu hiện năng động nhất của hoạt động trí tuệcủa học sinh
Dạy học giải toán ở Tiểu học nhằm mục đích chủ yếu sau đây:
+ Trước hết nó giúp học sinh luyện tập, củng cố, vận dụng các kiến thức vàthao tác thực hành các kiến thức đã học, rèn luyện kĩ năng tính toán, bước tậpdượt vận dụng kiến thức và rèn luyện kĩ năng thực hành vào thực tiễn (học tập,đời sống)
Qua các biểu hiện trên giáo viên phát hiện được rõ hơn những gì học sinh đãlĩnh hội và nắm chắc, những gì học sinh chưa nắm chắc, để có biện pháp giúphọc sinh phát huy hoặc khắc phục
Trang 3+ Qua việc dạy học giải Toán, giáo viên giúp học sinh từng bước phát triểnnăng lực tư duy, rèn luyện phương pháp và kĩ năng suy luận, khêu gợi và tậpdượt quan sát, phỏng đoán tìm tòi.
+ Qua giải toán, học sinh rèn luyện những đặc tính và phong cách làm việc củangười lao động như: ý trí khắc phục khó khăn, thói quen sét đoán có căn cứ,tính cẩn thận, chu đáo, cụ thể, làm việc có kế hoạch, có kiểm tra kết quả cuốicùng: Từng bước hình thành và rèn luyện thói quen và khả năng suy nghĩ độclập, linh hoạt, khắc phục cách suy nghĩ máy móc, dập khuôn, xây dựng lòngham thích tìm tòi, sáng tạo ở mức độ khác nhau, từ đơn giản nhất mà nâng caotừng bước
Việc giải toán vừa đòi hỏi tính tích cực, độc lập sáng tạo trong suy nghĩ vừađòi hỏi một khả năng thực hành Để giúp học sinh có khả năng thực hành đó,lúc đầu học sinh cần được giáo viên dẫn dắt, hướng dẫn giải các bài toán theomẫu, tái hiện cách giải điển hình, có thể giúp ích cho học sinh trong chừng mựcnhất định Song do tích chất đặc trưng của giải toán đã nói ở trên, riêng cácbiện pháp đó không thể giúp học sinh đạt được các mục tiêu cần thiết
III THỰC TRẠNG VIỆC DẠY VÀ HỌC GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC.
1 Thực trạng chung của nhà trường:
- Đội ngũ giáo viên trong trường luôn nhiệt tình giảng dạy, yêu nghề mến trẻ
- Về học sinh: nhìn chung các em đều ngoan, có ý thức vươn lên trong học tập
* Khó khăn:
- Nhiều phụ huynh học sinh không quan tâm đến việc học của con phó mặc chogiáo viên Chính điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc học tập cũng nhưchất lượng học tập của các em
Trang 4- Nhiều gia đình bố mẹ làm công nhân, gửi con cho ông bà chăm sóc do ông bà
đã già yếu nên không quán xuyến được việc học hành của các cháu
- Do tâm lý chung của học sinh Tiểu học còn ham chơi nên nếu không có sựquan tâm của gia đình, nhà trường việc học hành của các em thì khó có hiệuquả cao
- Về đội ngũ giáo viên: Nhà trường có đội ngũ giáo viên nhiệt tình giảng dạysong còn gặp nhiều khó khăn do trình độ giáo viên còn chưa đồng đều
2 Thực trạng của lớp:
Qua thực tế giảng dạy tôi nhận thấy:
+ Việc tóm tắt, tìm hiểu đề đang còn nhiều khó khăn đối với một số học sinhtrung bình và yếu của lớp 3 Vì kĩ năng đọc thành thạo của các em chưa cao,nên các em đọc được đề toán và hiểu đề còn thụ động, chậm chạp…
+ Thực tế trong một tiết dạy 40 phút, thời gian dạy kiến thức mới mất nhiều– phần bài tập hầu hết là ở cuối bài nên thời gian để luyện nêu đề, nêu câu trảlời không được nhiều mà học sinh chỉ thành thạo việc đọc đề toán
+ Tuy môn Toán đạt gần 100% từ trung bình trở lên, song số điểm giỏi chưanhiều, điểm đạt yêu cầu chủ yếu ở phần giải toán đơn, học sinh mắc lỗi nhiều ởphần giải toán trong luyện tập và kiểm tra, từ đó ảnh hưởng đến chất lượngmôn Toán
3 Nguyên nhân:
Qua thực tế khảo sát tôi nhận thấy:
- Nhiều học sinh chưa nghiên cứu kĩ đề toán, nhiều học sinh vốn tiếng Việt cònhạn chế, nên việc xác lập mối quan hệ giữa các dữ kiện của bài toán còn gặpnhiều khó khăn
- Một số học sinh chưa nắm chắc hệ thống các bài toán đơn đã được học, dẫnđến còn lúng túng trong việc phát hiện mối quan hệ logic giữa các bài toán này
- Học sinh còn thiếu tự tin trong việc tìm cách giải, còn bị hạn chế trong việclựa chọn các phép giải
- Các em chưa chú ý đến khâu kiểm tra, thường coi rằng bài toán đã giải xongkhi tính ra đáp số của bài
Trang 5- Trong quá trình giảng dạy môn toán, giáo viên còn coi nhẹ một số bước trongquá trình giải toán như: Tìm hiểu đề toán, kiểm tra cách giải toán, nên nhiềuhọc sinh mắc những lỗi không đáng có Giáo viên chưa quan tâm đến việc rèn
kĩ năng giải toán cho học sinh
Đây là những nguyên nhân cơ bản ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượnggiải toán của học sinh Khắc phục được những nguyên nhân trên có ý nghĩa hếtsức quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục Tiểu học, nhằm thựchiện mục tiêu đào tạo con người mới, năng động, tự chủ, sáng tạo
Từ thực trạng trên, để công việc đạt hiệu quả tốt hơn, giúp các em họcsinh có hứng thú trong học tập, nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường,tôi đã mạnh dạn cải tiến nội dung, phương pháp trong giảng dạy như sau:
IV MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT DẠNG BÀI GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN Ở LỚP 3:
1 Trao đổi với phụ huynh – Thống nhất biện pháp giáo dục.
1.1 Mục tiêu
Chúng ta đều biết học sinh Tiểu học nói chung và học sinh lớp 3 nói riêngđến trường còn phụ thuộc nhiều vào sự quan tâm, nhắc nhở của cha mẹ và thầy
cô Phần nhiều các em chưa chủ động trong việc học tập Chính vì vậy giáo dục
ý thức tích cực học tập cho các em là một yếu tố không kém phần quan trọnggiúp các em học tốt hơn
1.2 Cách tiến hành.
Trong một lớp học, lực học của các em không đồng đều, ý thức học củanhiều em chưa cao Để giúp cho phụ huynh có biện pháp phù hợp trong việcgiáo dục con cái, tôi đã mạnh dạn trao đổi với phụ huynh học sinh về chỉ tiêuphấn đấu của lớp và những yêu cầu cần thiết giúp các em học tập như: Muasắm đầy đủ sách vở, đồ dùng – cách hướng dẫn các em tự học ở nhà, đặc biệtnhất là đối với các ông bố vào buổi tối cố gắng bớt đi một chút thời gianchuyện trò với bạn bè, tắt (vặn nhỏ đài, ti vi) dành thời gian nhắc nhở, quan tâmcho các em học tập… Rất mừng là đa số phụ huynh đều nhiệt liệt hoan nghênhbiện pháp trên vì lâu nay các phụ huynh còn đang vướng mắc nhiều về cách
Trang 6dạy học cho các em Riêng trong phần bài tập của sách Toán, tôi hướng dẫn phụhuynh cách dạy các em luyện nêu miệng các đề toán, luyện nói và trả lờinhiều…
Tuy nhiên, cuộc họp phụ huynh lần này vẫn còn một số gia đình vắng mặt
do có việc đột xuất, do chưa thấy hết được tầm quan trọng của việc học và dođiều kiện gia đình còn nhiều khó khăn nên phó mặc việc học của con cái chogiáo viên, cho nhà trường Đối với những phụ huynh vắng mặt này, tôi tìm cáchgặp gỡ, trao đổi tại nhà Trong số đó có gia đình trao đổi họ lung túng khôngbiết cách dạy con như thế nào nữa mà chỉ biết nhắc nhở con: “Học bài đi” rồicon học gì, làm gì ở bàn học bố mẹ cũng không hay Đối với những em này, tôiphải hướng dẫn nhiều hơn ở lớp để về nhà các em tự học
2 Giúp HS phân biệt rõ các dạng toán và chuẩn bị cho việc giải toán.
2.1 Mục tiêu.
Hai loại toán ở lớp 3 nói riêng và ở Tiểu học nói chung là: Toán đơn và toánhợp Mỗi loại toán này có vai trò quan trọng của nó Việc giải các bài toán hợpthực chất là giải một hệ thống các bài toán đơn Có kĩ năng giải các bài toánđơn, học sinh mới có cơ sở giải các bài toán hợp Do đó giáo viên cần giúp họcsinh hiểu rõ bản chất bài toán đơn để vận dụng giải các bài toán phức tạp saunày
2.2 Cách tiến hành.
Ở lớp 3, cùng với việc học phép nhân, chia, học sinh sẽ giải các bài toán đơndùng phép nhân hoặc chia Trong các đầu bài toán bằng lời văn, học sinhthường gặp những từ chìa khoá như: "Gấp lên, giảm đi bao nhiêu lần", "Sosánh hơn, kém bao nhiêu lần" Các từ này thường được gợi ra phép nhân, chia
tương ứng Giáo viên cần chú ý học sinh tránh lẫn lộn "Bao nhiêu lần" với
"Bao nhiêu đơn vị" và hiểu đúng khái niệm này Củng cố thói quen đọc và hiểu
đúng đề bài để ngăn ngừa tác dụng "Cảm ứng" của các từ "Chìa khoá" Giáoviên giúp học sinh nắm vững ý nghĩa của phép nhân và phép chia đồng thờigiúp học sinh hiểu đúng các từ quan trọng trong đề toán
Trang 7Các bài toán đơn "Tìm một trong các phần bằng nhau của một số" gắn vớiphép chia Đối với học sinh lớp 3, tư duy còn thiên về cụ thể nên hai loại bàitoán "chia thành phần bằng nhau" và "chia theo nhóm" tuy đồng nhất về mặt ýnghĩa toán học và đều giải bằng phép tính chia, nhưng lại là hai bài toán khácnhau về mặt ý nghĩa cụ thể Tuy nhiên khi giải, giáo viên cần hướng dẫn họcsinh vượt qua sự khác biệt về mặt tâm lí để tập trung chú ý vào việc tìm ra vàthực hiện đúng phép tính thích hợp, còn việc tìm ra từ thích hợp (phép chia),còn việc tìm ra từ thích hợp để "danh số" hoá số thương thì chủ yếu dựa vàokinh nghiệm sống.
Mặt khác, đối với lớp 3, do tư duy của học sinh đã có những tiến bộ, songvốn ngôn ngữ vẫn còn hạn chế, nên việc nâng cao dần dần các yêu cầu về kiếnthức và kĩ năng một cách vừa sức học sinh, các yêu cầu về trừu tượng hoá cầnđược chú ý, nhất là diễn tả các điều kiện, việc sử dụng sơ đồ đoạn thẳng và tia
số, thay dần các hình vẽ tượng trưng, cần được coi như một công cụ phổ biến,tinh lược hoá những từ ngữ của đề toán, giúp các em tiếp cận tốt hơn với nộidung đề bài toán Từ đó dẫn đến định hướng cách giải toán
Khi học sinh nắm vững cách giải các bài toán đơn, có thể gợi cho học sinhkhá, giỏi dùng chữ thay dữ kiện (ở các bài có cấu trúc giống nhau), diễn đạt cáccấu trúc toán học, từ đó củng cố ý thức về việc sử dụng các công cụ, thủ thuậttoán học giống nhau khi giải chúng Việc sắp xếp các bài toán đơn mà khi giảihọc sinh phải vận dụng các phép tính ngược sẽ giúp các em nâng cao và củng
cố nhận thức về mối quan hệ giữa các phép tính ngược
Việc sử dụng hình vẽ hay sơ đồ để minh hoạ các điều kiện của bài toán là cóích với học sinh lớp 3 nói riêng, với học sinh Tiểu học nói chung Tuy nhiêncần phải hiểu rõ tác dụng của chúng (là chỗ dựa cho suy luận) trong việc giảitoán Đối với các bài toán dễ hay đã nắm vững cách giải cần chú ý đến phát huytrí tưởng tượng của học sinh, từng bước thay đổi chỗ dựa trực quan bằng hìnhảnh trong óc suy luận, vừa giúp học sinh mở rộng vốn hiểu biết vừa thúc đẩyquá trình tư duy của học sinh
Trang 8
3 Giúp học sinh nắm được quá trình giải toán.
3.1 Mục tiêu.
Cái khó của việc giải bài toán có lời văn chính là ở chỗ làm thế nào để lược bỏđược những yếu tố lời văn đã che đậy bản chất toán học của bài toán Hay nóimột cách khác là làm sao phải chỉ ra được các mối quan hệ giữa các yếu tố toánhọc chứa đựng trong bài toán và tìm được những lời giải phép tính thích hợp để
từ đó tìm được đáp số của bài toán Do đó giáo viên cần giúp học sinh nắmvững được quá trình giải toán
3.2 Cách tiến hành.
Quá trình này thường được tiến hành theo các bước như sau :
- Tìm hiểu nội dung bài toán
- Tìm cách giải bài toán
- Thực hiện cách giải bài toán
- Kiểm tra, đánh giá kết quả
Thực tiễn việc học giải toán đã khẳng định, sự đúng đắn của các bước trongviệc giải toán nói trên Để làm cho học sinh có thói quen và kĩ năng áp dụng sơ
đồ đó, cần làm cho học sinh từng bước nắm được và thực hiện tốt trong quátrình giải toán
3.2.1 Dạy học sinh tìm hiểu nội dung bài toán.
Trước hết muốn tìm hiểu đầu bài, cần hiểu rõ cách diễn đạt bằng lời văncủa bài toán, các bài toán dưới dạng một bài văn viết, thường xen trộn 3 thứngôn ngữ: Ngôn ngữ tự nhiên, thuật ngữ toán học và ngôn ngữ kí hiệu (chữ số,các dấu phép tính, các dấu quan hệ và dấu ngoặc), nên việc hướng dẫn đọc vàhiểu đầu bài toán rất quan trọng, nó giúp các em sử dụng được ngôn ngữ kíhiệu đặc biệt, làm các em hiểu được nghĩa của các thuật ngữ và kí hiệu sử dụngđúng
Để kiểm tra học sinh đọc và hiểu đầu bài toán, giáo viên nên yêu cầu học sinhnhắc lại nội dung đầu bài, không phải học thuộc lòng mà bằng cách diễn tảbằng ngôn ngữ của mình, tiến tới trước khi tìm cách giải cho học sinh, học sinh
đã nhập tâm đầu bài toán để tập trung suy nghĩ về nó
Trang 9Mỗi bài toán đều có 3 yếu tố cơ bản: Dữ kiện là những cái đã cho đã biết trongđầu bài, những ẩn số là những cái chưa biết và cần tìm (các ẩn số được diễn đạtdưới dạng câu hỏi của bài toán) và những điều kiện là quan hệ giữa các dữ kiện
và ẩn số Hiểu rõ đầu bài là chỉ ra và phân biệt rành mạch 3 yếu tố đó, từngbước thấy được chức năng của mỗi yếu tố trong việc giải bài toán
Ví dụ: Bài toán 4 ( SGK Toán 3 – trang 56)
Có ba thùng dầu, mỗi thùng chứa 125 lít, người ta đã lấy ra 185 lít dầu từ cácthùng đó Hỏi còn lại bao nhiêu lít dầu ?
Với bài toán trên học sinh cần xác định được:
Cái đã cho (dữ kiện) là số lít dầu ở mỗi thùng: 125 lít
Điều kiện: đã lấy ra từ các thùng dầu đó 185 lít dầu
Cái cần tìm (ẩn số): còn lại bao nhiêu lít dầu?
Trên cơ sở phân biệt rõ cái gì đã cho (dữ kiện), cái gì là điều kiện, cái cần tìm(ẩn số) để tập trung suy nghĩ vào các yếu tố cơ bản này, cần giúp học sinh biếttóm tắt đầu bài bằng cách ghi dữ kiện, điều kiện và câu hỏi của bài toán dướidạng ngắn gọn cô đọng nhất Tuyệt đại bộ phận các bài toán ở Tiểu học nóichung, ở lớp 3 nói riêng, đều có những điều kiện để minh hoạ bằng sơ đồ (đoạnthẳng, hình vẽ tượng trưng) Vì vậy học sinh phải từng bước biết minh hoạphần tóm tắt bằng sơ đồ, nhất là sơ đồ đoạn thẳng hoặc minh hoạ trên trục số
Ví dụ: Bài toán 3 (SGK toán 3 trang 166 )
Một hình chữ nhật có chiều dài 12 cm, chiều rộng bằng 1/3 chiều dài Tính diệntích hình đó
Sau khi đọc kĩ đề bài, xác định được dữ kiện, điều kiện và ẩn số của bài toán,học sinh tóm tắt bài toán bằng sơ đồ đoạn thẳng như sau:
Từ sơ đồ trên học sinh đã thể hiện đầu bài toán một cách ngắn gọn và cô đọngnhất, đây là một yếu tố quan trọng giúp học sinh tìm tòi cách giải bài toán Giáoviên tập cho học sinh có thói quen từng bước có kĩ năng suy nghĩ trên các yếu
tố cơ bản của bài toán, phân biệt và xác định được các dữ kiện và điều kiện cầnthiết có liên quan đến câu hỏi, phát hiện được các dữ kiện không tường minh,
để diễn đạt chúng một cách rõ ràng hơn
Trang 10Quá trình tìm hiểu đầu bài và tìm tòi lời giải kết hợp với nhau một cách chặtchẽ Nhiều trường hợp, khi tìm cách giải, học sinh gặp khó khăn phải trở lại tìmhiểu đầu bài, tìm hiểu dữ kiện và điều kiện.
3.2.2 Hướng dẫn học sinh tìm cách giải bài toán.
Từ việc giải một bài toán đơn sang bài toán hợp, học sinh phải giải quyết mộtnhiệm vụ khó khăn là phân tích bài toán hợp thành các bài toán đơn Trên tinhthần dạy học phát triển, việc làm cho các em nắm được các phương pháp chung
và các thủ thuật cơ bản thường dùng để giải các bài toán đa dạng nhưng thườnggặp và có những mức độ phức tạp khác nhau là rất cần thiết Để giải quyết
được vấn đề này, giáo viên cần giúp học sinh biết dẫn về một bài toán đã biết cách giải Khi giải một bài toán mới, học sinh biết dẫn nó về một bài toán mà
các em đã biết cách giải, hoặc có thể liên tưởng tới những hành động thực tiễnnào đó mà các em đã thực hiện, để giải quyết một nhiệm vụ nào đó thì các em
có thể có một gợi ý về cách giải
Ví dụ 1: Bài toán 2 phần a ( SGK toán 3 trang 38 )
Một cửa hàng buổi sáng bán được 60 lít dầu, số lít dầu bán được trong buổichiều giảm đi 3 lần so với buổi sáng Hỏi buổi chiều cửa hàng đó bán được baonhiêu lít dầu ?
Khi giải bài toán này qua phân tích hai điều kiện của bài toán và tập trung chú ývào hai điều kiện, các em dẫn tới những bài toán đã học về: "Tìm một phần
mấy của một số" để tìm số lít dầu bán được vào buổi chiều (60 : 3 = 20 l.)
Ví dụ 2: Bài toán 2 (SGK toán 3 trang 88)
Người ta uốn một đoạn dây thép vừa đủ thành một hình vuông cạnh 10cm Tính
độ dài đoạn dây được
Đối với bài toán trên, các em cần phân tích các dữ kiện đã biết, kết hợp quansát giáo viên thao tác trực quan trên mô hình để nhận thấy độ dài đoạn dâychính là chu vi hình vuông được tạo thành Từ đó các em biết dẫn về bài toán
đã biết “Chu vi hình vuông” để tìm được độ dài đoạn dây thép (10 x 4 = 40 cm)
Trang 11Bên cạnh đó việc quan sát và dự đoán trong quá trình tìm ra lời giải cũng rấtquan trọng Quan sát các dữ kiện có vai trò quyết định trong việc tìm ra lời giảicủa bài toán.
Ngoài ra, trong sách giáo khoa toán 3, bên cạnh phần lớn các bài toán dành chohọc sinh trung bình, còn một số bài toán mà các dữ kiện thường nhiều hơn,phức tạp hơn, nhiều khi không được đưa ra trực tiếp hoặc tường minh Việc tìmphương pháp giải nhiều khi phụ thuộc vào việc tìm ra "điểm nút" để tập trungtháo gỡ ra, việc lựa chọn con đường đúng đắn để tiếp cận nó Muốn vậy phảibiến đổi bài toán, với một số biến đổi thường được dùng ở Tiểu học
Ví dụ : Bài toán 3 (SGK toán 3 trang 88)
Mỗi viên gạch hình vuông có cạnh 20cm Tính chu vi hình chữ nhật ghép bời 3viên gạch như thế
Đây là bài tập vận dụng của bài “Chu vi hình vuông” nên không ít học sinhmáy móc đã vận dụng quy tắc tính chu vi hình vuông vừa học để tìm chu vimột viên gạch, sau đó lấy chu vi một viên gạch gấp lên 3 lần để ra chu vi hìnhchữ nhật Và các em không hề nhận ra phương pháp giải của mình là sai lầm
Để giải quyết vấn đề này, theo tôi “nút thắt” cần tháo gỡ chính là giúp học sinh
so sánh tìm ra điểm khác nhau giữa chu vi hình chữ nhật được ghép từ 3 viêngạch hình vuông và tổng chu vi của 3 viên gạch hình vuông Giáo viên cho họcsinh chỉ trên hình vẽ, và đồ lại bằng phấn màu để các em quan sát, so sánh đểnhận thấy tổng chu vi 3 viên gạch hơn chu vi hình chữ nhật cần tìm là 4 lầncạnh viên gạch hình vuông Từ đó các em phát hiện ra điểm sai lầm trong cáchgiải nêu trên và tìm ra con đường đúng để tìm tòi lời giải cho bài toán : Trướctiên cần xác định chiều rộng (cạnh viên gạch hình vuông : 10cm) và tìm chiềudài ( 10 x 3 = 30 cm) của hình chữ nhật, sau đó đưa về bài toán tìm chu vi hìnhchữ nhật để tìm ra đáp số
3.2.3 Hướng dẫn học sinh thực hiện giải bài toán.
Khi thực hiện kế hoạch giải bài toán, học sinh còn dựa vào các thủ thuật(hay phép) giải thích đối với từng khâu trong kế hoạch để đi đến kết quả mongmuốn Đối với một số bài toán có cấu trúc riêng, thường sử dụng các thủ thuật